




Preview text:
Bắt quả tang là gì? Những trường hợp bắt
người phạm tội quả tang
1. Khái niệm bắt quả tang
Bắt người phạm tội quả tang là bắt người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay
sau khi phạm tội thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Bất kì người nào cũng có
quyền bắt và tước vũ khí rồi giải ngay đến cơ quan công an, viện kiểm sát,
hoặc ủy ban nhân dân nơi gần nhất.
Bắt quả tang là việc bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc
ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Người đang
thực hiện tội phạm là người đang thực hiện hành vi mà hành vi đó cấu thành
một tội phạm cụ thể nhưng chưa hoàn thành tội phạm thì bị phát hiện. Ngay
sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện là trường hợp mà sau khi
thực hiện hành vi phạm tội xong, người phạm tội chưa kịp cất giấu công cụ,
phương tiện, tẩu tán tang vật thì bị phát hiện.
Người đang thực hiện tội phạm là người đang thực hiện hành vi mà hành vi
đó cấu thành một tội phạm cụ thể nhưng chưa hoàn thành tội phạm thì bị phát hiện.
Ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện là trường hợp mà
sau khi thực hiện hành vi phạm tội xong, người phạm tội chưa kịp cất giấu
công cụ, phương tiện, tẩu tán tang vật thì bị phát hiện.
Đang bị đuổi bắt là trường hợp người phạm tội đang thực hiện hành vi phạm
tội hoặc sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện nên người đó đã
chạy trốn và bị đuổi bắt. Việc đuổi bắt phải liền ngay sau khi người đó chạy trốn.
Theo quy định tại Điều 82 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đối với các
truờng hợp bắt quả tang thì không cần có lệnh bắt mà bất kì người nào cũng
có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban
nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay
người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Khi bắt quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của
người bị bắt nhưng không được khám người.
2. Bắt người phạm tội quả tang theo luật tố tụng hình sự
Như đã nói, bắt quả tang là việc bắt người khi người đó đang thực hiện tội
phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt.
Người đang thực hiện tội phạm là người đang thực hiện hành vi mà hành vi
đó cấu thành một tội phạm cụ thể nhưng chưa hoàn thành tội phạm thì bị
phát hiện. Ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện là trường
hợp mà sau khi thực hiện hành vi phạm tội xong, người phạm tội chưa kịp cất
giấu công cụ, phương tiện, tẩu tán tang vật thì bị phát hiện.
Theo Điều 111 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về
"Bắt người phạm tội quả tang" như sau:
"1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi
thực hiện tội phạm ma bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ
người nao cũng có quyền bắt va giải ngay người bị bắt đến cơ
quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần
nhất. Các cơ quan nay phải lập biên bản tiếp nhận va giải ngay
người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
2. Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nao cũng có quyền
tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
3. Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát
hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm
giữ vũ khí, hung khí va bảo quản tai liệu, đồ vật có liên quan, lập
biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường
theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo
ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền."
Như vậy, về người phạm tội quả tang:
Bắt người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội
phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuôi băt.
Người phạm tội quà tang là:
- Người bị bắt đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện;
- Người bị bắt ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện;
- Người phạm tội đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội
phạm thì bị đuổi bắt.
Pháp luật hình sự quy định bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay
người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi
gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị
bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào bắt hj cũng có quyền tước vũ
khí, hung khí của người bị bắt quả tang.
3. Những trường hợp bắt người phạm tội quả tang
Theo Điều 111 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về "Bắt người phạm tội quả tang"
"1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau
khi thực hiện tội phạm ma bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì
bất kỳ người nao cũng có quyền bắt va giải ngay người bị bắt
đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi
gần nhất. Các cơ quan nay phải lập biên bản tiếp nhận va giải
ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
2. Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nao cũng có quyền
tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
3. Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát
hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm
giữ vũ khí, hung khí va bảo quản tai liệu, đồ vật có liên quan, lập
biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường
theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo
ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền."
Như vậy, theo quy định tại Điều 111 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có 03
trường hợp được bắt người phạm tội quả tang sau đây:
a. Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
Đang thực hiện tội phạm là trường hợp phạm tội quả tang thường gặp trong
thực tế. Người đang thực hiện tội phạm là người đang thực hiện hành vi
phạm tội được quy định trong bộ luật hình sự nhưng chưa hoàn thành tội
phạm hoặc chưa kết thúc việc phạm tội thì bị phát hiện.
Trong trường hợp hành vi đang thực hiện một tội phạm có cấu thành hình
thức thì mặc dù hậu quả vật chất chưa xảy ra vẫn coi là hành vi đang thực hiện tội phạm.
Đối với những tội phạm mà hành vi phạm tội được thực hiện trong một
khoảng thời gian dài, không bị gián đoạn như tội tàng trữ trái phép vũ khí
quân dụng, tội tràng trữ trái phép chất nổ, chất độc, chất cháy, chất phóng
xạ… thì trong suốt thời gian đó bị coi là đang thực hiện tội phạm. Vì vậy, thời
điểm nào tội phạm bị phát giác cũng là phạm tội quả tang.
b. Ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện.
Đây là trường hợp kẻ phạm tội vừa thực hiện tội phạm xong chưa kịp chạy
trốn hoặc đang cất giấu công cụ, phương tiện, đang xóa những dấu vết của
tội phạm trước khi chạy trốn thì bị phát hiện.
Cần lưu ý để bắt người phạm tội theo trường hợp quả tang này phải có
chứng cứ chứng minh là kẻ đó vừa gây tội xong, chưa kịp chạy trốn và sự
phát hiện, bắt giữ người phạm tội phải xảy ra tức thời sau khi tội phạm được
thực hiện. Thông thường, các vật chứng (còn gọi là tang vật) mà người phạm
tội chưa kịp cất giấu, tẩu tán là những bằng chứng khiến kẻ phạm tội không
thể chối cãi về hành vi phạm tội của mình vừa thực hiện xong. Nhưng trong
các trường hợp không có vật chứng, sự có mặt của những người làm chứng
cũng cho phép được bắt người phạm tội theo trường hợp quả tang này.
c. Đang bị đuổi bắt.
Trong trường hợp phạm tội quả tang này, người phạm tội vừa thực hiện tội
phạm xong hoặc đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy trốn và bị đuổi bắt.
Trong trường hợp này, việc đuổi bắt phải liền ngay sau khi chạy trốn thì mới
có cơ sở xác định đúng người phạm tội tránh bắt nhầm phải người không
thực hiện tội. Nếu việc đuổi bắt bị gián đoạn về thời gian so với hành vi chạy
trốn thì không được bắt quả tang mà có thể bắt theo trường hợp khẩn cấp.
4. Thủ tục bắt người phạm tội quả tang
Việc bắt người phạm tội quả tang không cần lệnh của cá nhân hoặc cơ quan,
tổ chức nào. Mọi công dân đều có quyền bắt và có quyền tước vũ khí, hung
khí của người bị bắt.
Sau khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã, công dân
không được đánh đập, tra tấn người phạm tội và cũng không tự ý giam giữ
họ mà phải giải ngay đến cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân
dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản bắt người phạm tội quả
tang hoặc biên bản bắt người đang bị truy nã và giải ngay người bị bắt đến
cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Việc bắt đối với một số đối tượng khác ngoài việc phải tuân thủ các quy định
về bắt người nói chung còn phải căn cứ vào một số quy định khác của pháp luật.
Ví dụ: Việc bắt người phạm tội là người thuộc các cơ quan dân cử như đại
biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ngoài việc tuân theo
các quy định ở các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm thì còn phải
đảm bảo một số thủ tục được quy định trong Hiến pháp và một số quy định pháp luật khác.
Các quy định về thủ tục bắt người đặc biệt này là nhằm bảo đảm hoạt động
của các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân với chức năng giám sát việc
thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của Bộ máy nhà nước.
Mặt khác, các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những người đại
diện của dân, do dân bầu ra nên việc bắt, giữ họ phải tuân theo những thủ tục đặc biệt.
5. Chủ thể có thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang
Theo quy định của pháp luật hình sự, "Đối với người đang thực hiện tội
phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm ma bị phát hiện hoặc bị đuổi
bắt thì bất kỳ người nao cũng có quyền bắt va giải ngay người bị bắt đến cơ
quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ
quan nay phải lập biên bản tiếp nhận va giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay
cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền."...
Theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định "bất kỳ người nao cũng có
quyền bắt va giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc
Ủy ban nhân dân nơi gần nhất".
Như vậy, đối với người phạm tội và bị bắt quả tang thì bất kỳ ai cũng có
quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát
hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất
Document Outline
- Bắt quả tang là gì? Những trường hợp bắt người phạ
- 1. Khái niệm bắt quả tang
- 2. Bắt người phạm tội quả tang theo luật tố tụng h
- 3. Những trường hợp bắt người phạm tội quả tang
- 4. Thủ tục bắt người phạm tội quả tang
- 5. Chủ thể có thẩm quyền bắt người phạm tội quả ta