BỘ ĐỀ LUYỆN LỚP 9
UBND QUẬN CẦU GIẤY
TRƯỜNG THCS NGHĨA TÂN
ĐỀ KIỂM TRA KHẢO SÁT
NĂM HỌC 2024–2025
MÔN: NGỮ VĂN 9
Thời gian làm bài: 120 phút
Đề 1:
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
.......................................................................................SAU LỚP BỤI ĐỜI
(Nguyễn Ngọc Hưng)*
Đã lâu lắm không về quê thăm mẹ
Mái tranh nghèo chắc xơ xác hơn xưa
Giếng nước trong soi bóng người đơn lẻ
Thềm xanh rêu đầu ngõ trắng bông dừa
Cây khế lão
*
sau vườn chi chít quả
Mùa vắng con chua ngọt có ai trèo?
Vườn hoang phế rũ buồn con bướm dại
Hoa cúc tàn theo bóng nắng hanh heo…
Sao mà nhớ khoảng trời thu cũ vậy
Thiết tha ơi là sợi khói lam chiều
Đời mưa gió dẫu lăn thân sành sỏi
Con vẫn thèm nghe tiếng mẹ mắng yêu!
Bụi thành phố và khói xăng đô hội
Có che mờ một đôi góc trăng quê
Mẹ vẫn đấy – mẹ là sao Bắc Đẩu
Đêm từng đêm thao thức gọi con về…
(17-9-1997)
(Tuyển tập thơ Việt Nam 1975 – 2000, tập 2, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2001)
*Tác giả Nguyễn Ngọc Hưng, sinh năm 1960, quê Quảng Ngãi. Từ ông đã không cha, chỉ
mẹ chăm sóc. Năm 1979, ông thi đỗ vào trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn, khoa Ngữ văn, sau đó tốt nghiệp
thủ khoa. Chưa kịp đi làm thì ông bị bại liệt toàn thân. Một người bạn thân đưa ông về cùng để tiện chăm
sóc.
*
Cây khế lão
: Cây khế trồng đã lâu năm.
Sao Bắc Đẩu
: Ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Đại Hùng, nhờ nó mà xác định được phương hướng trong đêm tối.
1
Sau hơn hai chục năm viết trên giường bệnh, ông đã cho ra đời gần chục tập thơ và giành được nhiều
giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, Báo
Thiếu niên Tiền phong
, tạp chí
Tài hoa trẻ
... và được tặng thưởng
huy chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật”, giải thưởng Quốc tế về Thơ của người tàn tật..
Năm 2009, Nguyễn Ngọc Hưng được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam. Hiện ông đang sống tại thị
trấn Chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
Bài thơ
Sau lớp bụi đời
được in trong Tuyển tập thơ Việt Nam 1975 2000, tập 2 của Nhà xuất bản
Hội nhà văn.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2 (1,0 điểm). Ghi lại những từ ngữ, hình ảnh miêu tả bức tranh quê hương trong khổ
thơ thứ nhất. Qua những từ ngữ đó, bức tranh quê hương hiện lên như thế nào trong cảm
nhận của người con?
Câu 3 (0,5 điểm). Xác định bố cục và cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Câu 4 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh có trong hai câu thơ sau:
Mẹ vẫn đấy – mẹ là sao Bắc Đẩu
Đêm từng đêm thao thức gọi con về…
Câu 5 (1,0 điểm). Nhân vật trữ tình trong bài thơ đã lựa chọn quay về với những giá trị
bình dị, chân thành sau “lớp bụi đời”. Từ đó, em rút ra bài học cho bản thân về cách
lựa chọn giá trị sống trong xã hội hiện đại?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm).
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích tám dòng thơ cuối bài thơ
Sau lớp bụi đời
của tác giả Nguyễn Ngọc Hưng được trích trong phần đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Trong bài thơ
Sau lớp bụi đời
, người con sau những tháng ngày vất vả
mưu sinh nơi thành phố vẫn luôn nhớ về mẹ, về quê hương nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn
mình. Từ nội dung đó, hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) để trả lời cho câu
hỏi: Trong cuộc sống, khi đứng giữa những lựa chọn mới, em nên tiếp tục theo đuổi ước
mơ riêng hay dành thời gian để quay về bên gia đình, nơi đã luôn âm thầm chờ đợi và yêu
thương mình?
---------HẾT---------
- Thí sinh không được sử dụng tài liệu.
- Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
2
UBND QUN BA ĐÌNH
TRƯỜNG THCS PHAN CHU TRINH
NĂM HỌC 2024 – 2025
KHẢO SÁT
MÔN: NGỮ VĂN – LỚP 9
Thời gian làm bài: 90 pt
ĐỀ 02
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Sẽ chẳng lọt một chấm đen mặt sóng
Chẳng sót qua một bóng xám chân trời
Khi trái tim tôi thức cùng cây súng
Đứng vững vàng trên chóp đảo mù khơi
Đã hiểu biển đến từng con sóng lạ
Thuộc hải đồ như thuộc chỉ lòng tay
Dẫu đảo vắng gió mài lì mặt đá
Quê hương ơi, tôi nguyện sống nơi này!
Bởi nơi này ta gọi là T quốc
Sóng cồn cào nhắc thù giặc khôn nguôi
Một tấc đất nặng đằm hơn núm ruột
Máu ông cha đã thấm đẫm bao đời
Xanh trước mặt là muôn trùng sóng cả
Ấm sau lưng dài vạn dặm đất liền
Trái tim đập giữa nơi đầu gió
Đón mặt trời, tôi đón đầu tiên!
Nhưng cũng đầu tiên đạn bom nghiền đá
bụi
Nếu quân thù chọn hướng biển tràn sang
Sẽ có vạn Chi Lăng từng hẻm núi
Mỗi dặm xanh nghìn thế võ Bạch Đằng...
Hãy vượt sóng kéo mắt rùng nặng cá
Chạm súng cùng mũi đảo kết trùng vây
Cho muôn dặm đất liền ta yên ả
Hỡi những lá buồm so cánh với chim bay!
(Nguyễn Văn Chương,
Tổng tập Nhà văn Quân đội
, NXB Văn
học, 2023)
Ý NGHĨ NGƯỜI CANH ĐẢO
------------------------------------
* Chú thích:
- Nguyễn Văn Chương (1945- 2023), quê Phú Xuyên, Nội. Ông còn bút danh
Thục Chương, Thôn Trang, từng gia nhập quân ngũ nhiều cống hiến trong lĩnh vực văn
hoá, nghệ thuật. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, được trao nhiều giải thưởng về thơ ca.
- Ông quan niệm: "Thơ ca sự giãi bày, một chút tâm tình, tâm sự. Thơ ca không nên rắc
rối", vì như thế mới tìm đến với sự đồng cảm, đồng điệu.
Thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Câu 1 (1,0 điểm). Bài thơ viết về đề tài gì? Xác định cảm hứng chủ đạo của bài thơ?
Câu 2 (1,0 điểm). Ghi lại những địa danh lịch sử được người lính canh đảo nhắc đến. Nêu ý
nghĩa của việc xuất hiện những địa danh đó.
Câu 3 (1,0 điểm). Em hiểu như thế nào về hình ảnh "một chấm đen mặt sóng" "một bóng
xám chân trời" trong khổ thơ thứ nhất?
Câu 4 (1,0 điểm). Những người lính đảo đang ngày đêm "thức cùng cây súng" để bảo vệ từng
3
tấc đất máu thịt của cha ông để lại. Là học sinh, em sẽ làm gì để góp phần vào việc tuyên truyền
và bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm).
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) làm tình yêu biển đảo của người lính trong bài
thơ
“Ý nghĩ người canh đảo”
của Nguyễn Văn Chương.
Câu 2 (4,0 điểm).
Trong thời đại số, mạng hội trở thành "
sân khấu lớn
" cho mọi hành vi - từ những điều
tử tế đến cả những hành vi lệch chuẩn. Chính vậy, không ít học sinh đã tình hay cố ý bắt
chước những hành vi lệch chuẩn được lan truyền rộng rãi trên mạng hội. Hiện tượng này
không chỉ ảnh hưởng đến đạo đức, nhân cách của học sinh còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nghiêm
trọng cho môi trường giáo dục và xã hội.
Bằng sự hiểu biết của bản thân, em hãy viết i văn nghị luận (khoảng 500 chữ) đưa ra
các giải pháp thiết thực để giải quyết vấn đề trên.
--------------- HẾT ---------------
4
ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
TRƯỜNG THCS DỊCH VỌNG
ĐỀ KHẢO SÁT
NĂM HỌC 2024-2025
ĐỀ CHÍNH THỨC
ĐỀ 3
Môn thi: NGỮ VĂN 9
Thời gian làm bài: 120 phút
(Không kể thời gian phát đề)
KÝ ỨC 30 THÁNG TƯ
Anh muốn đưa em về miền ký ức
Bốn mươi năm vẫn rạo rực trong lòng
Cả Tổ quốc mình trống mở cờ dong
Mừng chiến thắng hôm hai mươi năm đánh giặc.
Rợp cờ hoa nối từ Nam ra Bắc
Mẹ đón con, vợ nắm chắc tay chồng
Niềm vui vỡ òa cả đất dưới trời không
Lòng náo nức của con Rồng cháu Lạc.
Quét sạch rồi tiếng gầm vang đại bác
Mang yên bình cho câu hát mẹ ru
Dẫu chiến tranh còn vương lại khói mù
Sau giải phóng còn chưa bù mất mát.
Nhưng ít ra cũng tạm lùi trận mạc
Mong hoà bình đem mát mẻ con tim
"Ba mươi tháng tư mở kí ức lần tìm
Cái hạnh phúc được tìm trong xương máu “
Kể em nghe để rồi khuyên con cháu
Chẳng có vị ngọt nào dễ đến tự nhiên)
Đời chiến binh là vất và triền miên
Ngày chiến thắng mới chỉ "thuyền cập bến"
(Hồ Như, https://baohaiduong.vn.số ra ngày 30/4/2025)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2 (1,0 điểm). Ghi lại những từ ngữ khắc họa không khí ngày hội toàn thắng trong
bốn dòng thơ đầu. Qua những từ ngữ đó, không khí ngày hội hiện lên như thế nào?
5
Câu 3 (0,5 điểm). Em hiểu thế nào về câu thơ:
Chẳng vị ngọt nào dễ đến tự
nhiên"?
Câu 4 (1,0 điểm). Việc tác giả sử dụng biện pháp tu từ hoán dụ trong hai dòng thơ sau
mang lại hiệu quả nghệ thuật gì?
"Ba mươi tháng tư mở kí ức lần tìm
Cái hạnh phúc được tìm trong xương máu “
Câu 5 (1,0 điểm). Thông điệp sâu sắc nào của văn bản khiến em suy ngẫm về giá trị
của hòa bình và cuộc sống hôm nay? Em cần làm gì để gìn giữ giá trị đó?
Phần II
Câu 1. Viết đọan văn (khoảng 200 chữ) phân tích sáu dòng thơ trong phần đọc hiểu:
Rợp cờ hoa nối từ Nam ra Bắc
Mẹ đón con, vợ nắm chắc tay chồng
Niềm vui vỡ òa cả đất dưới trời không
Lòng náo nức của con Rồng cháu Lạc.
Quét sạch rồi tiếng gầm vang đại bác
Mang yên bình cho câu hát mẹ ru
Câu 2 (4,0 điểm). Văn bản
ức 30 tháng
" như một nhịp cầu nối giữa những
ngày tháng khói lửa của chiến tranh với hòa bình. Thế hệ trẻ hôm nay cần biết viết tiếp
câu chuyện hòa bình bằng trách nhiệm, hành động và lý tưởng sống tích cực.
Hãy viết một bài văn (khoảng 400 chữ) làm sáng tỏ trách nhiệm của thế hệ trẻ
trong việc gìn giữ hòa bình đất nước.
6
PHÒNG GD & ĐT QUẬN ĐỐNG ĐA
TRƯỜNG THCS THỊNH QUANG
ĐỀ 4
KỲ THI KHẢO SÁT KHỐI 9
NĂM HỌC 2024-2025
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài:
120 phút
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
LỜI NGƯỜI LIỆT SĨ DẶN CON
Lớn lên nhé, con ơi,
lớn như một cái cây tắm đầy ánh sáng.
Khi ngã xuống, vẫy bàn tay dũng cảm,
Cha đã đổi về ánh sáng ấy cho con.
Lớn lên nhé, con ơi,
lớn như một cánh chim giữa bầu trời trong sạch.
Khi ngã xuống, cha nằm ngửa mặt
và mỉm cười: - Bầu trời giành cho con!
Lớn lên nhé, con ơi,
và đừng hỏi: Cha còn hay mất?
Cha vẫn sống trong lòng mọi người.
Cha vẫn sống trong ánh sáng, bầu trời.
Hãy lớn lên, con ơi,
làm cánh chim bay cao, làm thân cây mọc thẳng,
làm một người biết ước mơ và có lòng dũng cảm,
dưới ánh sáng, bầu trời
mà cha đã đổi về. Hãy lớn lên, con ơi!
Hãy lớn lên, lớn lên.
Và đừng hỏi: Cha còn hay mất?
Cha sống mãi trong lòng mọi người.
Cha sống mãi trong ánh sáng, bầu trời.
Bầu trời và ánh sáng,
Con phải biết hưởng cho xứng đáng
Phải làm chim bay cao, phải làm cây mọc thẳng
Phải lo âu giữ gìn.
Hãy lớn lên, con ơi, lớn lên!...
(Bế Kiến Quốc
, Thơ tạp chí văn nghệ quân đội,
NXB Quân đội, 1981, tr.95-96)
Thực hiện các yêu cầu:
7
Câu 1 (0,5 điểm). Chỉ ra hai dấu hiệu hình thức để xác định thể thơ của bài thơ.
Câu 2 (0,5 điểm). Người cha đã dùng những hình ảnh nào để so sánh với sự lớn lên
của người con.
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu hiệu quả nghệ thuật của việc lặp lại câu thơ
Lớn lên nhé, con
ơi
” trong văn bản.
Câu 4 (1,0 điểm). Theo em, sao người cha lại nhắc nhở con khi được sống trong
ánh sáng bầu trời
” mà
cha đã đổi về
”, con
phải biết hưởng cho xứng đáng
” và
phải âu
lo giữ gìn
”?
Câu 5 (1,0 điểm). Người cha luôn tin rằng mình sẽ
sống mãi trong lòng mọi người
hòa vào
ánh sáng, bầu trời
”. Từ sự gửi gắm ấy, em nghĩ mỗi người cần làm để mình
luôn được mọi người trân trọng và nhớ đến?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hai khổ thơ đầu của bài
thơ
“Lời người liệt sĩ dặn con”
được trích trong phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm).
Những lời tâm sự của người cha với con trong bài thơ gợi cho ta nhiều suy nghĩ về sự
trưởng thành của mỗi con người. Có ý kiến cho rằng:
Tinh thần trách nhiệm với bản thân và
cộng đồng là biểu hiện của sự trưởng thành
”.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên.
---------------------------- Hết ------------------------------
Thí sinh không được sử dụng tài liệu;
- Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ tên thí sinh: ...................................................... - Số báo danh: .......................

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KỲ
NĂM HỌC 2024-2025
ĐỀ CHÍNH THỨC
(Đề có 02 trang)
NGỮ VĂN 9
 !
(Không kể thời gian phát đề)
ĐỀ 5
8
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới:
TRÊN NHỮNG DẶM ĐƯỜNG XANH
(Trích)
(Tóm tắt phần đầu văn bản: Phương Trà, một nữ sĩ quan
(1)
, sắp tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình
Liên Hợp Quốc
(2
tại Nam Sudan
(3).
Chị đã trải qua khóa huấn luyện khắc nghiệt
(4)
sẵn sàng tinh
thần lên đường thực hiện nhiệm vụ quốc tế. Tuy nhiên, trong lòng chị vẫn những băn khoăn, lo
lắng, đặc biệt là nỗi bồi hồi khi nghĩ đến việc phải xa con trai nhỏ – bé Su Su. Chồng của Phương Trà
Trung Hoàng luôn âm thầm ủng hộ vợ cả hai đều bận rộn với công việc. Trong khi
đó, Su Su vẫn hồn nhiên với cuộc sống gia đình ấm áp. Một buổi sáng cuối tuần, khi cả nhà quây
quần, mẹ chồng Phương Trà khuyên chị nên nói với Su Su về việc mình sắp đi công tác xa. Bà kể lại
chuyện ngày xưa khi bố lên đường làm nhiệm vụ, cậu đã sớm biết tự lập trưởng thành
hơn. Nghe lời mẹ, Phương Trà thêm vững lòng tin tưởng rằng Su Su rồi cũng sẽ mạnh mẽ như
bố ngày trước).
Trung Hoàng kết thúc bài giảng về vấn đề giải quyết các xung đột quốc tế
(5)
trong tiếng vỗ tay rào rào của học viên. Rời khỏi giảng đường, anh lái xe về nhà trong tâm
trạng hồi hộp xen chút lo lắng. Sáng nay, trường của Su Su buổi tập huấn dành cho giáo
viên nên tất cả học sinh nghỉ học, vợ anh lại có hẹn đưa mẹ tới bệnh viện khám theo lịch định
kỳ với bác sĩ. Anh đã sắp xếp đưa con đi gửi nhưng Su Su quả quyết rằng con thể nhà
một mình. Trong lúc anh đang băn khoăn thì Phương Trà đã mỉm cười gật đầu đồng ý với
thằng bé, còn mẹ anh xoa đầu Su Su đầy tin tưởng.
mở cửa bước vào nhà. Đèn phòng bếp bật sáng. Anh thấy Su Su đang loay hoay rửa
cốc chén.
- Su Su của bố dậy lâu chưa, con ăn sáng rồi chứ?
Nhìn thấy bố, Su Su nhoẻn cười rạng rỡ:
- Bố về rồi đấy ạ. Bố ơi, sáng nay con thức dậy đã gấp chăn màn gọn gàng. Ăn sáng xong con
làm hết bài tập cô giao. Sau đó con chơi với bé cún một lúc rồi quét nhà và rửa cốc đây bố ạ.
Vũ không giấu được vẻ ngạc nhiên:
- Con trai bố giỏi quá! Vậy là con đã lớn thật rồi!
Su Su nói nhỏ như thầm thì:
- Bố biết không, mẹ nói sắp tới mẹ sẽ phải đi công tác đến một nơi xa thật xa, đó
nhiều trẻ em cần được bảo vệ bố ạ. Những ngày qua mẹ đã dặn dò con rất nhiều điều, bố con
mình ở nhà phải cố gắng hơn để mẹ yên tâm giúp đỡ các bạn ấy nhé!
Trung ôm cono lòng. Nhìn gương mặt con, anh như bắt gặp lại khoảnh khắc đã
khiến trái tim mình rung động từ thuở xa xưa ấy. Đôi mắt Su Su giống hệt Phương Trà, trong
sáng, thẳm sâu và điềm tĩnh.
Một buổi sáng mùa xuân đầy nắng, những người chiến sĩ từ biệt gia đình để lên đường bắt
đầu thực hiện nhiệm vụ tại Nam Sudan. Thiếu Phương Trà đi giữa hàng quân. Trong hành
trang
(6)
chị mang theo rất nhiều hộp mầu giấy vẽ Su Su nhỏ nhờ mẹ dành tặng
những người bạn nơi châu Phi xa xôi chưa một lần gặp gỡ.
Rồi mai này khi Su Su lớn lên, hẳn con sẽ tự hào khi nghĩ về nh trình của mẹ hôm
nay. Những bước chân lặng lẽ cho hy vọng nở hoa
(7)
trên vùng đất mới
(8)
.
(
Trọng Bách
- Báo điện tử Nhân dân cuối tuần- nhandan.vn)
Chú thích:
(1)
nữ sĩ quan:
sĩ quan quân đội là nữ giới.
9
(2)
lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc:
là lực lượng đa quốc gia do Liên Hợp Quốc thành
lập, có nhiệm vụ duy trì hòa bình và an ninh ở các khu vực xung đột trên thế giới.
(3)
Nam Sudan:
là một quốc gia ở Đông Phi, nơi thường xuyên xảy ra xung đột và bất ổn.
(4)
khóa huấn luyện khắc nghiệt:
là khóa huấn luyện cường độ cao, đòi hỏi nhiều về thể lực, kỹ
năng và tinh thần để chuẩn bị cho nhiệm vụ đặc biệt.
(5)
giải quyết các xung đột quốc tế:
là việc tìm kiếm các biện pháp hòa bình để chấm dứt các tranh
chấp, xung đột giữa các quốc gia.
(6)
hành trang:
chỉ đồ đạc, vật dụng cần thiết cho chuyến đi xa.
(7)
hy vọng nở hoa:
là hình ảnh ẩn dụ cho những kết quả tốt đẹp, những điều tích cực sẽ đến.
(8)
vùng đất mới:
là Nam Sudan, nơi Phương Trà đến làm nhiệm vụ.
Câu 1 (0,5 điểm): Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy?
Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra thành phần biệt lập được sử dụng trong câu sau:
Bố ơi, sáng nay con thức dậy đã gấp chăn màn gọn gàng.
Câu 3 (1,0 điểm): Xét theo cấu tạo, câu
“Anh đã sắp xếp đưa con đi gửi nhưng Su Su quả
quyết rằng con có thể ở nhà một mình”
thuộc kiểu câu gì? Vì sao?
Câu 4 (1,0 điểm): sao khi trở về nhà nhân vật người bố lại không giấu được vẻ ngạc
nhiên và thốt lên
“Con trai bố giỏi quá! Vậy là con đã lớn thật rồi!”
?
Câu 5 (1,0 điểm): Hãy nêu 2 bài học sâu sắc nhất em rút ra sau khi đọc văn bản
Trên
những dặm đường xanh”.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nhân vật Su Su trong
đoạn trích ở phần Đọc - hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm): Trong truyện ngắn
“Trên những dặm đường xanh”
, nhân vật Thiếu
Phương Trà một nữ quan Việt Nam đã vượt qua mọi khó khăn, nén lại tình cảm riêng
để lên đường làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại Nam Sudan. Hành trình của chị một biểu
tượng đẹp về lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.
Từ hình nh nhân vật Phương Trà, em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400
chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề:
"Thế hệ trẻ hôm nay cần làm để thể hiện tình yêu nước
một cách đúng đắn và thiết thực?
"
---------------------Hết-------------------
- Thí sinh không được sử dụng tài liệu;
- Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
TRƯỜNG THPT CHUYÊN SƠN TÂY
CÔNG TY CỔ PHẦN GIÁO DỤC FAMILY
ĐỀ 6
ĐỀ KHẢO SÁT KIẾN THỨC KÌ THI TUYỂN SINH
LỚP 10 (THPT LẦN 1)
NĂM HỌC 2024 - 2025
Môn thi: Ngữ văn
Thời gian làm bài: 120 phút (Không kể thời gian giao đề)
PHẦN I. ĐỌC - HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
10
NHỚ CƠN MƯA QUÊ HƯƠNG
(Trích)
"#$%&
'()*+,-,
$(./01*&
023*4+5,666
789:;'(81&6
,&1<#$1&
=*#->#?@.
='A;BC($#,8
@6
0231*&*$#,#D.EFG.
'(A*$HIB,&16
($#<#-14J4#83
($#11($#KL3
1*0.FG.1+M<#$1&6
1B,:1N3'(($#1&6
[….]
"#$1&&.'()*+,-,
$(/01*&.
023*4+5,666
789:;I+MJ#666
#DOP<#$%
#D*?I#Q&
#D/*$RJ',
01JS ,*0.01*&#-666
(Lê Anh Xuân, Thơ Việt Nam 1945 – 1975, NXB tác phẩm mới, Hà Nội, 1976)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản trên
Câu 2 (0,5 điểm). Qua khổ thơ đầu của đoạn trích, chỉ ra hoàn cảnh m trạng của
nhân vật trữ tình?
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu nội dung chính của đoạn trích trên.
Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong
những dòng thơ sau:
Ta muốn về quê nội
Ta muốn trở lại tuổi thơ
Ta muốn nằm trên mảnh đất ông cha
Nghe mưa đập cành tre, nghe mưa rơi tàu lá...
Câu 5 (1,0 điểm). Qua trích đoạn thơ phần đọc hiểu, em rút ra được thông điệp sâu sắc
nhất là gì? Vì sao?
11
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn thơ sau của văn bản
“Nhớ cơn mưa quê hương” (Lê Anh Xuân) được trích trong phần đọc hiểu:
Ôi cơn mưa quê hương
Đã ru hát hồn ta thuở bé,
Đã thấm nặng lòng ta những tình yêu chớm hé.
Nghe tiếng mưa rơi trên tàu chuối, bẹ dừa,
Thấy mặt trời lên khi tạnh những cơn mưa.
Ta yêu quá như lần đầu mới biết
Ta yêu mưa như yêu gì thân thiết
Như tre, dừa, như làng xóm quê hương.
Như những con người - biết mấy yêu thương.
Câu 2 (4,0 điểm). Tình yêu quê hương tình cảm thiêng liêng, tự nhiên trong mỗi con
người, mong muốn được góp sức mình xây dựng quê hương điều chính đáng. Tuy
nhiên, “đi xa hay lại quê nhà góp phần xây dựng quê hương”u hỏi trăn trở của rất
nhiều bạn trẻ.
Em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trả lời cho câu hỏi trên.
----------- Hết -----------
ĐỀ 7
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
LỜI MẸ
- Hữu Thỉnh –
I.
Mẹ đã sinh ra tôi
Đặt tên cho tôi nữa
Một cái tên nôm na
Hồn nhiên như sỏi nhỏ
Cái cối và cái chày
Con mèo và con cún
Yêu mấy vẫn chưa vừa
Thoắt trở thành người lớn
II.
Tôi bước ra ngoài ngõ
Gió thổi. Nước triều lên
Đi hoài không gặp tiên
Đành quay về hỏi mẹ
12
- Hãy yêu lấy con người
Dù trăm cay ngàn đắng
Đến với ai gặp nạn
Xong rồi, chơi với cây!
III.
Tôi lại bước dưới trời
Không tiếc mòn tuổi trẻ
Đi hoài không gặp tiên
Lại quay về hỏi mẹ
- Hãy yêu lấy con người
Dù trăm cay ngàn đắng
Đến với ai gặp nạn
Xong rồi, chơi với cây!
(Theo Báo Thanh niên điện tử, ngày 09/9/2012)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2 (0,5 đim). Trong khthơ thhai, tuổi thơ của con gắn vi những hình ảnh o?
Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ được sử dụng
trong hai dòng thơ sau:
Một cái tên nôm na
Hồn nhiên như sỏi nhỏ
Câu 4 (1,0 điểm).
Tôi bước ra ngoài ngõ
Gió thổi. Nước triều lên
……………………..
Tôi lại bước dưới trời
Không tiếc mòn tuổi trẻ
Những câu thơ trên gợi ra hành trình nào của con người? Em nhận xét về
hành trình đó?
Câu 5 (1,0 điểm). Khi
Đi hoài không gặp tiên
, người con đã
quay về hỏi mẹ
. Còn em,
khi gặp khó khăn hay hoài nghi trong cuộc sống, em sẽ hỏi ai? Vì sao?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích lời mẹ dặn con trong văn bản
phần Đọc hiểu:
- Hãy yêu lấy con người
Dù trăm cay ngàn đắng
Đến với ai gặp nạn
Xong rồi, chơi với cây!
13
Câu 2 (4,0 điểm)
Có người cho rằng:
“Chỉ cần bỏ đi tới một miền đất khác sống thì đời họ sẽ khác
đi. Những cách đó không phải lúc nào cũng hiệu quả. Bởi dù ở đâu chăng nữa, bạn vẫn
sẽ mang theo chính mình”.
(Neil Gaiman,
Câu chuyện nghĩa địa
, NXB Văn học, 2019)
Từ gợi dẫn trên, hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) để trả lời câu
hỏi:
Khi mun thay đi cuộc đời tem s đi ti một min đất khác hay thay đổi cnh
bản tn mình”?
------------------Hết
------------------
14
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HUYỆN ỨNG HÒA
ĐỀ CHÍNH THỨC
(Đề thi gồm 02 trang)
KIỂM TRA CUỐI KỲ
NĂM HỌC 2024-2025
MÔN: NGỮ VĂN LỚP 9
(Thời gian: 90 phút)
ĐỀ 8
PHẦN I. ĐỌC HIỂU.
(4 điểm).
Đọc văn bản sau:
NGHE TẮC KÈ KÊU TRONG THÀNH PHỐ
- Nguyễn Duy-
1.Tắc kè...
tắc kè...
tôi giật mình
nghe
trên cành me góc đường Công Lý cũ
cái âm thanh của rừng lạc về thành phố
con tắc kè
sao mày ở đây?
(….)
2. Chợt hiện về, thăm thẳm núi non kia
dưới lá là hầm, là tăng, là võng
là cơn sốt rét rừng vàng bủng
là muỗi, vắt, bom, mìn, vực sâu, đèo trơn...
3. Những đoàn quân đi xuyên Trường Sơn
ngủ ôm súng suốt một thời tuổi trẻ
đêm trăn trở đố nhau:
bao giờ về thành phố?
con tắc kè nhanh nhảu nói: sắp về!
4. Sắp về!...
sắp về!...
người bạn tôi rung võng cười khoái trá
ấy là lúc những cánh rừng trút lá
mùa khô năm một nghìn chín trăm bảy tư
5. Ăn tết rừng xong
từ giã chú tắc kè
chúng tôi xuôi - ào ào cơn lũ đổ
các binh đoàn tràn vào thành phố
đang mùa thay lá những hàng me
[……..]
7. Người bạn tôi không về tới nơi này
anh gục ngã bên kia cầu xa lộ
anh nằm lại trước cửa vào thành phố
giây phút cuối cùng chấm dứt cuộc chiến tranh
8. Đồng đội, bao người không “về tới” như anh
nằm lại Cầu Bông, Đồng Dù, và xa nữa...
tất cả họ, suốt một thời máu lửa
đều ước ao thật giản dị:
sắp về!
9. Qua hai mùa thay lá những hàng me
cái tết hoà bình thứ ba đã tới
chao ôi nhớ tết rừng không hương khói
đốt nhang lên
chợt hiện tiếng tắc kè
10. Tôi giật mình
nghe
có ai nói ở cành me:
sắp về!...
(TP. Hồ Chí Minh, Tết Mậu Ngọ, 1978)
Chú thích:
15
Nguyễn Duy: Nguyễn Duy từng tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến
trường Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, rồi sau này là mặt trận phía Nam, mặt trận phía
Bắc (1979). Sau đó ông giải ngũ, làm việc tại tuần báo Văn nghệ, Hội nhà văn Việt
Nam và là Trưởng đại diện của báo này tại phía Nam.
Bài thơ: được sáng tác vào năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh sau ngày thống nhất
đất nước 3 năm.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1.
(1,0 điểm).
Bài thơ Nghe tắc kè kêu trong thành phố thuộc thể thơ nào?
Nêu ít nhất 2 căn cứ để xác định thể thơ.
Câu 2.
(0,5) điểm).
Chỉ ra từ ngữ miêu tả những khó khăn, gian khổ người
lính Trường Sơn phải vượt qua trong khổ thơ thứ hai.
Câu 3.
(1,0 điểm).
Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh
trong khổ bảy bài thơ.
Câu 4.
(1,0 điểm).
Cái
“giật mình”
xuất hiện ở đầu và cuối bài thơ cho thấy tâm
trạng gì của nhân vật
tôi”?
Câu 5.
(0,5 điểm).
Từ bài thơ, em hãy rút ra hai bài học ý nghĩa nhất với bản
thân.
PHẦN II. VIẾT.
(6.0 điểm).
Câu 1.
(2,0 điểm).
Em hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích khổ bảy
và khổ tám của bài thơ.
Câu 2.
(4,0 điểm).
Lịch sử ức quý giá của dân tộc nơi u giữ những
chiến công oanh liệt cả những bài học sâu sắc. Tuy nhiên hiện nay, một bộ phận
các bạn học sinh không yêu thích môn Lịch sử. Em hãy viết bài văn (khoảng 400 chữ)
nêu giải pháp để giúp các bạn thích học môn Lịch sử hơn.
Họ và tên thí sinh:…………………………………Số báo danh:…….
ĐỀ 9
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm): Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi:
VIẾT CHO CON NGÀY CHIẾN THẮNG
(1) Con nhỏ ơi, con xuống đường với mẹ
Giữa dòng người rực rỡ cờ hoa
Chúng ta chiến thắng rồi, đất nước chúng ta
Đã đoàn tụ, đã không còn bóng giặc
Không còn tiếng đạn bom trên mặt đất
Trời trong xanh như ánh mắt con nhìn
Mẹ bồng con đi giữa phố đông
Niềm vui lớn sáng bừng muôn nét mặt
Tay con vẫy, mẹ cha trào nước mắt
Nhớ những con đường đất nước đi qua
Nhớ những đèo cao, nhớ những bến phà
Nhớ đồng đội, những tháng năm gian khổ
Đất nước thức vạn đêm không ngủ
Cho bầu trời và tiếng hát hôm nay
Con hãy nhìn: thành phố, màu cây
Con hãy nhìn những mặt người xạm nắng
Dẫu chưa quen đã trở thành ruột thịt
Đã cùng nhau chiến đấu mấy mươi năm
Những anh hùng không thể kể hết tên
Đã bền bỉ, hy sinh và chiến thắng
(2) Những lớp người nối nhau cầm súng
Như ông bà con mùa thu ấy lên đường
16
Mái tóc xanh giờ đã trắng hoa râm
Như cô, bác bạn cha, bạn mẹ
Trong lửa đạn hiến dâng tuổi trẻ
Dâng tấm lòng như lửa cháy khôn nguôi
(3) Trời hôm nay trọn vẹn của ta rồi
Khi sinh ra con không còn gặp Bác
Nhưng đường Bác mở ra, giờ tới đích
Con sẽ về thành phố Hồ Chí Minh
Đất không còn hai ngả Bắc Nam
Con sẽ lớn giữa Việt Nam thống nhất
Con sẽ thấy những ngôi nhà sáng đẹp Những
trái thơm, mỏ lớn, những mùa vui...
Giữa tiếng reo tiếng hát muôn người
Mẹ nâng con như hoa của tương lai
Chào chiến thắng!
(Nguồn: Xuân Quỳnh, Lời ru trên mặt đất,
Nxb Tác phẩm mới, 1978)
17
Câu 1 (0,5 điểm). Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2 (1,0 điểm). Bài thơ được viết nhân chiến thắng lịch sử nào của dân tộc? Cảm xúc của
người mẹ được thể hiện như thế nào trước sự kiện đặc biệt đó?
Câu 3 (0,5 điểm). Theo tác giả, những nguyên nhân nào làm nên chiến thắng trọn vẹn ngày
hôm nay?
Câu 4 (1,0 điểm). Tìm và nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong đoạn thơ sau: Giữa
tiếng reo tiếng hát muôn người Mẹ nâng con như hoa của tương lai Chào chiến thắng!
Câu 5 (1,0 điểm). Qua bài thơ, tác giả muốn gửi gắm tới người đọc những thông điệp gì?
II. VIẾT (6,0 điểm):
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích khổ thơ cuối bài thơ “Viết cho
con ngày chiến thắng” của tác giả Xuân Quỳnh trong phần đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Những năm tháng đã qua đi nhưng dư âm của khói bom, lửa đạn như còn
mãi, nhắc nhở ta về một thời gian khổ mà hào hùng của dân tộc. Hãy viết bài văn (khoảng
400 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề: Biết ơn quá khứ để sống đẹp hơn trong hiện
tại.
----------------Hết--------------------
UBND QUẬN BẮC TỪ LIÊM
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG LẦN 2
NĂM HỌC 2024 - 2025
MÔN: NGỮ VĂN 9
Thời gian làm bài: 120 phút
(Đề kiểm tra gồm 02 trang)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
QUẢ BÀNG HÌNH TRÁI TIM
(Trích)
(Tóm lược phần đầu:
Cây bàng vươn cành tới gần song sắtlim, khiến hai người tử trong ngục
nhớ lại những kỷ niệm tuổi thơ. Họ trò chuyện về trường lớp ngày xưa, nơi cây bàng xanh mát che nắng
trên sân trường. Dù đang trong hoàn cảnh tuyệt vọng, hình ảnh cây bàng và những ký ức ấy làm họ tươi cười,
vơi bớt nỗi đau)
.
Bỗng nhiên, người tử tù, từng là học sinh Hà Nội, rên khe khẽ:
– Ôi! Khát nước quá! Có lẽ, anh sắp ngất đây!
Đôi mắt người tử nhắm nghiền, nén cơn khát đau đớn vết thương do kẻ thù tra tấn.
Người tử tù trẻ tuổi ngả đầu vào bạn tù. Đôi mắt nhìn qua song sắt, thầm ước:
– Nếu không bị kẻ thù cùm chân thì ta vươn tay ra ngoài song sắt, hái một quả bàng chín vàng
kia, vắt nước cho anh…
Cây bàng đã lớn lên bên song sắt nhà mấy chục năm. Tiếng của các tử trước khi ra
pháp trường, ánh mắt chứa chan hy vọng của mỗi người tử thấm đẫm vào thân cây, vào từng nụ
hoa bàng.
Lộp độp! Lộp độp! Bỗng nhiên, mấy quả bàng chín mọng rơi vào trong lim. Người tử
trẻ tuổi kinh ngạc, tay run run nhặt quả bàng. Hai tay lẩy bẩy vắt nước từ cùi quả bàng vào miệng
bạn tù. Đôi môi khô rạn, nứt nẻ dần dần mềm mại. Nước quả bàng thấm dần vào lưỡi… Đôi mắt mệt
mỏi từ từ hé mở. Người tù trẻ tuổi lấy cùm ghè vỡ quả bàng, lấy nhân bên trong. Nhân quả bàng bùi
18
ĐỀ 10
ngậy giống nhân hạt lạc. Từ hôm ấy, quả bàng nước uống, cơm ăn của hai người tử tù. Sức
khỏe của hai người tử hồi phục. Hai người vẫn dựa lưng vào nhau, kể cho nhau nghe những kỷ
niệm về cây bàng giữa sân trường yêu dấu của mình.
Người tử lớn tuổi rất ngạc nhiên thấy quả bàng rơi vào lim mang hính trái tim của
người. Lạ nhỉ?
Gió biển Phú Quốc mạnh mẽ. Gió nắn trái bàng thành hình trái tim để hướng xuống mặt
đất?
– Cây bàng trên đảo thấu hiểu khát vọng của biết bao người tử tù. Từ đó, quả bàng mang hình
trái tim, hệt trái tim con người?
Một buổi chiều, tên cai ngục đi qua các lim tử tù. Mắt hắn vằn hệt mắt thú dữ nhìn vào
trong xà lim. Đôi mắt vằn đỏ vì ngạc nhiên:
Bảy ngày qua, ta không cho những tên tử ăn cơm hẩm, uống nước cống, nhằm để chúng
chết khô đét trong ngục. Nhưng vì sao, chúng nó vẫn tươi tắn như cây được tưới nước mưa nhỉ?
Rào… rào… rào… Từ trên cành cao, những quả bàng hướng mũi nhọn đầu trái tim, phóng tới
tấp xuống tên cai ngục. Bị tấn công bất ngờ, tên cai ngục hoảng hốt bỏ chạy.
Đàn chim sáo đậu trên cành bàng hót nhặng lên:
– Đáng đời kẻ ác! Quả bàng bé nhỏ đã làm cho kẻ ác khiếp sợ!
Bên ngoài biển, sóng ào ào vỗ vào chân đảo. Bên tronglim, hai người tửbàn chuyện xa
xôi:
Bao giờ đất nước thống nhất, trở về Nội, anh mang giống bàng Phú Quốc, trồng một
hàng trong công viên!
Em lấy nhân quả bàng, chế biến thành món mứt tết tặng cho tất cả du khách đến thăm vịnh
Hạ Long, quê em. Nước quả bàng thì đóng hộp, tặng các cháu mẫu giáo được cô giáo phát phiếu “Bé
ngoan” ngày cuối tuần.
Vào một ngày biển động. Bọn người mắt vằn như mắt thú dữ hục chặt hạ cây bàng bên
ngoài song sắt. Chúng xông vào lim. Hai người tử đều nắm trong tay một quả bàng hình trái
tim. Người tử tù bị bịt mắt, lôi đi là người muốn tất cả nhân quả bàng trên đời hóa thành mứt tết ngọt
ngào tặng cho nhân loại.
Thời gian trôi theo mặt trời trên biển Việt Nam. Tên cai ngục mắt vằn hung dữ, trở lại di tích
nhà Phú Quốc. Đôi mắt già nua bối rối nhìn qua song sắt lim. Trong lim, hiện lên hình
sống động hai người tử dựa lưng vào nhau. Cây bàng ngoài song sắt bị chặt hạ, từ phần gốc nảy
lên một mầm bàng non tươi xanh. Mầm bàng non ấy, bây giờ đã hóa thân thành cây bàng già, lưng
theo năm tháng. Bên gốc bàng, dạng căn nhà nhỏ xinh xắn. Bước ra cửa một người tử
năm xưa.
Nào, hãy thưởng thức món mứt nhân quả bàng. Đây món quà bạn tôi muốn làm quà
cho mọi người trên Trái đất này!
Đôi mắt vằn năm xưa của người cai ngục, nay chuyển sang màu xám ngoét. Những giọt nước
mắt chảy ngoằn ngoèo theo hai bên sống mũi gồ ghề.
(Lê Toán,
Tuyển tập
truyện viết cho thiếu nhi,
NXB Văn học, 2008)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định ni kể và ch ra dấu hiệu hình thức của ni kể đó trong văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra lời người kể chuyện và lời nhân vật trong các câu văn sau:
Đàn chim sáo đậu trên cành bàng hót nhặng lên:
– Đáng đời kẻ ác! Quả bàng bé nhỏ đã làm cho kẻ ác khiếp sợ!
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa trong câu văn sau:
Từ trên cành cao, những quả bàng hướng mũi nhọn đầu trái tim, phóng tới tấp xuống tên cai
ngục.
Câu 4 (1,0 điểm). Em đồng ý với cách đặt nhan đề văn bản
Quả bàng hình trái tim
không? Vì sao?
Câu 5 (1,0 điểm). Hình ảnh quả bàng rơi vào lim mang hình trái tim giúp những người
chiến vượt qua hoàn cảnh đày nghiệt ngã. Vậy chúng ta cần m để vượt qua những khó
khăn, thử thách trong cuộc sống?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
19
u 1 (2,0 điểm). Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hai nhân vật ngươì tử tù trong
đoạn trích phần đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Trong văn bản
Quả bàng hình trái tim,
lim, hai người tử ấp ước
về một ngày đất nước thống nhất, người mang giống bàng Phú Quốc về trồng Nội, người
chế biến quả ng thành món quà ý nghĩa cho quê hương. Đến nay, tại di tích Nhà Hoả Lò,
Nội, cây bàng với những sản phẩm đặc trưng như: trà bàng nếp, bánh ng, thạch bàng, khung
ảnh bàng,… đã trở thành món quà ý nghĩa đối với du khách. Đó minh chứng cho ước của
những người tử tù ấy đã trở thành hiện thực.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về những giải pháp thể hiện lòng biết ơn của thế
hệ trẻ với những giá trị tốt đẹp cha ông ta đã hy sinh cả cuộc đời để mang đến cuộc sống hòa
bình hôm nay.
– Hết
UBND QUẬN TÂY HỒ
TRƯỜNG THCS CHU VĂN AN
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ II
MÔN: NGỮ VĂN – LỚP 9
Năm học 2024 - 2025
Thời gian làm bài: 120 phút
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Làm bạn với AI
(trích)
- Lữ Mai -
Đọc phần trích sau:
(
Tóm tắt phần đầu truyện:
Ông Bội Thư sống trong căn hộ nhuốm màu thời gian.
Thư yêu thích chăm cây ban công còn ông Bội quan tâm đến công nghệ. Một lần, ông tìm công thức
nấu canh chua từ AI khiến không hài lòng. Hai ông thường giận dỗi nhau những chuyện nhỏ
nhặt.)
Từ ngày “làm bạn” với AI, ông Bội đâm ra nghiện. Quên lịch chơi cờ tướng với mấy ông bạn hưu
trí. Hủy hẹn cà phê cùng đám ông Khanh cuối phố. Duy giờ gọi video call cho mấy đứa cháu nội ở nước
ngoài ông còn nhớ. Nhưng suốt cuộc chuyện trò, lúc nào cũng AI. “Chúng cháu chán rồi ông vẫn
nhắc. Rồi cũng chỉ được một thời gian thôi ông ơi!” - thằng cháu đích tôn khẳng định. Chán sao được
mà chán, ông nghĩ thầm. Sau mỗi câu hỏi, AI trả lời chỉ trong 2 giây.
“Cháu tôi nói sẽ lúc con người chán AI, phải vậy không?” - ông gửi câu hỏi. “Có thể lắm,
nhất khi trở nên quá phổ biến thiếu sự sáng tạo, cảm xúc. AI không thể thay thế được những
khoảnh khắc gần gũi, sự thấu hiểu và những kỷ niệm mà con người tạo ra cùng nhau” - AI trả lời.
“Thế AI chán con người không?” - ông lại hỏi. “AI không cảm xúc hay ý thức nên không
thể chán nản hay thích thú. Tuy nhiên, AI có thể được cải thiện và phát triển theo nhu cầu của con người.
Nếu con người không còn sử dụng hoặc không thấy giá trị từ nó, thì thể nói ra, AI sẽ “ngủ yên” cho
đến khi có sự quan tâm trở lại” - AI hồi đáp.
Ông ngửa mặt lên trần nhà, cười sảng khoái. Thông minh, tinh tế đến thế cùng. “Mình đã chán
bao nhiêu thứ rồi mà tất cả đâu có chịu ngủ yên. Thậm chí, mình còn chẳng dám nói ra nữa kìa. Chưa kể,
AI còn biết cảm ơn, xin lỗi thật ngọt ngào, lịch thiệp. Chả cho...” - vừa nghĩ, ông vừa tiếc nuối sao
giờ mới biết đến AI. Nghe đâu các cháu nội, cháu ngoại đã “chơi” với AI lâu rồi, còn “nuôi” cả các
“con” AI khác nhau rồi chuyện trò, dạy dỗ, huấn luyện gì đó.
(
Tóm tắt một đoạn:
Thư không hài lòng khi chồng nấu canh chua theo công thức AI, cho
rằng nấu ăn cần tình cảm sự tinh tế công nghệ không ththay thế. ông Bội viết thơ làm lành,
bà vẫn hoài nghi đó là sản phẩm của AI, bà càng thêm bực dọc.)
T
*Chú thích:
AI (trí tuệ nhân tạo): Tiếng Anh:
Ar./cial intelligence
, viết tắt:
AI
, đề cập đến khả năng của máy 1nh
thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến trí thông minh của con người, như học tập, suy luận, giải quyết vấn đề, nhận
thức và đưa ra quyết định.
20
Đề 11