TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHÍNH TRỊ – LUẬT
BÁO CÁO MÔN HỌC
TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN
Đề tài: Phân tích nội dung quy luật về sự phù hợp của QHSX
với trình độ phát triển của LLSX
SVTH: Lê Đoàn Thiên Bảo 25861001
GVHD: Bùi Thị Mỹ Hạnh
Đồng Nai, năm 2026
Mục Lục
LỜI NÓI ĐẦU...............................................................................................................2
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN....................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG........................................................................................................4
CHƯƠNG 1: Khái niệm về quy luật phù hợp của QHSX đối với trình độ LLSX........4
1.1. Khái niệm...........................................................................................................4
1.1.1. Lực lượng sản xuất (LLSX).........................................................................4
1.1.2. Quan hệ sản xuất (QHSX)............................................................................4
1.1.3. Trình độ của lực lượng sản xuất...................................................................4
1.2. Kết cấu của LLSX và QHSX.............................................................................4
1.2.1. Kết cấu của lực lượng sản xuất....................................................................4
1.2.2. Kết cấu của quan hệ sản xuất.......................................................................5
1.2.3. Khoa học kĩ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp..............................5
1.3. Quy luật phạm trù..............................................................................................6
1.3.1. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất..........................................6
1.3.2. Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất...................................7
1.3.3. Thế nào là sự phù hợp..................................................................................8
1.4. Ý nghĩa của quy luật.......................................................................................8
1.5. Kinh nghiệm quốc tế:......................................................................................8
CHƯƠNG 2: Vận dụng quy luật về sự phù hợp QHSX với tính chất và......................9
2.1. Trước khi đổi mới (trước năm 1946):.................................................................9
2.1.1. Tình hình kinh tế Việt Nam:.......................................................................10
2.1.2. Lực lượng sản xuất:....................................................................................10
2.1.3. Quan hệ sản xuất:.......................................................................................11
2.2. Hậu quả:............................................................................................................11
2.3. Sau đổi mới năm 1946 và thành tựu:.................................................................12
2.3.1.Thời kỳ sau đổi mới sau 1986:....................................................................12
2.3.2.Một số thành tựu nổi bật:............................................................................13
2.3.3. Một số thách thức Việt Nam đối mặt:........................................................14
2.4. Giải pháp thúc đẩy sự phù hợp giữa QHSXvà LLSX........................................14
2.4.1. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại........................................................14
2.4.2. Cải biến quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của LLSX........................15
2.4.3. Giải quyết mâu thuẫn giữa QHSX và LLSX bằng cải cách từng bước.......16
2.4.4. Nâng cao vai trò của Nhà nước và Đảng....................................................16
2.4.5. Kết hợp phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội..............................................17
1
KẾT LUẬN.................................................................................................................18
NỘI DUNG THAM KHẢO.........................................................................................19
LỜI NÓI ĐẦU
Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quy luật về sự phù hợp của quan
hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là một quy luật cơ bản chi
phối toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người. Quy luật này khẳng
định lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất phải phù hợp
với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất trở nên lỗi thời,
không còn phù hợp thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và tất yếu
phải được thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn.
Thực tiễn phát triển của Việt Nam là minh chứng cho quy luật này. Trước năm 1986
cho thấy, cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp không còn phù hợp với yêu
cầu phát triển của lực lượng sản xuất, khiến nền kinh tế trì trệ, đời sống nhân dân khó
khăn. Trước tình hình đó, Đại hội VI của Đảng (1986) đã khởi xướng công cuộc đổi
mới toàn diện đất nước, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, nhằm giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, điều chỉnh quan hệ sản xuất
cho phù hợp với điều kiện mới. Đây là sự vận dụng sáng tạo quy luật cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam. Sau gần bốn mươi năm đổi mới, lực lượng
sản xuất của nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ, quan hệ sản xuất từng bước được
hoàn thiện, đời sống nhân dân được nâng cao, đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, sự biến đổi
nhanh của lực lượng sản xuất đang đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản
xuất để tạo động lực phát triển mới.
Chính vì vậy việc em lựa chọn viết đề tài này nhằm góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận
của quy luật, phân tích quá trình vận dụng trong thực tiễn đổi mới của Việt Nam, qua
đó thấy được giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin và ý nghĩa thực tiễn to lớn
của quy luật này đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
2
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
3
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: Khái niệm về quy luật phù hợp của QHSX
đối với trình độ LLSX
1.1. Khái niệm
1.1.1. Lực lượng sản xuất (LLSX)
- Lực lượng sản xuất sự kết hợp người lao động với liệu sản xuất, tạo ra sức
sản xuất năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên
theo nhu cầu nhất định của con người hội. Bao gồm người lao động liệu sản
xuất
- Về mặt cấu trúc, LLSX được xem xét trên cả hai mặt, đó mặt kinh tế-kỹ thuật
(tư liệu sản xuất) và mặt kinh tế-xã hội (người lao động).
- Lực lượng sản xuất chính sự kết hợp giữa “người lao động” với “lao động vật
hóa”, tạo ta sức sản xuất, toàn bộ những năng lực thực tiễn dùng trong sản xuất của
xã hội ở các thời kỳ nhất định.
- Lực lượng sản xuất tính năng động, sáng tạo, luôn phát triển cùng tiến bộ
khoa học-kỹ thuật và là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội.
1.1.2. Quan hệ sản xuất (QHSX)
- Quan hệ sản xuất tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người
trong quá trình sản xuất vật chất. Nếu LLSX thể hiện mối quan hệ giữa con người
tự nhiên thì QHSX thể hiện mối quan hệ giữa người và người trong sản xuất. Quá trình
sản xuất vật chất chính tổng thể các yếu tố trong một quá trình thống nhất, gồm sản
xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất.
- Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ về sỡ hữu đới với liệu sản xuất, quan hệ
trong tổ chức quản trao đổi hoạt động với nhau, quan hệ về phân phối sản
phẩm lao động.
1.1.3. Trình độ của lực lượng sản xuất
- Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) thước đo ng lực chinh
phục tự nhiên của con người, thể hiện qua sự phát triển của công cụ lao động, kỹ năng
người lao động, trình độ ứng dụng khoa học và tổ chức quản lý
- Trong thực tế, tính chất trình độ phát triển của LLSX không tách rời nhau
đây là yếu tố động nhất, quyết định năng suất lao động và phản ánh trình độ công nghệ
1.2. Kết cấu của LLSX và QHSX
1.2.1. Kết cấu của lực lượng sản xuất
- Tư liệu sản xuất: là điều kiện vật chất của quá trình sản xuất, bao gồm đối tượng
lao động liệu lao động. Trong đó, công cụ lao động giữ vai trò quyết định, phản
ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
4
- Tư liệu lao động: những yếu tố vật chất của sản xuất con người dựa vào đó
để tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm
đáp ứng yêu cầu sản xuất của con người.
- Đối tượng lao động: những yếu tố vật chất của sản xuất con người dùng
liệu lao động tác động lên, nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích s dụng
của con người.
- Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và phương tiện lao động:
- Công cụ lao động:những phương tiện vật chất mà con người trực tiếp sử dụng
để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng, tạo ra của cải vật chất phục
vụ nhu cầu của con người hội. yếu tố dống nhất, cách mạng nhất trong
LLSX, nguyên nhânu xa của mọi biến đổi kinh tế - hội trong lịch sử, thước
đo trình độ tác động, cải biến tự nhiên của con người tiêu chuẩn để phân biệt cac
thời đại kinh tế khác nhau.
- Phương tiện lao động: những yếu tố vật chất của sản xuất, cùng với công cụ
lao động mà con người sử dụng để tác động lên đối tượng lao động trong quá trình sản
xuất.
- Người lao động là nhân tố hàng đầu giữ vai trò quyết định, bởi vì người lao động
chủ thể sáng tạo s dụng công cụ lao động. nguồn gốc của mọi sáng tạo
trong sản xuất vật chất, nguồn gốc của sự phát triển sản xuất. Người lao động là những
người tri thức, kinh nghệm, kỹ năng lao động năng lực sáng tạo nhất định trong
quá trình sản xuất của xã hội.
1.2.2. Kết cấu của quan hệ sản xuất
- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
chiếm hữu, sử dụng các liệu sản xuất xã hội. Quan hệ sản hữu về tài liệu sản xuất là
quan hệ xuất phát, bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, luôn vai trò quyết định
các quan hệ khác bởi vì, lực lượng hội nào nắm phương tiện sản xuất chủ yếu của
quá trình sản xuất thì sẽ quyết định quan hệ của quá trình sản xuất phân phối sản
phẩm.
- Quan hệ về tổ chức quản sản xuất quan hệ giữa các tập đoàn người trong
việc tổ chức sản xuất phân công lao động. Quan hệ này vai trò quyết định trực
tiếp quan hệ mới, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; khả năng đẩy nhanh hoặc kìm
hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội.
- Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động quan hệ giữa các tập đoàn người
trong việc phân phối sản phẩm lao động hội. Quan hệ này có vai trò trực tiếp kích
thích lợi ích con người; “chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất,
làm nâng động hóa toàn bộ đời sống kinh tế – xã hội.
1.2.3. Khoa học kĩ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
- C. Mác từng khẳng định: “Tri thức hội phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.” Nhận định sâu sắc ấy ngày nay càng được
5
khẳng chứng ràng trong bối cảnh nhân loại đang bước vào cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại với tốc độ phát triển chưa từng có. Khoa học không còn chỉ
đóng vai trò công cụ hỗ trợ sản xuất, đã thực s trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp, giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ quá trình phát triển kinh tế – xã hội.
- Trong nền sản xuất hiện đại, khoa học đã sản sinh ra những “sản phẩm đặc biệt”
đó các phát minh, sáng chế, giải pháp kỹ thuật công nghệ tiên tiến. Chính
những thành tựu này đã làm thay đổi sâu sắc cấu trúc trình độ của lực lượng sản
xuất, trở thành nguồn gốc, động lực chủ yếu của sự tiến bộ hội. Đặc biệt, khoảng
cách giữa nghiên cứu khoa học ứng dụng thực tiễn ngày càng được rút ngắn, giúp
tăng nhanh năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, đồng thời tạo điều kiện cho các
quốc gia bứt phá trong cạnh tranh toàn cầu.
- Không chỉ đáp ứng nhu cầu thực tiễn, khoa học còn khả năng “đi trước thời
đại”, dự báo và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn, thách thức mà sản xuất đặt ra. Tri
thức khoa học thâm nhập sâu vào mọi yếu tố của quá trình sản xuất từ công cụ,
liệu, phương pháp lao động cho đến chính con người làm cho sản xuất ngày càng trí
tuệ hóa, tự động hóa và linh hoạt hơn.
- Như vậy, trong thời đại hiện nay, khoa học đã trở thành mắt xích nội tại, không
thể tách rời của quá trình sản xuất. không chỉ thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của
lực lượng sản xuất mà còn mở đường cho sự hình thành của nền kinh tế tri thức, nơi tri
thức, công nghệ đổi mới sáng tạo trở thành nguồn lực cốt lõi của tăng trưởng bền
vững và tiến bộ xã hội.
1.3. Quy luật phạm trù
1.3.1. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
- Sự vận động phát triển của phương thức sản xuất bắt đầu từ sự biến đổi của
lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất nội dung bản của quá trình sản xuất vật
chất, mang tính năng động, sáng tạo cách mạng, luôn vận động, đổi mới phát
triển không ngừng cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trình độ của con
người. Trong khi đó, quan hệ sản xuất hình thức hội của quá trình sản xuất, phản
ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình tạo ra của cải vật chất, tính
ổn định tương đối thường chậm thay đổi hơn so với sự vận động nhanh chóng của
lực lượng sản xuất.
- Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là
một yêu cầu khách quan của nền sản xuấthội. Khi lực lượng sản xuất không ngừng
phát triển, sẽ dần bộc lộ mâu thuẫn với tính ổn định, bảo thủ của quan hệ sản xuất
hiện có. Ban đầu, quan hệ sản xuất đóng vai trò “hình thức phù hợp”, tạo điều kiện
và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Tuy nhiên, cùng với thời gian, khi lực lượng
sản xuất đã đạt tới một trình độ mới, quan hệ sản xuất lại trở nên lạc hậu, cứng
nhắc, biến thành “xiềng xích” kìm hãm sự phát triển tiếp theo của lực lượng sản xuất.
6
- Chính mâu thuẫn này là động lực bên trong thúc đẩy sự cải biến của phương thức
sản xuất. Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất phát triển đến
mức gay gắt, quan hệ sản xuất cũ tất yếu sẽ bị thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất
mới phù hợp hơn, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển.
- C.Mác từng khẳng định: Cái cối xay quay bằng tay đưa lại hội lãnh
chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại hội nhà bản công nghiệp.”
Câu nói đó cho thấy lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định đối với s hình thành,
biến đổi phát triển của quan hệ sản xuất. Nói cách khác, lực lượng sản xuất quyết
định sự ra đời, nội dung tính chất của từng kiểu quan hệ sản xuất trong lịch sử,
đồng thời quy định xu hướng vận động phát triển tất yếu của toàn bộ phương thức
sản xuất xã hội. Từ đó có thể thấy, sự phát triển của lực lượng sản xuất luôn là nhân tố
quyết định, còn quan hệ sản xuất phải thường xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất, nhằm đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt
của phương thức sản xuất và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
1.3.2. Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất
- Quan hệ sản xuất (QHSX) vai trò đặc biệt quan trọng đối với lực lượng sản
xuất (LLSX), bởi vừa yếu tố quyết định, vừa điều kiện bảo đảm sự phát triển
hài hòa, biện chứng của nền sản xuấthội. Trong quá trình phát triển kinh tế, sự phù
hợp giữa QHSX LLSX yêu cầu khách quan tất yếu, xuất phát từ chính quy luật
vận động của sản xuất vật chất. QHSX không chỉ khuôn khổ pháp kinh tế cho
hoạt động sản xuất, còn “hình thức phát triển” của LLSX, tạo “địa bàn đầy đủ”
để lực lượng sản xuất phát triển, phát huy tối đa năng lực sáng tạo của con người.
- Sự phù hợp giữa QHSX LLSX quy định phương hướng, mục tiêu tốc độ
phát triển của nền sản xuất hội. Khi hai yếu tố y thống nhất, QHSX sẽ tạo điều
kiện thuận lợi nhất cho việc tổ chức, sử dụng phân phối hợp các yếu tố của
LLSX, từ liệu sản xuất, công cụ lao động cho đến tri thức, kỹ năng kinh nghiệm
lao động. Trong mối quan hệ biện chứng này, QHSX c động trở lại LLSX theo hai
chiều hướng rệt: nếu phù hợp thì thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của sản xuất, còn
nếu lạc hậu, cứng nhắc thì sẽ trở thành rào cản, kìm hãm tiến bộ.
- Khi QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, nền sản xuất sẽ vận hành
nhịp nhàng phát triển đúng quy luật, mở rộng quy mô, nâng cao năng suất hiệu
quả lao động. Trong điều kiện đó, các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại được
ứng dụng nhanh chóng vào thực tiễn sản xuất, người lao động hăng hái, sáng tạo, bởi
lợi ích vật chất tinh thần của họ được đảm bảo. Sự phù hợp này chính động lực
nội sinh thúc đẩy LLSX phát triển toàn diện, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng
kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội.
- Ngược lại, khi QHSX không còn tương thích với trình độ phát triển của LLSX,
sẽ trở thành rào cản đối với sự phát triển kinh tế hội. Khi đó, năng suất lao
động bị hạn chế, nguồn lực hội không được khai thác hiệu quả, lợi ích của người
7
lao động không được đảm bảo, khiến nền sản xuất rơi vào trì trệ khủng hoảng. Tuy
nhiên, sự kìm hãm này chỉ mang tính tạm thời, bởi mâu thuẫn biện chứng giữa LLSX
QHSX sẽ tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa cách mạng, trong đó QHSX bị thay thế
bằng QHSX mới tiến bộ hơn, phù hợp hơn với trình độ phát triển mới của LLSX.
- Chính quá trình vận động, cải biến thay thế liên tục giữa QHSX LLSX đã
tạo nên động lực phát triển không ngừng của lịch s nhân loại. Nhờ đó, nền sản xuất
xã hội luôn tiến từ thấp đến cao, từ lạc hậu đến hiện đại, từ hình thái kinh tế - xã hội cũ
sang hình thái mới, phù hợp với quy luật phát triển biện chứng và tất yếu của tiến trình
lịch sử.
1.3.3. Thế nào là sự phù hợp
- Sự phù hợp của QHSX với LLSX một trạng thái biện chứng, trong đó: QHSX
“hình thức phát triển” của LLSX, QHSX “tạo địa bàn đầy đủ” cho LLSX phát
triển.
- Sự phù hợp bao gồm: kết hợp đúng đắn giữa người lao động liệu sản xuất,
phân phối hợp lý thành quả lao động, đảm bảo điều kiện để người lao động sáng tạo và
hưởng thụ thành quả vật chất, tinh thần. Sự phù hợp không tuyệt đối tương đối,
luôn biến đổi, vì LLSX không ngừng phát triển.
- Khi không còn sphù hợp thì LLSX phát triển, QHSX từng phù hợp sẽ dần trở
thành vật cản, kìm hãm sự phát triển. Lúc đó nảy sinh mâu thuẫn giữa LLSX
QHSX, mâu thuẫn này chỉ được giải quyết bằng một cuộc cách mạng hội. Kết
quả là thiết lập một QHSX mới phù hợp hơn, giúp LLSX tiếp tục phát triển.
1.4. Ý nghĩa của quy luật
- Quy luật làm bản chất vận động của lịch sử hội qua đấu tranh giai cấp
mâu thuẫn cơ bản giữa LLSX - QHSX. Nó chứng minh sự tất yếu của sự thay đổi hình
thái kinh tế - xã hội, bác bỏ các quan điểm duy tâm hay cơ hội. Trong CNXH, quy luật
yêu cầu thường xuyên điều chỉnh QHSX để phù hợp, tránh trì trệ.
- Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng.
- Nhận thức đúng đắn quy luật này ý nghĩa rất quan trọng trong quán triệt, vận
dụng quan điểm, đường lối, chính sách, sở khoa học để nhận thức sâu sắc sự đổi
mới duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình cách mạng Việt
Nam, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản
Việt Nam luôn luôn quan tâm hàng đầu đến việc nhận thức vận dụng đúng đắn,
sáng tạo quy luật này để đem lại hiệu quả to lớn trong thực tiễn.
1.5. Kinh nghiệm quốc tế:
- Từ năm 1978, Trung Quốc đã tiến hành công cuộc cải cách mở cửa nền kinh
tế, chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa. Việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu, khuyến khích cạnh tranh
phát huy vai trò của các thành phần kinh tế đã giúp Trung Quốc giải phóng mạnh mẽ
8
lực lượng sản xuất, tạo nên bước chuyển mình ngoạn mục với tốc độ tăng trưởng kinh
tế nhanh và ổn định trong nhiều thập kỷ.
- Đối với Hàn Quốc, từ thập niên 1960, quốc gia này đã thực hiện chiến lược công
nghiệp hóa hướng ngoại, coi xuất khẩu động lực tăng trưởng chủ yếu. Nhà nước
đóng vai trò quản lý và định hướng vĩ mô, tạo điều kiện cho khu vực tư nhân phát triển
mạnh mẽ, hình thành nên những tập đoàn kinh tế lớn như Samsung, Hyundai, LG,...
Chính sự kết hợpi hòa giữa vai trò điều tiết của Nhà nước sức sáng tạo của khu
vực nhân đã giúp Hàn Quốc vươn lên trở thành một trong những “con rồng châu
Á”.
- Sau Chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản đã nhanh chóng tiến hành cải cách
ruộng đất, đầu mạnh mẽ vào giáo dục, khoa học công nghệ, đồng thời thiết lập
mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp người lao động. Nhờ
đó, Nhật Bản không chỉ nâng cao năng suất lao động còn trở thành một trong
những nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới.
- Liên thất bại do bảo thủ duy trì QHSX cứng nhắc từ thời Stalin, không điều
chỉnh kịp LLSX phát triển khoa học kỹ thuật, dẫn đến trì trệ kinh tế thập niên 1980.
Gorbachev cải tổ Perestroika muộn màng (1985) nhưng thất bại, góp phần sụp đổ
1991. Bài học: QHSX lạc hậu trở thành xiềng xích, cần thay đổi sớm để tránh khủng
hoảng toàn diện
- Từ những kinh nghiệm đó, bài học rút ra cho Việt Nam cần tiếp tục đổi mới
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đòi hỏi lãnh
đạo phải nhận ra mâu thuẫn LLSX-QHSX kịp thời, tránh thất bại như Liên Xô. Hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa, đa dạng hóa các hình
thức s hữu, khuyến khích phát triển kinh tế nhân thu hút đầu nước ngoài,
đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ để ng cao năng
suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia.
CHƯƠNG 2: Vận dụng quy luật về sự phù hợp QHSX với
tính chất và
trình độ của LLSX trong quá trình đổi mới
2.1. Trước khi đổi mới (trước năm 1946):
- Trước năm 1946, ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945, kinh tế Việt Nam rơi
vào khủng hoảng trầm trọng do di sản thực dân Pháp và phát xít Nhật, kết hợp nạn đói
Ất Dậu cướp đi hơn 2 triệu sinh mạng cùng thiên tai hạn hán, lụt. Nông nghiệp lạc
hậu, manh mún chiếm 90% nền kinh tế, sản lượng lúa chỉ vỏn vẹn 600.000 tấn, nhưng
nhờ chính sách "Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm" đã tăng gấp đôi lên 1,155 triệu
tấn vào cuối năm. Công nghiệp liệt với sản lượng than Quảng Ninh sụt giảm thảm
hại từ 2,5 triệu tấn xuống còn 231.000 tấn, thương mại đình trệ, lạm phát phi mã khiến
giá gạo vọt từ 4-5 đồng/tạ lên 700-800 đồng/tạ, kho bạc nhà nước cạn kiệt. Chính
9
quyền non trẻ phải đối mặt chiến tranh với Pháp từ cuối 1946, kinh tế tự cung tự cấp
thiếu nguồn thu, buộc phải ưu tiên tự do kinh doanh ban đầu để ổn định
2.1.1. Tình hình kinh tế Việt Nam:
- Nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này mang tính chất lạc hậu, phụ thuộc hoàn toàn
vào Pháp, biến đất nước ta thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của họ nguồn cung
cấp nguyên liệu cùng nhân công giá rẻ.cấu kinh tế phát triển mất cân đối, thiếu ổn
định, với sự đan xen giữa hai hình thái kinh tế phong kiến bản chủ nghĩa, làm
cho nền kinh tế trì trệ, kém phát triển.
- Trong các ngành kinh tế, nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo nhưng chủ yếu dựa
vào trồng lúa với công cụ sản xuất thô sơ, kỹ thuật canh tác lạc hậu, năng suất lao
động thấp, khiến đời sống nông dân nghèo khổ, bấp bênh. Chính sách hợp tác hóa
nông nghiệp (tập thể hóa ruộng đất) khiến người nông dân mất quyền chủ động, thiếu
động lực sản xuất, làm giảm hiệu quả canh tác.
- Công nghiệp phát triển cầm chừng, manh mún, chủ yếu tập trung vào khai thác
tài nguyên thiên nhiên và một số ngành công nghiệp nhẹ phục vụ lợi ích của Pháp.
cấu công nghiệp thiên về công nghiệp nặng trong khi nhu cầu hàng tiêu dùng hàng
xuất khẩu lại rất lớn. Dưới chế bao cấp, doanh nghiệp không quyền tự chủ, chỉ
hoạt động theo kế hoạch, dẫn đến ng suất chất lượng sản phẩm thấp, tình trạng
lãng phí, thua lỗ kéo dài, kìm hãm sự phát triển kinh tế.
- Thương nghiệp cũng rơi vào tình trạng trì trệ do Pháp nắm độc quyền thương
mại, áp đặt các loại thuế nặng nề, gây ra lạm phát cản trở hàng hóa nội địa phát
triển. Trong hoàn cảnh đó, thị trường tự do (chợ đen) hình thành phát triển mạnh
mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân, bị Nhà nước kiểm soát cấm
đoán.
2.1.2. Lực lượng sản xuất:
Người lao động Việt Nam trong giai đoạn này chủ yếu nông dân, công nhân
thợ thủ công, với trình độ dân trí rất thấp n 90% n số chữ, thiếu kỹ năng
nghề nghiệp kinh nghiệm sản xuất hiện đại. Họ sống trong cảnh nghèo đói, bị áp
bức bóc lột nặng nề bởi địa chủ cùng thực dân. Trong lĩnh vực công nghiệp, phần
lớn công nhân chỉ làm việc theo kinh nghiệm, không được đào tạo bài bản, thiếu kiến
thức khoa học kỹ thuật gần như không điều kiện phát huy sáng kiến cải tiến.
Trong nông nghiệp, lao động chiếm khoảng 70–80% dân số, chủ yếu canh tác thủ
công, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, năng suất lao động rất thấp.
Công cụ sản xuất phần lớn thô sơ, lạc hậu; máy móc chỉ xuất hiện hạn chế trong
một số ngành khai thác mỏ và đồn điền lớn do Pháp trực tiếp kiểm soát. Trình độ công
nghệ thấp kém, chỉ tập trung phục vụ các ngành mang lại lợi nhuận cao cho chính
quốc. Nền kinh tế thiếu vốn, thiếu trang thiết bị, thị trường tiêu thụ hạn hẹp ng
lực quản yếum. Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào nguồn viện trợ từ nước ngoài,
đặc biệt các nước hội chủ nghĩa như Liên Đông Âu. Việc ứng dụng khoa
10
học kỹ thuật tiên tiến gần như không có, khiến năng suất lao động thấp, chất lượng
sản phẩm kém và giá thành cao, làm cho nền kinh tế càng thêm trì trệ và phụ thuộc.
2.1.3. Quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất phong kiến vẫn chiếm ưu thế trong lĩnh vực nông nghiệp, thể
hiện qua hình thức địa sự bóc lột lao dịch của địa chủ đối với nông dân. Bên
cạnh đó, quan hệ sản xuất bản chủ nghĩa mới chỉ hình thành bước đầu trong công
nghiệp thương mại, song lại bị kìm hãm nặng nề bởi chính sách thuộc địa của thực
dân Pháp. Cùng với đó, quan hệ sản xuất tiểu sản vẫn tồn tại trong các ngành nghề
thủ công truyền thống và hoạt động thương nghiệp nhỏ lẻ.
Về quan hệ sở hữu liệu sản xuất, Nhà nước tiến hành cải tạo hội chủ nghĩa,
đưa phần lớn liệu sản xuất vào hình thức sở hữu toàn dân (do Nhà nước đại diện
quản lý) sở hữu tập thể (thông qua hợp tác xã). nông thôn, phong trào hợp tác
hóa nông nghiệp được đẩy mạnh: ruộng đất, trâu bò, nông cụ đều được đưa vào hợp
tác xã; nông dân làm việc tập thể và hưởng điểm công lao động. Thành phần kinh tế tư
nhân, cá thể, tiểu chủ gần như bị xóa bỏ, chỉ còn tồn tại rất hạn chế.
Về quan hệ tổ chức quản sản xuất, toàn bộ nền kinh tế vận hành theo chế
kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp. Nhà nước giữ vai trò duy nhất trong việc
lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, kiểm soát điều hành mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh. Các doanh nghiệp không có quyền tự chủ, mọi chỉ tiêu về sản lượng, cung
ứng nguyên liệu, giá bán, lợi nhuận… đều do cấp trên quyết định.
Về quan hệ phân phối sản phẩm, việc phân phối chủ yếu dựa trên nguyên tắc bình
quân, không gắn liền với năng suất hay hiệu quả lao động. Người lao động nhận lương
cố định hoặc chia điểm công theo quy định, bất kể mức độ đóng góp khác nhau.
chế này khiến người lao động thiếu động lực phấn đấu, hình thành tâm lại làm
việc đối phó. Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, bởi khi thua lỗ đã
Nhà nước đắp, còn khi lãi lại phải nộp hết vào ngân sách, dẫn đến mất động
lực cạnh tranh và sáng tạo trong sản xuất.
2.2. Hậu quả:
Gây khủng hoảng kinh tế - hội. nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này lâm vào tình
trạng khủng hoảng toàn diện. Sản xuất nông nghiệp trì trệ, liên tục chịu ảnh hưởng của
thiên tai như lụt hạn hán; năng suất thấp, đời sống nông dân bấp bênh. Công
nghiệp suy yếu nghiêm trọng, hàng hóa khan hiếm, sản xuất đình đốn. Các nghiệp
quốc doanh hoạt động kém hiệu quả do bị Nhà nước quản chặt chẽ từ khâu cung
ứng nguyên liệu, nhân lực đến phân phối sản phẩm. Do không quyền tự quyết về
giá cả hay hạch toán lỗ lãi, mọi chi phí lợi nhuận đều do Nhà nước bao cấp, khiến
bộ máy sản xuất trở nên cồng kềnh, thiếu linh hoạt và kém sức cạnh tranh.
Đời sống nhân dân cùng cực. Nạn đói bần cùng hóa lan rộng, đỉnh điểm
nạn đói năm 1945, cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người miền Bắc. Phần lớn
dân chìm trong cảnh nghèo đói, bị áp bức, bóc lột nặng nề; trình độ dân trí thấp,
11
hơn 90% dân số chữ, thất học phổ biến. Kho bạc Nhà nước trống rỗng, tài chính
quốc gia suy kiệt, khiến kinh tế thêm bế tắc.
cấu kinh tế mất cân đối nghiêm trọng do chính sách ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng, xem nhẹ nông nghiệp dịch vụ. Sự phát triển thiếu hài hòa giữa các
vùng miền khiến khu vực nông thôn, miền núi bị bỏ lại phía sau, khoảng cách giàu
nghèo ngày càng gia tăng. Trong khi một bộ phận nhỏ cán bộ, công nhân viên chức
được hưởng lợi từ chế độ bao cấp, thì đa số nhân dân phải sống trong cảnh thiếu thốn,
đói khổ.
Đất nước mất chủ quyền hoàn toàn, rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp. Chính
quyền thực dân áp dụng chính sách “bảo hộ” trực tiếp và gián tiếp, chia cắt hành chính
ba miền Bắc Trung Nam, gây chia rẽ làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.
Tình hình chính trị rối ren, nhân dân mất quyền làm chủ, các phong trào yêu nước
đấu tranh cách mạng bị phân tán, chưa hình thành được một lực lượng thống nhất
chống thực dân.
Sự phân hóa giàu nghèo cùng những bất công xã hội ngày càng sâu sắc đã làm nảy
sinh mâu thuẫn giai cấp u thuẫn dân tộc gay gắt. Chính những mâu thuẫn này
nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng nhân
dân, chống lại ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và chế độ phong kiến tay sai.
2.3. Sau đổi mới năm 1946 và thành tựu:
Rút kinh nghiệm từ những sai lầm ở giai đoạn trước, Đại hội Đảng lần thứ VI năm
1986 đã thừa nhận thẳng thắn những khuyết điểm, chủ trương đổi mới phương thức
quản lý kinh tế.
Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về con
đường và phương pháp xây dựng chủ nghĩa hội nước ta, thể hiện sự nhận thức và
vận dụng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Đồng thời, đã đặt sở, nền tảng quan trọng để các nhân tố mới ra
đời, tạo tiền đề để từng bước phát triển nền kinh tế của đất nước.
2.3.1.Thời kỳ sau đổi mới sau 1986:
Việt Nam từng bước mở cửa nền kinh tế, xóa bỏ chế bao cấp chuyển sang
hình kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa, đánh dấu bước ngoặt quan
trọng trong tiến trình phát triển đất nước. Cùng với đó, Nhà nước chủ trương đa dạng
hóa các hình thức sở hữu, bên cạnh sở hữu toàn dân sở hữu tập thể, sở hữu nhân
các thành phần kinh tế khác được công nhận, tạo môi trường bình đẳng, khuyến
khích đầu tư và phát triển sản xuất.
chế phân phối cũng được đổi mới sâu sắc: thay phân phối theo kế hoạch tập
trung của Nhà nước, sản phẩm thu nhập nay được phân chia dựa trên kết quả lao
động, hiệu quả sản xuất kinh doanh mức độ đóng góp, qua đó tạo động lực mạnh
mẽ cho sáng tạo, cạnh tranh và nâng cao năng suất.
12
Về chất lượng năng suất lao động, gặp không ít khó khăn trong giai đoạn
đầu chuyển đổi, nguồn nhân lực Việt Nam đã những bước tiến đáng kể, ngày càng
nâng cao trình độ, kỹ năng khả năng thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị
trường.
cấu lao động chuyển dịch mạnh từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ,
mở ra nhiều hội việc làm mới thu hút đáng kể nguồn vốn đầu nước ngoài.
Cùng với đó, Nhà nước đặc biệt chú trọng đến chính sách giáo dục đào tạo nghề,
nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng
của nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, nhân doanh nghiệp đều phải năng động, chủ động thích
ứng với cơ chế thị trường, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và
phân phối sản phẩm, góp phần hình thành một nền kinh tế năng động, sáng tạo hội
nhập sâu rộng với khu vực cũng như thế giới.
2.3.2.Một số thành tựu nổi bật:
Nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đãnhững bước chuyển mình mạnh
mẽ, tăng trưởng nhanh ổn định. Từ một quốc gia nghèo nàn, nông nghiệp lạc hậu,
Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tếng trưởng cao nhất thế
giới trong suốt nhiều thập kỷ qua. Giai đoạn 1990–2020, tốc độ tăng trưởng GDP
trung bình đạt khoảng 6,5–7%/năm, thể hiện sự nỗ lực không ngừng của Đảng, Nhà
nước và toàn dân trong công cuộc phát triển kinh tế.
Cùng với đó, thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện rệt. GDP bình
quân đầu người tăng mạnh, từ mức chưa đến 200 USD/người/năm vào năm 1985 lên
khoảng 4.300 USD/người/năm vào năm 2024 (theo số liệu của Ngân hàng Thế giới).
Việt Nam đã thoát khỏi nhóm nước nghèo, trở thành quốc gia thu nhập trung bình
thấp một bước tiến vượt bậc, thể hiện sự thành công trong việc vận dụng quy luật
phù hợp giữa quan hệ sản xuất lực lượng sản xuất. Tốc độ tăng trưởng GDP thể
hiện nét sự phát triển vượt trội của nền kinh tế. Nếu như năm 1990 GDP của Việt
Nam chỉ đạt khoảng 7 tỷ USD thì đến năm 2020, con số này đã tăng lên 366 tỷ USD
(theo Thông tấn xã Việt Nam). Thành tựu này không chỉ phản ánh sự phát triển về quy
còn cho thấy chất lượng tăng trưởng ngày càng được nâng cao, đời sống nhân
dân được cải thiện, vị thế quốc gia ngày càng được củng cố.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, từ năm 1988, Việt Nam đã bước đột phá khi
chuyển từ nước nhập khẩu lương thực sang một trong ba quốc gia xuất khẩu gạo hàng
đầu thế giới. Công nghiệp phát triển mạnh mẽ nhờ chính sách cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước, tiêu biểu như Vinamilk Viettel, giúp ngành y duy trì tốc độ
tăng trưởng 7–8%/năm trong giai đoạn 2000–2010. Dịch vụ cũng vươn lên nhanh
chóng, đặc biệt du lịch công nghệ tài chính (fintech) với những thương hiệu tiêu
biểu như MoMo, VNPay, đóng góp khoảng 41% GDP năm 2023.
13
cấu kinh tế sự chuyển dịch rệt theo hướng công nghiệp hóa hiện đại
hóa. Nếu năm 1986, nông nghiệp chiếm hơn 70% GDP thì đến nay chỉ còn khoảng
12–15%, trong khi công nghiệp dịch vụ chiếm hơn 80%. Nhiều khu công nghiệp,
khu chế xuất khu kinh tế trọng điểm được hình thành tại Bắc Ninh, Bình Dương,
Đồng Nai, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh… Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo,
điện tử, dệt may, lắp ráp ô năng lượng tái tạo phát triển mạnh mẽ, trong khi các
lĩnh vực dịch vụ, du lịch, tài chính – ngân hàng, logistics ngày càng hiện đại, đóng vai
trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế.
Sau công cuộc đổi mới, Việt Nam không ngừng mở rộng hợp tác quốc tế, ban
hành nhiều chủ trương và chính sách hội nhập sâu rộng với thế giới. Việc tham gia các
tổ chức quốc tế như ASEAN, WTO… (đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO vào
năm 2007) đã giúp tăng cường thương mại quốc tế, thu hút đầu nước ngoài, mở
rộng thị trường xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam vươn
ra toàn cầu. Những thành tựu đó đã góp phần khẳng định vị thế ngày càng cao của
Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.
2.3.3. Một số thách thức Việt Nam đối mặt:
Quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng cùng với sự phát triển mạnh mẽ
của các khu đô thị đã kéo theo nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng như ô nhiễm
không khí, suy giảm tài nguyên thiên nhiên mất cân bằng sinh thái. n cạnh đó,
tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chưa thật sự đồng đều giữa các ngành các
vùng miền: trong khi các ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ, thì nông nghiệp
xây dựng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế về năng suất và hiệu quả.
Về lực lượng sản xuất, công nghệ số đang phát triển mạnh mẽ với những bước tiến
vượt bậc trong các lĩnh vực như 5G, trí tuệ nhân tạo (AI) tự động hóa. Tuy nhiên,
Việt Nam vẫn đang thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, khi chỉ khoảng 15%
lao động được đào tạo chuyên môn, gây trở ngại cho quá trình hiện đại hóa nền kinh
tế. Ngoài ra, sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền vẫn còn lớn,
chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thị trường lao động hiện đại, làm giảm khả năng
cạnh tranh và phát huy tiềm năng của lực lượng lao động trong thời kỳ hội nhập.
2.4. Giải pháp thúc đẩy sự phù hợp giữa QHSXvà LLSX
2.4.1. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại
Phát triển lực lượng sản xuất (LLSX) là nền tảng quan trọng để nâng cao năng suất
lao động, hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa
cách mạng công nghiệp 4.0. Nhận thức điều đó, Việt Nam đang tập trung đầu
mạnh mẽ vào khoa học – công nghệ, tự động hóa và chuyển đổi số nhằm thúc đẩy hình
thành nền sản xuất thông minh, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất và chất lượng sản
phẩm.
Cùng với sự đầu tư về công nghệ, yếu tố con người được xem là trung tâm của quá
trình phát triển LLSX. Việc ng cao trình độ tay nghề, kiến thức chuyên môn tri
14
thức số của người lao động trở thành nhiệm vụ then chốt. Nhà nước doanh nghiệp
chú trọng triển khai các chương trình đào tạo kỹ năng số, rèn luyện kỷ luật lao động và
tác phong công nghiệp để người lao động có thể thích ứng với yêu cầu của nền sản
xuất hiện đại.
Bên cạnh đó, mở rộng hợp tác quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp
thu chuyển giao các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến từ các quốc gia phát
triển. Thông qua quá trình này, Việt Nam không chỉ nâng cao trình độ công nghệ
còn học hỏi được kinh nghiệm quản lý, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Ví dụ như là sự phát triển của VinFast, doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực sản
xuất ô điện của Việt Nam. VinFast đã mạnh dạn ứng dụng robot, trí tuệ nhân tạo
(AI) công nghệ tự động hóa vào dây chuyền sản xuất, góp phần tạo ra bước tiến
vượt bậc trong quá trình hiện đại hóa lực lượng sản xuất. Đây minh chứng nét
cho nỗ lực của Việt Nam trong việc bắt kịp xu thế toàn cầu hóa, chuyển đổi số hội
nhập sâu rộng vào nền công nghiệp 4.0.
2.4.2. Cải biến quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của LLSX
Khi lực lượng sản xuất (LLSX) phát triển, quan hệ sản xuất (QHSX) tất yếu phải
thay đổi cho phù hợp, nhằm tránh trở thành rào cản kìm hãm tiến trình phát triển kinh
tế hội. Nhận thức được điều này, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách sâu rộng
trong QHSX, trước hết đa dạng hóa các hình thức sở hữu liệu sản xuất. Bên cạnh
khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, các hình thức sở hữu nhân, cổ phần,
vốn đầu nước ngoài được khuyến khích phát triển. Sự đa dạng này đã giúp
huy động phát huy tối đa mọi nguồn lực trong hội, thúc đẩy cạnh tranh, đổi mới
và sáng tạo trong sản xuất kinh doanh.
Song song với đổi mới quan hệ sở hữu, chế quản phân phối cũng được
hoàn thiện theo hướng trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các doanh nghiệp. Nhà nước
chuyển dần từ chế “quản bao cấp” sang chế “điều tiết hỗ trợ”, khuyến
khích cạnh tranh lành mạnh minh bạch trong hoạt động kinh tế. Việc trả công cho
người lao động dựa trên năng suất, chất lượnghiệu quả lao động đã thay thế chế
phân phối bình quân trước đây, qua đó khơi dậy tinh thần làm việc sáng tạo, nâng cao
năng suất và chất lượng sản phẩm.
Một minh chứng tiêu biểu cho quá trình đổi mới QHSX cổ phần hóa
Vietcombank. Việc chuyển đổi hình từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ
phần không chỉ giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả quản trị, minh bạch i chính,
còn huy động được lượng vốn lớn từ hội. Nhờ đó, Vietcombank điều kiện mở
rộng quy mô, đầu tư công nghệ hiện đại và nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu
cầu phát triển của LLSX trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
thể thấy, quá trình đổi mới quan hệ sản xuất Việt Nam đã tạo bước chuyển
căn bản, giúp giải phóng phát huy mạnh mẽ tiềm năng của lực lượng sản xuất, trở
thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
15
2.4.3. Giải quyết mâu thuẫn giữa QHSX và LLSX bằng cải cách từng bước
Trong tiến trình phát triển của hội, khi quan hệ sản xuất (QHSX) không còn
phù hợp, trở nên lạc hậu so với trình độ của lực lượng sản xuất (LLSX), tất yếu sẽ nảy
sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn này nếu không được giải quyết kịp thời sẽ trở thành lực
cản kìm hãm sự phát triển kinh tế. vậy, yêu cầu đặt ra phải cải cách thể chế, đổi
mới chính sách kinh tế và phương thức quản lý một cách linh hoạt, nhằm bảo đảm cho
QHSX luôn thích ứng với sự phát triển không ngừng của LLSX.
Thực tiễn Việt Nam cho thấy, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước bắt đầu từ
năm 1986 chính bước ngoặt thể hiện sự điều chỉnh phù hợp giữa hai yếu tố này.
Nhà nước ta đã tiến hành cải cách mạnh mẽ về thể chế hành chính, từng bước tháo
gỡ rào cản pháp lý, đơn giản hóa thủ tục, đồng thời tạo dựng môi trường đầu – kinh
doanh minh bạch, bình đẳng năng động hơn. Đặc biệt, khu vực kinh tế nhân
được khuyến khích phát triển, trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế, góp phần
nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sáng tạo và gia tăng sức cạnh tranh quốc gia.
Một minh chứng nét cho sự đổi mới đó Luật Doanh nghiệp năm 2020, được
ban hành với mục tiêu tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, mở rộng quyền tự do
kinh doanh, giảm thiểu thủ tục hành chính bảo đảm quyền lợi hợp pháp của doanh
nghiệp. Sự ra đời của đạo luật này không chỉ thể hiện sự điều chỉnh kịp thời của
QHSX cho phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, còn tạo động lực mạnh mẽ
để thúc đẩy quá trình hiện đại hóa, chuyển đổi số hội nhập quốc tế của nền kinh tế
Việt Nam trong giai đoạn mới.
2.4.4. Nâng cao vai trò của Nhà nước và Đảng
Nhà nước Đảng giữ vai trò định hướng lãnh đạo toàn diện trong quá trình
phát triển kinh tế đất nước. Trên sở đó, Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết,
điều chỉnh quan hệ sản xuất (QHSX) cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất (LLSX), nhằm bảo đảm sự phát triển hài hòa, ổn định bền vững của nền
kinh tế. Đồng thời, Nhà nước c trọng xây dựng hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường định hướng hội chủ nghĩa một hình đặc thù kết hợp giữa nguyên tắc
của thị trường với định hướng hội, đảm bảo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh”.
Bên cạnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo, định hướng
đổi mới duy kinh tế hoàn thiện hệ thống chính sách phù hợp với từng giai đoạn
phát triển. Đảng chủ trương đẩy mạnh cải cách thể chế, hoàn thiện khung khổ pháp lý,
đồng thời ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển khoa học công
nghệ thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Những chủ trương này góp phần tạo động lực
mạnh mẽ cho việc ng cao ng suất lao động, hiện đại hóa sản xuất nâng tầm
năng lực cạnh tranh quốc gia.
Diển hình như Chiến lược Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030 do Chính phủ
ban hành. Chiến lược này hướng đến mục tiêu giúp các doanh nghiệp Việt Nam chủ
16
động ứng dụng công nghệ thông tin và các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư vào sản xuất – kinh doanh. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất,
chất lượng sản phẩm, giảm chi phí mở rộng thị trường, qua đó thúc đẩy sự phát
triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh
tế số và xã hội số tại Việt Nam.
2.4.5. Kết hợp phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội
Tăng trưởng kinh tế phải luôn đi đôi với công bằng hội, bảo đảm an sinh
hướng tới phát triển bền vững. Nhà nước không chỉ chú trọng nâng cao năng suất
quy sản xuất còn quan tâm xây dựng môi trường pháp minh bạch, nền văn
hóa kinh doanh lành mạnh chuẩn mực đạo đức vững chắc, tạo nền tảng thuận lợi
cho quan hệ sản xuất mới phát triển phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất.
Việc phát triển lực lượng sản xuất không chỉ nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
còn hướng đến mục tiêu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo
vệ môi trường sinh thái, duy trì sự ổn định phát triển hài hòa của hội. Nhà nước
chú trọng kết hợp chặt chẽ giữa hiệu quả kinh tế trách nhiệm hội, khuyến khích
các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, sản xuất xanh tuân thủ các giá trị văn hóa, đạo
đức trong hoạt động kinh doanh.
Tiêu biểu Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, chương
trình đã góp phần quan trọng trong việc phân phối lại nguồn lực, nâng cao thu nhập và
đảm bảo mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả từ tăng trưởng kinh tế. Qua đó,
phát triển kinh tế không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn trở thành động lực thúc đẩy
công bằng hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào con đường phát triển toàn diện,
bền vững của đất nước.
17