




Preview text:
PHIÊN CHỢ GIÁT - Nguyễn Minh Châu - I. TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả 2. Tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác: “Phiên chợ Giát” được sáng tác năm 1988, là một trong những tác
phẩm cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 1) NỘI DUNG
a) Cái nhìn đa chiều về người nông dân
a1) Bản chất của người nông dân
- Mặt tốt, mặt tích cực
+ Gắn bó với đất đai o
Lão Khúng suốt cuộc đời gắn bó với với đất đai, ruộng vườn. Cũng như bao
người nông dân khác, đất là mồ hôi, là sự sống, là linh hồn của lão. Chỉ có lão mới cảm nhận
được “từ mái tóc và hơi thở của đứa con gái nhỏ phả ra một mùi cỏ rất tươi non của đồng
nội, vừa đắng, vừa ngọt. . Có cái mùi cỏ ống vừa cắt, cả mùi đất rừng hoang dã rất xa xưa
đã ngủ kỹ trong ký ức nhiều năm. .”. o
Không chỉ yêu đất, lão Khúng cũng có khả năng mở mang, cải tạo đất đai phục
vụ cuộc sống. Cặp đôi lão Khúng – bò Khoang là hiện thân của sức mạnh khai phá “vạch
rừng, vỡ đất”, chính sức mạnh này làm nên ruộng vườn nuôi sống con người, mở mang làng
mạc.+Yêuthươngvợcon,cótráchnhiệmvớigiađình o
Lão Khúng là một người lao động yêu thương cái tổ ấm nghèo nàn của mình.
Nét đẹp trong phẩm chất của lão là sự hy sinh vì hạnh phúc gia đình, cho tương lai của con
cái. Tuy nhiên, bên ngoài lão đối xử với các con một cách vụng về, quê mùa, bộc trực. Tình
yêu con lão chỉ để trong lòng hay giấu trong những lời cộc lốc. Chỉ đến lúc chạm phải cái
giới hạn của chia lìa khi lão nhận tin lão đã mãi mãi mất thằng Dũng, cảm xúc của lão mới vỡ òa. o
Lão Khúng chăm lo, quán xuyến chu toàn mọi việc lớn nhỏ trong gia đình. Điều
mà lão Khúng cả đời quan tâm là vợ chồng con cái có ăn, “không chết đói”, là “cái mặt đất
ở dưới chân với mấy mảnh ruộng… thuộc sở hữu gia đình lão”… Đó là tinh thần trách
nhiệm hết sức nghiêm túc của người đàn ông làm trụ cột trong gia đình.
+ Có lòng nhân hậu, sống gắn bó và biết yêu thương loài vật o
Lão Khúng yêu thương, quấn quít, quý mến con Khoang đen như thành viên
trong gia đình. Không chỉ lão Khúng, cả nhà lão từ mụ Huệ, vợ lão, cho đến tất tật chục đứa
con lão đều yêu thương con vật. Thậm chí, Nghiên - con gái lão - ngày ngày đi rất xa để cắt
cỏ non cho bò, thốt lên với bố rằng nó sẽ không chịu nổi nếu bán con bò. Con Khoang cũng
quen mọi cử chỉ, lời nói, tiếng vung roi, kể cả mùi mồ hôi chua loét của lão, và nghe lời răm
rắp.o Khi lão phải quyết định mang con khoang đen xuống chợ Giát cho người ta làm
thịt, lão đã vô cùng đau lòng. Từ hai đáy mắt khô cằn của lão, đã rơi xuống đám cỏ ống một
thứ nước đặc quánh. Lão thấy rằng, thịt da con khoang cũng là thịt da của lão, mồ hôi của
con vật và của lão đã quyện vào nhau; phân nó thải ra suốt mười mấy năm đã làm tươi xanh
ruộng vườn, cây cối của lão, nguồn sống con cái lão. o
Hành động lão Khúng thả con Khoang về rừng để nó được “ăn cỏ cả đời không
hết, khát thì có nước suối”, được “sống một mình hay với bầy bò hoang như một bà hoàng”
chính là biểu hiện cao nhất của tình yêu mà lão dành cho con vật.
-> Những vẻ đẹp truyền thống của người nông dân.
- Mặt trái, mặt tiêu cực: cái nhìn thiển cận, lẩn quẩn
+ Lão có cái nhìn thiển cận, lạc hậu về việc sinh con đẻ cái. Lão bắt vở phải đẻ vì “ Đẻ rồi
nuôi, sợ gì? … Làm ra con người khó đếch gì?”. Lão nghĩ “đã dám bỏ làng bìu điu nhau lên
sống giữa chốn rừng thiêng hoang vắng đến nửa ngày không gặp một người thì phải có thêm
người chứ. Không có thật đông người thì làm sao dọn hết đá”. Đó chính là những suy nghĩ
hết sức lạc hậu đã ăn sâu vào suy nghĩ của lão Khúng. Người nông dân vốn đã quen với cuộc
sống tự cung tự cấp, tất cả đều trông vào sức lao động, vì thế nên họ không tránh khỏi cái
nhìn thiển cận, luẩn quẩn với "cái mặt đất ở dưới chân với mấy mảnh ruộng”.
+ Lão còn bị mắc kẹt trong chính cuộc đời mình. Thực tại khắc nghiệt của cuộc sống cơ
cực, lam lũ càng ghì chặt lão vào cái vòng quẩnh quanh của mảnh đất, miếng ăn. Lão đã mơ
hồ nhận ra cái vòng lẩn quẩn của cuộc đời mình, nhưng liệu lão có dám giải thoát cho chính
mình khỏi mảnh ruộng, khỏi những ngày đã cũ? Lão Khúng muốn giải thoát cho bò Khoang
khỏi kiếp kéo cày cơ cực nhưng lão không nghĩ được một cách nào khác là dùng roi xua bò
Khoang vào rừng để thành bò hoang. Hành động thả con Khoang thực chất là biểu hiện của
khát khao tự do, nhu cầu được giải phóng cho chính mình. Tuy nhiên, sự quay về của con
Khoang một lần nữa khẳng định sự bế tắc của cuộc đời lão, ảo tưởng tự do của lão bị thất bại
não nùng. Đến cuối cùng, lão vẫn không có lối nào để thoát ra khỏi cuộc sống bế tắc, cuộc
đời lão vẫn mắc kẹt trong mảnh ruộng, trong những ngày xưa cũ.
-> Cái hoang dã, u tối, đầy bản năng của người nông dân.
a2) Thế giới bên trong phức tạp
+ Nhà văn đã thâm nhập vào những ngóc ngách sâu kín nhất của con người, miêu tả họ
từ bên trong với những trạng thái tâm lí, tinh thần phức tạp. Các nhân vật nhiều khi có những
hành động không đồng nhất với lời nói, lời nói không đồng nhất với nội tâm. Tình cảm gắn
bó máu thịt của lão Khúng với con Khoang đen - người bạn nhọc nhằn của lão cũng đã được
Nguyễn Minh Châu biểu hiện qua những chi tiết miêu tả tâm lí tinh tế, chính xác. Trong đoạn
độc thoại nội tâm để "báo cáo" sự việc bán bò khoang với các con, lão cố làm ra vẻ bình thản,
cố không nhìn vào nỗi "vướng vức vô cùng" của lòng mình, cố lảng tránh nỗi đau đớn bằng
cách tỏ ra bất cần, nghiệt ngã và tàn nhãn. Lão giục con bò: "Rảo bước đi nhanh lên mà chết
cho sớm sủa! Để cho người ta nện cho một búa vào đầu mày cho nhanh lên đồ quỷ ạ! Rồi
đến lượt tao, tao cũng phải tìm cách báo cáo với chúng nó, với những đứa con trai con gái
của tao rằng từ nay trong nhà không còn mày nữa, rằng tao đã giết mày. Mà mày cũng đã
già nua tuổi tác rồi chứ chả còn là thiếu nữ hay nạ dòng gì nữa. Ông trời sinh ra số kiếp mày
đã như thế, suốt cả một đời nai lưng ra kéo cày, già thì giết thịt. Có ai để cho một con bò già
rồi chết để làm đám tang cho thật to, thật linh đình bao giờ?". Cái giọng giục giã, gắt gỏng
ra vẻ tàn nhẫn ấy còn đau đớn hơn cả tiếng khóc. Tấm lòng nhân hậu của Nguyễn Minh Châu
đã nhìn thấu cái không đồng nhất giữa lời nói và tâm tư thật của con người, thấu hiểu tình
cảm sâu sắc của những con người lao động “cục cằn”, “u tối” ấy.
+ Nguyễn Minh Châu còn khám phá được thế giới tinh thần phức tạp đầy những ám ảnh,
mặc cảm của nhân vật. Giấc mơ chính là chìa khóa để mở toang thế giới ấy. Trong giấc mơ,
con người có thể bắt gặp nhiều cái bóng khác nhau của chính mình, thực chất tất cả đều phản
ánh một góc khuất, một phần nào đó của bản ngã con người.
o Mặc cảm tội lỗi hiện hình qua hình ảnh đồ tể giết chết con bò trong giấc mơ thứ nhất.
Con Khoang cả cuộc đời gắn bó với gia đình lão, giúp lão xây dựng cơ nghiệp ở vùng khai
hoang. Vậy mà lão đã có ý định bán nó. Chính lão luôn cảm thấy tội lỗi với con bò tình nghĩa.
o Mặc cảm thân phận hiện lên qua hình ảnh nửa người nửa bò đầm đìa máu trong giấc
mơ thứ hai. Hình ảnh lão Khúng biến dạng trong giấc mơ chính đã phản ánh thân phận thật
của lão trong cuộc đời - một kiếp trâu bò nửa người nửa vật, chẳng thể phân định. Lão cay
đắng với mặc cảm cuộc đời mình không khác gì một con bò. Hay trạng thái tâm lí hoảng loạn
của lão trước những phản thịt bò ở chợ cầu Giát cũng phản ánh rõ nét mặc cảm thân phận ấy:
"Lão nhìn ra hai bên và phía trước, phía sau", lão "hối hả kéo chiếc xe củi sang hai bên kia
cầu" như để "trốn một cuộc tàn sát đầy tàn nhãn" . . vậy mà đâu đâu cũng "đỏ ối" những
"mảnh thi thể của" những con vật kéo cày" - những hóa thân bên ngoài của lão.
b) Vấn đề về sự tồn tại của con người
- Đất nước bước sang thời kì đổi mới, những “người bên lề” của thời đại cũ dần bị bỏ
lại, họ không thể thích nghi với sự thay đổi chóng mặt ấy. Lịch sử sang trang không kéo theo
sự sang trang đồng loạt của mọi số phận. Lựa chọn con đường làm ăn cá thể, gia đình lão
phải chấp nhận sự tối tăm, cơ cực, nhưng lão biết nếu tham gia hợp tác theo kiểu "đại cách
mạng" của lão Bời, mạng sống của gia đình còn bấp bênh hơn. Từ nỗi nhọc nhằn với lòng
khao khát cải thiện đời sống vật chất của lão Khúng (thay chiếc xe cút kít bằng chiếc xe có ổ
bi bánh lốp, cùng vợ con vật lộn kiếm sống. .), khao khát hướng về ánh sáng văn hóa (đặt tên
con là Bút, Nghiên); cho con gái về phố huyện ở (để học hết cấp 3), Phiên chợ Giát đã phát
ra một cách tuyệt vọng và khẩn thiết những tín hiệu cứu nạn của những con người đầy khát
khao nhưng cuối cùng vẫn đứng bên lề của cuộc sống.
- Tác phẩm còn đặt ra những giả thiết về sự tồn tại của người nông dân. Người nông dân
có thể trở thành hung thần cuộc sống mà cũng có thể trở một nạn nhân thảm khốc của chính
cuộc đời mình. Đó là ý nghĩa của hai giấc mơ: giấc mơ trở thành con bò bị đánh bằng búa tạ
và giấc mơ trở thành kẻ nâng chiếc búa tạ đánh vào đầu con bò. Hai giấc mơ đối lập nhau
nhưng đều xoay quanh nỗi trăn trở về sự tồn tại, về thân phận con người. Hành động phóng
thích bò khoang như một nhu cầu bức bối tự giải thoát, như sự xua đuổi quyết liệt một số
phận. . là sự bùng nổ ở giới hạn tột cùng của khả năng chịu đựng. Hành vi thả bò là phóng
thể, là cuộc rượt đuổi số phận, vừa “có một cái gì khoái lạc, tự thoả mãn”, vừa “quá đỗi nhọc
nhằn”. Sự trở về của con bò với cái nhìn "đầy nhẫn nhục và sầu não" đã vạch một đường
khép kín quanh số phận tù túng, luẩn quẩn, bế tắc của một con người. Cả một đời cùng vợ
con vắt kiệt sức cho đất đai, những gì lão Khúng có được chỉ là một cuộc sống kham khổ về
vật chất, mông muội về tinh thần và một tuổi già hay lú lẫn, hoài nghi, ngớ ngẩn. NMC đã lột
tả đến đáy cùng nỗi tuyệt vọng của "một kiếp người nhọc nhằn, tủi nhục, mất mát tất cả, để
cuối cùng chỉ còn thấy xung quanh một màu máu đỏ. Tác phẩm đã khiến người đọc cay đắng
nhận ra sự thật: có những con người chỉ hiện hữu, tồn tại mà chưa phải là sống, chưa bao giờ được sống. 2) NGHỆ THUẬT
a) Nghệ thuật kể chuyện - Cốt truyện
Câu chuyện vẫn có những biến cố theo kiểu cốt truyện truyền thống tuy nhiên các sự
việc không được kể theo trình tự thời gian, quan hệ nhân quả mà đã có biểu hiện của sự phân
rã cốt truyện. Một ông già nông dân tên Khúng đem con bò xuống chợ huyện bán, nhưng lại
thả nó và cuối cùng thấy con bò trở lại với mình. Đây là sự kiện ở thời gian hiện tại ở tiền
cảnh mà những phần bổ sung khác sẽ được mở rộng thêm ở hậu cảnh, thuộc tuyến thời gian
quá khứ. Chuyến dong bò bắt đầu vào lúc nửa đêm về sáng, kéo dài đến tận bảy giờ sáng mới
xuống đến chợ. Trong quá trình dong bò, hàng loạt những câu chuyện quá khứ trở lại trong
trí nhớ của lão Khúng, hỗn độn, không theo trật tự nhưng liên quan đến cuộc đời lão và con
bò: chuyện lão Khúng từ miền biển lên khai phá khoảng rừng hoang, chuyện cái chết của
thằng Dũng, chuyện ông bí thư huyện,… Bên cạnh đó có những chi tiết gắn với khung cảnh
xã hội đương thời: những lần làm thủy lợi, sự biến đổi của vùng đất hoang nơi lão quyết định
định cư, việc đưa dân lên vùng kinh tế mới ở Tây Nguyên… Chính nhờ sự phong phú của
hậu cảnh như thế mà câu chuyện mang một bề dày, một quy mô đáng kể của tiểu thuyết dưới
hình thức truyện ngắn. Cả cuộc đời của lão Khúng với những sự kiện của cả xã hội được tái
hiện ở hậu cảnh nhờ sự đan xen của các tuyến thời gian này.
- Điểm nhìn trần thuật
Truyện vẫn có một điểm nhìn từ người kể chuyện ngôi thứ ba nhưng với một tâm thế
trần thuật hết sức bình đẳng, dân chủ. Người trần thuật không đưa ra những nhận xét đánh
giá có tính chất tổng kết, hoàn tất về nhân vật. Không dừng lại ở đó, điểm nhìn trong Phiên
chợ Giát luôn được di chuyển vào bên trong nhân vật. Nhà văn đã để nhân vật Khúng được
tự do bày tỏ chính mình trong dòng ý thức lộn xộn, vừa đơn giản bản năng lại vừa lý trí phức
tạp, giằng xé của lão. Câu chuyện do thế có những nút biến chuyển bất ngờ không theo một
nguyên tắc nhân quả tuyến tính mà phát triển một cách đầy bất ngờ như tâm lý con người vốn khó đoán định. b) Mô-típ hoá thân
Nguyễn Minh Châu đã sử dụng mô-típ hoá thân khi để lão Khúng hoá thân thành con
bò. Hiện tượng hóa thân của lão Khúng cũng như sự biến dạng của nhân vật trong truyện
Kafka là một môtip văn học biểu trưng cho sự tha hóa tại điểm nút của nỗi khốn cùng và mặc
cảm thân phận. Điểm gặp gỡ giữa lão Khúng và Samsa là họ sống “cứ mãi như thế”, trong
một guồng sống đã được thiết lập một cách đều đặn, một guồng sống nơi mỗi ngày trôi qua
đều như nhau. Họ đã bị biến dạng từ chính sâu trong tâm hồn, và tình huống thay đổi về mặt
ngoại hình chỉ là sự bộc lộ trực tiếp sự biến dạng ấy mà thôi. Khi nhân vật vượt qua giấc mơ,
tự dưng họ nhận ra mình đã biến dạng.
c) Hình ảnh đa nghĩa
Hình ảnh con bò trong tác phẩm là hình ảnh đa nghĩa.
- Hình ảnh lão Khúng biến thành sinh vật nửa người nửa bò gợi liên tưởng đến “kiếp
trâu bò”, đến thân phận “nửa người, nửa vật” của nông dân. Quan trọng hơn cả là biểu tượng
này tạo ra “nghĩa bóng” cho một hình tượng đặc sắc trong truyện. Cử chỉ giải thoát cho bò
Khoang – hiểu theo “nghĩa đen” – chỉ chứng tỏ lòng tốt và tình thương của lão Khúng đối
với bò Khoang. Nhưng một khi bò là người, một khi bò Khoang chính là lão Khúng thì cử
chỉ giải thoát của lão mang ý nghĩa “tự giải thoát”. Thả cho bò Khoang về chốn rừng thẳm
sống nhởn nhơ, tự do, lão Khúng thực hiện ảo tưởng tự do hoang dã của chính mình. Và đến
cuối truyện, từ rừng sâu con bò lại quay trở về gặp chủ nó, “nghĩa đen” của chi tiết này là sự
luẩn quẩn của số kiếp bò Khoang, nhưng “nghĩa bóng” là sự thất bại của ảo tưởng tự do của lão Khúng.
- Một khi bò là người thì “buôn bò” cũng có nghĩa là “buôn người”, “buôn nông dân”.
Chỉ hiểu “buôn bò” như là thành phần xuất thân của chủ tịch Bời là chỉ hiểu “nghĩa đen” của
từ này. Thuở “hàn vi”, ông Bời “đang còn biết yêu trâu bò, súc vật” (có thể hiểu theo “nghĩa
bóng”: đang còn biết yêu nông dân). Nhưng một khi nắm được chức quyền cao nhất, bị mù
quáng và tha hóa bởi quyền lực, ông Bời trở thành “buôn bò” theo nghĩa bóng: ông “lợi dụng
tâm lý nông dân”, để làm những việc “khủng khiếp”, “khuấy đảo sự làm ăn, no đói của hàng
vạn người…”. Xuất thân “buôn bò” theo nghĩa đen, ông Bời trở thành “buôn bò” theo nghĩa
bóng. Chủ tịch Bời là một khả năng của số phận nông dân. Hình ảnh con bò đực “già nua”,
“trụi hết lông”, “yếm chảy sát gối”, “hai con mắt toét nhèm”, “bước đi từng bước ậm ạch”,
“bình thản đi đến chỗ chết” − mà lão Khúng nhác nhìn thấy ở phố cầu Giát khi lão một mình
nhọc nhằn lôi chiếc xe bò – phác ra một khả năng khác của số phận nông dân.
-> Trong truyện Phiên chợ Giát, những hình ảnh đa nghĩa đã góp phần gợi ra nhiều hình
khả năng về số phận của người nông dân. III. Tổng kết
Document Outline
- I. TÌM HIỂU CHUNG
- PHIÊN CHỢ GIÁT
- - Nguyễn Minh Châu -
- II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
- a)Cái nhìn đa chiều về người nông dân a1) Bản chất c
- + Gắn bó với đất đai
- + Yêu thương vợ con, có trách nhiệm với gia đình
- + Có lòng nhân hậu, sống gắn bó và biết yêu thương
- -> Những vẻ đẹp truyền thống của người nông dân.
- -> Cái hoang dã, u tối, đầy bản năng của người nôn
- b)Vấn đề về sự tồn tại của con người
- 2) NGHỆ THUẬT
- a)Nghệ thuật kể chuyện
- b)Mô-típ hoá thân
- c)Hình ảnh đa nghĩa