Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
THỂ TRỮ TÌNH
I. Khái niệm tác phẩm trữ tình
- Trữ tình được hiểu theo hai nghĩa:
+ thứ nhất, trữ tình là một trong ba phương pháp miêu tả trong văn học.
+ thứ hai, trữ tình là một loại văn học kế bên những loại tự sự, kịch.
- Ở nghĩa thứ nhất khái niệm trữ tình để chỉ phương thức miêu tả của văn học, đó là phương thức
thiên về diễn tả, bộc lộ xúc cảm.
- Ở nghĩa thứ hai khái niệm trữ tình để chỉ một loại tác phẩm văn học mà ở những tác phẩm này
chủ yếu sử dụng phương thức trữ tình để miêu tả, những tác phẩm loại này được gọi là tác phẩm trữ tình.
- VD: bài thơ Núi đôi của Vũ Cao, Lá diêu bông của Hoàng Cầm, tùy bút Sông Đà của Nguyễn
Tuân đều được gọi là tác phẩm trữ tình.
II. Đặc trưng thể loại trữ tình
- Từ ca dao đến những tác phẩm thơ ca hiện đại, người đọc cảm nhận trước hết là thế giới nội tâm,
là thái độ xúc cảm và tâm trạng của nhân vật trữ tình đối với con người, cuộc đời và thiên nhiên.
Nhà thơ có thể không cần phải miêu tả kỹ về con người và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới
những tình cảm đó. Ðiều này chứng tỏ sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của tác giả là đặc
điểm tiêu biểu, đầu tiên của tác phẩm trữ tình.
- Mặc dù thể hiện thế giới chủ quan của con người, tác phẩm trữ tình vẫn coi trọng việc miêu tả
các sự vật, hiện tượng trong đời sống khách quan bằng các chi tiết chân thật, sinh động. Những chi
tiết chân thật, sinh động trong đời sống dễ khêu gợi những tình cảm sâu sắc, mới mẻ. Có điều
những chi tiết trong tác phẩm trữ tình bao giữ cũng hết sức cô đọng, súc tích. Tác phẩm trữ tình
cũng phản ánh thế giới khách quan nhưng chức năng chủ yếu của nó là nhằm biểu hiện những cảm
xúc, tâm trạng, suy nghĩ …của con người.
- Lời thơ cũng như lời của tác phẩm tự sự và kịch đều mang tính chính xác, gợi cảm, hình tượng,
hàm súc. Lời văn trong tác phẩm trữ tình đòi hỏi bộc lộ những tình cảm mạnh mẽ, những ý tập
trung, hàm súc do đó nó phải tìm cho mình những lời văn phù hợp với yêu cầu gây ấn tượng mạnh,
không phải chỉ bằng ý nghĩa của từ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ nữa
- Tác phẩm trữ tình gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình (có người gọi là chủ thể trữ tình).
Cần phân biệt rõ 2 khái niệm: nhân vật trữ tình và nhân vật trong tác phẩm trữ tình. Nhân vật trong
tác phẩm trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tâm sự, cảm xúc, suy nghĩ …của mình, là nguyên
nhân trực tiếp khêu gợi nguồn cảm hứng cho tác giả. Nhân vật trữ tình không phải là đối tượng để
nhà thơ miêu tả mà chính là những cảm xúc, ý nghĩ, tình cảm, tâm trạng, suy tư…về lẽ sống và
con người được thể hiện trong tác phẩm.
III. Phân loại tác phẩm trữ tình
- Tác phẩm trữ tình không phải chỉ có thơ trữ tình, mặc dù nó là tiêu biểu nhất. Ngoài thơ trữ tình
còn có tùy bút, thơ văn xuôi, ca trù, từ khúc… 1. Thơ 1.1. Khái niệm thơ
Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh
mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu. 1.2. Thể thơ
1.2.1. Thể thơ dân tộc - Lục bát:
+ Khái niệm: là thể thơ mà mỗi cặp câu thơ được cấu tạo từ câu 6 chữ và câu 8 chữ đan xen, trong
đó chữ cuối của câu 6 bắt vần với chữ thứ sáu của câu 8.
+ Ví dụ: Tương tư (Nguyễn Bính), Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa (Nguyễn Duy), Việt Bắc (Tố Hữu). - Song thất lục bát:
+ Khái niệm: là thể thơ gồm có 2 câu 7 chữ và 1 câu 6 chữ, 1 câu 8 chữ đan xen.
+ Ví dụ: Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị Điểm dịch), Đôi mắt (Lưu Trọng Lư), Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến).
1.2.2. Thể thơ Đường luật
- Thất ngôn bát cú Đường luật:
+ Khái niệm: là thể thơ cả bài thơ có 8 câu, mỗi câu có 7 chữ.
+ Ví dụ: Tự tình (Hồ Xuân Hương), Qua đèo Ngang (Bà Huyện Thanh Quan), Thu điếu (Nguyễn Khuyến).
- Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật:
+ Khái niệm: bài thơ có 4 câu, mỗi câu thơ có 7 chữ.
+ Ví dụ: Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt), Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương), Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão).
- Ngũ ngôn bát cú Đường luật:
+ Khái niệm: bài thơ có 8 câu, mỗi câu thơ có 5 chữ.
+ Ví dụ: Phiếm Giang (Đỗ Phủ), Thính vũ (Nguyễn Trãi), Lân tẩu (Nguyễn Tư giản).
- Ngũ ngôn tứ tuyệt Đường luật:
+ Khái niệm: cả bài thơ có 4 dòng, mỗi câu thơ có 5 chữ.
+ Ví dụ: Tụng giá hoàn kinh sư (Trần Quang Khải), Xuân hiểu (Mạnh Hạo Nhiên), Đàn Cầm (Lưu Trường Khanh).
1.2.3. Thể thơ hiện đại - Thơ tự do:
+ Khái niệm: là thể thơ không có quy tắc số chữ, số câu trong bài.
+ Ví dụ: Vội vàng (Xuân Diệu), Đàn ghi-ta của Lor-ca (Thanh Thảo), Ngân sinh (Huy Thông). - Thơ bốn chữ:
+ Khái niệm: mỗi câu có 4 chữ, không giới hạn số câu trong bài.
+ Ví dụ: Mẹ (Đỗ Trung Lai), Hoa cỏ (Tế Hanh), Lượm (Tố Hữu). - Thơ năm chữ:
+ Khái niệm: mỗi câu có 5 chữ, không giới hạn số câu trong bài.
+ Ví dụ: Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải), Sóng (Xuân Quỳnh), Tiếng thu (Lưu Trọng Lư). - Thơ bảy chữ:
+ Khái niệm: mỗi câu có 7 chữ, không giới hạn số câu trong bài.
+ Ví dụ: Tràng giang (Huy Cận), Tây Tiến (Quang Dũng), Nhớ đồng (Tố Hữu). - Thơ tám chữ:
+ Khái niệm: mỗi câu có 8 chữ, không giới hạn số câu trong bài.
+ Ví dụ: Quê hương (Tế Hanh), Nhớ rừng (Thế Lữ), Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ).
1.3. Đặc điểm thơ
1.3.1. Từ ngữ, hình ảnh
- Từ ngữ trong thơ thường được tác giả cân nhắc lựa chọn kĩ lưỡng, súc tích, cô đọng, có tính gợi
hình, biểu cảm lớn; có thể được sắp xếp, kết hợp theo cách thức “lạ hoá” để gợi ra những ý nghĩa mới mẻ, độc đáo.
- Hình ảnh thơ là sự vật, hiện tượng, con người được miêu tả hay gợi nên trong bài thơ, góp phần
xây dựng thế giới nghệ thuật của tác phẩm nhằm thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật trữ tình.
Hình ảnh thơ thường được tác giả thể hiện qua các từ ngữ (tượng thanh, tượng hình, từ láy,...), các
biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá,...) nhằm tăng sức biểu cảm và khả năng tạo nghĩa.
1.3.2. Vần, nhịp, đối
- Vần là phương tiện tạo tính nhạc cơ bản của thơ dựa trên sự lặp lại (hoàn toàn hoặc không hoàn
toàn) phần vần của âm tiết. Vần tạo nên sự liên kết chặt chẽ và sự hoà âm giữa các dòng thơ (câu
thơ), giúp người đọc dễ nhớ, dễ thuộc. Có nhiều cách gieo vần khác nhau tuỳ thuộc vào thể loại thơ cụ thể.
- Nhịp là những điểm ngắt hơi hay ngừng nghỉ tại các dòng thơ (câu thơ), được quy định bởi thể
thơ cụ thể và được chi phối bởi mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình hay dụng ý nghệ thuật riêng.
- Vần, nhịp là những yếu tố đặc trưng trong cách tổ chức ngôn ngữ thơ và góp phần quan trọng tạo
nên nhạc điệu của thơ.
- Đối là hình thức tổ chức lời thơ thành các cặp, các vế có sự cân xứng với về mặt ý nghĩa, hình
ảnh, từ ngữ, thanh điệu nhằm tạo nên sự hài hoà, sự liên kết và tăng khả năng gợi hình, biểu cảm.
Có hai loại đối là đối tương phản (có đặc điểm, ý nghĩa trái ngược nhau) và đối tương hỗ (có đặc
điểm, ý nghĩa tương đồng, sung cho nhau).
1.3.3. Hình thức bài thơ
- Toàn bộ cách trình bày bài thơ, thể hiện qua các yếu tố tổ chức bài thơ như nhan đề, lời đề từ,
dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, kết cấu bài thơ,... Hình thức bài thơ được chi phối bởi yếu tố thể loại
và dụng ý sáng tạo nghệ thuật của tác giả, góp phần thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình.
1.3.4. Nhân vật trữ tình
- Nhân vật trữ tình hay chủ thể trữ tình là “người trực tiếp thổ lộ những suy nghĩ và cảm xúc trong
bài thơ”; thường là hiện thân của tác giả nhưng không hoàn toàn đồng nhất với tác giả mà còn có
thể đại diện cho một lớp người, một giai cấp hoặc một dân tộc,...; có thể xuất hiện dưới dạng trực
tiếp (qua các từ ngữ tự xưng như: tôi/ anh/ em/ chúng ta/ chúng tôi,...) hoặc nhập vai vào một nhân
vật nào đó hay tồn tại dưới dạng chủ thể ẩn (phát ngôn dưới dạng chủ ngữ ẩn). 1.3.5. Cấu tứ
Cách tổ chức hình ảnh/ hình tượng và triển khai mạch cảm xúc của bài thơ. Một số cách cấu tứ
thường gặp trong thơ như tương đồng, tương phản, tăng cấp, chuyển hoá hoặc thống nhất các mặt
đối lập (động/ tĩnh, không gian/ thời gian, cảnh/ tình,...).
1.3.6. Các yếu tố trong thơ
a) Yếu tố tự sự
Yếu tố tự sự trong thơ trữ tình là sự việc, câu chuyện được thể hiện trong bài thơ, qua đó, giúp
nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc, tâm trạng.
b) Yếu tố tượng trưng
Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là những chi tiết, hình ảnh mang tính biểu tượng, gợi nên
những cảm nhận đa chiều, những liên tưởng phong phú ở người đọc.
c) Yếu tố siêu thực
Yếu tố siêu thực trong thơ trữ tình là những hình ảnh có tính chất kì lạ, khác gợi sự mơ hồ, trừu
tượng, khó lí giải bằng logic thông thường.
1.3.7. Hình tượng, biểu tượng
- Hình tượng trong thơ trữ tình có thể là hình tượng nhân vật trữ tình hoặc là hình tượng con người,
thiên nhiên với tư cách là đối tượng khắc hoạ và bộc lộ cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình.
Khác với hình ảnh thơ, hình tượng thơ có tính chất xuyên suốt tác phẩm, vừa có ý nghĩa cụ thể,
vừa có ý nghĩa khái quát, là sự kết tinh cao độ tư tưởng, tình cảm của tác giả.
- Biểu tượng là hình ảnh về sự vật, hiện tượng, con người có nguồn gốc từ hiện thực đời sống hoặc
sản phẩm của trí tưởng tượng, có ý nghĩa tượng trưng, gợi nên những tư tưởng, triết lí sâu xa.
Trong thơ trữ tình, các tác giả thường sử dụng các biểu tượng sẵn có hoặc có thể sáng tạo nên
những biểu tượng mới mang dấu ấn cá nhân. 2. Tùy bút
2.1. Khái niệm Tùy bút
- Là thể loại văn xuôi phóng khoáng. Nhà văn theo ngọn bút mà suy tưởng, trần thuật, nhưng thực
chất là thả mình theo dòng liên tưởng, cảm xúc mà tả người, kể việc.
- Ví dụ: Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Người lái đò sông Đà (Nguyễn
Tuân), Thương nhớ mười hai (Vũ Bằng).
2.2. Đặc điểm Tùy bút
2.2.1. Sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình
Trong tuỳ bút và tản văn, luôn có sự kết hợp giữa yếu tố tự sự (sự kiện, câu chuyện được ghi chép)
và yếu tố trữ tình (cảm xúc, thái độ của người viết được bộc lộ một cách trực tiếp hoặc thể hiện
qua cách sử dụng ngôn ngữ giàu biểu cảm như: các biện pháp tu từ, các câu văn giàu hình ảnh,
nhịp điệu,...); tuy vậy, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà độ đậm nhạt của từng yếu tố có thể khác
nhau. Thông thường, ở tuỳ bút, yếu tố trữ tình đậm nét hơn.
2.2.2. Cái tôi trữ tình
Cái tôi trữ tình trong tuỳ bút, tản văn là thế giới chủ đậm dấu ấn cá nhân của tác giả, được người
viết thể hiện qua cách nhìn, cách cảm, cách sử dụng ngôn từ, vốn sống, vốn văn hoá,... trong văn bản. 2.2.3. Kết cấu
Kết cấu trong tuỳ bút và tản văn nhiều khi nhìn bề mặt rất tự do, không chặt chẽ, không tuân theo
một logic nào cả, nhưng thực chất được dẫn dắt, chi phối bởi trật tự của dòng cảm xúc, cảm hứng của tác giả. 2.2.4. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ trong tuỳ bút và tản văn mang đặc điểm chung của ngôn ngữ văn học như: tính hình
tượng, tính biểu cảm, tính đa nghĩa, tính thẩm mĩ, ngoài ra còn mang đặc điểm riêng của thể loại
như thường giàu hình ảnh và chất thơ, đặc biệt rõ nét ở thể tuỳ bút. Câu văn tuỳ bút thường giàu
nhịp điệu, âm điệu hài hoà, trầm bổng.