Quiz: TOP 24 Câu hỏi trắc nghiệm môn Nguyên lý kiểm toán (Có đáp án) | Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
Câu hỏi trắc nghiệm
Để đảm bảo hiệu quả hoạt động, tất yếu mỗi đơn vị cơ sở đều tự kiểm tra mọi hoạt động của mình trong tất cả các khâu. Công việc này được gọi là: Nội kiểm.
Hoạt động kiểm tra của Kiểm toán Nhà nước, của các tổ chức và chuyên gia bên ngoài đối với một đơn vị kinh doanh được gọi là : Thanh tra.
Đặc trưng cơ bản của kế toán là gắn chặt hai chức năng thông tin và kiểm tra được thể hiện: Bao gồm tất cả các câu trên (PP chứng từ - kiểm kê không chỉ là phương pháp truyền tin mà còn là minh chứng pháp lý cho các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ; PP đối ứng tài khoản không chỉ là phương pháp phân loại, phản ánh sự vận động của tài sản mà còn là kỹ thuật kiểm tra quan hệ cân đối ; PP tính giá không chỉ là cách thức tổng hợp chi phí để hình thành một tài sản hay dịch vụ mà còn là phương pháp đối chiếu sự tương ứng giữa chi phí và tài sản ; PP tổng hợp - cân đối kế toán không chỉ là phương pháp tổng cộng các con số mà còn là cách thức cân đối tổng quát để tự kiểm tra kết quả tổng hợp).
Kiểm toán có thể được khắc hoạ rõ nét nhất qua các chức năng: Xác minh và bày tỏ ý kiến.
Chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến trong kiểm toán tài chính ngày nay được thể hiện: Bằng một báo cáo kiểm toán.
Kiểm toán tài chính tạo niềm tin cho những người quan tâm đến : Tình hình tài chính của khách thể kiểm toán.
Trong khi thực hiện kiểm toán tài chính. thước đo đúng sai của các báo cáo tài chính là : Các chuẩn mực kế toán.
Nếu kiểm toán được phân thành KTNN, KTĐL và KTNB thì tiêu chí phân loại là: Tổ chức bộ máy.
Nếu lấy tiêu chí “đối tượng kiểm toán” để phân loại thì kiểm toán được phân thành : Kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp và những thay đổi về tài chính của nó : Được phản ánh duy nhất trên các tài liệu kế toán của đơn vị.
Khái niệm “khách thể kiểm toán” được sử dụng trong chuyên ngành kiểm toán để đề cập đến: Các đơn vị được kiểm toán.
Nếu là khách thể của Kiểm toán Nhà nước thì : Không thể là khách thể của kiểm toán độc lập.
Chủ thể kiểm toán trong lĩnh vực kiểm toán đề cập đến người tiến hành công việc kiểm toán.
Đối tượng thường xuyên và chủ yếu của kiểm toán hoạt động là : Bao gồm câu a và câu b (Tính hiệu quả của hoạt động quản lý ; Tính hiệu năng của hoạt động quản lý).
Một cuộc kiểm toán được thiết kế để phát hiện ra những vi phạm luật pháp, các chế định của Nhà nước và các quy định của công ty chính là một cuộc kiểm toán: Tuân thủ.
Câu sau mô tả đúng nhất về kiểm toán hoạt động : Xem xét và đánh giá về tính hữu hiệu & hiệu quả của hoạt động hay một bộ phận trong DN.
Báo cáo kiểm toán BCTC đề cập đến vấn đề : Các thông tin tài chính có thể hiện mọi vấn đề trọng yếu và có đảm bảo trung thực, hợp lý không.
Các tài liệu kế toán hướng các KTV vào kiểm tra : Tất cả các đáp án trên (Tính hiện thực của các thông tin ; Tính hợp lý, hợp pháp của mẫu biểu sử dụng ; Sự phù hợp các thông tin được phản ánh với chế độ, chuẩn mực hiện hành và quy định của đơn vị).
Ban giám đốc của DN được kiểm toán là người có trách nhiệm chính đối với sự trung thực và hợp lý về BCTC của DN.
Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm tra và xác nhận : Bao gồm cả ba đáp án trên (Tính trung thực của BCTC ; Tính hợp lý của BCTC ; BCTC có phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và các yêu cầu của pháp luật hay không).
Lý do cần phải có kiểm toán viên độc lập kiểm toán BCTC là : Thường có sự mâu thuẫn về lợi ích giữa công ty soạn thảo BCTC với người sử dụng BCTC.
Mục đích chính của kiểm toán hoạt động là: Cung cấp sự đánh giá về hoạt động của một tổ chức trong việc đáp ứng mục tiêu của tổ chức đó.
Các thí dụ sau đây không phải là kiểm toán tuân thủ : Kiểm toán một dự án xóa đói giảm nghèo về tính hiệu quả của nó.
Một cuộc kiểm toán được dành cho việc phát hiện những vi phạm các điều luật và quy định được xem như là: Kiểm toán việc tuân thủ luật pháp.