TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NỘI
KHOA KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI
TRƯỜNG
KỲ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
HỌC KỲ 1, NĂM HỌC 2021-2022
Đề tài bài tập lớn: Cầu hàng hóa và giá cả thị trường
Họ và tên sinh viên : Trần Mai Anh
Mã sinh viên 21111204339
Lớp : DH11MK8
Tên học phần : Kinh tế vi
Giáo viên hướng dẫn : Tống Thị Thu Hòa
Học phần: Kinh tế vi
Trình độ đào tạo: Đại học chính quy
Mã học phần: KTKH101
Chủ đề: Cầu hàng hóa và giá cả thị trường
Yêu cầu:
1. Phân tích lý thuyết về cầu hàng hóa (khái niệm cầu, lượng
cầu, cầu cá nhân, cầu thị trường, các nhân tố ảnh hưởng đến cầu).
2. Vận dụng: Giả sử hàm cầu và hàm cung về sản phẩm trên
thị trường như sau:
QD = 400 3P QS = 3P - 200
(Đơn vị tính: P: USD/kg; Q: kg)
a. Xác định giá và sản lượng cân bằng, tính hệ số co giãn của cầu
và cung theo giá tại điểm cân bằng trên thị trường.
b. Giả sử chính phủ trợ cấp tr =3 USD/kg thì sản lượng và giá
cân bằng mới là bao nhiêu? Tính phần trợ cấp mà người tiêu dùng
nhà sản xuất được hưởng trên một kg.
c. Do công nghệ sản xuất sản phẩm được cải tiến nên cung của
sản phẩm này tăng lên 30 kg tại mọi mức giá, hãy tính toán sự thay đổi
giá và sản lượng cân bằng.
d. Vẽ đồ thị minh họa tất cả các trường hợp trên.
3. Liên hệ thực tiễn về chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp vượt
qua đại dịch Covid 19 của Chính phủ Việt Nam.
BÀI LÀM
Câu 1:
Để hiểu về lý thuyết cầu hàng hóa chúng ta cần hiểu được những khái
niệm sau:
- Cầu (D): là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng mong
muốn và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian
nhất định, với điều kiện các yếu tố khác không đổi.
VD: Ông An mua xe đạp cho con đi học, thanh toán hết 800000 đồng.
- Lượng cầu (QD ) là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu
dùng mong muốn và có khả năng mua ở mỗi mức giá khác nhau (ở một mức
giá), trong khoảng thời gian nhất định, với điều kiện các yếu tố khác không
đổi.
=> Sự khác nhau giữa cầu và lượng cầu: Cầu được xác định ở các mức
giá khác nhau còn lượng cầu được xác định ở một mức giá nhất định.
VD: với mức giá P0 = $4 mỗi cái bánh, người tiêu dùng mua 2 cái
bánh mỗi ngày; lượng cầu là Q0 =$2. Nếu các chủ thể là những nhà cung cấp
quyết định tăng giá 1 cái bánh lên P1 = $6, thì người tiêu dùng chỉ mua Q1 = 1
cái bánh mỗi ngày. Tuy nhiên, nếu giá của một cái bánh giảm xuống còn
P2 =$4, thì các chủ thể là khách hàng muốn tiêu thụ 3 cái bánh, Q2=$3.
- Cầu cá nhân: là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà một cá nhân
mong muốn mua và có khả năng mua tại các mức giá khác nhau trong một
khoảng thời gian nhất định…
- Cầu thị trường : là tổng cầu cá nhân ở các mức giá. Khi cộng lượng
cầu cá nhân ở mỗi mức giá ta có lượng cầu thị trường tại mỗi mức giá.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu: có 6 nhân tố ảnh hưởng đến cầu. Các
nhân tố được thể hiện rõ hơn với bảng sau:
Nguyên nhân Cầu ng Cầu giảm
1 Giá chính của hàng
hóa đó( Px)
Giảm ng
2 Thu nhập( I) Tăng ( hàng hóa thông
thường )
Giảm( hàng hóa thứ cấp)
Giảm( hàng hóa thông
thường )
Tăng( hàng hóa thứ
cấp)
3 Giá cả của hàng hóa
có liên quan (PY )
Tăng( hàng hóa thay
thế)
Giảm( hàng hóa bổ
sung)
Giảm( hàng hóa thay
thế)
Tăng( hàng hóa bổ
sung)
4 Thị hiếu (T) ng Giảm
5 Số ợng người tiêu
dùng (N)
Tăng Giảm
6 Kỳ vọng (E) Giảm ng
Có thể nói lý thuyết về cầu hàng hóa mang đầy đủ tất cả những ý của
những khái niệm trên. Những khái niệm được nêu ở phần trên chính là những
phần nhỏ trong lý thuyết về cầu hàng hóa và cũng là bản chất lý thuyết của
cầu hàng hóa.
Câu 2:
a) Xác định giá và sản lượng cân bằng của sản phẩm:
Tại điểm cân bằng thì QS= QD 3P-200= 400-3P
P0= PCB= 100 (USD/kg)
Thay P0 vào QS hoặc QD ta được Q0= 100 (kg)
Hệ số co giãn của cầu theo giá tại thời điểm thị trường cân bằng:
EPD= a*(P/Q)= -3*(100/100)= -3
Hệ số co giãn của cung theo giá tại thời điểm thị trường cân bằng:
ESP= c*(P/Q)= 3*(100/100)= 3
b) Giả sử chính phủ trợ cấp tr =3 USD/kg .
Khi chính phủ trợ cấp lên mỗi đơn vị sản phẩm là tr ta có:
QStr= QS+c*tr= 3P-200+3*3= 3P-191
Tại điểm cân bằng mới thì QStr= QD 3P-191= 400-3P
P1= 98,5 (USD/kg )
Thay P1 vào QStr taQ1= 104,5 (kg)
Số trợ cấp người tiêu dùng được hưởng : P0-P1= 100- 98,5= 1,5
(USD/kg )
Số trợ cấp người bán hàng được hưởng : 3-1,5= 1,5 (USD/kg )
c) Do công nghệ sản xuất sản phẩm được cải tiến nên cung của sản phẩm
này tăng lên 30 kg tại mọi mức giá.
Khi cung của sản phâm tăng lên tại mọi mức giá, ta có :
QS’= QS+30= 3P-170
Sự thay đổi giá và sản lượng cân bằng mới :
QS’= QD 3P-170= 400-3P
P2=95(USD/kg ) Q2= 115 (kg)
d) Vẽ đồ thị minh họa tất cả các trường hợp trên
Câu 3: Liên hệ thực tiễn về chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua đại
dịch Covid 19 của Chính phủ Việt Nam.
Dịch COVID-19 đang có những diễn biến vô cùng phức tạp, chính
điều đó đã và đang tạo ra những thách thức chưa từng có đối với nền kinh tế
thế giới. Nền kinh tế Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, khi mà các
doanh nghiệp nước ta đang đứng trước rất nhiều khó khăn. Trong bối cảnh
này việc Chính phủ Việt Nam đưa ra những chính sách về thuế để hỗ trợ
doanh nghiệp là việc rất cần thiết.
Theo số liệu thống năm 2021 của Tổng cục Thống về tình hình
đăng kinh doanh đã cho thấy: khoảng 160 000 doanh nghiệp đăng
thành lập mới và quay trở lại hoạt động, giảm 10,7% so với năm trước và
tăng 17,8% số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Như vậy trung bình mỗi
tháng có khoảng 13,3 nghìn doanh nghiệp tham gia vào thị trường và 10
nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Như vậy nước ta có khoảng 4136
nghìn tỷ đồng tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế giảm 25,8% so
với cùng kỳ năm trước. Đây là những con số đáng báo động về tình hình kinh
tế nước ta hiện nay. Chính những con số biết nói này đã nói lên nguyên nhân
vì sao tỷ lệ thất nghiệp nước ta tăng mạnh đến thế. Điều này cho thấy làn
sóng dịch bệnh đã và đang bào mòn sức chống chiu của doanh nghiệp, đặc
biệt là những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Trước tình hình đó Chính
phủ Việt Nam đã đưa ra những chính sách thuế thuế hỗ trợ doanh nghiệp
vượt qua đại dịch Covid 19. Theo đó, trong năm 2020 chính phủ đã thực hiện
việc gia hạn thêm 5 tháng thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập
cá nhân, thuế giá trị gia tăng và thu tiền sử dụng đất cho các doanh nghiệp và
hộ kinh doanh; giảm 30% thuế thu nhập đối với doanh nghiệp, hợp tác xã,
đơn vị xí nghiệp và các tổ chức khác; giảm 30% thuế bảo vệ môi trường đối
với nhiên liệu bay; giảm thuế thu nhập cá nhân thông qua chính sách nâng
mức giảm trừ gia cảnh; giảm thuế xuất, nhập khẩu; giảm 50% lệ phí trước bạ
đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước; giảm 15% tiền thuê đất và cắt giảm
rất nhiều loại phí, lệ phí khác cho danh nghiệp. Tiếp đến năm 2021, chính
phủ tiếp tục thực hiên„ rất nhiều các chính sách cụ thể là: giảm 30% mức thuế
bảo vê môi trường đối với nhiên liê u bay cho các hãng hàng không đến hết
năm 2021; gia hạn thêm thời hạn nôp„ thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhâp„
doanh nghiêp„, thuế thu nhâp„ nhân, tiền thuê đất cho các đối tượng găp„ khó
khăn do ảnh hưởng dịch Covid-19; miễn giảm môt„số khoản phí, lệ phí. Đồng
thời nhà nước cũng cho phép tính vào chi phí của doanh nghiêp„ đối với các
khoản chi ủng hộ, tài trợ cho các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19 khi
tính thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm 2020, 2021. Với chính
sách này của Chính phủ đã có tác dụng hiệu quả khi mà có khoảng 1 triệu
lượt doanh nghiệp, khách hàng được hưởng hỗ trợ tín dụng, 160.000 doanh
nghiệp được hưởng chính sách gia hạn, miễn, giảm thuế, phí, tiền thuê đất;
khoảng 50.000 doanh nghiệp sẽ quay trở lại hoạt động trong năm 2021.
Chúng ta không thể phủ nhận rằng những chính sách của nhà nước đã
có tác động rất tốt đến việc khôi phục nền kinh tế thế nhưng có một mặt tiêu
cực đó là nguồn thu của nhà nước không quá khả quan khi mà tổng thu ngân
sách nhà nước năm 2021 chỉ đạt 1523,4 nghìn tỷ đồng và chỉ hơn năm 2020
một chút với 1512,3 nghìn tỷ đồng. Điều này có thể sẽ gây khó khăn đối với
các dịch vụ phúc lợi xã hội. Với nguồn thu ngân này nhà nước sẽ phải cân
nhắc đối với việc giải ngân cho các dự án phúc lợi xã hội.
Vậy nên em nghĩ rằng nhà nước ta cần có nhiều chính sách đối phó với
dịch bệnh và kéo dài khả năng chống chịu cũng như hồi phục cho các doanh
nghiệp như: Một là cần tăng số lượng miễn giảm các loại thuế bởi vì đối với
các doanh nghiệp thì khó khăn lớn nhất của họ nằm ở việc duy trì dòng tiền
và lãi vay, vì vậy gói hỗ trợ miễn thuế của Chính phủ và Bộ Tài chính có thể
sẽ không phải là yếu tố quyết định để giúp doanh nghiệp tồn tại qua đại dịch.
Tuy nhiên nó sẽ đóng vai trò khích lệ và gia tăng tiêu dùng trong xã hội khi
đó Chính phủ có thể cân nhắc thêm việc giảm một số loại thuế như thuế trước
bạ, thuế tiêu thụ đặc biệt,... ; Hai là các chính sách hỗ trợ cần được tiếp tục
thực hiện theo hướng tập trung đúng đối tượng, theo sát nhu cầu của doanh
nghiệp cần có sự chọn lọc và phân loại ngành nghề tốt hơn trên các điều kiện
và tiêu chí nhất định. Ví dụ như trong thời kỳ dịch covid-19 thì có một số
ngành nghề chịu tác động tiêu cực như du lịch, vận tải, dệt may thì những
ngành này cần được sự hỗ trợ nhiều hơn trong khi đó một số ngành vẫn có
thể phát triển khá tốt như ngành công nghệ thông tin, thương mại điện tử. ;
Ba là giải pháp về thuế nên hướng tới sự bền vững và hỗ trợ tăng trưởng cụ
thể nhà nước nên cải cách hệ thống thuế nhằm giảm thiểu gánh nặng thuế
khóa tạo nguồn thu ngân sách ổn định và cân bằng đồng thời cơ cấu lại
nguồn chi ngân sách nhà nước theo hướng ổn định và gia tăng hiệu quả đầu
tư phát triển và nên phân bố vốn ngân sách cho những công trình thực sự cần
thiết có hiệu quả cao và kiểm soát chặt chẽ để tránh gây lãng phí.
Đã có rất nhiều doanh nghiệp được hưởng lợi từ những chính sách
miễn giảm thuế của nhà nước trong đó không thể không nhắc đến Vinamilk.
Với việc thuế nhập khẩu áp dụng cho các mặt hàng nguyên vật liệu được
giảm sẽ hỗ trợ nhẹ biên lợi nhuận gộp của các doanh nghiệp sữa. Cụ thể, đối
với Vinamilk, tỷ lệ nhập khẩu nguyên vật liệu từ châu Âu khoảng 10%, bao
gồm bột sữa gầy và bột sữa chưa tách béo. Thuế nhập khẩu các mặt hàng này
trước EVFTA ( Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam) là
5%, bắt đầu từ 1/8/2020 được giảm xuống 2,2% và giảm dần về 0% sau năm
2022. Như vậy, biên lợi nhuận gộp của Vinamilk sẽ được cải thiện từ việc
này. Hay như ngành xuất khẩu gạo cũng vậy. Nếu như trước đó thuế nhập
khẩu đối với gạo Việt Nam vào EU là 65-211 EUR/tấn (5-45%) thì sau hiệp
định mức thuế này được giảm về 0% từ thời điểm EVFTA có hiệu lực đối với
gạo theo hạn ngạch 80 nghìn tấn/năm. Đối với các hãng sản xuất ô tô trong
nước như VinFast thì vào ngày 26/11, đề xuất của Bộ Tài Chính đã thông
qua, Phó thủ tướng Lê Minh Khái đã ký Nghị định 103 quy định mức thu lệ
phí trước bạ với ôtô sản xuất lắp ráp trong nước được giảm 50% lệ phí trước
bạ lần đầu và thời gian có hiệu lực từ 1/12 đến hết tháng 5 năm sau.
Như vậy thể nói chính sách thuế của nhà nước đã góp phần rất lớn
trong việc cứu nguy cho các doanh nghiệp nước ta nhất các doanh nghiệp
vừa nhỏ. Tuy rằng các chính sách của nhà nước vẫn chưa giải quyết được
hết tất cả các vấn đề của doanh nghiệp. Nhưng điều quan trọng là các gói cứu
trợ này đã được đưa ra một cách kịp thời làm giảm đi gánh nặng tài chính của
doanh nghiệp. Đây cũng là điều các doanh nghệp mong mỏi nhất trong tinh
hình khó khăn hiện nay.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Đỗ Thị Dinh, Giáo trình Kinh Tế vi mô, Nhà xuất bản Xây dựng
2) Dương T. (2020, October 28). EVFTA giúp ngành sữa gia tăng cạnh tranh
trên sân nhà, gạo hưởng lợi xuất khẩu trong dài hạn. Báo Công Thương
điện tử, kinh tế, chính trị, xã hội. https://congthuong.vn/evfta-giup-nganh-
sua-gia-tang-canh-tranh-tren-san-nha-gao-huong-loi-xuat-khau-trong-dai-
han-146368.html
3) Quý T. P. (2021a, November 11). Phí trước bạ là gì? Khi nào giảm 50%
thuế trước bạ ô tô 2021. Fast Auto. https://fastauto.vn/giam-thue-truoc-ba-
o-to
4) Trương Anh Tú. “Chính sách thuế và giải pháp hỗ trợ Doanh nghiệp vượt
qua đại dịch Covid 19.” Tạp chí Doanh nghiệp & Đầu tư, 10 Sept. 2021,
doanhnghiepvadautu.info.vn/chinh-sach-thue-va-giai-phap-ho-tro-doanh-
nghiep-vuot-qua-dai-dich-covid-19.
5) Tổng cục thống kê .
https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/01/infographic-
tinh-hinh-dang-ky-kinh-doanh-nam-2021/#

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
KỲ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
HỌC KỲ 1, NĂM HỌC 2021-2022
Đề tài bài tập lớn: Cầu hàng hóa và giá cả thị trường
Họ và tên sinh viên : Trần Mai Anh Mã sinh viên 21111204339 Lớp : DH11MK8 Tên học phần : Kinh tế vi mô Giáo viên hướng dẫn : Tống Thị Thu Hòa
Học phần: Kinh tế vi mô Mã học phần: KTKH101
Trình độ đào tạo: Đại học chính quy
Chủ đề: Cầu hàng hóa và giá cả thị trường Yêu cầu:
1. Phân tích lý thuyết về cầu hàng hóa (khái niệm cầu, lượng
cầu, cầu cá nhân, cầu thị trường, các nhân tố ảnh hưởng đến cầu).
2. Vận dụng: Giả sử hàm cầu và hàm cung về sản phẩm trên thị trường như sau: QD = 400 – 3P QS = 3P - 200
(Đơn vị tính: P: USD/kg; Q: kg)
a. Xác định giá và sản lượng cân bằng, tính hệ số co giãn của cầu
và cung theo giá tại điểm cân bằng trên thị trường.
b. Giả sử chính phủ trợ cấp tr =3 USD/kg thì sản lượng và giá
cân bằng mới là bao nhiêu? Tính phần trợ cấp mà người tiêu dùng và
nhà sản xuất được hưởng trên một kg.
c. Do công nghệ sản xuất sản phẩm được cải tiến nên cung của
sản phẩm này tăng lên 30 kg tại mọi mức giá, hãy tính toán sự thay đổi
giá và sản lượng cân bằng.
d. Vẽ đồ thị minh họa tất cả các trường hợp trên.
3. Liên hệ thực tiễn về chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp vượt
qua đại dịch Covid 19 của Chính phủ Việt Nam. BÀI LÀM Câu 1:
Để hiểu về lý thuyết cầu hàng hóa chúng ta cần hiểu được những khái niệm sau:
- Cầu (D): là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng mong
muốn và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian
nhất định, với điều kiện các yếu tố khác không đổi.
VD: Ông An mua xe đạp cho con đi học, thanh toán hết 800000 đồng.
- Lượng cầu (QD ) là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu
dùng mong muốn và có khả năng mua ở mỗi mức giá khác nhau (ở một mức
giá), trong khoảng thời gian nhất định, với điều kiện các yếu tố khác không đổi.
=> Sự khác nhau giữa cầu và lượng cầu: Cầu được xác định ở các mức
giá khác nhau còn lượng cầu được xác định ở một mức giá nhất định.
VD: với mức giá P0 = $4 mỗi cái bánh, người tiêu dùng mua 2 cái
bánh mỗi ngày; lượng cầu là Q0 =$2. Nếu các chủ thể là những nhà cung cấp
quyết định tăng giá 1 cái bánh lên P1 = $6, thì người tiêu dùng chỉ mua Q1 = 1
cái bánh mỗi ngày. Tuy nhiên, nếu giá của một cái bánh giảm xuống còn
P2 =$4, thì các chủ thể là khách hàng muốn tiêu thụ 3 cái bánh, Q2=$3.
- Cầu cá nhân: là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà một cá nhân
mong muốn mua và có khả năng mua tại các mức giá khác nhau trong một
khoảng thời gian nhất định…
- Cầu thị trường : là tổng cầu cá nhân ở các mức giá. Khi cộng lượng
cầu cá nhân ở mỗi mức giá ta có lượng cầu thị trường tại mỗi mức giá.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu: có 6 nhân tố ảnh hưởng đến cầu. Các
nhân tố được thể hiện rõ hơn với bảng sau: Nguyên nhân Cầu tăng Cầu giảm 1 Giá chính của hàng Giảm Tăng hóa đó( Px) 2 Thu nhập( I) Tăng ( hàng hóa thông Giảm( hàng hóa thông thường ) thường )
Giảm( hàng hóa thứ cấp) Tăng( hàng hóa thứ cấp) 3 Giá cả của hàng hóa Tăng( hàng hóa thay Giảm( hàng hóa thay có liên quan (PY ) thế) thế) Giảm( hàng hóa bổ Tăng( hàng hóa bổ sung) sung) 4 Thị hiếu (T) Tăng Giảm
5 Số lượng người tiêu Tăng Giảm dùng (N) 6 Kỳ vọng (E) Giảm Tăng
Có thể nói lý thuyết về cầu hàng hóa mang đầy đủ tất cả những ý của
những khái niệm trên. Những khái niệm được nêu ở phần trên chính là những
phần nhỏ trong lý thuyết về cầu hàng hóa và cũng là bản chất lý thuyết của cầu hàng hóa. Câu 2:
a) Xác định giá và sản lượng cân bằng của sản phẩm:
Tại điểm cân bằng thì QS= QD ◻ 3P-200= 400-3P ◻ P0= PCB= 100 (USD/kg)
Thay P0 vào QS hoặc QD ta được Q0= 100 (kg)
Hệ số co giãn của cầu theo giá tại thời điểm thị trường cân bằng:
EPD= a*(P/Q)= -3*(100/100)= -3
Hệ số co giãn của cung theo giá tại thời điểm thị trường cân bằng: ESP= c*(P/Q)= 3*(100/100)= 3
b) Giả sử chính phủ trợ cấp tr =3 USD/kg .
Khi chính phủ trợ cấp lên mỗi đơn vị sản phẩm là tr ta có:
QStr= QS+c*tr= 3P-200+3*3= 3P-191
Tại điểm cân bằng mới thì QStr= QD ◻ 3P-191= 400-3P ◻P1= 98,5 (USD/kg )
Thay P1 vào QStr ta có Q1= 104,5 (kg)
Số trợ cấp người tiêu dùng được hưởng : P0-P1= 100- 98,5= 1,5 (USD/kg )
Số trợ cấp người bán hàng được hưởng : 3-1,5= 1,5 (USD/kg )
c) Do công nghệ sản xuất sản phẩm được cải tiến nên cung của sản phẩm
này tăng lên 30 kg tại mọi mức giá.
Khi cung của sản phâm tăng lên tại mọi mức giá, ta có : QS’= QS+30= 3P-170
Sự thay đổi giá và sản lượng cân bằng mới : QS’= QD◻ 3P-170= 400-3P
◻P2=95(USD/kg ) và Q2= 115 (kg)
d) Vẽ đồ thị minh họa tất cả các trường hợp trên
Câu 3: Liên hệ thực tiễn về chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua đại
dịch Covid 19 của Chính phủ Việt Nam.
Dịch COVID-19 đang có những diễn biến vô cùng phức tạp, chính
điều đó đã và đang tạo ra những thách thức chưa từng có đối với nền kinh tế
thế giới. Nền kinh tế Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, khi mà các
doanh nghiệp nước ta đang đứng trước rất nhiều khó khăn. Trong bối cảnh
này việc Chính phủ Việt Nam đưa ra những chính sách về thuế để hỗ trợ
doanh nghiệp là việc rất cần thiết.
Theo số liệu thống kê năm 2021 của Tổng cục Thống kê về tình hình
đăng ký kinh doanh đã cho thấy: có khoảng 160 000 doanh nghiệp đăng ký
thành lập mới và quay trở lại hoạt động, giảm 10,7% so với năm trước và
tăng 17,8% số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Như vậy trung bình mỗi
tháng có khoảng 13,3 nghìn doanh nghiệp tham gia vào thị trường và 10
nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Như vậy nước ta có khoảng 4136
nghìn tỷ đồng tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế giảm 25,8% so
với cùng kỳ năm trước. Đây là những con số đáng báo động về tình hình kinh
tế nước ta hiện nay. Chính những con số biết nói này đã nói lên nguyên nhân
vì sao tỷ lệ thất nghiệp nước ta tăng mạnh đến thế. Điều này cho thấy làn
sóng dịch bệnh đã và đang bào mòn sức chống chiu của doanh nghiệp, đặc
biệt là những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Trước tình hình đó Chính
phủ Việt Nam đã đưa ra những chính sách thuế thuế hỗ trợ doanh nghiệp
vượt qua đại dịch Covid 19. Theo đó, trong năm 2020 chính phủ đã thực hiện
việc gia hạn thêm 5 tháng thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập
cá nhân, thuế giá trị gia tăng và thu tiền sử dụng đất cho các doanh nghiệp và
hộ kinh doanh; giảm 30% thuế thu nhập đối với doanh nghiệp, hợp tác xã,
đơn vị xí nghiệp và các tổ chức khác; giảm 30% thuế bảo vệ môi trường đối
với nhiên liệu bay; giảm thuế thu nhập cá nhân thông qua chính sách nâng
mức giảm trừ gia cảnh; giảm thuế xuất, nhập khẩu; giảm 50% lệ phí trước bạ
đối với ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước; giảm 15% tiền thuê đất và cắt giảm
rất nhiều loại phí, lệ phí khác cho danh nghiệp. Tiếp đến năm 2021, chính
phủ tiếp tục thực hiên„ rất nhiều các chính sách cụ thể là: giảm 30% mức thuế
bảo vê „m ô i trường đối với nhiên liê u„ bay cho các hãng hàng không đến hết
năm 2021; gia hạn thêm thời hạn nôp„ thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhâp„
doanh nghiêp„, thuế thu nhâp„ cá nhân, tiền thuê đất cho các đối tượng găp„ khó
khăn do ảnh hưởng dịch Covid-19; miễn giảm môt„số khoản phí, lệ phí. Đồng
thời nhà nước cũng cho phép tính vào chi phí của doanh nghiêp„ đối với các
khoản chi ủng hộ, tài trợ cho các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19 khi
tính thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm 2020, 2021. Với chính
sách này của Chính phủ đã có tác dụng hiệu quả khi mà có khoảng 1 triệu
lượt doanh nghiệp, khách hàng được hưởng hỗ trợ tín dụng, 160.000 doanh
nghiệp được hưởng chính sách gia hạn, miễn, giảm thuế, phí, tiền thuê đất;
khoảng 50.000 doanh nghiệp sẽ quay trở lại hoạt động trong năm 2021.
Chúng ta không thể phủ nhận rằng những chính sách của nhà nước đã
có tác động rất tốt đến việc khôi phục nền kinh tế thế nhưng có một mặt tiêu
cực đó là nguồn thu của nhà nước không quá khả quan khi mà tổng thu ngân
sách nhà nước năm 2021 chỉ đạt 1523,4 nghìn tỷ đồng và chỉ hơn năm 2020
một chút với 1512,3 nghìn tỷ đồng. Điều này có thể sẽ gây khó khăn đối với
các dịch vụ phúc lợi xã hội. Với nguồn thu ngân này nhà nước sẽ phải cân
nhắc đối với việc giải ngân cho các dự án phúc lợi xã hội.
Vậy nên em nghĩ rằng nhà nước ta cần có nhiều chính sách đối phó với
dịch bệnh và kéo dài khả năng chống chịu cũng như hồi phục cho các doanh
nghiệp như: Một là cần tăng số lượng miễn giảm các loại thuế bởi vì đối với
các doanh nghiệp thì khó khăn lớn nhất của họ nằm ở việc duy trì dòng tiền
và lãi vay, vì vậy gói hỗ trợ miễn thuế của Chính phủ và Bộ Tài chính có thể
sẽ không phải là yếu tố quyết định để giúp doanh nghiệp tồn tại qua đại dịch.
Tuy nhiên nó sẽ đóng vai trò khích lệ và gia tăng tiêu dùng trong xã hội khi
đó Chính phủ có thể cân nhắc thêm việc giảm một số loại thuế như thuế trước
bạ, thuế tiêu thụ đặc biệt,... ; Hai là các chính sách hỗ trợ cần được tiếp tục
thực hiện theo hướng tập trung đúng đối tượng, theo sát nhu cầu của doanh
nghiệp cần có sự chọn lọc và phân loại ngành nghề tốt hơn trên các điều kiện
và tiêu chí nhất định. Ví dụ như trong thời kỳ dịch covid-19 thì có một số
ngành nghề chịu tác động tiêu cực như du lịch, vận tải, dệt may thì những
ngành này cần được sự hỗ trợ nhiều hơn trong khi đó một số ngành vẫn có
thể phát triển khá tốt như ngành công nghệ thông tin, thương mại điện tử. ;
Ba là giải pháp về thuế nên hướng tới sự bền vững và hỗ trợ tăng trưởng cụ
thể nhà nước nên cải cách hệ thống thuế nhằm giảm thiểu gánh nặng thuế
khóa tạo nguồn thu ngân sách ổn định và cân bằng đồng thời cơ cấu lại
nguồn chi ngân sách nhà nước theo hướng ổn định và gia tăng hiệu quả đầu
tư phát triển và nên phân bố vốn ngân sách cho những công trình thực sự cần
thiết có hiệu quả cao và kiểm soát chặt chẽ để tránh gây lãng phí.
Đã có rất nhiều doanh nghiệp được hưởng lợi từ những chính sách
miễn giảm thuế của nhà nước trong đó không thể không nhắc đến Vinamilk.
Với việc thuế nhập khẩu áp dụng cho các mặt hàng nguyên vật liệu được
giảm sẽ hỗ trợ nhẹ biên lợi nhuận gộp của các doanh nghiệp sữa. Cụ thể, đối
với Vinamilk, tỷ lệ nhập khẩu nguyên vật liệu từ châu Âu khoảng 10%, bao
gồm bột sữa gầy và bột sữa chưa tách béo. Thuế nhập khẩu các mặt hàng này
trước EVFTA ( Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam) là
5%, bắt đầu từ 1/8/2020 được giảm xuống 2,2% và giảm dần về 0% sau năm
2022. Như vậy, biên lợi nhuận gộp của Vinamilk sẽ được cải thiện từ việc
này. Hay như ngành xuất khẩu gạo cũng vậy. Nếu như trước đó thuế nhập
khẩu đối với gạo Việt Nam vào EU là 65-211 EUR/tấn (5-45%) thì sau hiệp
định mức thuế này được giảm về 0% từ thời điểm EVFTA có hiệu lực đối với
gạo theo hạn ngạch 80 nghìn tấn/năm. Đối với các hãng sản xuất ô tô trong
nước như VinFast thì vào ngày 26/11, đề xuất của Bộ Tài Chính đã thông
qua, Phó thủ tướng Lê Minh Khái đã ký Nghị định 103 quy định mức thu lệ
phí trước bạ với ôtô sản xuất lắp ráp trong nước được giảm 50% lệ phí trước
bạ lần đầu và thời gian có hiệu lực từ 1/12 đến hết tháng 5 năm sau.
Như vậy có thể nói chính sách thuế của nhà nước đã góp phần rất lớn
trong việc cứu nguy cho các doanh nghiệp nước ta nhất là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Tuy rằng các chính sách của nhà nước vẫn chưa giải quyết được
hết tất cả các vấn đề của doanh nghiệp. Nhưng điều quan trọng là các gói cứu
trợ này đã được đưa ra một cách kịp thời làm giảm đi gánh nặng tài chính của
doanh nghiệp. Đây cũng là điều các doanh nghệp mong mỏi nhất trong tinh hình khó khăn hiện nay.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Đỗ Thị Dinh, Giáo trình Kinh Tế vi mô, Nhà xuất bản Xây dựng
2) Dương T. (2020, October 28). EVFTA giúp ngành sữa gia tăng cạnh tranh
trên sân nhà, gạo hưởng lợi xuất khẩu trong dài hạn. Báo Công Thương
điện tử, kinh tế, chính trị, xã hội. https://congthuong.vn/evfta-giup-nganh-
sua-gia-tang-canh-tranh-tren-san-nha-gao-huong-loi-xuat-khau-trong-dai- han-146368.html
3) Quý T. P. (2021a, November 11). Phí trước bạ là gì? Khi nào giảm 50%
thuế trước bạ ô tô 2021. Fast Auto. https://fastauto.vn/giam-thue-truoc-ba- o-to
4) Trương Anh Tú. “Chính sách thuế và giải pháp hỗ trợ Doanh nghiệp vượt
qua đại dịch Covid 19.” Tạp chí Doanh nghiệp & Đầu tư, 10 Sept. 2021,
doanhnghiepvadautu.info.vn/chinh-sach-thue-va-giai-phap-ho-tro-doanh-
nghiep-vuot-qua-dai-dich-covid-19. 5) Tổng cục thống kê .
https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/01/infographic-
tinh-hinh-dang-ky-kinh-doanh-nam-2021/#