


















Preview text:
T HỌC MÁC - LÊN In
Nội dung 1: Vấn đề cơ bản của triết học
Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đ
ặc biệt của triết học h
iện đại là mối quan hệ giữa tư
duy và tồn tại, hay nói cách khác là mối quan hệ giữa vật chất v
ới ý thức. Vấn đề cơ bản
của triết học gồm có 2 mặt.
I. Mặt thứ nhất (Bản thể luận)
Mặt thứ nhất, ta gọi là Bản thể luận, hay còn gọi là . Mặt này trả lời cho câu hỏi “Giữa vật
chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?”. Việc trả lời
câu hỏi này, nó xuất hiện một số quan điểm sau. Thứ nhất những nhà tư tưởng, các nhà
triết học cho rằng ý thức có trước, sinh ra và quyết định vật chất, tập hợp các nhà tư
tưởng này ta gọi là Chủ nghĩa duy tâm. Đối lập lại đó là quan điểm cho rằng vật chất có
trước, sinh ra và quyết định ý thức, những nhà tư tưởng đi theo quan điểm này thì ta gọi
là Chủ nghĩa duy vật. Việc thừa nhận một trong hai yếu tố này là yếu tố đầu tiên thì ta gọi
đây là Nhất nguyên, nhất là một, nguyên là nguyên lý, yếu tố đầu tiên. Ví dụ như là nhất
nguyên duy vật hay là nhất nguyên duy tâm. Quan điểm thứ ba là họ cho rằng không phải
ý thức có trước hay vật chất có trước, họ cho rằng cả hai yếu tố này cùng song song tồn
tại, tác động qua lại lẫn nhau, dẫn tới sự hình thành biến đổi của thế giới, đây gọi là
trường phái Nhị nguyên, nhị là hai, nguyên là hai yếu tố đầu tiên tạo ra vũ trụ. Ngoài 3
quan điểm nhất nguyên duy vật, nhất nguyên duy tâm, hay là nhị nguyên thì còn có quan
điểm gọi là đa nguyên, khi họ cho rằng là không chỉ có vật chất, không chỉ có ý thức, mà
còn nhiều yếu tố khác nữa tạo thành vũ trụ, tạo thành thế giới này.
II. Mặt thứ hai (Nhận thức luận)
Mặt thứ hai, ta gọi là Nhận thức luận, hay còn gọi là l ý luận về nhận thức. Mặt này trả lời
cho câu hỏi “Con người có thể nhận thức được t hế giới hay không,?”. Với câu hỏi này có
3 quan điểm. Một là những người cho rằng con người có khả năng nhận thức được, ta
gọi đấy là những người đi theo thuyết Khả t ri, t ức l à có khả năng tri giác và n hận thức v ề
thế giới. Ngược lại là những người cho rằng con người không có khả năng nhận thức,
tức là không thể biết, ta gọi đây là những người theo thuyết Bất khả tri, không có khả
năng nhận thức. Bên cạnh đó còn có q uan đ
iểm Hoài nghi luận, hoài nghi thì họ cho rằng
con người có khả năng nhận thức, nhưng sự nhận thức đó có đúng hay không thì chưa
chắc chắn. Ví dụ một trong những đại diện tiêu biểu của trường phái hoài nghi cho rằng:
“Tôi hoài nghi là hoài nghi tất cả, tôi hoài nghi cả sự hoài nghi của tôi”.
Nội dung 2: Những tích cực và hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác quan
niệm về vật chất. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận định nghĩa vật chất của Lênin
I. Những tích cực và hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác quan niệm về vật chất.
Vật chất với tư cách là m
ột phạm trù t riết học có l ịch sử k hoảng 2500 năm xuất h iện cùng
với sự xuất hiện của triết học trong lịch sử. Ngay từ khi mới r a đ ời, xung quanh phạm trù
vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm. CNDV coi thực thể thế giới là vật chất tồn tại vĩnh cửu, tạo nên
mọi sự vật hiện tượng và các thuộc tính c ủa c
húng. CNDT tìm mọi cách phủ nhận và l àm
sụp đổ phạm trù vật chất của CNDV. Chúng công kích, xuyên tạc phạm trù vật chất, cho
rằng cơ sở tồn tại của thế giới là một bản nguyên tinh thần nào đó. Có thể là d o ý C húa,
do ý niệm tuyệt đối tạo nên. Vì vậy, họ cho rằng vật chất chỉ là một phạm trù t rống rỗng,
phi hiện thực, một sự nhào nặn chủ quan của các nhà duy vật. Phạm trù vật c hất có quá
trình phát sinh phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người và sự hiểu biết của con n
gười về thế giới tự nhiên. Việc tìm hiểu, khám phá về b
ản chất, cấu trúc của thế
giới xung quanh con người l uôn luôn là một vấn đề được quan tâm trong các trường phái
triết học duy vật. Vì vậy, phạm trù vật chất được xuất hiện từ khá sớm và được đặc biệt
quan tâm. CNDV khẳng định thực thể tạo nên thế giới khách quan và các vật thể nói
riêng đó là vật chất và nó tồn tại vĩnh cửu. Tuy nhiên, việc lập luận và lý giải về vật chất
của các nhà triết học ở thời kỳ trước Mác là không đồng nhất với nhau.
Tóm lại: Các nhà triết học duy vật trước Mác trong cuộc đấu tranh chống CNDT đã hết
sức quan tâm giải quyết vấn đề cốt lõi là vật chất. Họ đưa ra những kiến giải khác nhau
về vật chất và qua đó đã có những đóng góp hết sức quan trọng đối với lịch sử phát t riển
của triết học duy vật. Tuy nhiên tất cả họ đều mắc phải hạn chế lớn nhất là đã đồng nhất
vật chất với vật thể hoặc một thuộc tính nào đó của vật thể, họ không thấy được sự tồn
tại của vật chất gắn liền với vận động và họ không chỉ ra được biểu hiện của vật chất
trong đời sống xã hội và chỉ đến khi triết học Mác xuất hiện thì phạm trù vật chất mới
được giải quyết một cách khoa học.
II. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận định nghĩa vật chất của Lênin. a. Nội dung Lê nin nói rằng “
Vật chất l à một phạm t rù triết học d ùng đ
ể chỉ thực t ại khách quan được đem
lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Do đó, phạm trù vật chất có 2 mặt, mặt thứ nhất là
nội hàm. Theo định nghĩa vật chất của Lênin, phạm trù vật chất dùng để chỉ thực tại khách
quan, thuộc tính của đối tượng được đưa vào ở đây chính là tồn tại khách quan. Tất cả
những gì tồn tại khách quan sẽ được đưa vào mặt ngoại diên. Vậy ngoại diên c ủa p hạm trù
vật chất rất rộng, vô cùng vô tận. Phạm trù vật chất được biểu h
iện sự tồn tại của mình t hông
qua những dạng cụ thể, những dạng cụ thể này trải q
ua quá trình sinh ra, tồn t ại, chuyển hóa
từ dạng này sang dạng khác, vật chất này được bảo t oàn. Như vậy, phạm trù vật chất c ó đặc
điểm thứ nhất là tồn tại khách quan, thứ hai là biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua các
dạng cụ thể của nó. Khoa học càng phát triển càng giúp cho chúng ta tìm được những dạng
mới. Các dạng vật chất cụ thể này khi tác động lên giác quan sẽ gây ra cảm giác. Tuy nhiên,
không phải cái gì tác động lên giác quan cũng gây ra cảm giác, tác động lên giác quan chưa
đủ gây nên sự biến đổi trên các giác quan thì chưa gây ra cảm giác. Cảm giác này sau khi
hình thành thì tồn tại có tính độc lập tương đối so với sự vật gây ra cảm giác. Tính độc lập
tương đối thể hiện thứ nhất là hiện tượng người ta lấy cảm giác của sự vật cũ để rồi áp đặt lên sự vật mới; thứ h ai là dựa t rên n hững thông tin c ủa n hững hình ả
nh của sự vật cũ có khả
năng nhào nặn để rồi tạo nên một hình ảnh của một sự vật mới mà trong thực tế nó chưa từng tồn tại.
Tóm lại, nội dung cơ bản của định nghĩa phạm trù v
ật chất là: Phạm trù v ật chất khác với các
khái niệm của các khoa học khác. Thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vật
chất là thuộc tính tồn tại khách quan (thực tại khách quan). Vật chất là nguồn gốc của cảm giác (ý thức). b. Ý nghĩa -
Giải quyết một cách triệt để vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm duy vật. -
Chống lại mọi quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và thuyết bất khả tri. -
Mở đường cho khoa học phát triển, nhất là khoa học nghiên cứu về cấu trúc vi m ô
của vật chất, góp phần khắc phục cuộc khủng hoảng vật lý học cuối thế kỷ XIX - đầu t hế
kỷ XX. Khẳng định các dạng vật chất tồn tại vô cùng vô tận, khoa học càng phát triển
càng giúp cho chúng ta khám phá ra nhiều dạng vật chất mới. -
Chỉ ra vật chất trong lĩnh vực xã hội, tồn tại xã hội. -
Đưa ra phương pháp định nghĩa đặc biệt.
Nội dung 3: Quan điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức
a. Nguồn gốc tự nhiên Quan điểm CNDV b
iện chứng trên cơ sở kế thừa những thành tựu khoa học trong thời kỳ
này cho rằng ý thức là kết quả của sự phản ánh thế giới khách quan vào trong não
người. Đây là một sự phản ánh mang tính năng động và sáng tạo. Như vậy, thế giới
khách quan và não người chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức. Làm thế nào não
người có thể sinh ra được ý thức, ông Lênin đưa ra thuyết phản ánh: “Phản á nh là năng
lực tái tạo lại đặc điểm của hệ thống vật chất này lên một hệ thống vật chất khác trong
quá trình nó tác động qua lại. Kết quả phụ thuộc vào thứ nhất là đặc điểm của hệ thống
vật chất thứ nhất (cái tác động), thứ hai là hệ t hống vật chất thứ h
ai, và thứ ba là mức độ
tác động.” Não người chúng ta cũng là một d
ạng vật chất và cũng phản ánh theo nguyên
tắc này, khi tác động lên giác q
uan chuyển thành xung động thần kinh thì nó sẽ đ ược lưu
lại trên bộ não, lưu lại trong các tế bào não, mức độ tác động càng mạnh ta nhớ được
càng lâu, nhưng có những tác động mạnh đến mức chấn thương về mặt tâm lý, gây ám
ảnh với thông tin đó. Sự phản ánh là một thuộc tính chung của mọi dạng vật chất. Tuy
nhiên, sự phản ánh ở dạng vật chất cũng có sự khác biệt. Phản ánh ở giới vô cơ, đặc
trưng là phản ánh lý hóa. Cao hơn là phản ánh ở giới hữu sinh, ở thực vật, dạng phản
ánh kích thích phản ứng. Cao hơn nữa là phản ánh ở động vật, dạng phản xạ điều kiện
và không điều kiện, còn đối với động vật có hệ thần kinh thì ta còn có tâm lý động vật,
tâm lý động vật vẫn chưa đạt đến ngưỡng của ý thức vì nó bị chi phối bởi hoạt động
mang tính bản năng. Do đó, cao nhất vẫn là phản ánh ở con người, phản ánh ở não
người, phản ánh mang tính năng động, sáng tạo. i. Não người
Dựa vào thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh hiện đại, chủ
nghĩa Mác khẳng định rằng não người chính là dạng vật chất sống có tổ chức cao. Não
người của chúng ta là một tổ chức vật chất đặc biệt, phức tạp, c hứa khoảng chừng 8 6 tỷ
tế bào thần kinh được chia làm các trung khu khác nhau. Não b ộ hoạt đ ộng bình thường,
chỉ cần những tổn thương thì hoạt động tạo ra ý thức sẽ không thể diễn ra được. Não
người được chia ra làm bán cầu não trái, bán cầu não phải với các chức năng khác nhau.
ii. Sự phản ánh thế giới khách quan
Thế giới khách quan được hiểu là nội dung của ý thức, là chất liệu xây dựng nên hình
ảnh ở bên trong não của chúng ta.
b. Nguồn gốc xã hội
Nguồn gốc xã hội đóng vai trò quyết định hình thành ý thức ở con người. i. Lao động
Lao động được hiểu là quá trình chúng ta sử dụng công cụ lao động tác động lên đối
tượng lao động làm biến đổi đối tượng lao động tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu con
người. Quá trình tác động vào đối tượng lao động thì sẽ làm cho đối tượng bộc lộ các
thuộc tính, cung cấp cho chúng ta những thông tin, đó chính là chất liệu cho hoạt động
của ý thức. Thứ hai là quá trình lao động cũng làm cải thiện bản thân của chúng ta. ii. Ngôn ngữ
Trong quá trình lao động, nhu cầu của con người chúng ta là cần trao đổi thông tin để
thống nhất hành động. Từ nhu cầu đó, xuất hiện ngôn ngữ. Ngôn ngữ được hiểu là hệ
thống ký hiệu được quy ước dùng để trao đổi thông tin. Ngôn ngữ gồm nói và chữ viết.
Ngôn ngữ có vai trò thứ nhất đ
ó là lưu thông tin, nhờ vậy chúng t a có thể phân tích và xử
lý thông tin nên nếu không có ngôn ngữ thì chúng ta không thể tư duy được, không thể
tính toán được. Nhờ lưu được thông tin, ta phân tích xử lý thông tin nên truyền thông tin
được. Truyền thông tin là t ruyền từ người này sang người khác hoặc truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Nên những tri thức của nhân loại cho đến nay chúng ta được tích lũy
dưới dạng ngôn ngữ, trong sách vở chẳng hạn. Nên ta nói rằng “Sách là người thầy vĩ
đại”. Ngôn ngữ khởi thủy của con người chúng ta là ngôn ngữ tượng hình, xuất phát từ
quá trình lao động chúng ta sáng tạo ra những ngôn ngữ mới.
Nội dung 4: Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý mối liên hệ phổ
biến, nguyên lý phát triển
I. Nguyên lý mối liên hệ phổ biến a. Nội dung -
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác
động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố
của mỗi sự vật, hiện t ượng trong thế giới; còn khái niệm mối liên hệ phổ b iến dùng để chỉ
tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng
dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó
những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng
của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng. Đó l à các m ối liên hệ
giữa các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và c ái riêng, bản
chất và hiện tượng, v.v.. Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại
những mối liên hệ đặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ p hổ biến ở những phạm vi nhất
định. Đồng t hời, cũng tồn t ại những mối liên hệ phổ b iến nhất, trong đ ó những m ối l iên hệ
đặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định. T oàn
bộ những mối liên hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng
và ngược lại, tính đa dạng trong tính thống nhất của các mối liên hệ trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy. -
Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất cơ
bản của các mối liên hệ. b. Ý nghĩa n -
Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động
nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện. -
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các t ình huống thực tiễn cần
phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa c ác bộ phận,
giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua l ại
giữa sự vật, hiện tượng đó với các sự v
ật, hiện tượng khác. Chỉ trên cơ s ở đó mới có t hể
nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và xử lý có h iệu quả c
ác vấn đề của đời sống thực
tiễn. Như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong
nhận thức và thực tiễn. -
V.I.Lênin cho rằng: "Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và
nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và "quan hệ gián tiếp" của sự vật đó". -
Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động
nhận thức và thực tiễn, k
hi thực hiện quan điểm t oàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết
hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể. -
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống
trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận
thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn. Phải xác định rõ vị trí, vai
trò khác nhau của mỗi mối liên h
ệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó c ó được
những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn. Như vậy,
trong nhận thức và thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan đ iểm phiến
diện, siêu hình mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện.
II. Nguyên lý phát triển a. Nội dung -
Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng, giảm
thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng; đồng thời, nó
cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp. -
Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng khái niệm phát triển dùng
để chỉ quá trình vận động của sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên: từ trình độ
thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Như vậy, khái niệm phát
triển không đồng nhất với khái niệm "vận động" (biến đổi) nói chung; đó không phải là sự
biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại
ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện của sự vật ở
những trình độ ngày càng cao hơn. -
Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có
của sự vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế
thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới. -
Các quá trình phát triển đều có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú. b. Ý nghĩa -
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức
thế giới và cải tạo thế giới. Theo nguyên lý này, trong mọi nhận thức và thực tiễn cần
phải có quan điểm phát triển. Theo V.I.Lênin, "... Logic biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật
trong sự phát triển, trong "sự tự vận động"..., trong sự biến đổi của nó". Quan điểm phát
triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển. -
Theo quan điểm phát triển, để nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề gì trong thực
tiễn, một mặt, cần phải đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên của nó; mặt
khác, con đường của sự phát triển lại là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận
nghịch, đầy mâu thuẫn, vì vậy, đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của
sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển của nó, tức là cần phải có quan điểm lịch sử
- cụ thể trong nhận thức và giải quyết các vấn đề của thực tiễn, phù hợp với tính chất
phong phú, đa dạng, phức tạp của nó. -
Như vậy, với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép
biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong
nhận thức và thực tiễn. Khẳng định vai trò đó của phép biện chứng duy vật, Ph.Ăngghen
viết: "... Phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật
và những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của
chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng!' .
V.I.Lênin cũng cho rằng: "Phép biện chứng đòi hỏi người ta phải chú ý đến tất cả các mặt
của những mối quan hệ trong sự phát triển cụ thể của những mối quan hệ đó".
Nội dung 5: Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu
tranh giữa các mặt đối lập a. Nội dung
Nội dung quy luật này phát biểu rằng: “Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những
mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân mình; sự
thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động
và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới.”
1. Định nghĩa về các “mặt đối lập”, “mâu thuẫn biện chứng”, sự “thống nhất” và “đấu
tranh” của các mặt đối lập: - Mặt đối lập: -
Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy
định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách khách quan trong tự
nhiên, xã hội và tư duy. -
Sự tồn tại của các mặt đối lập là khách quan và phổ biến trong tất cả các sự vật. - Mâu thuẫn biện chứng: -
Mâu thuẫn biện chứng là trạng thái mà c
ác mặt đối lập liên hệ, tác động qua l ại lẫn nhau. -
Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong t ự nhiên, xã
hội và tư duy. Mâu thuẫn biện chứng trong t ư duy là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực
và nguồn gốc phát triển của nhận thức. -
Ta cần phân biệt mâu thuẫn biện chứng với m
âu thuẫn logic hình thức. Mâu t huẫn
logic hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, xuất hiện do sai lầm trong tư duy. -
Sự “thống nhất” của các mặt đối lập: -
Sự thống nhất của các mặt đối lập l à sự nương t ựa lẫn nhau, tồn tại không t ách rời
nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia l àm t iền đề. -
Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa c húng bao g iờ cũng có những
nhân tố giống nhau. Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự “đồng nhất” của các mặt đ ối
lập. Do có sự đồng nhất của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đến
một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hóa cho nhau. -
Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của
chúng. Tuy nhiên, đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn khi diễn ra sự cân bằng
của các mặt đối lập. -
Sự đấu tranh của các mặt đối lập: -
Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động q
ua lại theo xu hướng bài trừ và phủ
định lẫn nhau giữa các mặt đó. -
Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tùy thuộc
vào tính chất, mối quan hệ qua lại giữa các mặt đối lập và điều kiện diễn ra cuộc đấu tranh.
2. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển. -
Sự thống nhất và sự đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác đ ộng khác
nhau của các mặt đối lập. -
Hai xu hướng này tạo thành một loại mâu thuẫn đặc biệt. Như v ậy, mâu thuẫn biện
chứng cũng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “sự đấu tranh” của các mặt đối lập. - Sự t hống nhất và đ ấu tranh c ủa c
ác mặt đối lập không t ách rời n hau trong quá trình
vận động, phát triển của sự vật. -
Sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, ổn định tạm thời của sự vật. Còn sự đấu
tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động, phát triển. -
Đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt
đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển. -
Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo
khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó ngày càng lớn lên, rộng ra và đi đến
trở thành đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt và đã hội đủ điều kiện, chúng sẽ
chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ sự giải quyết này mà thể thống
nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi, thay thế bằng sự vật mới. -
Như thế, sự phát triển là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập. - Ta thấy rõ, không c ó thống nhất c ủa c
ác mặt đối lập thì sẽ không có đấu tranh giữa
chúng. Thống nhất và đấu tranh của c
ác mặt đối lập là không t hể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng. -
Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính
thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập quy định tính ổn định và tính
thay đổi của sự vật. Do đó, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển. 3. Phân loại mâu thuẫn:
Mâu thuẫn hết sức phong phú, đa dạng. Tính phong phú, đ
a dạng đó được quy định một
cách khách quan bởi đặc điểm của các mặt đối lập, bởi điều kiện tác động qua lại của
chúng, bởi trình độ tổ chức của hệ thống mà trong đó mâu thuẫn tồn tại. -
Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, ta có thể phân loại các mâu
thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. -
Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn
được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản. -
Căn cứ vào vai t rò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật trong một
giai đoạn nhất định, ta có mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu. -
Căn cứ vào tính chất của các q
uan hệ lợi ích, ta chia mâu thuẫn trong xã hội t hành
mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng. b. Ý nghĩa -
Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có ý nghĩa
phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. -
Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự vận động, p
hát triển và có tính khách
quan phổ biến nên cần phải phát hiện ra mâu thuẫn của sự việc bằng cách phân tích để
tìm ra những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau và mối liên hệ, tác động lẫn
nhau giữa chúng, nắm được bản chất, nguồn gốc sự vận động và phát triển. -
Vì mâu thuẫn có tính đa dạng phong phú, vì vậy khi tìm hiểu và giải quyết mâu
thuẫn cần phải biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và có phương pháp giải quyết
phù hợp. Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của
các loại mâu thuẫn trong từng điều kiện hoàn cảnh nhất định, những đặc điểm của mâu
thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất. -
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, giải quyết
mâu thuẫn, không được điều hòa mâu thuẫn và tìm cách giải quyết mâu thuẫn, mâu
thuẫn chỉ được giải quyết điều kiện đã chin muồi.Phải chống thái độ chủ quan, n óng vội,
phải tích cực thúc đẩy các điều kiện khách quan để làm các điều kiện giải quyết mâu
thuẫn đi đến chín muồi. Phải giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, phù hợp để làm
cho sự vật, hiện tượng phát triển không ngừng.
Nội dung 6: Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận quy luật chuyển hóa từ những
thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại a. Nội dung -
Khái niệm về chất và khái niệm về lượng -
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm hai mặt chất và lượng. Hai mặt đó
thống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật, hiện tượng. -
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật,
là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác. -
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số
lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật. -
Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất -
Bất kỳ sự vật hay hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa mặt chất và mặt
lượng, chúng tác động qua lại lẫn nhau. Trong sự vật, quy định về lượng không bao giờ
tồn tại nếu không có tính quy định về chất và ngược lại. Vì vậy, sự thay đổi về lượng của
sự vật có ảnh hưởng đến sự thay đổi về chất của nó và ngược lại, sự thay đổi về chất
của sự vật tương ứng với thay đổi về lượng của nó. -
Sự biến đổi về lượng có thể xảy ra theo hai hướng: sự tăng lên hoặc giảm đi về
lượng dẫn đến sự biến đổi ngay hoặc thay đổi dần dần về chất. Do chất là cái tương đối
ổn định còn lượng là cái thường xuyên biến đổi nên ở một giới hạn nhất định khi lượng
của sự vật thay đổi chưa dẫn đến sự thay đổi về chất của nó. Giới hạn đó được gọi là độ. -
Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn mà ở đó sự thay đổi về lượng
của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy. Độ là mối liên hệ giữa lượng và
chất của sự vật, ở đó thể hiện sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật. Trong độ, sự
vật vẫn là nó chứ chưa biến thành cái khác. -
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi về
lượng. Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì sẽ dẫn đến sự thay đổi căn bản
về chất. Giới hạn đó chính là điểm nút. -
Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng
đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật. Sự vật tích lũy đủ về lượng tại điểm nút sẽ làm cho
chất mới của nó ra đời. Lượng mới và chất mới của sự vật thống nhất với nhau tạo nên
độ mới và điểm nút mới của sự vật đó, quá trình này diễn ra liên tiếp trong sự vật và vì
vậy sự vật luôn phát triển chừng nào nó còn tồn tại. -
Chất của sự vật thay đổi do lượng của nó thay đổi gây ra gọi là bước nhảy. Bước
nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi
về lượng của sự vật trước đó gây nên. -
Bước nhảy là sự kết thúc của một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi
đầu của một giai đoạn phát triển mới. Đó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và
phát triển liên tục của sự vật. Có thể nói trong quá trình phát triển của sự vật, sự gián
đoạn là tiền đề cho sự liên tục và sự liên tục là sự kế tiếp của hàng loạt sự gián đoạn. -
Chất mới của sự vật chỉ có thể xuất hiện khi sự thay đổi về lượng đạt tới điểm nút.
Chất mới của sự vật ra đời sẽ tác động trở lại lượng đã thay đổi của sự vật, chất mới ấy
có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật. -
Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữa hai
mặt chất và lượng. Sự thay đổi dần về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất
thông qua bước nhảy. Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại với lượng dẫn đến sự thay đổi
của lượng mới. Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành cách thức phổ biến của các quá
trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. b. Ý nghĩa -
Vì bất kỳ sự vật nào cũng có hai phương diện chất và lượng tồn tại trong tính quy
định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau, do đó trong nhận thức cần phải coi
trọng cả hai chỉ tiêu, tạo nên sự nhận thức toàn diện về sự vật. -
Cần từng bước tích lũy về lượng để có thể làm thay đổi về chất của sự vật; đồng
thời phát huy tác động của chất mới theo hướng làm thay đổi về lượng của sự vật. -
Cần khắc phục tư tưởng nôn nóng, tả khuynh và tư tưởng bảo thủ hữu khuynh
trong công tác thực tiễn. -
Cần phải vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với từng
điều kiện, lĩnh vực cụ thể.
Nội dung 7: Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của các cặp phạm trù: Cái
chung và cái riêng, Nguyên nhân và kết quả
I. Cái chung và cái riêng a. Nội dung
1. Phạm trù cái riêng, cái chung -
Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất
định; còn phạm trù cái chung dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố,
những quan hệ,... lặp lại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng. -
Trong mỗi sự vật, hiện tượng ngoài cái chung còn tồn tại cái đơn nhất, đó là những
đặc tính, những tính chất,... chỉ tồn tại ở một sự vật, một hiện tượng nào đó mà không lặp
lại ở các sự vật, hiện tượng khác.
2. Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung -
Theo quan điểm duy vật biện chứng: cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn
tại khách quan. Trong đó, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà
biểu hiện sự tồn tại của nó; cái chung không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng, tức là
không tách rời mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể. -
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung; không có cái riêng tồn tại độc
lập tuyệt đối tách rời cái chung. -
Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung; còn cái chung là cái bộ
phận sâu sắc, bản chất hơn cái riêng. Bởi vì, cái riêng là tổng hợp của cải chung và cái
đơn nhất; còn cái chung biểu hiện tính phổ biến, tính quy luật của nhiều cái riêng. -
Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện xác định. -
Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung đã được V.I.Lênin khái quát
ngắn gọn: "Như vậy, các mặt đối lập (cái riêng đối lập với cái chung) là đồng nhất: cái
riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng,
thông qua cái riêng. Bất cứ cái riêng (nào cùng) là cái chung. Bất cứ cái chung nào cùng
là (một bộ phận, một khía cạnh, hay một bản chất) của cái riêng. Bất cứ cái chung nào
cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ. Bất cứ cái riêng nào cũng
không gia nhập đầy đủ vào cái chung, V.V., V.V.. Bất cứ cái riêng nào cũng thông qua
hàng nghìn sự chuyển hóa mà liên hệ với những cái riêng thuộc loại khác (sự vật, hiện
tượng, quá trình), v.v.". b. Ý nghĩa -
Cần phải nhận thức cái chung để vận dụng vào cái riêng trong hoạt động nhận
thức và thực tiễn. Không nhận thức được cái chung thì trong thực tiễn khi giải quyết mỗi
cái riêng, mỗi trường hợp cụ thể sẽ nhất định vấp phải những sai lầm, mất phương
hướng. Muốn nắm được cái chung thì cần phải xuất phát từ những cái riêng bởi cái
chung không tồn tại trừu tượng ngoài những cái riêng. -
Mặt khác, cần phải cụ thể hóa cái chung trong mỗi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể;
khắc phục bệnh giáo điều, siêu hình, máy móc hoặc cục bộ, địa phương trong vận dụng
mỗi cái chung để giải quyết mối trường hợp cụ thể. -
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phải biết vận dụng các điều kiện thích
hợp cho sự chuyển hóa giữa cái đơn nhất và cái chung theo những mục đích nhất định,
bởi vì giữa cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện xác định.
II. Nguyên nhân và kết quả a. Nội dung
1. Phạm trù nguyên nhân và phạm trù kết quả -
Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật
hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó. Kết quả là phạm trù
chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc
giữa các sự vật với nhau gây ra.
2. Tính chất của mối liên hệ nhân – quả -
Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính
phổ biến, tính tất yếu. Tính khách quan thể hiện ở chỗ: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có
của bản thân sự vật không phụ thuộc và ý thức của con người. Dù con người biết hay
không biết, thì các sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên biến
đổi nhất định. Tính phổ biến thể hiện ở chỗ: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và
trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra. Không có hiện tượng nào không có
nguyên nhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi. Tính
tất yếu thể hiện ở chỗ: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống
nhau sẽ gây ra kết quả như nhau. Tuy nhiên, trong thực tế không thể có sự vật nào tồn
tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau. Do vậy, tính tất yếu của mối
liên hệ nhân quả phải được hiểu là: Nguyên nhân tác động trong những điều kiện, hoàn
cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu.
3. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả -
Nguyên nhân sản sinh ra kết quả. -
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả,
được sản sinh ra trước kết quả. Còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện
và bắt đầu tác động. Tuy nhiên không phải hai hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời
gian cũng là quan hệ nhân quả. Cái phân biệt quan hệ nhân quả với quan hệ kế tiếp nhau
về mặt thời gian là ở chỗ: giữa nguyên nhân và kết quả còn có mối quan hệ sản sinh,
quan hệ trong đó nguyên nhân sinh ra kết quả. -
Nguyên nhân sinh ra kết quả như thế nào? Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức
tạp, bởi vì nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện và hoàn cảnh khác nhau. Một kết quả có
thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Mặt khác, một nguyên nhân trong những điều kiện
khác nhau cũng có thể sinh ra những kết quả khác nhau. Nếu nhiều nguyên nhân cùng
tồn tại và tác động cùng chiều trong một sự vật thì chúng sẽ gây ảnh hưởng cùng chiều
đến sự hình thành kết quả, làm cho kết quả xuất hiện nhanh hơn. Ngược lại nếu những
nguyên nhân tác động đồng thời theo các hướng khác nhau, thì sẽ cản trở tác dụng của
nhau, thậm chí triệt tiêu tác dụng của nhau. Điều đó sẽ ngăn cản sự xuất hiện của kết
quả. Do vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải phân tích vai trò của từng loại nguyên
nhân, để có thể chủ động tạo ra điều kiện thuận lợi cho những nguyên nhân quy định sự
xuất hiện của kết quả (mà con người mong muốn) phát huy tác dụng. 4. Phân loại: -
Căn cứ vào tính chất và vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả, có
thể phân các nguyên nhân ra thành: nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu;
nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
5. Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân -
Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi xuất hiện, kết quả lại có ảnh
hưởng trở lại đối với nguyên nhân, Sự ảnh hưởng đó có thể diễn ra theo hai hướng:
Thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tích cực), hoặc cản trở sự hoạt động
của nguyên nhân (hướng tiêu cực).
6. Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau -
Điều này có nghĩa là một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là
nguyên nhân, nhưng trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại. Vì vậy,
Ph.Ăngghen nhận xét rằng: Nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là
nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định.
Nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của
nó với với toàn bộ thế giới, thì những khái niệm ấy lại gắn với nhau trong một khái niệm
về sự tác động qua lại một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn thay đổi
vị trí cho nhau. Chuỗi nhân quả là vô cùng, không có bắt đầu và không có kết thúc. Một
hiện tượng nào đấy được coi là nguyên nhân hay kết thúc bao giờ cũng ở trong một quan hệ xác định cụ thể. b. Ý nghĩa -
Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có sự
vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân. Nhưng không phải
con người có thể nhận thức ngay được mọi nguyên nhân. Nhiệm vụ của nhận thức khoa
học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy để
giải thích được những hiện tượng đó. Muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện
thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không
được tưởng tượng ra từ trong đầu óc con người, tách rời với thế giới hiện thực. -
Vì nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một
hiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ xảy ra trước khi hiện
tượng đó xuất hiện. Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra. Những nguyên
nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả. Vì vậy trong hoạt động
thực tiễn chúng ta cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên
nhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách
quan,…Đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có
biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân có tác động tích cực đến hoạt động
và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực. -
Kết quả tác động trở lại nguyên nhân. Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn chúng ta
cần phải khai thác, tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên
nhân phát huy tác dụng, nhằm đạt mục đích.
Nội dung 8: Nội dung, ý nghĩa quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất a. Nội dung 1.
Khái niệm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất -
Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất của quá
trình sản xuất, không một qua trình sản xuất hiện thực nào có thế diễn ra nếu thiếu một
trong hai nhân tố là người lao động và tư liệu sản xuất. Thế nhưng, chỉ có lực lượng sản
xuất vẫn chưa thể diễn ra quá trình sản xuất hiện thực được, mà còn cần phải có những
quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức xã hội của quá trình sản xuất ấy. -
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất
(sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư
liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức - quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân
phối kết quả của quá trình sản xuất đó. Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối
quan hệ thống nhất và chi phối, tác động lẫn nhau trên cơ sở quyết định của quan hệ sở
hữu về tư liệu sản xuất. 2.
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất -
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống
nhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ
sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất. -
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống
nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn. b. Ý nghĩa -
Vì LLSX quyết định QHSX đối với quá trình sản xuất xã hội, cho nên trong hoạt
động thực tiễn cần coi trọng vị trí, vai trò của LLSX đối với QHSX. Muốn thúc đẩy quá
trình sản xuất xã hội cần phải phát huy vai trò của LLSX; cần phải ưu tiên, mở đường cho LLSX phát triển tối đa. -
Vì QHSX có sự tác động tích cực trở lại đối với LLSX (thể hiện thông qua sự phù
hợp và không phù hợp với trình độ LLSX) trong quá trình sản xuất xã hội, cho nên không
được xem thường, bỏ qua vai trò này và cần phải biết phát huy vai trò của QHSX nhằm
tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho LLSX phát triển. -
Vì giữa LLSX và QHSX tồn tại trong mối quan hệ vừa thống nhất, vừa đấu tranh
lẫn nhau, cho nên cần phải tôn trọng quy luật này. Việc tôn trọng quy luật giúp chúng ta
chủ động trong việc giải quyết mối quan hệ cũng như có những biện pháp phù hợp nhằm
thúc đẩy quá trình sản xuất xã hội phát triển.
Nội dung 9: Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của
xã hội, ý nghĩa phương pháp luận a. Nội dung -
Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ xã hội tạo thành kết cấu kinh tế của một xã hội nhật định. -
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, triết học,
đạo đức, tôn giáo,… với những thể chế tương ứng nhà nước, đảng phái, giáo hội, đoàn
thể,… được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định. -
Như vậy cơ sở hạ tầng hình thành 1 cách khách quan trong quá trình sản xuất vật
chất xã hội, trong xã hội có giai cấp cơ sở hạ tầng cũng có giai cấp. -
Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng: -
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng ( CSHT) đối với kiến trúc thượng tầng (KTTT). - CSHT nào sinh ra KTTT ấy -
KTTT là sự phản ánh CSHT, CSHT nào cũng có sự phát triển KTTT tương ứng
tính chất của KTTT do tính chất của CSHT quy định. -
Khi CSHT cũ mất đi, CSHT mới ra đời thì sớm hay muộn KTTT cũ mất đi, KTTT
mới ra đời đảm bảo sự tương ứng của nó. -
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì chiếm địa vị thống trị,
tinh thần mâu thuẫn trong đời sống kinh tế quy định tính chất, mâu thuẫn trong lĩnh vực
chính trị tư tưởng là biểu hiện của những đối kháng trong đời sống kinh tế. -
Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT. -
Trong bất kỳ tình huống nào KTTT cũng ra sức bảo vệ và phát triển CSHT đã sinh
ra nó trong đó nhà nước là mạnh nhất gần CSHT nhất và bảo vệ CSHT trực tiếp nhất. -
Trong XH có giai cấp, KTTT có vai trò định hướng cho CSHT hoạt động theo nhu
cầu, mục đích của GC thống trị trong đó KTTT chính trị giữ vai trò định hướng cho sự phát triển kinh tế. -
Các bộ phận của KTTT cũng tác động trở qua lại lẫn nhau và đều tác động qua lại
đối với CSHT nhưng các bộ phận đó chỉ thực sự phát huy tác dụng hiệu lực thông qua
nhà nước, pháp luật và các thể chế tương ứng. -
Sự tác động trở lại của KTTT với CSHT theo 2 hướng đó là sự tác động phù hợp
với quy luật kinh tế khách quan sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, CSHT phát triển. Nếu
không phù hợp thì sẽ cản trở kìm hãm sự phát triển của kinh tế thậm chí đẩy nền kinh tế
rơi vào trạng thái cải tạo khủng hoảng trầm trọng. b. Ý nghĩa -
Khi vận dụng mối quan hệ giữa KTTT tức là quan hệ chính trị với kinh tế chúng ta
phải xuất phát từ kinh tế coi trọng chính trị nhưng không tuyệt đối hóa mặt kinh tế coi nhẹ
yếu tố chính trị sẽ dẫn đến sai lầm của chủ nghĩa duy vật tầm thường. -
Không tuyệt đối hóa yếu tố chính trị coi nhẹ hoặc hạ thấp yếu tố kinh tế sẽ dẫn đến
sai lầm của chủ nghĩa chủ quan duy ý chí.
Nội dung 10: Tồn tại xã hội, ý thức xã hội, mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội
Tồn tại xã hội là gì?
Tồn tại xã hội là khái niệm dùng để chỉ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt
vật chất của xã hội, là những mối quan hệ vật chất – xã hội giữa con người với tự nhiên
và giữa con người với nhau; trong đó, quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ
vật chất, kinh tế giữa con người với nhau là hai quan hệ cơ bản. Những mối quan hệ này
xuất hiện trong quá trình hình thành xã hội loài người và tồn tại không phụ thuộc vào ý thức xã hội. Ý thức xã hội là gì?
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm tình cảm, tập quán, truyền
thống, quan điểm, tư tưởng, lý luận v.v nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã
hội trong những giai đoạn phát triển khác nhau. Nói cách khác, ý thức xã hội là những
quan hệ tinh thần giữa con người với nhau, là mặt tinh thần trong quá trình lịch sử. Ý
thức xã hội có cấu trúc bên trong xác định, bao gồm những mức độ khác nhau (ý thức xã
hội thông thường và ý thức lý luận (khoa học); tâm lý xã hội và hệ tư tưởng) và các hình
thái của ý thức xã hội (ý thức chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học, khoa học v.v).
Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội -
Tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội. -
Tồn tại xã hội là cái thứ nhất, ý thức xã hội là cái thứ hai. Tồn tại xã hội quy định
nội dung, bản chất, xu hướng vận động của ý thức xã hội; ý thức xã hội phản ánh cái
logic khách quan của tồn tại xã hội. -
Tồn tại xã hội thay đổi là điều kiện quyết định để ý thức xã hội thay đổi. Mỗi khi tồn
tại xã hội, đặc biệt là phương thức sản xuất biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội
cũng dần biến đổi theo. -
Tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội không giản đơn, trực tiếp mà thường thông
qua các khâu trung gian. Không phải bất kỳ tư tưởng, quan niệm, lý luận, hình thái ý thức
xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ kinh tế của thời đại, mà chỉ
khi xét cho đến cùng mới thấy rõ những mối quan hệ kinh tế được phản ánh, bằng cách
này hay cách khác, trong các tư tưởng ấy. Như vậy, sự phản ánh tồn tại xã hội của ý thức
xã hội phải được xem xét một cách biện chứng. -
Tính độc lập tương đối và sự tác động ngược trở lại của ý thức xã hội. -
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội thể hiện ở: -
Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội do không phản ánh kịp những
thay đổi của tồn tại xã hội do sức ỳ của thói quen, truyền thống, tập quán và tính bảo thủ
của một số hình thái ý thức xã hội v.v tiếp tục tồn tại sau khi những điều kiện lịch sử sinh
ra chúng đã mất đi từ lâu; do lợi ích nên không chịu thay đổi. -
Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội. Do tính năng động của ý thức, trong
những điều kiện nhất định, tư tưởng, đặc biệt là những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể
vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội; dự báo được quy luật và có tác dụng tổ chức,
hướng hoạt động thực tiễn của con người vào mục đích nhất định. -
Ý thức xã hội có tính kế thừa. Quan điểm, lý luận của mỗi thời đại được tạo ra trên
cơ sở kế thừa những thành tựu lý luận của các thời đại trước. Kế thừa có tính tất yếu
khách quan; có tính chọn lọc và sáng tạo; kế thừa theo quan điểm lợi ích; theo truyền
thống và đổi mới. Lịch sử phát triển của các tư tưởng cho thấy những giai đoạn hưng
thịnh và suy tàn của suy tàn của nền kinh tế. -
Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội cũng gây ảnh hưởng tới tồn tại xã hội.
Thông thường, trong mỗi thời đại, tuỳ theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, có những
hình thái ý thức xã hội nào đó nổi lên hàng đầu tác động và chi phối các hình thái ý thức
xã hội khác. Điều này nói lên rằng, các hình thái ý thức xã hội không chỉ chịu sự tác động
quyết định của tồn tại xã hội, mà còn chịu sự tác động lẫn nhau. Mối liên hệ và tác động
lẫn nhau đó giữa các hình thái ý thức xã hội làm cho mỗi hình thái ý thức xã hội có những
tính chất và những mặt không thể giải thích trực tiếp được bằng các quan hệ vật chất. -
Sự tác động ngược trở lại của ý thức xã hội lên tồn tại xã hội là biểu hiện quan
trọng của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với t .ồn tại xã hội.
Đó là sự tác động nhiều chiều với các phương thức phức tạp. Sự tác động này thể hiện
mức độ phù hợp giữa tư tưởng với hiện thực; sự xâm nhập của ý thức xã hội vào quần
chúng cả chiều sâu, chiều rộng và phụ thuộc vào khả năng hiện thực hóa ý thức xã hội
của giai cấp và đảng phái. Như vậy, ý thức xã hội, với tính cách là thể thống nhất độc lập,
tích cực tác động ngược trở lại lên tồn tại xã hội nói riêng và lên đời sống xã hội nói chung.