REVIEW
BÀI TIỂU LUẬN 9.5 ĐIỂM
MÔN HC: CƠ SVĂN HÓA VIT NAM
BÀI THI TIU LUN CUI K
ĐỀ TÀI:
NGŨ HÀNH VÀ ỨNG DỤNG CỦA NGŨ HÀNH
TRONG VĂN HOÁ VIỆT.
ii
MỤC LỤC
LỜI CM ƠN .............................................................................................................. 6
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 7
DANH MC HÌNH NH ........................................................................................... 8
PHN MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 9
1. Lý do chn đtài ............................................................................................................ 9
2. Mc tiêu nghiên cứu .................................................................................................... 10
3. Nhim vụ nghiên cứu ................................................................................................... 10
4. Đi tưng nghiên cứu .................................................................................................. 10
5. Phm vi nghiên cứu ..................................................................................................... 10
6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................ 10
7. Bố cục đề tài ................................................................................................................. 11
PHN NI DUNG .................................................................................................... 12
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ HỌC THUYT NGŨ HÀNH. .................................. 12
1.1 Shình thành và phát trin ca hc thuyết ngũ hành .......................................... 12
1.2 Nhng đc trưng cơ bn ca ngũ hành .................................................................. 14
1.2.1 Nguyên lí ca ngũ hành .................................................................................... 14
1.2.2 Ngũ hành theo hà đ......................................................................................... 15
1.3 Mi quan hgia các hành ..................................................................................... 17
1.3.1 Quan htương sinh ........................................................................................... 17
1.3.2 Quan htương khắc .......................................................................................... 17
TIU KT CHƯƠNG 1 ................................................................................................. 19
CHƯƠNG 2: NGŨ HÀNH TRONG VĂN HOÁ VIT. .............................................. 20
2.1 Khái quát văn hoá Việt ............................................................................................ 20
2.2 ng dng ca ngũ hành .......................................................................................... 20
2.2.1 Shình thành tính cách ca ngưi Việt ............................................................ 20
2.2.2 Ngũ hành trong phong tc, tp quán ca ngưi Việt ........................................ 21
2.2.3 Tư tưng, tính ngưng ...................................................................................... 24
iii
2.2.4: Ngũ hành trong văn hc, nghthuật ................................................................ 27
2.2.5 ng dng ngũ hành trong thc tiễn .................................................................. 28
TIU KT CHƯƠNG 2 ................................................................................................. 29
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA CA NGŨ HÀNH TRONG VĂN HOÁ VIT. .................. 30
3.1 Ý nghĩa về mặt nhn thức ........................................................................................ 30
3.2 Ý nghĩa về mặt đi sng ........................................................................................... 30
3.3 Khng định sự tồn ti khách quan ca ngũ hành trong xã hi hin đại .............. 30
TIU KT CHƯƠNG 3 ................................................................................................. 30
TỔNG KẾT ............................................................................................................... 31
DANH MC TÀI LIU THAM KHẢO .....................................................................
Commented [MOU2]: PHẦN mở đầu thiếu tng quan
nghiên cứu
Commented [MOU1]: Chương 1 thiếu làm rõ khái nim
6
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tiểu lun “Ngũ hành và ứng dụng của ngũ hành trong văn hoá
Việt” nhóm em xin được bày tỏ lòng biết ơn đến ging ……………….đã truyn đt
cho nhóm em nhng nn tng kiến thc, kỹ năng cn thiết đhoàn thin bài tiểu lun
của chúng em.
Đặc bit, chúng em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành ti ……….ging
viên hướng dn đã chỉ dạy, quan tâm và cho chúng em nhng li đng viên cũng như
i hc kinh nghim hu ích nhóm em hoàn thành bài tiểu lun.
Chúng em xin chúc quý thy cô, quý cơ quan mnh khe thành công trong công vic
cuc sng.
Mặc dù, đã rất cố gằng nhưng do trình đchuyên môn còn hn chế trong quá
trình nghiên cu nhóm em còn gp nhiu khó khăn và không tránh khi nhng sai
t. Vì vậy, chúng em rt mong nhn được nhng ý kiến đóng góp phn hi tphía
thy, cô để bài tiểu lun ca nhóm em được hoàn thin hơn.
Tập thể nhóm xin trân trng cm ơn!
7
LỜI CAM ĐOAN
Nhóm em xin cam đoan, bài tiểu lun là sản phm do chúng em thc hin tuân th
đầy đủ các nguyên tc, kết cu ca bài tiểu lun cuối kì. Các cơ sở lí luận và kiến thức được
trình bày trong bài tiểu lun là trung thc, có ngun gc rõ ràng không ba đt thông tin đ
trích dn.
Nhóm em xin chu hoàn toàn trách nhim nếu có sự không trung thc vthông tin s
dụng trong quá trình thc hin bài tiểu lun này.
8
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1. 1 Nguyên lí hình thành ngũ hành. ............................................................................. 14
Hình 1. 2: Bng so sánh “ngũ hành” (phương Đông) và “tcht” (phương Tây). ............... 15
Hình 1. 3: a) Hà đ; b) Gii mã hà đồ. ................................................................................... 15
Hình 1. 4: Bng tương ng “ shà đồ - phương - hành”. ...................................................... 16
Hình 1. 5: a) đngũ hành tương khc theo thtự đ; b) đngũ hành tương sinh
tương khc. ............................................................................................................................. 17
Hình 2. 1: Nến cưi long phng. ........................................................................................... 22
Hình 2. 2: Áo xô trng và gy tre trong tang lễ. .................................................................... 23
Hình 2. 3: Cngũ sc. ........................................................................................................... 23
Hình 2. 4: Các thế đt theo phong thu: a) thế đất hình kim, b) thế đất hình th, c) thế đất có
đủ ngũ hành. ........................................................................................................................... 25
Hình 2. 5: Nõ (bên trái) tương trưng sinh khí thc nam, ng (bên phi) ng trưng sinh
khí thc nữ. ............................................................................................................................ 26
Hình 2. 6: Lễ hội ông Đùng - bà Đà. ..................................................................................... 26
Hình 2. 7: Biu tưng chim Lc trên trng đng ................................................................... 27
Hình 2. 8: Bánh chưng. .......................................................................................................... 28
9
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay cùng với sự phát triển của thời đại, khoa học dần những vai trò quan
trng đối với đời sống con người. Theo Ph. Becơn vai trò đầu tiên của khoa học làm
thức tỉnh con người, giúp họ thoát khởi ra tình trạng giáo điều, nm lấy những vận hội
mới; hay nói cách khác, khoa học có vai trò khai mở trí tuệ, “thanh tẩy” lý trí.[1]. Nhận
thức con người từ đó cũng có sự thay đổi, người ta tin vào những nghiên cứu khoa học, số
liệu, bằng chứng cụ thể. Và nghi ngờ một số hình thức văn hoá lâu đời, coi đó tín dị
đoan, trong đó có học thuyết ngũ hành.
Dù đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề học thuyết ngũ hành trong đời sống văn hoá
tinh thần người Việt. Tuy vậy đa số tác giả chỉ mới đề cập đến ngũ hành một cách khái
quát, tản mạn hoặc trình bày học thuyết ngũ hành ở một số lĩnh vực cụ thể, đa phần là
y học [2], chưa tập trung khai thác lĩnh vực ứng dụng của học thuyết ngũ hành trong văn
hoá Việt, cũng như chỉ ra ý nghĩa sự tồn tại tất yếu của ngũ hành len lỏi trong từng cách
ăn, nết mặc của người Việt hàng nghìn năm nay, và khẳng định rằng học thuyết ngũ hành
không phải là một dạng mê tín dị đoan.
Qua quá trình phân tích tổng hợp, nhận thấy được những khoảng trống kiến
thức. Tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Ngũ hành và ứng dụng của ngũ hành trong văn
hoá Việt” làm đề tài chính thức cho bài tiểu luận này.
10
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nêu khái quát về học thuyết ngũ hành, từ đó chỉ ra các ứng dụng ngũ hành trong
văn hoá Việt.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mc tiêu nghiên cu ca đề tài nói trên, chúng ta cn thc hin các
nhim vnghiên cu cthsau:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận liên quan đến học thuyết ngũ hành.
- Khảo sát, trình bày thực trạng ứng dụng học thuyết ngũ hành trong văn hoá
Việt qua nhiều góc độ như đời sống tinh thần, đời sống văn hoá và cả trong thực tiễn.
- Xác định, phân tích những yếu tố trong học thuyết ngũ hành tác động đến đời
sống văn hoá tinh thần người Việt.
- Từ những kết quả phân tích được chỉ ra ý nghĩa và sự tồn tại khách quan của
học thuyết ngũ hành trong văn hoá Việt.
4. Đối tượng nghiên cứu
Ngũ hành và ứng dụng của ngũ hành trong văn hoá Việt.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Văn hoá Việt Nam.
Phạm vi về nội dung: Văn hoá Việt, đời sống văn hoá, đời sống tinh thần của
người Việt.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tiến hành thu thập nghiên cứu, phân tích
thông tin từ những sách,tạp chí khoa học, các diễn đàn khoa học, giáo trình, website
chính thống các công trình nghiên cứu liên quan trước đó. Phương pháp này giúp
tác giả tìm hiểu về sở luận, chỉ ra các khái niệm, vai trò, ý nghĩa cũng như nội
dung về ngũ hành và ứng dụng của ngũ hành trong văn hoá Việt.
Phương pháp quan sát thực tế: quan sát những yếu tố phản ánh sự ảnh hưởng
của học thuyết ngũ hành trong đời sống tinh thần, văn hoá và thục tiễn của người Việt
11
thông qua: trang phục, thức ăn, lễ hội, tính ngưỡng, nghệ thuật,…Phương pháp này
giúp tác giả có căn cứ thục tiễn kiểm chứng cho phần cơ sở lý luận.
7. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của bài tiểu luận
gồn 3 phần chính:
Chương 1: Khái lượt về học thuyết ngũ hành.
Chương 2: Ứng dụng của ngũ hành trong văn hoá Việt.
Chương 3: Ý nghĩa và sự tồn tại khách quan của ngũ hành trong văn hoá Việt.
12
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH.
1.1 Sự hình thành và phát triển của học thuyết ngũ hành
Theo lương y Văn Sửu (1998) học thuyết ngũ hành sản phẩm tinh thần
của người phương Đông, nó được hình thành trong suốt chiu dài lịch sử, được xem
học thuyết đặc thù của phương Đông. Nền tng làm nên tính đặc thù này có hai yếu tố:
thứ nhất đặc điểm địa lí, khí hậu, thứ hai phương pháp tư duy khoa học.[3]
Về địa lí, khí hậu: Đặc điểm địa khu vực các nước phương Đông có sự đối
nghịch về cấu tạo địa chất, địa hình, trong đó rõ rệt nhất các nước Trung Quốc, Việt
Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, khi phía Đông là biển Thái Bình Dương- đại dương lớn
nhất thế giới, phía Tây là dãy núi cao nhất thế giới Hymalaya.
Khí hậu phía Bắc là vùng cực hàn, lạnh giá bốn mùa, phía Nam là khu vực xích
đạo nóng quanh năm. Ngoài điểm này, khu vực Phương Đông còn chịu ảnh hưởng của
áp suất không khí từ biển đông tới lục địa vào mùa nóng, gây lên nhiều trận bão lớn,
lụt to, thiên tai, mưa nắng thất thường. Con người tồn tại đây phải chống chọi với
muôn vàn khó khăn.
Về phương pháp tư duy: Để tồn tại trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Người
phương Đông phải luôn quan sát sự vận động của không gian và thời gian đúc kết lại
những giá trị phù hợp với điều kiện sống.[3] Từ những kinh nghiệm ấy họ đã tiếp cận
đến chủ nghĩa duy vật, cụ thể chủ nghĩa duy vật chất phác biện chứng ngây thơ
thông qua học thuyết ngũ hành.[2]
Sự đối nghịch của địa lí và khí hậu chính là tiền đề của phương pháp tư duy so
sánh (đối tỉ), theo Văn Sửu ( 1998) đây phương pháp nhận thức hiệu quả nhất
của người phương Đông xưa. sở so sánh nhận thức về hình dáng tính chất của
vật được gọi “tượng” vật. Muốn nhận thức nét người ta phải so sánh những
“tượng” có tính chất đối lập nhau, quy về hai loại: âm, dương. Dương là những tượng
có thuộc tính nóng, sáng, rộng,.. Âm là những tượng có thuộc tính: lạnh, tối, hẹp,…[3]
13
Nhưng lâu dần hai mặt âm, dương không đủ giải thích sự vận động của vạn vật.
Người ta phân loại tượng theo các quá trình từ sinh đến diệt theo năm bước, hay
ngũ hành. Theo thạc Thanh Châu (2017), đây bước tiến đánh dấu sự thành công
của duy tính nhằm thoát khỏi sự khống chế về mặt tưởng do các quan niệm
duy tâm thần bí truyền thống mang lại.[2]
14
1.2 Những đặc trưng cơ bản của ngũ hành
1.2.1 Nguyên lí của ngũ hành
Theo giáo Trần Ngọc Thêm (1999), ngũ hành được tạo nên từ sự kết hợp của
2 bộ tam tài: thuỷ - hoả - thổ, kim - mộc - thổ, trong đó thổ chính là yếu tố điều hoà.[4]
Hình 1. 1 Nguyên lí hình thành ngũ hành.
Nguồn: trong sách “Cơ sở văn hoá Việt Nam”-Trần Ngọc Thêm (1999) trang 63. [4]
Bản chất của ngũ hành không thể được hiểu đơn giản là 5 chất: nước, lửa, cây,
kim loại, đất. Ở mức độ trừu tượng cao, hành trong ngũ hành chỉ sự vận động [4]. Do
vậy khi nhắc đến một trong năm hành, ví dụ hành thuỷ, ta phải hiểu đó bao gồm: nước,
tính âm, màu xanh, ớng Bắc,…Từ đó cho thấy sự bao quát trừu tượng của ngũ
hành (phương Đông) khác với quan niệm tứ chất (phương Tây).
15
Hình 1. 2: Bng so sánh “ngũ hành” (phương Đông) và “tcht” (phương Tây).
Nguồn: trong sách “Tìm hiểu về bản sắc văn hoá Việt Nam”-Trần Ngọc Thêm (1996)
trang 137. [5]
Bảng so sánh (hình 1.2) cho thấy, cách dịch “ngũ hành” thành “five elements”
“thuỷ”, “hoả”,… thành “water”, “fire”,… thường thấy là sai lệch so với ý nghĩa bao hàm, trừu
tượng vốn có.
1.2.2 Ngũ hành theo hà đồ
Theo Trần Ngọc Thêm (1996), đồ hệ thống các dãy chấm tròn trắng đen
được xếp theo một thứ tự nhất định. Tên gọi đồ bắt nguồn từ truyền thuyết vua Phục
Hi đi chơi trên sông thấy con Long nổi lên trên lưng bức vẽ, vua Phục Hi dựa
vào đó vẽ nên hà đồ. [5]
Hình 1. 3: a) Hà đ; b) Gii mã hà đồ.
Nguồn: trong sách “Tìm hiểu về bản sắc văn hoá Việt Nam”-Trần Ngọc Thêm (1996)
trang 137. [5]
16
đồ sở hình thành nên ngũ hành, mỗi phương, mỗi nhóm trong đồ
tương ứng với một hành tương ứng
Hình 1. 4: Bng tương ng “ shà đồ - phương - hành”.
Nguồn: trong sách “Cơ sở văn hoá Việt Nam”-Trần Ngọc Thêm (1999) trang 66. [4]
Ngũ hành nguồn gốc từ nông nghiệp, nên giải cách sắp xếp này cũng theo phương
thức nông nghiệp:
- Người làm nông coi trọng đất làm đầu, nên hành thổ vị trí trung tâm số 5 số
tham thiên lưỡng địa”, cai quản bốn phương.
- “Nhất nước, nhì phân” sau thổ, hành thuỷ yếu tố quan trọng nhất đối với người
làm nông, ứng với số 1 trong đồ, được xem khởi đầu (nguyên thuỷ, thuỷ
chung); thuỷ là âm cho nên ở phương Bắc.
- Hành hoả ấm nóng, là dương, ở phương Nam.
- Cặp mộc kim: hành mộc về chất cây cối, xanh tốt vào buổi sáng, mùa xuân
ứng với phương Đông dương tính; còn hành kim (âm, bởi kim loại tĩnh) ứng với
phương Tây.
17
1.3 Mối quan hệ giữa các hành
Theo Trương Thanh Châu (2017), học thuyết nhành diễn giải sự sinh hoá
của vạn vật qua hai nguyên bản còn gọi tương sinh tương khắc trong mối
tương tác và quan hệ của chúng.[2]
1.3.1 Quan hệ tương sinh
Hành này hỗ trợ, giúp đỡ hành kia xác định theo từng cặp, nhưng bản chất
quan hệ âm dương chuyển hoá (thuỷ là cực âm, hoả là cục dương).
Thuỷ sinh mộc (nước giúp cây tươi tốt).
Mộc sinh hoả (lửa cháy cần gỗ).
Hoả sinh thổ (lửa đốt gỗ thành tro, làm đất màu mỡ).
Thổ sinh kim (kim loại phần lớn có trong lòng đất).
Kim sinh thuỷ ( kim loại nóng chảy thành thể lỏng).
1.3.2 Quan hệ tương khắc
Hành này hạn chế, gây trở ngại cho hành kia.
Thuỷ khắc hoả (nước dập lửa).
Hoả khắc kim (lửa nung chảy kim loại).
Kim khắc mộc (rìu sắt chặt cây).
Mộc khắc thổ (cây lấy chất dinh dưỡng của đất để phát triển).
Thổ khắc thuỷ ( đất làm đê ngăn nước).
Hình 1. 5: a) Sơ đngũ hành tương khc theo thứ tự hà đ; b) Sơ đngũ hành tương sinh
tương khc.
18
Nguồn: trong sách “Tìm hiểu về bản sắc văn hoá Việt Nam”-Trần Ngọc Thêm (1996)
trang 146.[4]
Tuy nhiên, theo Nguyễn Cường (2008) trong mối quan hệ tương khắc giữa các hành
đang tồn tại những sai lầm. Ví dụ “thổ khắc thuỷ”, tuy không "sinh" ra nhau nhưng được coi
"hỗ trợ" lẫn nhau, nước làm đất thêm màu mỡ, đất giữ nước tránh thất thoát[6]. Giải thích cho
vấn đề này, Trần Ngọc Thêm (2008) cho biết từ đồ, hay học thuyết khái quát về quan hệ
tương sinh tương khắc liên hệ đến thực tin cần phải bổ sung nhiều thứ về chất liệu và sự vận
dụng. dụ thuỷ khắc hoả” nhưng thực tế nước gáo lửa xe” (trường hợp ít nước, nhiều
lửa, nước không dập được lửa) đó là vấn đề của vận dụng, là hậu quả sự tác động của quy luật
chuyển hóa giữa lượng và chất[7].
Bằng sự quan sát tìm hiểu, tác giả cho rằng vấn đề đúng sai trong quan hệ tương
sinh tương khắc của ngũ hành không chỉ được thể hiện qua các chất như: nước, đất, lửa cụ
thể. Bởi ngũ hành không chỉ tượng trưng cho năm nguyên tố “ nước, đất, lửa, kim loại, cây”,
hànhmang ý nghĩa bao quát trừu tượng, chỉ sự vận động (như đã nói ở mục 1.2.1). Vì thế,
chỉ lấy một vài đại diện chất trong ngũ hành để chỉ tính đúng sai của mối quan hệ tương sinh
tương khắc có phần chưa thuyết phục.
19
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong nội dung Chương 1, tác giả đã trình bày hệ thống hoá sluận về học
thuyết ngũ hành. Qua đó cho nền tảng hình thành học thuyết, những yếu tố ảnh hưởng đến sự
hình thành ngũ hành mối liên hệ giữa các hành trong học thuyết. Kết quả nghiên cứu tại
Chương 1 làm tiền đề lý luận vững chắc để tác giả chỉ ra, phân tích những ứng dụng của ngũ
hành trong các lĩnh vực của văn hoá Việt tại Chương 2.
20
CHƯƠNG 2: NGŨ HÀNH TRONG VĂN HOÁ VIỆT.
2.1 Khái quát văn hoá Việt
Để phân tích về ứng dụng của ngũ hành trong văn hoá Việt, trước tiên tác giả làm
khái niệm của văn hoá.
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh (1940), lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,
loài người mới sáng tạo phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo phát minh đó tức văn hóa. Văn hóa sự tổng
hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của loài người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn ”.[8]
Từ khái niệm trên, ta hiểu được văn hoá Việt chính chỉ những nét văn hoá của các
dân tộc Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam, việc ứng dụng ngũ hành trong văn hoá Việt được
biểu hiện ở hầu hết các mặt trong đời sống. Trong tiểu luận này, tác giả đề cập đến ứng dụng
ngũ hành trong:
- Sự hình thành tính cách người Việt.
- Phong tục, tập quán.
- Tư tưởng, tính ngưỡng.
- Văn học, nghệ thuật.
- Thực tiễn, đời sống.
2.2 Ứng dụng của ngũ hành
2.2.1 Sự hình thành tính cách của người Việt
nhiều tác giả, công trình nghiên cứu về tâm tính cách của người Việt từ nhiều
góc độ: suy nghĩ về “tâm lí dân tộc” - Nguyễn Khắc Dương, Bản tính dân tộc đôi điều cảm
nhận từ góc nhìn hoạt động - Nguyễn Như Chiến, Về những thói tật xấu của người Việt
cổ truyền - Cố GS. Trần Quốc Vượng,….[9], nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về tâm lí, tính
cách của người Việt dưới góc nhìn của ngũ hành. Trong tiểu luận này, vấn đề ấy sẽ được làm
rõ.
Theo Trần Ngọc Thêm (1999), trong đồ thứ tự ngũ hành theo đồ (hình 1.5 a)
hành thổ - vị trí trung tâm gắn với vật biểu là con người [4]. Qua đó, hình thành trong người
21
Việt triết sống quân bình, thuận đất thuận trời, hoà hợp ngũ hành, “trong âm dương,
trong dương âm”, “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”. Việc nắm quy luật âm dương, ngũ
hành đã tạo cho người Việt tính linh hoạt trong lối sống, thích nghi mọi hoàn cảnh. Bằng
chứng, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ dân tộc đã tận dụng tốt yếu tố tự
nhiên hiểm trở để ẩn mình tranh địch phản công giành thắng lợi. Chiến dịch “Điện biên
phủ” là trận đánh thể hiện tính linh hoạt của dân tộc Việt Nam trong việc nắm bắt nhanh tình
hình lợi dụng địa thế hiểm trở chiến thắng bằng chiến thuật sử dụng địa hào phá huỷ
căn cứ phòng thủ kiên cố của Pháp[10].
2.2.2 Ngũ hành trong phong tục, tập quán của người Việt
Lễ cưới: trong văn hoá Việt Nam, tục cưới hỏi được xem là một trong những nghi thức
quan trọng, ảnh hưởng đến cuộc đời của một con người. vậy, việc tổ chức cưới hỏi phải
được diễn ra chu toàn, kết hợp hài hoà âm dương, ngũ hành. Hai vật biểu của ngũ hành, chim
phụng rồng hai biểu tưởng xuất hiện xuyên suốt trong các lễ cưới truyền thống người
Việt, không chỉ xuất hiện trên tấm nhiễu đỏ phủ lấy trầu cau, cặp đèn lễ, hay cổng cưới,
rồng phụng còn xuất hiện trên quần áo của cô dâu, chú rễ cả trong lời ăn nết nghĩ của mọi
người[11]. Theo đó, rồng ứng với chú rể, vật biểu cho phương đông của hành mộc tượng
trưng cho sự sinh sôi, xanh tốt. Phụng tượng trưng cho cô dâu, vật biểu của phương Nam của
hành hoả, chim phụng mang đến gió phương Nam làm ấm gia đình[4], vì lẽ đó ông người xưa
thường dạy “chọn vợ đàn bà, xây nhà hướng nam”.
22
Hình 2. 1: Nến cưi long phng.
Nguồn: internet.
Sính lễ cũng một phần quan trọng trong đám cưới. Trong đó, trầu cau hai thứ
không thể thiếu[11]. Trầu cau tượng trưng cho âm dương - tiền đề của ngũ hành. Một số nơi
biến tấu trầu cau thành đĩa trầu tiêm sẵn[11], chính cách biến tấu này chỉ ra sự chuyển hoá từ
âm dương sang ngũ hành thông qua ngũ vị có trong đĩa trầu tiêm cánh phượng. Nếu trầu cau
thứ yếu đầu tiên trong sính lễ ngày cưới thì bánh phu thê thứ hai, bánh hình tròn (âm),
bọc trong khuôn hình vuông, buộc lạc đỏ (dương) .
Tang ma: phong tục thể hiện sự hiếu lễ của con cháu đối với người mất. Tang lễ gồm
nhiều nghi thức, quy tắc trong đó đều thấm nhuần quan niệm âm dương, ngũ hành. Theo
Nguyễn Văn Toàn (2008), trang phục, khăn tang trong tang lễ hai màu sắc chủ đạo trắng
đen[12], tượng trưng cho âm dương hay thuỷ, kim theo ngũ hành. Trong đám tang cha người
con trai trưởng phải chống gậy tre hình tròn, tang mẹ gậy dông đẽo vuông[12], vuông là âm,
tròn là dương hay vuông là thổ, tròn là kim. Cách con trai trưởng mặc áo xô trắng cũng có sự
khác biệt ở tang cha và tang mẹ. Theo đó tang cha, áo được mặc suôi từ lưng ra; tang mẹ áo
Commented [MOU3]:

Preview text:

REVIEW
BÀI TIỂU LUẬN 9.5 ĐIỂM
MÔN HỌC: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
BÀI THI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ ĐỀ TÀI:
NGŨ HÀNH VÀ ỨNG DỤNG CỦA NGŨ HÀNH
TRONG VĂN HOÁ VIỆT. MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 6
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 7
DANH MỤC HÌNH ẢNH ........................................................................................... 8
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 9
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................ 9
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................... 10
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................................... 10
4. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................................. 10
5. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................................... 10
6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................ 10
7. Bố cục đề tài ................................................................................................................. 11
PHẦN NỘI DUNG .................................................................................................... 12
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH. .................................. 12
1.1 Sự hình thành và phát triển của học thuyết ngũ hành .......................................... 12
1.2 Những đặc trưng cơ bản của ngũ hành .................................................................. 14
1.2.1 Nguyên lí của ngũ hành .................................................................................... 14
1.2.2 Ngũ hành theo hà đồ ......................................................................................... 15
1.3 Mối quan hệ giữa các hành ..................................................................................... 17
1.3.1 Quan hệ tương sinh ........................................................................................... 17
1.3.2 Quan hệ tương khắc .......................................................................................... 17
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ................................................................................................. 19
CHƯƠNG 2: NGŨ HÀNH TRONG VĂN HOÁ VIỆT. .............................................. 20
2.1 Khái quát văn hoá Việt ............................................................................................ 20
2.2 Ứng dụng của ngũ hành .......................................................................................... 20
2.2.1 Sự hình thành tính cách của người Việt ............................................................ 20
2.2.2 Ngũ hành trong phong tục, tập quán của người Việt ........................................ 21
2.2.3 Tư tưởng, tính ngưỡng ...................................................................................... 24 ii
2.2.4: Ngũ hành trong văn học, nghệ thuật ................................................................ 27
2.2.5 Ứng dụng ngũ hành trong thực tiễn .................................................................. 28
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ................................................................................................. 29
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA CỦA NGŨ HÀNH TRONG VĂN HOÁ VIỆT. .................. 30
3.1 Ý nghĩa về mặt nhận thức ........................................................................................ 30
3.2 Ý nghĩa về mặt đời sống ........................................................................................... 30
3.3 Khẳng định sự tồn tại khách quan của ngũ hành trong xã hội hiện đại .............. 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ................................................................................................. 30
TỔNG KẾT ............................................................................................................... 31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................
Commented [MOU1]: Chương 1 thiếu làm rõ khái niệm
Commented [MOU2]: PHẦN mở đầu thiếu tổng quan nghiên cứu iii LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tiểu luận “Ngũ hành và ứng dụng của ngũ hành trong văn hoá
Việt” nhóm em xin được bày tỏ lòng biết ơn đến giảng ……………….đã truyền đạt
cho nhóm em những nền tảng kiến thức, kỹ năng cần thiết để hoàn thiện bài tiểu luận của chúng em.
Đặc biệt, chúng em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới ……….giảng
viên hướng dẫn đã chỉ dạy, quan tâm và cho chúng em những lời động viên cũng như
bài học kinh nghiệm hữu ích nhóm em hoàn thành bài tiểu luận.
Chúng em xin chúc quý thầy cô, quý cơ quan mạnh khỏe thành công trong công việc và cuộc sống.
Mặc dù, đã rất cố gằng nhưng do trình độ chuyên môn còn hạn chế trong quá
trình nghiên cứu nhóm em còn gặp nhiều khó khăn và không tránh khỏi những sai
sót. Vì vậy, chúng em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp phản hồi từ phía
thầy, cô để bài tiểu luận của nhóm em được hoàn thiện hơn.
Tập thể nhóm xin trân trọng cảm ơn! 6 LỜI CAM ĐOAN
Nhóm em xin cam đoan, bài tiểu luận là sản phẩm do chúng em thực hiện tuân thủ
đầy đủ các nguyên tắc, kết cấu của bài tiểu luận cuối kì. Các cơ sở lí luận và kiến thức được
trình bày trong bài tiểu luận là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng không bịa đặt thông tin để trích dẫn.
Nhóm em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực về thông tin sử
dụng trong quá trình thực hiện bài tiểu luận này. 7 DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1. 1 Nguyên lí hình thành ngũ hành. ............................................................................. 14
Hình 1. 2: Bảng so sánh “ngũ hành” (phương Đông) và “tứ chất” (phương Tây). ............... 15
Hình 1. 3: a) Hà đồ; b) Giải mã hà đồ. ................................................................................... 15
Hình 1. 4: Bảng tương ứng “ số hà đồ - phương - hành”. ...................................................... 16
Hình 1. 5: a) Sơ đồ ngũ hành tương khắc theo thứ tự hà đồ; b) Sơ đồ ngũ hành tương sinh
tương khắc. ............................................................................................................................. 17
Hình 2. 1: Nến cưới long phụng. ........................................................................................... 22
Hình 2. 2: Áo xô trắng và gậy tre trong tang lễ. .................................................................... 23
Hình 2. 3: Cờ ngũ sắc. ........................................................................................................... 23
Hình 2. 4: Các thế đất theo phong thuỷ: a) thế đất hình kim, b) thế đất hình thổ, c) thế đất có
đủ ngũ hành. ........................................................................................................................... 25
Hình 2. 5: Nõ (bên trái) tương trưng sinh khí thực nam, nường (bên phải) tượng trưng sinh
khí thực nữ. ............................................................................................................................ 26
Hình 2. 6: Lễ hội ông Đùng - bà Đà. ..................................................................................... 26
Hình 2. 7: Biểu tượng chim Lạc trên trống đồng ................................................................... 27
Hình 2. 8: Bánh chưng. .......................................................................................................... 28 8 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay cùng với sự phát triển của thời đại, khoa học dần có những vai trò quan
trọng đối với đời sống con người. Theo Ph. Becơn vai trò đầu tiên của khoa học là “làm
thức tỉnh con người, giúp họ thoát khởi ra tình trạng giáo điều, nắm lấy những vận hội
mới; hay nói cách khác, khoa học có vai trò khai mở trí tuệ, “thanh tẩy” lý trí.” [1]. Nhận
thức con người từ đó cũng có sự thay đổi, người ta tin vào những nghiên cứu khoa học, số
liệu, bằng chứng cụ thể. Và nghi ngờ một số hình thức văn hoá lâu đời, coi đó là mê tín dị
đoan, trong đó có học thuyết ngũ hành.
Dù đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề học thuyết ngũ hành trong đời sống văn hoá
tinh thần người Việt. Tuy vậy đa số tác giả chỉ mới đề cập đến ngũ hành một cách khái
quát, tản mạn hoặc là trình bày học thuyết ngũ hành ở một số lĩnh vực cụ thể, đa phần là
y học [2], chưa tập trung khai thác lĩnh vực ứng dụng của học thuyết ngũ hành trong văn
hoá Việt, cũng như chỉ ra ý nghĩa và sự tồn tại tất yếu của ngũ hành len lỏi trong từng cách
ăn, nết mặc của người Việt hàng nghìn năm nay, và khẳng định rằng học thuyết ngũ hành
không phải là một dạng mê tín dị đoan.
Qua quá trình phân tích và tổng hợp, nhận thấy được những khoảng trống kiến
thức. Tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Ngũ hành và ứng dụng của ngũ hành trong văn
hoá Việt” làm đề tài chính thức cho bài tiểu luận này. 9
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nêu khái quát về học thuyết ngũ hành, từ đó chỉ ra các ứng dụng ngũ hành trong văn hoá Việt.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài nói trên, chúng ta cần thực hiện các
nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận liên quan đến học thuyết ngũ hành.
- Khảo sát, trình bày thực trạng ứng dụng học thuyết ngũ hành trong văn hoá
Việt qua nhiều góc độ như đời sống tinh thần, đời sống văn hoá và cả trong thực tiễn.
- Xác định, phân tích những yếu tố trong học thuyết ngũ hành tác động đến đời
sống văn hoá tinh thần người Việt.
- Từ những kết quả phân tích được chỉ ra ý nghĩa và sự tồn tại khách quan của
học thuyết ngũ hành trong văn hoá Việt.
4. Đối tượng nghiên cứu
Ngũ hành và ứng dụng của ngũ hành trong văn hoá Việt.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Văn hoá Việt Nam.
Phạm vi về nội dung: Văn hoá Việt, đời sống văn hoá, đời sống tinh thần của người Việt.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tiến hành thu thập và nghiên cứu, phân tích
thông tin từ những sách,tạp chí khoa học, các diễn đàn khoa học, giáo trình, website
chính thống và các công trình nghiên cứu có liên quan trước đó. Phương pháp này giúp
tác giả tìm hiểu về cơ sở lý luận, chỉ ra các khái niệm, vai trò, ý nghĩa cũng như nội
dung về ngũ hành và ứng dụng của ngũ hành trong văn hoá Việt.
Phương pháp quan sát thực tế: quan sát những yếu tố phản ánh sự ảnh hưởng
của học thuyết ngũ hành trong đời sống tinh thần, văn hoá và thục tiễn của người Việt 10
thông qua: trang phục, thức ăn, lễ hội, tính ngưỡng, nghệ thuật,…Phương pháp này
giúp tác giả có căn cứ thục tiễn kiểm chứng cho phần cơ sở lý luận.
7. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của bài tiểu luận gồn 3 phần chính:
Chương 1: Khái lượt về học thuyết ngũ hành.
Chương 2: Ứng dụng của ngũ hành trong văn hoá Việt.
Chương 3: Ý nghĩa và sự tồn tại khách quan của ngũ hành trong văn hoá Việt. 11 PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH.
1.1 Sự hình thành và phát triển của học thuyết ngũ hành
Theo lương y Lê Văn Sửu (1998) học thuyết ngũ hành là sản phẩm tinh thần
của người phương Đông, nó được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử, được xem là
học thuyết đặc thù của phương Đông. Nền tảng làm nên tính đặc thù này có hai yếu tố:
thứ nhất đặc điểm địa lí, khí hậu, thứ hai phương pháp tư duy khoa học.[3]
Về địa lí, khí hậu: Đặc điểm địa dư ở khu vực các nước phương Đông có sự đối
nghịch về cấu tạo địa chất, địa hình, trong đó rõ rệt nhất là các nước Trung Quốc, Việt
Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, khi phía Đông là biển Thái Bình Dương- đại dương lớn
nhất thế giới, phía Tây là dãy núi cao nhất thế giới Hymalaya.
Khí hậu phía Bắc là vùng cực hàn, lạnh giá bốn mùa, phía Nam là khu vực xích
đạo nóng quanh năm. Ngoài điểm này, khu vực Phương Đông còn chịu ảnh hưởng của
áp suất không khí từ biển đông tới lục địa vào mùa nóng, gây lên nhiều trận bão lớn,
lụt to, thiên tai, mưa nắng thất thường. Con người tồn tại ở đây phải chống chọi với muôn vàn khó khăn.
Về phương pháp tư duy: Để tồn tại trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Người
phương Đông phải luôn quan sát sự vận động của không gian và thời gian đúc kết lại
những giá trị phù hợp với điều kiện sống.[3] Từ những kinh nghiệm ấy họ đã tiếp cận
đến chủ nghĩa duy vật, cụ thể là chủ nghĩa duy vật chất phác và biện chứng ngây thơ
thông qua học thuyết ngũ hành.[2]
Sự đối nghịch của địa lí và khí hậu chính là tiền đề của phương pháp tư duy so
sánh (đối tỉ), theo Lê Văn Sửu ( 1998) đây là phương pháp nhận thức hiệu quả nhất
của người phương Đông xưa. Cơ sở so sánh nhận thức về hình dáng và tính chất của
vật được gọi là “tượng” vật. Muốn có nhận thức rõ nét người ta phải so sánh những
“tượng” có tính chất đối lập nhau, quy về hai loại: âm, dương. Dương là những tượng
có thuộc tính nóng, sáng, rộng,.. Âm là những tượng có thuộc tính: lạnh, tối, hẹp,…[3] 12
Nhưng lâu dần hai mặt âm, dương không đủ giải thích sự vận động của vạn vật.
Người ta phân loại “ tượng “ theo các quá trình từ sinh đến diệt theo năm bước, hay
ngũ hành. Theo thạc sĩ Thanh Châu (2017), đây là bước tiến đánh dấu sự thành công
của tư duy lý tính nhằm thoát khỏi sự khống chế về mặt tư tưởng do các quan niệm
duy tâm thần bí truyền thống mang lại.[2] 13
1.2 Những đặc trưng cơ bản của ngũ hành
1.2.1 Nguyên lí của ngũ hành
Theo giáo sư Trần Ngọc Thêm (1999), ngũ hành được tạo nên từ sự kết hợp của
2 bộ tam tài: thuỷ - hoả - thổ, kim - mộc - thổ, trong đó thổ chính là yếu tố điều hoà.[4]
Hình 1. 1 Nguyên lí hình thành ngũ hành.
Nguồn: trong sách “Cơ sở văn hoá Việt Nam”-Trần Ngọc Thêm (1999) trang 63. [4]
Bản chất của ngũ hành không thể được hiểu đơn giản là 5 chất: nước, lửa, cây,
kim loại, đất. Ở mức độ trừu tượng cao, hành trong ngũ hành chỉ sự vận động [4]. Do
vậy khi nhắc đến một trong năm hành, ví dụ hành thuỷ, ta phải hiểu đó bao gồm: nước,
tính âm, màu xanh, hướng Bắc,…Từ đó cho thấy sự bao quát và trừu tượng của ngũ
hành (phương Đông) khác với quan niệm tứ chất (phương Tây). 14
Hình 1. 2: Bảng so sánh “ngũ hành” (phương Đông) và “tứ chất” (phương Tây).
Nguồn: trong sách “Tìm hiểu về bản sắc văn hoá Việt Nam”-Trần Ngọc Thêm (1996) trang 137. [5]
Bảng so sánh (hình 1.2) cho thấy, cách dịch “ngũ hành” thành “five elements” và
“thuỷ”, “hoả”,… thành “water”, “fire”,… thường thấy là sai lệch so với ý nghĩa bao hàm, trừu tượng vốn có.
1.2.2 Ngũ hành theo hà đồ
Theo Trần Ngọc Thêm (1996), hà đồ là hệ thống các dãy chấm tròn trắng đen
được xếp theo một thứ tự nhất định. Tên gọi hà đồ bắt nguồn từ truyền thuyết vua Phục
Hi đi chơi trên sông thấy con Long Mã nổi lên trên lưng có bức vẽ, vua Phục Hi dựa
vào đó vẽ nên hà đồ. [5]
Hình 1. 3: a) Hà đồ; b) Giải mã hà đồ.
Nguồn: trong sách “Tìm hiểu về bản sắc văn hoá Việt Nam”-Trần Ngọc Thêm (1996) trang 137. [5] 15
Hà đồ là cơ sở hình thành nên ngũ hành, mỗi phương, mỗi nhóm trong hà đồ
tương ứng với một hành tương ứng
Hình 1. 4: Bảng tương ứng “ số hà đồ - phương - hành”.
Nguồn: trong sách “Cơ sở văn hoá Việt Nam”-Trần Ngọc Thêm (1999) trang 66. [4]
Ngũ hành có nguồn gốc từ nông nghiệp, nên lí giải cách sắp xếp này cũng theo phương thức nông nghiệp:
- Người làm nông coi trọng đất làm đầu, nên hành thổ ở vị trí trung tâm số 5 – “ số
tham thiên lưỡng địa”, cai quản bốn phương.
- “Nhất nước, nhì phân” sau thổ, hành thuỷ là yếu tố quan trọng nhất đối với người
làm nông, ứng với số 1 trong hà đồ, được xem là khởi đầu (nguyên thuỷ, thuỷ
chung); thuỷ là âm cho nên ở phương Bắc.
- Hành hoả ấm nóng, là dương, ở phương Nam.
- Cặp mộc – kim: hành mộc về chất là cây cối, xanh tốt vào buổi sáng, mùa xuân
ứng với phương Đông dương tính; còn hành kim (âm, bởi kim loại tĩnh) ứng với phương Tây. 16
1.3 Mối quan hệ giữa các hành
Theo Trương Thanh Châu (2017), học thuyết ngũ hành diễn giải sự sinh hoá
của vạn vật qua hai nguyên lý cơ bản còn gọi là tương sinh và tương khắc trong mối
tương tác và quan hệ của chúng.[2]
1.3.1 Quan hệ tương sinh
Hành này hỗ trợ, giúp đỡ hành kia xác định theo từng cặp, nhưng bản chất là
quan hệ âm dương chuyển hoá (thuỷ là cực âm, hoả là cục dương).
Thuỷ sinh mộc (nước giúp cây tươi tốt).
Mộc sinh hoả (lửa cháy cần gỗ).
Hoả sinh thổ (lửa đốt gỗ thành tro, làm đất màu mỡ).
Thổ sinh kim (kim loại phần lớn có trong lòng đất).
Kim sinh thuỷ ( kim loại nóng chảy thành thể lỏng).
1.3.2 Quan hệ tương khắc
Hành này hạn chế, gây trở ngại cho hành kia.
Thuỷ khắc hoả (nước dập lửa).
Hoả khắc kim (lửa nung chảy kim loại).
Kim khắc mộc (rìu sắt chặt cây).
Mộc khắc thổ (cây lấy chất dinh dưỡng của đất để phát triển).
Thổ khắc thuỷ ( đất làm đê ngăn nước).
Hình 1. 5: a) Sơ đồ ngũ hành tương khắc theo thứ tự hà đồ; b) Sơ đồ ngũ hành tương sinh tương khắc. 17
Nguồn: trong sách “Tìm hiểu về bản sắc văn hoá Việt Nam”-Trần Ngọc Thêm (1996) trang 146.[4]
Tuy nhiên, theo Nguyễn Cường (2008) trong mối quan hệ tương khắc giữa các hành
đang tồn tại những sai lầm. Ví dụ “thổ khắc thuỷ”, tuy không "sinh" ra nhau nhưng được coi
"hỗ trợ" lẫn nhau, nước làm đất thêm màu mỡ, đất giữ nước tránh thất thoát[6]. Giải thích cho
vấn đề này, Trần Ngọc Thêm (2008) cho biết từ sơ đồ, hay học thuyết khái quát về quan hệ
tương sinh tương khắc liên hệ đến thực tiễn cần phải bổ sung nhiều thứ về chất liệu và sự vận
dụng. Ví dụ “ thuỷ khắc hoả” nhưng thực tế “ nước gáo lửa xe” (trường hợp ít nước, nhiều
lửa, nước không dập được lửa) đó là vấn đề của vận dụng, là hậu quả sự tác động của quy luật
chuyển hóa giữa lượng và chất[7].
Bằng sự quan sát và tìm hiểu, tác giả cho rằng vấn đề đúng sai trong quan hệ tương
sinh tương khắc của ngũ hành không chỉ được thể hiện qua các chất như: nước, đất, lửa cụ
thể. Bởi ngũ hành không chỉ tượng trưng cho năm nguyên tố “ nước, đất, lửa, kim loại, cây”,
“hành” mang ý nghĩa bao quát trừu tượng, chỉ sự vận động (như đã nói ở mục 1.2.1). Vì thế,
chỉ lấy một vài đại diện chất trong ngũ hành để chỉ tính đúng sai của mối quan hệ tương sinh
tương khắc có phần chưa thuyết phục. 18
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong nội dung Chương 1, tác giả đã trình bày và hệ thống hoá cơ sở lý luận về học
thuyết ngũ hành. Qua đó cho nền tảng hình thành học thuyết, những yếu tố ảnh hưởng đến sự
hình thành ngũ hành và mối liên hệ giữa các hành trong học thuyết. Kết quả nghiên cứu tại
Chương 1 làm tiền đề lý luận vững chắc để tác giả chỉ ra, phân tích những ứng dụng của ngũ
hành trong các lĩnh vực của văn hoá Việt tại Chương 2. 19
CHƯƠNG 2: NGŨ HÀNH TRONG VĂN HOÁ VIỆT.
2.1 Khái quát văn hoá Việt
Để phân tích rõ về ứng dụng của ngũ hành trong văn hoá Việt, trước tiên tác giả làm
rõ khái niệm của văn hoá.
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh (1940), “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,
loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng
hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn ”.[8]
Từ khái niệm trên, ta hiểu được văn hoá Việt chính là chỉ những nét văn hoá của các
dân tộc Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam, việc ứng dụng ngũ hành trong văn hoá Việt được
biểu hiện ở hầu hết các mặt trong đời sống. Trong tiểu luận này, tác giả đề cập đến ứng dụng ngũ hành trong:
- Sự hình thành tính cách người Việt. - Phong tục, tập quán.
- Tư tưởng, tính ngưỡng. - Văn học, nghệ thuật.
- Thực tiễn, đời sống.
2.2 Ứng dụng của ngũ hành
2.2.1 Sự hình thành tính cách của người Việt
Có nhiều tác giả, công trình nghiên cứu về tâm lý tính cách của người Việt từ nhiều
góc độ: suy nghĩ về “tâm lí dân tộc” - Nguyễn Khắc Dương, Bản tính dân tộc – đôi điều cảm
nhận từ góc nhìn hoạt động - Nguyễn Như Chiến, Về những thói hư tật xấu của người Việt
cổ truyền - Cố GS. Trần Quốc Vượng,….[9], nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về tâm lí, tính
cách của người Việt dưới góc nhìn của ngũ hành. Trong tiểu luận này, vấn đề ấy sẽ được làm rõ.
Theo Trần Ngọc Thêm (1999), trong sơ đồ thứ tự ngũ hành theo hà đồ (hình 1.5 a)
hành thổ - vị trí trung tâm gắn với vật biểu là con người [4]. Qua đó, hình thành trong người 20
Việt triết lí sống quân bình, thuận đất thuận trời, hoà hợp ngũ hành, “trong âm có dương,
trong dương có âm”, “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”. Việc nắm rõ quy luật âm dương, ngũ
hành đã tạo cho người Việt tính linh hoạt trong lối sống, thích nghi ở mọi hoàn cảnh. Bằng
chứng, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ dân tộc đã tận dụng tốt yếu tố tự
nhiên hiểm trở để ẩn mình tranh địch và phản công giành thắng lợi. Chiến dịch “Điện biên
phủ” là trận đánh thể hiện tính linh hoạt của dân tộc Việt Nam trong việc nắm bắt nhanh tình
hình và lợi dụng địa thế hiểm trở và chiến thắng bằng chiến thuật sử dụng địa hào phá huỷ
căn cứ phòng thủ kiên cố của Pháp[10].
2.2.2 Ngũ hành trong phong tục, tập quán của người Việt
Lễ cưới: trong văn hoá Việt Nam, tục cưới hỏi được xem là một trong những nghi thức
quan trọng, ảnh hưởng đến cuộc đời của một con người. Vì vậy, việc tổ chức cưới hỏi phải
được diễn ra chu toàn, kết hợp hài hoà âm dương, ngũ hành. Hai vật biểu của ngũ hành, chim
phụng và rồng là hai biểu tưởng xuất hiện xuyên suốt trong các lễ cưới truyền thống người
Việt, không chỉ xuất hiện trên tấm nhiễu đỏ phủ lấy trầu cau, cặp đèn lễ, hay ở cổng cưới,
rồng phụng còn xuất hiện trên quần áo của cô dâu, chú rễ và cả trong lời ăn nết nghĩ của mọi
người[11]. Theo đó, rồng ứng với chú rể, là vật biểu cho phương đông của hành mộc tượng
trưng cho sự sinh sôi, xanh tốt. Phụng tượng trưng cho cô dâu, vật biểu của phương Nam của
hành hoả, chim phụng mang đến gió phương Nam làm ấm gia đình[4], vì lẽ đó ông người xưa
thường dạy “chọn vợ đàn bà, xây nhà hướng nam”. 21
Hình 2. 1: Nến cưới long phụng. Nguồn: internet.
Sính lễ cũng là một phần quan trọng trong đám cưới. Trong đó, trầu cau là hai thứ
không thể thiếu[11]. Trầu cau tượng trưng cho âm dương - tiền đề của ngũ hành. Một số nơi
biến tấu trầu cau thành đĩa trầu tiêm sẵn[11], chính cách biến tấu này chỉ ra sự chuyển hoá từ
âm dương sang ngũ hành thông qua ngũ vị có trong đĩa trầu tiêm cánh phượng. Nếu trầu cau
là thứ yếu đầu tiên trong sính lễ ngày cưới thì bánh phu thê là thứ hai, bánh hình tròn (âm), Commented [MOU3]:
bọc trong khuôn hình vuông, buộc lạc đỏ (dương) .
Tang ma: phong tục thể hiện sự hiếu lễ của con cháu đối với người mất. Tang lễ gồm
nhiều nghi thức, quy tắc trong đó đều thấm nhuần quan niệm âm dương, ngũ hành. Theo
Nguyễn Văn Toàn (2008), trang phục, khăn tang trong tang lễ hai màu sắc chủ đạo trắng
đen[12], tượng trưng cho âm dương hay thuỷ, kim theo ngũ hành. Trong đám tang cha người
con trai trưởng phải chống gậy tre hình tròn, tang mẹ gậy dông đẽo vuông[12], vuông là âm,
tròn là dương hay vuông là thổ, tròn là kim. Cách con trai trưởng mặc áo xô trắng cũng có sự
khác biệt ở tang cha và tang mẹ. Theo đó tang cha, áo được mặc suôi từ lưng ra; tang mẹ áo 22