Bảo vệ quyền sở hữu ? Phân tích phương
thức bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước ?
1. Bảo vệ quyền sở hữu như thế nào ?
Quyền sở hữu được bảo vệ bằng các quy định của nhiều ngành luật khác
nhau nhưng chủ yếu pháp luật hành chính, pháp luật hình sự pháp luật
dân sự.
Bảo vệ quyền sở hữu bằng pháp luật dân sự được th hiện chỗ: chủ sở
hữu thể tự mình thực hiện các biện pháp bảo vệ phù hợp, ngăn cản nhằm
chấm dứt các hành xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy m, đòi lại tài
sân; hoặc thông qua tòa án, các quan nhà nước thẩm quyền khác đòi
lại tài sản của mình đang b người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không
căn cứ pháp luật nếu người đó không tự nguyện trả lại tài sản.
Bảo vệ quyền sở hữu còn thể được thực hiện bằng việc loại trừ mọi hành
vi cản trở chủ sở hữu trong việc thực hiện các quyền năng đối với tài sản.
Chủ sở hữu quyền yêu cầu loại trừ mọi sự vỉ phạm quyền của mình,
những vi phạm đó không tước quyền chiếm hữu hoặc yêu cầu bồi thường
thiệt hại nếu thiệt hại xảy ra.
2. Những nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu
Về nguyên tắc chung, quyền sở hữu tài sản của các chủ th trong luật dân sự
được pháp luật công nhận bảo vệ. Điều 163 BLDS đã ghi nhận:
"1. Không ai thể bị hạn chế, b tước đoạt trái luật quyền sở
hữu, quyền khác đối với tài sản".
Cùng với việc ghi nhận này để bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng,
khoản 2 Điều 163 Bộ luật dân sựcũng chỉ ra rằng:
"Trường hợp thật cần thiết do quốc phòng, an ninh hoặc
lợi ích quốc gia, nh trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà
nước trưng mua hoặc trưng dụng bồi thường tài sản của tổ
chức, nhân theo giá thị trường".
Trong quá trình thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng định đoạt
theo quy định tại Điều 158 Bộ luật dân sự, không phải bất cứ lúc nào chủ sở
hữu cũng toàn quyền "độc lập tuyệt đối" với những chủ thể khác. Bởi lẽ,
chủ sở hữu cũng đồng thời chủ thể của các quan hệ hội, họ phải sống
trong hội cộng đồng. Điều đó nghĩa là, khi hành xử quyền của mình,
trong một số trường hợp chủ sở hữu bị hạn chế bởi một giới hạn nhất định.
Tuy nhiên, đ cho chủ sở hữu được những điêu kiện thuận lợi khi sử dụng
các quyền của mình, Bộ luật dân sự cho phép họ một số quyền nhất định
đối với tài sản của người khác đồng thời cũng phải chịu sự ràng buộc bởi
một số nghĩa vụ nhất định để các chủ thể khác được thuận tiện khi sử dụng
quyền của mình.
3. Phân tích phương thức bảo vệ quyền sở hữu ?
Pháp luật được coi công cụ sắc bén hữu hiệu nhất ttong việc bảo vệ
quyền sở hữu, bảo đảm cho ch sở hữu thực hiện hiệu quả hợp các
quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt một cách bình thường nhất. Bảo
vệ quyền sở hữu chính biện pháp tác động bằng pháp luật đối với hành vi
xử sự của con người, ngăn ngừa những hành vi xâm hại đến chủ sở hữu khi
người này hành xử quyền của mình.
Bằng các quy phạm pháp luật, Nhà nước ta c nhận quy định phạm vi
những quyền năng của một chù sở hữu đối với tài sản của họ. Mặt khác, Nhà
nước dùng pháp luật như một công cụ pháp để bảo vệ các quyền năng đã
được pháp luật công nhận ngăn ngừa những hành vi xâm phạm đến
quyền của các chủ sở hữu. Mọi hành vi m phạm của người không phải
chủ sở hữu đều bị coi hành vi vi phạm pháp luật. Khi quyền sở hữu bị xâm
phạm thì người nào hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu của một chủ thể
xác định phải chịu những hậu quả pháp tương ứng do Bộ luật dân sự năm
2015 quy định.
Nhà nước ta sử dụng nhiều ngành luật khác nhau để bảo vệ quyền sở hữu.
Tuy nhiên, mỗi ngành luật bảo vệ quyền sở hữu theo những phương pháp,
cách thức p hợp với chức năng vốn của nó.
Luật hành chính bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định những thể l nhằm
quản bảo vệ i sản của Nhà nước, t chức nhân công dân. Trong
một số trường họp, Nhà nước sử dụng biện pháp cưỡng chế bằng bạo lực
của các quan nhà ớc thẩm quyền đối với một nhân hay tổ chức
nhất định về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các nhân hay tổ chức
phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định để bảo vệ
những quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác; hoặc người đó phải
phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của mình hoặc tự do thân
thể nhằm bảo đảm quyền lợi cho các chủ th khác. Việc áp dụng các biện
pháp hành chính (gồm cưỡng chế, phòng ngừa, ngăn chặn) do các quan
hành chính nhà nước trong những trường hợp nhất định do toà án nhân
dân quyết định đổi với nhân, tổ chức đã hành vi vi phạm hành chính
xâm phạm đến tài sản, quyền sở hữu tài sản hoặc cản hở trái pháp luật chủ
sở hữu.
Luật hình sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định một số hành vi nhất
định xâm phạm đến quyền sở hữu tội phạm quy định mức hình phạt
tương xứng với những loại hành vi phạm tội đó. Việc bảo vệ quyền sở hữu
bằng biện pháp hình sự mang tính chất trừng trị, răn đe giáo dục người vi
phạm.
Luật dân sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định những phương thức
kiện dân sự trước toà án đ chủ sở hữu thể thông qua đó đòi lại tài
sản của mình đang bị người khác chiếm giữ bất hợp pháp; yêu cầu người
khác chấm dứt hành vi cản tr hoặc quyền yêu cầu ngăn chặn khi chủ sở
hữu thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản;
hoặc chủ sở hữu th đòi người khác phải bồi thường những thiệt hại về tài
sản nếu người đó hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu, quyền chiếm hữu
của mình.
Như vậy, mỗi ngành luật đều vai t quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở
hữu nhưng mỗi ngành luật không bảo vệ quyền sở hữu một ch hoàn toàn
tách biệt luôn sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau. Trong thực tế, nhiều khi
phải áp dụng cùng một lúc những quy phạm của hai hay nhiều ngành luật để
điều chỉnh bảo vệ quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp khi
bị xâm phạm.
Tuy nhiên, trong các phương thức pháp để bảo vệ quyền sở hữu đã nêu
trên, phương thức dân sự vai trò quan trọng mang những đặc diêm
riêng. Đây phương thức ý nghĩa thực tế nhất khôi phục lại tình
trạng ban đầu (tình trạng trước khi bị vi phạm) về mặt vật chất cho chủ sở
hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp.
Theo phương thức kiện dân sự, người khởi kiện để u cầu toà án bảo vệ
quyền lợi cho mình chính người bị m phạm quyền sở hữu. Người
quyền sở hữu bị xâm phạm thể chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp
pháp. Do đó, phương thức kiện dân sự những đặc thù sau đây:
- Phương thức này được áp dụng một cách rộng rãi hơn so với các biện pháp
khác trong nhiều trường hợp không những khả năng điều kiện để áp
dụng c biện pháp khác.
- Tạo điều kiện thuận lợi d dàng cho người quyền dân sự bị xâm phạm
tự mình chủ động bằng phương thức giản đơn đề xuất yêu cầu toà án bảo
vệ quyền lợi cho mình.
- Tạo khả năng khắc phục những thiệt hại vật chất cho ch sở hữu; bảo đảm
khôi phục lại những lợi ích vật chất cho chủ sở hữu n tình trạng ban đầu
khi quyền sở hữu chưa bị xâm phạm; ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản
trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp
pháp của chủ sở hữu.
4. Cách thức kiện đòi lại tài sản
Kiện đòi lại tài sản việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp u cầu
toà án buộc người hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại i sản cho
mình. Đòi lại tài sản một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ
sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Quyền đòi lại tài sản được quy định tại
Điều 166 BLDS:
"Chủ sở hữu, chủ thế quyền khác đổi với tài sân quyền đòi
lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người
được lợi về tài sản không căn cứ pháp luật...”.
Tuy nhiên, đối với những tài sản đang được chiếm hữu bởi chủ thể quyền
khác đối với tài sản thì chủ sở hữu không quyền đòi lại tài sản (khoản 2
Điều 166).
Những yêu cầu chung trong việc đòi lại i sản.
- Đối với nguyên đơn: Người kiện đòi lại tài sản phải chủ sở hữu của tài
sản phải chứng minh quyền sở hữu của mình đối với tài sản đang bị bị
đơn chiếm gi bất hợp pháp. Nguyên đơn cũng thể người quyền
khác đối với tài sản thông qua những căn cứ c lập quyền được pháp luật
quy định, về nguyên tắc chung: Tài sản đang bị b đơn chiếm giữ bất hợp
pháp đã rời khỏi chủ sở hữu, người quyền khác đối với tài sản ngoài ý chí
của những người này (đánh rơi, bỏ quên, b mất cắp...) thì ch sở hữu, người
quyền khác đối với tài sản quyền đòi lại tài sản từ người đang chiếm
hữu bất hợp pháp.
Trong phương thức kiện này, về nguyên tắc, người chiếm hữu không căn
cứ pháp luật không ngay tình phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc
người quyền khác với tài sản. Khi lấy lại tài sản, chủ sở hữu, người
quyền khác đối với tài sản không phải bồi thường một khoản tiền nào, trừ
trường hợp người chiếm hữu không ngay tình phải bỏ ra chi phí hợp để sửa
chữa tài sản, làm tăng giá trị của tài sản.
- Đối với bị đơn: Người bị kiện phải trả lại tài sản người đang thực tế
chiêm hữu tài sản không căn cứ pháp luật không ngay tình như tài sản do
trộm cắp, cướp, lừa đảo có; biết tài sản đó của gian nhưng vẫn mua
hoặc nhặt được tài sản do chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đánh rơi,
bỏ quên... nhưng đã không giao nộp cho quan ttách nhiệm t người
chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người chiếm hữu
hợp pháp. Trong trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản
không căn cứ pháp luật không ngay tình nhưng đã giao tài sản cho người
thứ ba thì người thứ ba cũng nghĩa vụ hoàn ttả tài sản đó nếu ch sở hữu,
người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu hoàn trả.
Tóm lại, khi tài sản rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý
chí của họ thì những người đang thực tế chiếm hữu vật đều phải trả lại tài
sản. Theo quy định tại khoản 1 Điều 581 BLDS, ngoài việc trả lại tài sản
nhũng người này còn
"... phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm
hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không căn cứ pháp
luật".
- Nếu bị đơn người chiếm hữu không căn cứ pháp luật nhưng ngay tình
tài sản động sản không phải đăng quyền sở hữu như thông qua một
giao dịch đền (mua bán) theo ý chí của người chiếm hữu căn cứ
pháp luật như người mượn, thuê... của chủ sở hữu. Trong trường hợp này,
chủ sở hữu không được kiện đòi lại tài sản người đang thực tế chiếm hữu.
Chủ sở hữu sẽ kiện người mình đã chuyển giao tài sản theo hợp đồng bồi
thường thiệt hại đây trách nhiệm theo hợp đồng. Thực tế hiện nay việc
lưu thông hàng h tự do thị trường hàng hoá phong phú đa dạng rộng
lớn, người mua không thể biết nguồn gốc tài sản, cho nên pháp luật cần phải
bảo vệ họ;mặt khác, buộc những người tài sản khi cho thuê, cho mượn,
gửi giữ... phải biện pháp bảo đảm.
- Bị đơn người chiếm hữu không căn cứ pháp luật ngay tình đối với bất
động sản tài sản phải đăng quyền sở hữu t chủ sở hữu quyền yêu
cầu đòi lại tài sản. Bởi đối với những tài sản này, người mua chỉ quyền
sở hữu khi sang tên đăng chuyển quyền sở hữu từ người ch sở hữu.
Người thực tế đang tài sản phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu quyền
yêu cầu người chuyển giao vật cho mình hoàn trả tiền hoặc các lợi ích vật
chất mình bị thiệt hại.
Trường hợp người chiếm hữu ngay tình thông qua giao dịch với người chủ
sở hữu theo quyết định của toà án hoặc theo quyết định của quan n
nước thẩm quyền, hoặc mua thông qua bán đấu giá thỉ hành án nhưng
sau đó những căn cứ trên không còn (b huỷ, bị sửa) thì người chiếm hữu
ngay tình quyền sở hữu tài sản đã mua. Những trường họp này người
mua người bán hoàn toàn không lỗi. Ngược lại, lỗi thuộc về quan
nhà nước, do vậy, quan nhà nước phải chịu trách nhiệm theo Điều 598
BLDS.
Trong quan hệ pháp luật này, lợi ích vật chất của chủ sở hữu người đang
thực tế chiếm giữ vật người chiếm hữu không căn cứ pháp luật ngay
tình đều được luật bảo vệ thoả đáng. Đây ng một biện pháp cần thiết để
bảo đảm lưu thông dân sự giáo dục tính thận trọng cho chủ sờ hữu khi
chuyển giao i sản cho người khác. Tuy nhiên, chủ sở hữu quyền yêu cầu
đòi bồi thường thiệt hại tài sản người mình đã chuyển giao thông qua hợp
đồng dân sự. Người được chuyển giao tài sản đã lạm dụng tín nhiệm bán tài
sản của người đã chuyển giao cho mình cho người thứ ba phải bồi thường
thiệt hại. Người mua hoàn toàn không thể biết (nhiều trường hợp luật cũng
không buộc họ phải biết) người bán người không quyền bán tài sản đó.
Do vậy, xét về hành vi, ý thức của người thực tế chiếm hữu vật bất hợp pháp
họ không lỗi trong việc mua bán. Luật cho phép người thứ ba ngay tình
tiếp tục sử dụng tài sản đó là hợp tránh được sự thông đồng giữa chủ sở
hữu người chiếm hữu hợp pháp để gây thiệt hại cho người thứ ba. Những
người đã thuê, mượn, nhận giữ i sản của chủ sở hữu bán tài sản đó
thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng n nhiệm chiếm đoạt tài
sản của công dân. Tài sản trong trường hợp này vật chứng để chứng minh
của chủ sở hữu. Người chiếm hữu hợp pháp của chủ sở hữu đã chuyển
giao tài sản cho người thứ ba phải chịu trách nhiệm dân sự với chủ sở hữu
bằng trách nhiệm n sự do vi phạm hợp đồng.
Trong việc kiện đòi lại tài sản theo quy định tại các điều 166, 167, 168 BLDS,
chủ sở hữu được lấy lại tài sản khi đù các yếu tố sau đây:
- Tài sản rời khỏi ch sở hữu hay rời khỏi người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý
chí của họ hoặc theo ý chí của họ nhưng người th ba vật thông qua giao
dịch không đền (cho, tặng, thừa kế theo di chúc).
- Người thực tế đang chiếm giữ tài sản người chiếm hữu không căn cứ
pháp luật không ngay tình.
5. Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với
việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối vói tài sản
Chủ sở hữu toàn quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản của nh,
quyền khai thác lợi ích vật chất của tài sản để thoả mãn các nhu cầu trong
sinh hoạt cũng như trong sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp lụật.
Nói cách khác:
"chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đổi
với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây
thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đen lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi
ích công cộng, quyền lợi ích hợp pháp của người khác" (Điều
160 Bộ luật dân sự).
Bằng các quy phạm pháp luật cụ thể, Bộ luật dân sự đã tạo điều kiện để c
chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện quyền của mình, bảo vệ
các quyền lợi hợp pháp đó cấm mọi hành vi cản trở trái pháp luật.
Người không phải chủ sở hữu cũng quyền chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sàn không thuộc quyền sở hữu của mình theo thoả thuận với chủ sở
hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật.
Để thực hiện các quyền năng hợp pháp này,Bộ luật dân sự cho phép chủ sở
hữu, người chiếm hữu hợp pháp quyền tự bảo vệ, u cầu người hành
vi cản trở ttái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó. Ngoài việc công nhận
quyền trên, Điều 169 Bộ luật dân sự n quy định: chủ sở hữu, người
quyền khác đối với tài sản quyền yêu cầu toà án hoặc quan nhà nước
thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.
Phương thức kiện này nhằm bảo đảm để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu
hợp pháp được sử dụng khai thác công dụng của i sản một cách bình
thường.

Preview text:

Bảo vệ quyền sở hữu là gì ? Phân tích phương
thức bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước ?
1. Bảo vệ quyền sở hữu như thế nào ?
Quyền sở hữu được bảo vệ bằng các quy định của nhiều ngành luật khác
nhau nhưng chủ yếu là pháp luật hành chính, pháp luật hình sự và pháp luật dân sự.
Bảo vệ quyền sở hữu bằng pháp luật dân sự được thể hiện ở chỗ: chủ sở
hữu có thể tự mình thực hiện các biện pháp bảo vệ phù hợp, ngăn cản nhằm
chấm dứt các hành vì xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài
sân; hoặc thông qua tòa án, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác đòi
lại tài sản của mình đang bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không
có căn cứ pháp luật nếu người đó không tự nguyện trả lại tài sản.
Bảo vệ quyền sở hữu còn có thể được thực hiện bằng việc loại trừ mọi hành
vi cản trở chủ sở hữu trong việc thực hiện các quyền năng đối với tài sản.
Chủ sở hữu có quyền yêu cầu loại trừ mọi sự vỉ phạm quyền của mình, dù
những vi phạm đó không tước quyền chiếm hữu hoặc yêu cầu bồi thường
thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra.
2. Những nguyên tắc vê bảo vệ quyền sở hữu
Về nguyên tắc chung, quyền sở hữu tài sản của các chủ thể trong luật dân sự
được pháp luật công nhận và bảo vệ. Điều 163 BLDS đã ghi nhận:
"1. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở
hữu, quyền khác đối với tài sản".

Cùng với việc ghi nhận này và để bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng,
khoản 2 Điều 163 Bộ luật dân sựcũng chỉ ra rằng:
"Trường hợp thật cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh hoặc vì
lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà
nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ
chức, cá nhân theo giá thị trường".

Trong quá trình thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
theo quy định tại Điều 158 Bộ luật dân sự, không phải bất cứ lúc nào chủ sở
hữu cũng có toàn quyền và "độc lập tuyệt đối" với những chủ thể khác. Bởi lẽ,
chủ sở hữu cũng đồng thời là chủ thể của các quan hệ xã hội, họ phải sống
trong xã hội và cộng đồng. Điều đó có nghĩa là, khi hành xử quyền của mình,
trong một số trường hợp chủ sở hữu bị hạn chế bởi một giới hạn nhất định.
Tuy nhiên, để cho chủ sở hữu có được những điêu kiện thuận lợi khi sử dụng
các quyền của mình, Bộ luật dân sự cho phép họ có một số quyền nhất định
đối với tài sản của người khác và đồng thời cũng phải chịu sự ràng buộc bởi
một số nghĩa vụ nhất định để các chủ thể khác được thuận tiện khi sử dụng quyền của mình.
3. Phân tích phương thức bảo vệ quyền sở hữu ?
Pháp luật được coi là công cụ sắc bén và hữu hiệu nhất ttong việc bảo vệ
quyền sở hữu, bảo đảm cho chủ sở hữu thực hiện có hiệu quả và hợp lí các
quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt một cách bình thường nhất. Bảo
vệ quyền sở hữu chính là biện pháp tác động bằng pháp luật đối với hành vi
xử sự của con người, ngăn ngừa những hành vi xâm hại đến chủ sở hữu khi
người này hành xử quyền của mình.
Bằng các quy phạm pháp luật, Nhà nước ta xác nhận và quy định phạm vi
những quyền năng của một chù sở hữu đối với tài sản của họ. Mặt khác, Nhà
nước dùng pháp luật như một công cụ pháp lí để bảo vệ các quyền năng đã
được pháp luật công nhận và ngăn ngừa những hành vi xâm phạm đến
quyền của các chủ sở hữu. Mọi hành vi xâm phạm của người không phải là
chủ sở hữu đều bị coi là hành vi vi phạm pháp luật. Khi quyền sở hữu bị xâm
phạm thì người nào có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu của một chủ thể
xác định phải chịu những hậu quả pháp lí tương ứng do Bộ luật dân sự năm 2015 quy định.
Nhà nước ta sử dụng nhiều ngành luật khác nhau để bảo vệ quyền sở hữu.
Tuy nhiên, mỗi ngành luật bảo vệ quyền sở hữu theo những phương pháp,
cách thức phù hợp với chức năng vốn có của nó.
Luật hành chính bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định những thể lệ nhằm
quản lí và bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân công dân. Trong
một số trường họp, Nhà nước sử dụng biện pháp cưỡng chế bằng bạo lực
của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một cá nhân hay tổ chức
nhất định về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ chức
phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định để bảo vệ
những quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác; hoặc người đó phải
phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của mình hoặc tự do thân
thể nhằm bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể khác. Việc áp dụng các biện
pháp hành chính (gồm cưỡng chế, phòng ngừa, ngăn chặn) do các cơ quan
hành chính nhà nước và trong những trường hợp nhất định do toà án nhân
dân quyết định đổi với cá nhân, tổ chức đã có hành vi vi phạm hành chính
xâm phạm đến tài sản, quyền sở hữu tài sản hoặc cản hở trái pháp luật chủ sở hữu.
Luật hình sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định một số hành vi nhất
định xâm phạm đến quyền sở hữu là tội phạm và quy định mức hình phạt
tương xứng với những loại hành vi phạm tội đó. Việc bảo vệ quyền sở hữu
bằng biện pháp hình sự mang tính chất trừng trị, răn đe và giáo dục người vi phạm.
Luật dân sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định những phương thức
kiện dân sự trước toà án để chủ sở hữu có thể thông qua đó mà đòi lại tài
sản của mình đang bị người khác chiếm giữ bất hợp pháp; yêu cầu người
khác chấm dứt hành vi cản trở hoặc có quyền yêu cầu ngăn chặn khi chủ sở
hữu thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản;
hoặc chủ sở hữu có thể đòi người khác phải bồi thường những thiệt hại về tài
sản nếu người đó có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình.
Như vậy, mỗi ngành luật đều có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở
hữu nhưng mỗi ngành luật không bảo vệ quyền sở hữu một cách hoàn toàn
tách biệt mà luôn có sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau. Trong thực tế, nhiều khi
phải áp dụng cùng một lúc những quy phạm của hai hay nhiều ngành luật để
điều chỉnh và bảo vệ quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp khi bị xâm phạm.
Tuy nhiên, trong các phương thức pháp lí để bảo vệ quyền sở hữu đã nêu
trên, phương thức dân sự có vai trò quan trọng và mang những đặc diêm
riêng. Đây là phương thức có ý nghĩa thực tế nhất vì nó khôi phục lại tình
trạng ban đầu (tình trạng trước khi bị vi phạm) về mặt vật chất cho chủ sở
hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp.
Theo phương thức kiện dân sự, người khởi kiện để yêu cầu toà án bảo vệ
quyền lợi cho mình chính là người bị xâm phạm quyền sở hữu. Người có
quyền sở hữu bị xâm phạm có thể là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp
pháp. Do đó, phương thức kiện dân sự có những đặc thù sau đây:
- Phương thức này được áp dụng một cách rộng rãi hơn so với các biện pháp
khác vì trong nhiều trường hợp không có những khả năng và điều kiện để áp
dụng các biện pháp khác.
- Tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho người có quyền dân sự bị xâm phạm
tự mình chủ động bằng phương thức giản đơn đề xuất và yêu cầu toà án bảo vệ quyền lợi cho mình.
- Tạo khả năng khắc phục những thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu; bảo đảm
khôi phục lại những lợi ích vật chất cho chủ sở hữu như tình trạng ban đầu
khi quyền sở hữu chưa bị xâm phạm; ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản
trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của chủ sở hữu.
4. Cách thức kiện đòi lại tài sản
Kiện đòi lại tài sản là việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu
toà án buộc người có hành vi chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho
mình. Đòi lại tài sản là một trong những phương thức bảo vệ quyền của chủ
sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp. Quyền đòi lại tài sản được quy định tại Điều 166 BLDS:
"Chủ sở hữu, chủ thế có quyền khác đổi với tài sân có quyền đòi
lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người
được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật...”.

Tuy nhiên, đối với những tài sản đang được chiếm hữu bởi chủ thể có quyền
khác đối với tài sản thì chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản (khoản 2 Điều 166).
Những yêu cầu chung trong việc đòi lại tài sản.
- Đối với nguyên đơn: Người kiện đòi lại tài sản phải là chủ sở hữu của tài
sản và phải chứng minh quyền sở hữu của mình đối với tài sản đang bị bị
đơn chiếm giữ bất hợp pháp. Nguyên đơn cũng có thể là người có quyền
khác đối với tài sản thông qua những căn cứ xác lập quyền được pháp luật
quy định, về nguyên tắc chung: Tài sản đang bị bị đơn chiếm giữ bất hợp
pháp đã rời khỏi chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản ngoài ý chí
của những người này (đánh rơi, bỏ quên, bị mất cắp.. ) thì chủ sở hữu, người
có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người đang chiếm hữu bất hợp pháp.
Trong phương thức kiện này, về nguyên tắc, người chiếm hữu không có căn
cứ pháp luật và không ngay tình phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc
người có quyền khác với tài sản. Khi lấy lại tài sản, chủ sở hữu, người có
quyền khác đối với tài sản không phải bồi thường một khoản tiền nào, trừ
trường hợp người chiếm hữu không ngay tình phải bỏ ra chi phí hợp lí để sửa
chữa tài sản, làm tăng giá trị của tài sản.
- Đối với bị đơn: Người bị kiện phải trả lại tài sản là người đang thực tế
chiêm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật không ngay tình như tài sản do
trộm cắp, cướp, lừa đảo mà có; biết tài sản đó là của gian nhưng vẫn mua
hoặc nhặt được tài sản do chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đánh rơi,
bỏ quên.. nhưng đã không giao nộp cho cơ quan có ttách nhiệm thì người
chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người chiếm hữu
hợp pháp. Trong trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà
không có căn cứ pháp luật không ngay tình nhưng đã giao tài sản cho người
thứ ba thì người thứ ba cũng có nghĩa vụ hoàn ttả tài sản đó nếu chủ sở hữu,
người chiếm hữu hợp pháp có yêu cầu hoàn trả.
Tóm lại, khi tài sản rời khỏi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý
chí của họ thì những người đang thực tế chiếm hữu vật đều phải trả lại tài
sản. Theo quy định tại khoản 1 Điều 581 BLDS, ngoài việc trả lại tài sản nhũng người này còn
"... phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm
hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật".

- Nếu bị đơn là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình
mà tài sản là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu như thông qua một
giao dịch có đền bù (mua bán) và theo ý chí của người chiếm hữu có căn cứ
pháp luật như người mượn, thuê... của chủ sở hữu. Trong trường hợp này,
chủ sở hữu không được kiện đòi lại tài sản ở người đang thực tế chiếm hữu.
Chủ sở hữu sẽ kiện người mình đã chuyển giao tài sản theo hợp đồng bồi
thường thiệt hại vì đây là trách nhiệm theo hợp đồng. Thực tế hiện nay việc
lưu thông hàng hoá tự do và thị trường hàng hoá phong phú đa dạng và rộng
lớn, người mua không thể biết nguồn gốc tài sản, cho nên pháp luật cần phải
bảo vệ họ;mặt khác, buộc những người có tài sản khi cho thuê, cho mượn,
gửi giữ... phải có biện pháp bảo đảm.
- Bị đơn là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình đối với bất
động sản và tài sản phải đăng kí quyền sở hữu thì chủ sở hữu có quyền yêu
cầu đòi lại tài sản. Bởi vì đối với những tài sản này, người mua chỉ có quyền
sở hữu khi sang tên đăng kí chuyển quyền sở hữu từ người chủ sở hữu.
Người thực tế đang có tài sản phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và có quyền
yêu cầu người chuyển giao vật cho mình hoàn trả tiền hoặc các lợi ích vật
chất mà mình bị thiệt hại.
Trường hợp người chiếm hữu ngay tình thông qua giao dịch với người chủ
sở hữu theo quyết định của toà án hoặc theo quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, hoặc mua thông qua bán đấu giá thỉ hành án nhưng
sau đó những căn cứ trên không còn (bị huỷ, bị sửa) thì người chiếm hữu
ngay tình có quyền sở hữu tài sản đã mua. Những trường họp này người
mua và người bán hoàn toàn không có lỗi. Ngược lại, lỗi thuộc về cơ quan
nhà nước, do vậy, cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm theo Điều 598 BLDS.
Trong quan hệ pháp luật này, lợi ích vật chất của chủ sở hữu và người đang
thực tế chiếm giữ vật là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay
tình đều được luật bảo vệ thoả đáng. Đây cũng là một biện pháp cần thiết để
bảo đảm lưu thông dân sự và giáo dục tính thận trọng cho chủ sờ hữu khi
chuyển giao tài sản cho người khác. Tuy nhiên, chủ sở hữu có quyền yêu cầu
đòi bồi thường thiệt hại tài sản ở người mình đã chuyển giao thông qua hợp
đồng dân sự. Người được chuyển giao tài sản đã lạm dụng tín nhiệm bán tài
sản của người đã chuyển giao cho mình cho người thứ ba phải bồi thường
thiệt hại. Người mua hoàn toàn không thể biết (nhiều trường hợp luật cũng
không buộc họ phải biết) người bán là người không có quyền bán tài sản đó.
Do vậy, xét về hành vi, ý thức của người thực tế chiếm hữu vật bất hợp pháp
là họ không có lỗi trong việc mua bán. Luật cho phép người thứ ba ngay tình
tiếp tục sử dụng tài sản đó là hợp lí và tránh được sự thông đồng giữa chủ sở
hữu và người chiếm hữu hợp pháp để gây thiệt hại cho người thứ ba. Những
người đã thuê, mượn, nhận giữ tài sản của chủ sở hữu mà bán tài sản đó có
thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản của công dân. Tài sản trong trường hợp này là vật chứng để chứng minh
là của chủ sở hữu. Người chiếm hữu hợp pháp của chủ sở hữu đã chuyển
giao tài sản cho người thứ ba phải chịu trách nhiệm dân sự với chủ sở hữu
bằng trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng.
Trong việc kiện đòi lại tài sản theo quy định tại các điều 166, 167, 168 BLDS,
chủ sở hữu được lấy lại tài sản khi có đù các yếu tố sau đây:
- Tài sản rời khỏi chủ sở hữu hay rời khỏi người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý
chí của họ hoặc theo ý chí của họ nhưng người thứ ba có vật thông qua giao
dịch không đền bù (cho, tặng, thừa kế theo di chúc).
- Người thực tế đang chiếm giữ tài sản là người chiếm hữu không có căn cứ
pháp luật không ngay tình.
5. Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với
việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối vói tài sản
Chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình,
có quyền khai thác lợi ích vật chất của tài sản để thoả mãn các nhu cầu trong
sinh hoạt cũng như trong sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp lụật. Nói cách khác:
"chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đổi
với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây
thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đen lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi
ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác"
(Điều 160 Bộ luật dân sự).
Bằng các quy phạm pháp luật cụ thể, Bộ luật dân sự đã tạo điều kiện để các
chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện quyền của mình, bảo vệ
các quyền lợi hợp pháp đó và cấm mọi hành vi cản trở trái pháp luật.
Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sàn không thuộc quyền sở hữu của mình theo thoả thuận với chủ sở
hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật.
Để thực hiện các quyền năng hợp pháp này,Bộ luật dân sự cho phép chủ sở
hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ, yêu cầu người có hành
vi cản trở ttái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó. Ngoài việc công nhận
quyền trên, Điều 169 Bộ luật dân sự còn quy định: chủ sở hữu, người có
quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu toà án hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm.
Phương thức kiện này nhằm bảo đảm để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu
hợp pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình thường.
Document Outline

  • Bảo vệ quyền sở hữu là gì ? Phân tích phương thức
    • 1. Bảo vệ quyền sở hữu như thế nào ?
    • 2. Những nguyên tắc vê bảo vệ quyền sở hữu
    • 3. Phân tích phương thức bảo vệ quyền sở hữu ?
    • 4. Cách thức kiện đòi lại tài sản
    • 5. Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp