Bộ luật HAMMURABI là gì? Tìm hiểu về Bộ luật
HAMMURABI?
1. Khái niệm bộ luật HAMMURABI
Bộ luật HAMMURABI là bộ luật được soạn thảo vào thời vua Hammurabi
(Hammourabi; 1793-1750 trước Công nguyên), người sáng lập vương triều
Amôrit (Amorite) đầu tiên của vương quốc cổ Babylon.
Bộ luật Hammurabi được đoàn khảo cổ người Pháp tìm ra năm 1902. Theo
các nhà sử học, Bộ luật Hammurabi được khắc trên những tấm đá bazan với
chiều cao 2 mét được dựng tại các quảng trường của thành phố đ mọi
người biết tuân thủ. Trước Bộ luật Hammurabi còn một vài Bộ luật của
người Xume (Sumer) người Akan (Akkal) đ nhà vua thể noi theo.
Nguồn chính của Bộ luật Hammurabi những pháp điển của người Xume,
những phán quyết của vua Hammurabi của toà án thời đó. Bộ luật
Hammurabi 282 điều với các nhóm chế định:
1) Chế định dân luật: trong chế định này đã những quy định khá cụ thể về
hợp đồng mua bán, vay mượn, lĩnh canh ruộng đất.
2) Chế định gia đình: Theo bộ luật Hammurabi, người đàn ông (là người
chồng hoặc người cha) một quyền lực tuyệt đối trong gia đình như quyền
được li hôn, lấy vợ lẽ. quyển bán vợ, bán con...;
3) Chế định về quyền thừa kế: Bộ luật Hammurabi đã thể hiện sự coi trọng
bảo hộ quyền thừa kế của chủ sở hữu tài sản. Trong bộ luật Hanmurabi đã
sự phân định các loại thừa kế - đó thừa kế theo luật thừa kế theo di
chúc. Chế định quyền thừa kế trong bộ luật này cũng đã nhiều điểm tiến
bộ n các quy định về sự bình đẳng trong việc nhận thừa kế giữa con trai
con gái, quy định về giới hạn của việc tước quyền thừa kế...;
4) Chế định luật nh sự: Chế định hình sự trong bộ luật Hammurabi thể hiện
tính khắc trong các quy định trừng phạt đối với người phạm tội. dụ:
nguyên tắc trả thù công bằng, nguyên tắc trách nhiệm tập thể,... Cách thức
tiến hành hình phạt tử hình rất man như thiêu, đóng cọc... Bộ luật
Hammurabi đã áp dụng các quy định về phạt tiền đối với những người phạm
tội. Yếu tố lỗi (cố ý hay ý) cũng đã được viện dẫn để xác định mức độ của
hành vỉ phạm tội.
2. Nội dung chính của Bộ luật Hammurabi
Bộ luật Hammurabi được ghi bằng văn tự hình đinh xưa nhất trên tấm đá
badan cao 2,25m đường kính đáy gần 2m. Các nhà khảo cổ học Pháp đã
tìm thấy cột đá này o m 1902 di chỉ của thành phố Susa, kinh đô xưa
của người Elam (phía Đông Lưỡng Hà) hiện được lưu giữ tại viện bảo
tàng Louvre (Pháp). mặt trước phía trên của tấm bia khắc tả hình
thần Mặt trời Samát ngồi trên ngai vàng trao cho vua Hammurabi đứng với
thế nghiêm trang trước thần bộ luật. Hammurabi đã ý thức sâu sắc kết hợp
thần quyền, vương quyền pháp quyền khiến b luật trở nên được “thiêng
hóa” nhằm đạt được mục đích cai trị dân chúng.
Bộ luật gồm 282 điều khoản nhưng ch n lại trên tấm bia 247 điều khoản.
Năm cột gồm 35 điều luật lẽ bị quân xâm lược Elam cạo đi. Quân Elam
đưa di tích này về Susa như một chiến lợi phẩm. Nhờ những bản sao lại
các t các thầy kiện cổ Babylon dùng cho mục đích giảng dạy
cũng như trong thực hành xử kiện nhờ nhiều tài liệu liên quan tìm thấy
Susa ảnh hưởng rộng lớn của bộ luật khắp miền Tây Á người ta
khôi phục lại được phần đã mất của bộ luật.
Về nguồn gốc, trong khu vực ỡng Hà, trước bộ luật Hammurabi đã b
luật Sumer, bộ luật của Eshnunna, do đó, bộ luật Hammurabi sự phát triển
tiếp tục chép lại các điều luật thời cổ Sumer ảnh hưởng mạnh mẽ tới
pháp chế Babilon. Bộ luật t ra hệ thống n so với các quyết án của
Sumer cổ, trong đó thấy được ý định của người viết luật muốn thống nhất
những nhóm điều luật nội dung giống nhau. Ngoài ra, bộ luật này còn
nguồn gốc từ những quyết định của tòa án các phán quyết của tòa án cao
cấp lúc bấy giờ những mệnh lệnh, chiếu chỉ của nhà vua. Như vậy, bộ luật
Hammurabi không phải là một thể chế hay hệ thống luật đầy đủ; hơn nữa
sự sưu tập những luật chiếu chỉ Hammurabi cho rằng cần được
trình bày lại.
Về cấu, bộ luật Hammurabi bao gồm gần 300 phần được cấu kết kỹ càng
hơn bất kỳ bộ luật nào trước đó chúng ta được biết, bao gồm ba phần
chính: phần mở đầu, phần nội dung phần kết luận.
Phần mở đầu của bộ luật khẳng định rằng đất nước Babilon một vương
quốc do các thần linh tạo ra. chính các thần linh này đã trao đất nước cho
vua Hammurabi để thống trị, làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ.
Hammurabi kể công lao của mình đối với đất nước: “vì hạnh phúc của loài
người, thần Anu (thần Trời) thần Enlin (thần Đất) đã ra lệnh cho trẫm,
Hammurabi một vị vua quang minh ngoan đạo, phát huy chính nghĩa đời,
diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không
hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần Samát (thần Mặt Trời, ánh
sáng xét xử), soi đến dân đen, tỏ ánh ng khắp mặt đất”. Vượt ra khỏi
hạn chế lịch sử, giá trị hội của bộ luật được th hiện ngay mục đích ban
hành luật “để cho người mạnh không hiếp kẻ yếu, để cho những người
quả chỗ nương tựa thành Babilon, nơi thủ lĩnh của được thần
Anu thần Enlin khen ngợi, đền Exajin nền móng của lâu bền cùng
với trời đất, để cho tòa án trong nước tiện việc xét xử, để cho sự tuyên án
trong nước tiện việc quyết định, để cho những kẻ bị thiệt thòi được trình bày
chính nghĩa, trẫm khắc những lời vàng ngọc của trẫm lên cột đá của trẫm
trước bức tượng của trẫm cũng tức bức tượng của một vị vua công bằng”.
Đây giá trị nhân văn cao cả của bộ luật không phải tất cả các bộ luật
thời cổ đại phương Đông đều được.
Phần nội dung chứa đựng 282 điều luật đây phần chủ yếu của bộ luật.
Nội dung của bộ luật chưa phân chia thành từng ngành luật riêng biệt, nhưng
tác gi của bộ luật đã ý thức sắp xếp c điều khoản ra từng nhóm riêng
theo nội dung của chúng. Điều này thuận tiện cho việc tìm hiểu xét xử.
Luật Hammurabi một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình,
bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực, ch yếu những
quan hệ hội liên quan đến lợi ích của giai cấp thống trị. Phần nội dung, bộ
luật tập trung điều chỉnh bốn lĩnh vực chủ yếu là dân sự, hình sự, hôn nhân
gia đình tố tụng nhưng không sự tách rời giữa các lĩnh vực. Các qui
phạm của luật Hammurabi cũng giống như các bộ luật khác phương Đông
mang tính hàm hỗn, các điều luật đều kèm theo chế tài. mỗi nội dung
của điều luật đều chứa đựng những điểm tiến bộ hạn chế so với luật pháp
của c quốc gia cổ đại khác.
Trong phần kết luận, Hammurabi đề cao công lao của mình trước nhân dân,
kêu gọi những ông vua kế tục đền ơn thực hiện những điều luật của
Hammurabi: “Đây pháp luật do đức vua Hammurabi bách thắng đặt ra đ
đem lại hạnh phúc cho chân chính đặt nền thống trị nhân từ trong nước”.
“Từ nay đến ngàn đời sau, các vua trong nước phải tuân theo những lời
chính nghĩa của trẫm đã khắc trên cột đá của trẫm, không được thay đổi việc
xét xử do trẫm đã quyết định”. Đồng thời, Hammurabi tuyên bố sẽ trừng trị tất
cả những ai xem thường ý định hủy bỏ b luật. Điều đó phần nào
chứng tỏ vai t to lớn của bộ luật này đối với sự phát triển toàn thịnh của đất
nước Lưỡng thời Babylonia.
3. Nét đặc trưng của Bộ luật Hammurabi
Đánh dấu hoạt động pháp điển hóa đầu tiên, sớm nhất trong pháp luật
thế giới. Do chính hoàng đế tổ chức biên soạn.
Nền kinh tế hàng hóa Lưỡng xuất hiện sớm phát triển vào bậc nhất
phương Đông cổ đại nên luật pháp Lưỡng ng phát triển nổi trội hơn so
với các vùng khác. Ngày nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiển thấy một văn
bản pháp luật Lưỡng đó những văn bản về mua bán ruộng đất một
vài bộ luật. Trong đó, Bộ luật Hammurabi giá tr lớn nhất, được soạn
thảo vào triều đại Hammurabi (1894-1594 TCN).
Bộ luật này được soạn thảo do chính hoàng đế Hammurabi người đã thiết
lập bộ máy chính quyền của một nhà nước trung ương tập quyền chuyên chế.
Tổ chức nhà nước
Babilon đồ sộ, quy củ nhất trong lịch sử Lưỡng cổ đại.
Bộ luật này được chia làm ba phần chính ràng, tổng hợp tất cả các quy
phạm trong mọi lĩnh vực. Khác với Bộ luật Manu chỉ tổng hợp các quy phạm,
tín điều tôn giáo do tầng lớp tăng lữ biên soạn. Bộ luật Manu này gồm 12
chương, 2685 Điều. Thực chất Bộ luật này những luật lệ, tập quán pháp
của giai cấp thống trị được các trường thần học Bàlamon tập hợp lại viết
thành trường ca. Từ đây thấy được giá trị của Bộ luật Hammurabi nhiều
điểm tiến bộ hơn, so với đó thì Ai Cập chưa một Bộ luật nào.
Tiếp đến đó hoạt động pháp điển hóa diễn ra khá đa dạng.
Các lĩnh vực, phạm vi điều chỉnh của Bộ luật này rất rộng, bao trùm lên hầu
hết các quan hệ hội. Phần nội dung phần ch yếu của Bộ luật. Nội dung
Bộ luật bắt đầu t sự kế thừa những bộ luật trước đó của nhiều quốc gia
Lưỡng Hà, cụ thể những pháp điều của người Xume (chủ nhân của những
quốc gia đó). Bộ luật còn chứa đựng những luật lệnh của vua Hammurabi
nhiều quyết định của Tòa án cao cấp bấy giờ. Bộ luật gồm 282 điều khoản cụ
thể, trong đó, điều đầu tiên của Bộ luật quy định thủ tục kiện cáo, cách xét xử
tức thủ tục tố tụng. Tiếp đó là những quy định về hình phạt của tội trộm cắp,
bắt cóc lệ; về quyền nghĩa vụ của binh lính; quyền lợi của người lính
canh ruộng đất; Tội sử dụng bừa bãi nguồn nước, tội để súc vật tàn phá hoa
màu; c hình thức cho vay lãi lệ nợ cũng được quy định rất cụ thể.
Sau đó, Bộ luạt dành nhiều khoản về việc gả bán con gái, về gia đình, về các
hình thức trị tội khi làm tổn hại đến thân thể người khác; hình phạt đối với tộ
thủ tiêu dấu trên mặt lệ, trách nhiệm tiền ng của những người làm
thuê trong xây dựng, trong nông nghiệp, chăn nuôi, thủ công nghiệp. Cuối
cùng những điều khoản về mua bán lệ.
Như vậy, luật Hammurabi điều chỉnh khá ràng các mối quan h hội thời
Babilon cổ.
Ngoài ra, trong quá trình biên soạn n chú ý đến cả việc sắp xếp điều khoản,
điều chỉnh các quan hệ giống nhau liền nhau. Tuy chưa sự phân chia
thành những ngành luật như hiện nay nhưng tác giả của bộ luật đã ý thức
sắp xếp các điều khoản thành từng nhóm riêng theo từng loại quan hệ hội
trong lúc bấy giờ. Qua các điều khoản đó, th chia thành những chế định
sau: chế định hợp đồng; chế định hôn nhân gia đình; chế định về thừa kế;
những chế định hình sự, những chế định tố tụng. Mỗi một chế đình đều quy
định các điều khoản, các trường hợp xảy ra. Ví d trong chế định hợp đồng
thì phân chia thành hợp đồng mua bán, hợp đồng vay mượn hợp đồng
lĩnh canh ruộng đất. So với bộ luật Manu t các chế định này đầy đủ
ràng hơn, các quy tắc, điều luật về nội dung vẫn nhiều điểm tiến bộ hơn.
Bộ luật Hammurabi thể hiện thuật lập pháp khá cao.
Điểm nổi bật trong thuật lập pháp của bộ luật không của luật pháp xu
hướng hình sự hóa tất cả cacá quan hệ pháp luật. Đây cũng chính là điểm
khác biệt của luật pháp triều đại Hammurabi Lưỡng với thời Tây Chu
phong kiến. Trong pháp luật Tây chu thiên về hình luật.
Nghiên cứu về bộ luật Hammurabi, ý kiến cho rằng đây một bộ luật
tổng hợp dưới dạng hình luật” .Có thể khẳng định không phải những do
sau đây:
Thứ nhất: Trong tổng số 247 điều còn đọc được của bộ luật đến một nửa
số điều luật này không liên quan tới hình luật. Quy phạm pháp luật chứa
đựng trong các điều luật này quy phạm điều chỉnh chứ không phải quy
phạm bảo vệ. Các điều luật trong nhóm này thường không phần chế tài.
Thứ hai: ngay cả đối với những điều luật quy định chế tài đó cũng không
rệt chế tài của luật hình sự. Chính do này ta không thể khẳng định
tất cả các quy phạm pháp luật trong Bộ luật Hammurabi đều quy phạm lụât
hình sự.
Tiếp theo thấy được sự tiến bộ nét trong các nhà làm luật đã biết dự liệu
liên quan tới nhau. Điển hình từ điều 26 tới điều 32. Đây một hệ thống
đặt ra các quy tắc liên quan tới nhau, dự liệu các trường hợp thể xảy ra
đề ra những hình phạt theo từng mức đ phạm tội một cách đúng đắn.
Bộ luật Hammurabi ng sự kế thừa từ các bộ luật thành văn trước đó. Từ
đây thể hiện ràng về tính chất, sự nhất quán trong tưởng thần quyền
pháp chế. Đồng thời b luật này đã sự kết hợp hài hóa việc bảo lưu các
yếu tố truyền thống với Nhà nước. Điển hình nhất trong các quy định điều
chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình. Các quan h thứ bậc trong gia đình,
quan hệ cha mẹ con i.. cũng được chú trọng. Khi nói về quan hệ giữa cha
mệ con, Điều 168 Bộ luật này quy định:
Nếu người cha muốn từ đứa con của mình. Ông ta nói với thẩm phán: “Tôi từ
đứa con tôi”. Thẩm phán sẽ phải điều tra tường tận vụ việc. Nếu đứa con
không mắc phải trọng tội dẫn đến việc cắt đứt quan hệ máu mủ. Thì người
cha không thể từ con”.
Truyền thống, tưởng chủ đại của pháp luật Lưỡng cổ đại bảo tồn nh
bền vững của gia đình, đề cao đạo đức hội. thế bộ luật Hammurabi đã
kế thừa, nâng cao truyền thống ấy lên, đưa ra những quy định phù hợp.
Trong bộ luật này thì mức độ điều chỉnh của cũng được biểu hiện bằng
các dẫn chứng, tình tiết cụ thể, d hiểu, dễ áp dụng trong thực tiễn cuộc sống.
Luật trong Bộ luật y rất phát triển, điều chỉnh quan hệ giữa các
nhân với nhau các bộ luật khác chưa xuất hiện. Đây một điểm tiến bị
vượt trội.
dụ: Trong những quy định điều chỉnh quan hệ lao động nhìn chung các vấn
đề liên quan đây chỉ tiền công trả chi người lao động, mối quan hệ giữa
người lao động người thuê lao động. Có thể thấy rằng quan hệ giữa các
nhân được hình thành.
Bộ luật nhiều tưởng mang tính thời đại tiến bộ.
Bộ luật Hammurabi nhiều quy định mang tính chất tiến bộ vượt thời đại,
giá trị lâu bền cùng với thời gian. Bộ luật nguồn tài liệu phong p cho
phép người hiện đại hiểu biết hơn về lịch sử, phong tục, tập quán nhiều
mặt khác của một hội cổ xưa.
Bên cạnh việc bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị, pháp luật cũng bảo vệ
những người yếu thế, được xem n một nguyên tắc pháp luật tiến bộ.
Ngay phần mở đầu của bộ luật Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã
trao đất nước cho nhà vua thống trị “Khi mác đúc cử ta thống trị muôn dân
một ch công bằng, chính nghĩa truyền khắp đất nước tạo ra hạnh phúc
cho nhân dân”. Thể hiện nguyên tắc này, b luật ngăn cấm hành vi m phạm
thân thể của người phải vào nhà người khác làm con tin để gán nợ, giới hạn
thời gian làm con tin chỉ trong ba năm, quy định tội phạm ngay cả đối với
những hành vi xâm phạm đến lệ, quy định cho phép con nợ được hoãn trả
nợ trong một năm nếu n năm đó bị mất mùa, quy định việc bảo vệ quyền
lợi của con chưa thành niên, con nuôi ng phải được ngang quyền với con
đẻ.
Đặt trong bối cảnh nhiều áp bức bất công, những quy định này như thế
thực sự nhiều ý nghĩa tiến bộ mang tinh thần nhân đạo sâu sắc.
Không những tiến bộ trong nguyên tắc này, bộ luật Hammrabi còn những
tiến bộ hơn trong việc áp dụng c hình phạt. thể thấy rằng nhà làm luật
thời đó đưa ra cả một hệ thống chế tài hình sự để đối phó với từng loại tội
phạm, những mức độ nặng nhẹ khác nhau. Nhưng đối với các hình phạt
nặng thì đối tượng áp dụng với rất hạn chế.
Không dừng đó, b luật Hammurabi n những quy định trách nhiệm
hình sự, vấn đề miễn trách nhiệm hình sự cũng được đề cập. Cụ thể biểu
hiện trong các Điều 20, Điều 129, Điều 227 của bộ luật. Đồng thời sự phân
biệt ràng các chế định miễn trách nhiệm hình sự với trường hợp không
tội.
những quy định trong bộ luật này mà ngày nay trên pháp luật của các
nước sự tiếp thu chọn lọc.
4. Các điểm tiến bộ và hạn chế của bộ luật Hammrabi
Về n sự
Những điểm tiến bộ, đặc sắc nhất của bộ luật này chính các qui định về
dân sự. Bộ luật đã đặc biệt chú ý điều chỉnh quan hệ hợp đồng đây quan
hệ phổ biến hội Lưỡng cổ đại, nhiều quy định không những tiến
bộ về nội dung còn chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp.
Về hợp đồng mua bán, luật quy định ba điều kiện bắt buộc đối với hợp đồng
mua bán là:
Thứ nhất, người bán phải ch thực sự của i sản (điều 7: Nếu dân tự do
mua của con hoặc lệ của dân tự do hoặc trữ giúp học cho họ bạc hoặc
vàng hoặc nô lệ, hoặc nữ lệ, hoặc , hoặc cừu, hoặc lừa, hoặc bất cứ vật
gì, không người làm chứng hoặc giấy chứng nhận t tức ăn trộm,
sẽ bị xử tử.)
Thứ 2, i sản phải giá trị sử dụng (Điều 108: Nếu mụ hàng rượu không
chịu lấy thóc khi bán rượu xikêramà lại dùng n giả đ lấy bạc số lượng
rượu xikêra quy định lại thấp hơn số lượng thóc quy định thì mụ ng rượu
đó b tố giác bị ném vào lửa).
Thứ 3, hợp đồng phải người làm chứng (điều 7)
Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên thì hợp đồng không giá trị. Người vi
phạm những quy định này sẽ bị xử phạt rất nặng, khi phải đánh đổi bằng
cả mạng sống. Quy định này rất tiến bộ chặt chẽ, bảo vệ quyền lợi cho
người mua tránh gian lận trong buôn bán. Điều y thể hiện giá trị thực
tiễn cao trong các quy định của bộ luật.
Về hợp đồng vay mượn, luật quy định mức lãi suất khác nhau đối với từng
loại: vay thóc vay tiền (Điều 89: Nếu tamca cho vay thóc hoặc bạc lấy lãi,
thì mỗi guru (1 guru= 121 lít) thể lấy lại 100 ca thóc (1 ca= 0,4 lít đến 0,8
lít). Nếu cho vay bạc trắng thì mỗi xikhơ bạc (1 xikhơ = 8 cm3 = 180 sêun, 1
sêun = 1.05 cm3) thể lấy lại 1/6 6 sêun). Nếu người cho vay lấy lãi xuất
cao hơn mức quy định thì sẽ mất vật cho vay (Điều 91: Nếu tamca không
tuân theo quy định thóc t mỗi guru lấy lại 100 ca, bạc trắng thì mỗi xikhơ
lấy lại 1/6 xikhơ 6 sêun tăng thêm lợi tức thì người này bị mất vật đã
cho vay). Luật cũng quy định, khi cho vay, dùng thân thể con người làm vật
bảo đảm hợp đồng. Quy định này được thể hiện điều 115, 116, 117 như:
“Nếu dân tự do chủ nợ của một người dân tự do khác, giữ con tin của
người này, người làm con tin số mệnh chết nhà người giữ nh
làm con tin, thì việc đó không thể m căn cứ để tố cáo. Mức quy định lãi xuất
đối với hợp đồng vay nợ 1/5 đối với tiền, vay thóc 1/3”. Đây những quy
định tiến bộ, một phần bảo vệ quyền lợi của người đi vay, một phần đảm bảo
cho việc vay mượn được công bằng, tránh hiện tượng cho vay nặng lãi,
không phù hợp với giá trị của vật cho vay. Nhưng trên thực tế, những ông
chủ (chủ yếu tầng lớp thương nhân) cho vay thường đẩy cao mức lãi xuất
cho vay, khi lên đến 20%. Hiện tượng cho vay nặng lãi đã khá phổ biến
Lưỡng Hà. Đó cũng nguyên nhân thúc đẩy thương nghiệp Lưỡng
phát triển hơn các quốc gia khác.
Về hợp đồng lĩnh canh ruộng đất, luật quy định mức thu đối với từng loại
lĩnh canh: vườn ruộng. Đối với những ờn trồng cây chà là, người trồng
vườn phải nộp 2/3 số thu hoạch trong vườn mình quản cho chủ vườn,
còn mình được 1/3 (điều 64). Đối với đất ruộng thì căn cứ theo thu hoạch để
thu 1/2 hay 1/3 thì thu hoạch của ruộng đất sẽ do nông dân ch ruộng
căn cứ theo tỉ lệ đã định để chia nhau (điều 48). Ngoài ra, điều 42, 43,44 của
luật cũng quy định trách nhiệm của người lĩnh canh trong trường hợp không
chuyên cần canh tác: Nếu không cày cấy để ruộng bỏ hoang, thì người
này phải căn cứ theo người bên cạnh để nộp thóc cho chủ ruộng còn phải
cày bừa ruộng đã bỏ hoang cho bằng phẳng rồi trả lại cho ruộng. Quy định
này đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp được đều đặn, tránh hiện tượng bỏ
hoang ruộng đất, bởi sản xuất nông nghiệp ngành kinh tế chủ đạo của
không chỉ ỡng còn của hầu hết các quốc gia cổ đại phương Đông
khác. Do đó, luật pháp cũng đã nhiều quy định đối với những việc liên
quan đến phát triển sản xuất nông nghiệp. Dân tự do gây thiệt hại cho
hoa màu thì đều phải bồi thường tất cả những thiệt hại do mình gây ra, nhất
những người không chịu chăm lo cho công tác thủy, bởi thủy lợi vấn đề
sống còn đối với dân nông nghiệp. Công tác thủy lợi không chỉ ng
việc của nhà nước còn việc của toàn dân. Nhà nước trách nhiệm
sửa chữa, tu bổ phát triển các công trình thủy lợi, nhân dân trách nhiệm
bảo vệ trông coi. Ai cố tình vi phạm sẽ bị xử lí, bồi thường, nếu không
tài sản thì phải bán thân để bồi thường thiệt hại do h gây ra. Quy định này
được thể hiện điều 53, 54, 55, 56: “Nếu dân tự do lười biếng không chịu
củng cố đê đập bên ruộng của mình, do đó đê đập bị vỡ, nước ngập ruộng
đất cày cấy (của công xã), thì người dân tự do đê đập bị vỡ đó phải bồi
thường số hoa màu đã bị thiệt hại”. Nhờ những quy định đầy đủ chặt chẽ
này, sản xuất nông nghiệp Lưỡng không ngừng phát triển, sản phẩm
sản xuất ra không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn thừa
cho xuất khẩu.
Về hợp đồng gửi giữ, luật quy định khi gửi giữ phải người làm chứng, nếu
không người nhận gi sẽ bị coi ăn trộm xử tử, đồng thời quy định mức
thù lao gởi giữ (Điều 121: Dân tự do gửi thóc nhà dân tự do, thì mỗi năm
cứ mỗi guru thóc phải nộp 5 ca thuế kho).
Như vậy, những quy định về quan hệ hợp đồng đã thể hiện sự chặt chẽ
tiến bộ của bộ luật, góp phần bảo vệ i sản của dân trong hội thúc
đẩy sản xuất phát triển. Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu vẫn đặt ra câu hỏi
sao kỹ thuật xây dựng luật pháp của Lưỡng lại đạt đến sự hoàn thiện
đến thế. Bởi trong các chế định về hợp đồng, so với luật pháp hiện đại, người
ta chỉ thấy thiếu một loại hợp đồng duy nhất hợp đồng bảo hiểm. Điều đó
thể hiện trình độ kỹ thuật luật pháp khá cao của Lưỡng Hà.
Tuy nhiên, các chế tài của hợp đồng thường các chế i hình sự (hình phạt)
khá khắc nghiệt. Bộ luật quy định nếu người bán bị người làm chứng tố cáo
vật bán của người khác thì sẽ bị tử hình. Ngược lại, nếu người nhận vật
bán của mình bị mất nhưng không người làm chứng thì người nhận đó
cũng bị tử hình luật cho rằng đấy tội vu khống (điều 9 điều 11). Qua
đó thể thấy luật bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị. Những kẻ giàu cho
vay mượn, thuê mướn luôn luôn được pháp luật bảo vệ, còn nhân dân lao
động nghèo khổ đối tượng trừng trị của pháp luật. Cho nên, đời sống của
nhân dân tất cả các thời kỳ đều khổ cực như nhau. Pháp luật do giai cấp
thống trị đặt ra để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị, còn nhân dân lao
động hầu như không được bảo vệ luôn là đối tượng bóc lột chủ yếu của
nhà nước. Đây điểm hạn chế của luật Hammurabi cũng như của tất cả các
bộ luật khác trên thế giới khi hội vẫn còn sự phân chia giai cấp.
Chế định hôn nhân gia đình
Hammurabi không chỉ quan tâm đến sự đền tội khắt khe. Trong số những quy
định tiến bộ nhất trong bộ luật của ông những luật về gia đình. Luật về hôn
nhân gia đình gồm 66 điều rất chi tiết về kết n, thoái hôn, ly hôn, vợ cả,
vợ lẽ, vợ kế, nàng hầu, con nuôi kế thừa tài sản cha mẹ, chú… Điểm tiến
bộ đầu tiên trong luật về hôn nhân gia đình quy định thủ tục kết hôn phải
giấy tờ. Mục đích của thủ tục này chủ yếu nhằm bảo vệ quyền lợi của
người vợ khi người vợ hay người chồng đòi ly dị. Quy định này một bước
phát triển sớm trong nền văn minh Lưỡng không phải quốc gia cổ đại
phương Đông nào cũng có. Ấn Độ cổ đại, từ “cưới vợ” đồng nghĩa với từ
“mua vợ”, cuộc hôn nhân đó không đảm bảo cho người phụ nữ
người chồng Ấn Độ toàn quyền đối với người vợ của mình. Ngay một số
khu vực của nước ta hiện nay, vấn đề đăng ký kết hôn vẫn chưa được coi
trọng.
Một quy định rất nhân đạo khác đặt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ : “Người
chồng không được bỏ vợ khi biết người vợ mắc bệnh phong hủi”. Với những
trường hợp vợ mắc c bệnh khác, người chồng thể lấy vợ khác nhưng
vẫn phải cấp dưỡng cho vợ trước nếu muốn, người vợ thể rời khỏi n
chồng giữ lại của hồi môn của mình nghĩa phần đóng góp của gia đình
nhà gái khi cho con đi lấy chồng. Một người đàn ông góa vợ không được giữ
tiêu xài của hồi môn của người vợ quá cố phải đ lại cho các con trai
của mình. Nhưng một quả phụ lại thể gi của hồi môn của mình.
Hammurabi đã quy định vấn đ hôn nhân thật tỉ mỉ, ràng ông muốn bảo
đảm một cuộc sống ổn định cho những thế hệ tương lai. Ông đã xử sự bội
ước bằng cách quy định rằng: nếu một người đàn ông đã đưa tiền thách cưới
cho cha vợ tương lai sau đó lại quyết định không cưới gái đó nữa, cha
gái thể giữ lại tiền thách cưới đó. Nếu một người đàn ông muốn ly dị
người vợ không sinh được con, anh ta thể làm được điều này nhưng phải
hoàn trả của hồi môn cho ta một khoản tiền bằng số tiền thách cưới
(điều 138). Như vậy, luật đã quan tâm bảo đảm đời sống cho những người vợ
không con, dành cho họ những điều kiện sống tối thiểu để không bị bạc
đãi, không bị tước bỏ quyền sống. Điều đó chứng tỏ, Hammurabi đã công
khai thừa nhận vị thế dễ bị tổn hại của phụ nữ trẻ em trong hội đã
quan tâm chăm sóc, bảo vệ họ. Quan điểm này của Hammurabi vậy mang
giá trị nhân văn rất u sắc.
Tuy nhiên, bộ luật này không hẳn một tài liệu tiến bộ. Một số quyết định
trong bộ luật này phản ánh một tiêu chuẩn p về giới tính. Gia đình gia
trưởng giữ một ý nghĩa lớn trong hội Babylon cổ. Người phụ nữ địa vị
thấp kém. Theo điều khoản 129 của bộ luật, người chồng ông chủ, nghĩa
kẻ chiếm hữu đầy quyền hành đối với vợ mình. Người chồng mua vợ về như
mua một lệ. Nếu không con, người chồng quyền ly dị, bán vợ hoặc
lấy vợ lẽ. Khi phạm tội ngoại tình, chồng vợ chịu những hình phạt khác
nhau. Nếu bắt được vợ ngoại tình thì người chồng quyền trói vợ nhân
tình của vợ ném xuống sông cho chết. Ngược lại, nếu người chồng không
chung thủy t người vợ thể lấy của hồi môn trở về với cha mẹ mình.
Không chỗ nào trong bộ luật này lại phát biểu rằng một người chồng sẽ
phải chịu hình phạt giống n vậy nếu anh ta không trung thành với vợ. Các
bản giá thú hồi đó còn cho thấy nếu người vợ chê chồng thì người chồng
thể đóng dấu l o người vợ rồi mang đi bán. Một bức minh văn còn cho
thấy rằng, người cha, người chồng quyền không giới hạn đối với gia đình
mình. Một văn kiện nói một người tên Samat Daian đã bán tất cả thành
viên trong gia đình gồm vợ, con các lệ nam, nữ để lấy tiền trả chủ nợ.
Anh ta đã bảo vệ quyền tự do của mình bằng một giá cao như thế.
Như vậy, giống như các bộ luật khác của các nước phương Đông cổ đại, bộ
luật Hammurabi đã bênh vực quyền lợi cho người đàn ông bảo vệ chế độ
gia trưởng uy quyền độc đoán. Điều ấy chứng tỏ, hội Lưỡng sự bất
bình đẳng khá sâu sắc giữa quyền lợi địa vị của người đàn ông phụ nữ.
Về chế định thừa kế tài sản
Theo quan điểm của Ăng- ghen: “là sự chuyển dịch tài sản của người chết
cho người còn sống”. Quyền thừa kế quyền thừa hưởng tài sản của người
chết để lại theo một trình tự do pháp luật quy định. Pháp luật cho phép những
người thừa kế được hưởng di sản, đồng thời buộc họ phải thực hiện những
nghĩa vụ tài sản của người chết. Luật Hammurabi phân làm hai hình thức
thừa kế: thừa kế theo luật pháp thừa kế theo di chúc. thời kỳ đầu, hình
thức chủ yếu thừa kế theo luật, sau đó thừa kế theo di chúc trở thành phổ
biến hơn.
Thừa kế theo di chúc: Di chúc ý chí chủ quan của người tài sản định
đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo luật gia Ulpian thì:
“Di chúc sự thể hiện ý chí của chúng ta ý chí đó được thực hiện sau khi
chúng ta chết”. Bộ luật đã hạn chế quyền tự do của người viết di chúc như
qui định người cha không được tước quyền thừa kế của con trai nếu người
con mới phạm lỗi lần đầu lỗi không nghiêm trọng.
Thừa kế theo pháp luật: Trong trường hợp không di chúc hoặc di chúc
hiệu t di sản của người chết để lại được chia theo luật, tài sản được chuyển
đến cho những người quyền đối với tài sản đó theo luật định. Thời gian
đầu, tài sản tập trung dòng họ dần dần được chuyển về gia đình
quyền thừa kế thành tài sản chung của gia đình.
Nếu trong pháp luật của một số quốc gia cổ đại phương Đông khác, quyền
thừa kế chỉ thuộc về con trai thì trong luật pháp Lưỡng Hà, con trai, con gái
đều được hưởng quyền thừa kế ngang nhau. Đây thể coi một sự bình
đẳng ít ỏi về giới Lưỡng Hà. Luật pháp- công cụ thể hiện tinh thần cai trị
của n nước đã quan tâm tới quyền lợi đời sống của người con gái khi
cha mẹ mất. Điều 170 quy định: “Nếu người vợ chính thức của dân tự do sinh
con cái cho y, nữ lệ của y ng sinh con cái cho y khi người cha đang
sống nói những đứa con do nữ lệ sinh ra là “con của tôi- coi những đứa
con đó ngang hàng với những đứa con của người vợ chính thức thì sau khi
người cha chết, những đứa con của người vợ chính thức những đứa con
của người nữ nô lệ phải ng nhau chia đều gia tài của cha. Khi chia tài sản,
con của người vợ chính thức được ưu tiên chọn phần của mình”. Tất cả đều
đã quy định rất chi tiết với mục đích bảo đảm quyền thừa kế của người con
theo đúng vị trí của h trong quan hệ với người cha.
Về hình sự
Lĩnh vực hình sự lĩnh vực thể hiện nhất tính giai cấp sự bất bình đẳng.
Một nguyên tắc xuyên suốt thể hiện trong bộ luật nguyên tắc bảo vệ
quyền lợi, địa vị của người chồng, người cha trong gia đình. Bộ luật đã thể
hiện địa vị thấp kém dễ bị xâm hại của người phụ nữ hội Lưỡng
cổ đại. Về vấn đề này, chế định về hôn nhân gia đình đã thể hiện khá
nét.
Chế định hình sự cũng bảo vệ c quan hệ hội như: quyền sở hữu, bảo vệ
chế độ nô lệ, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người. Hammurabi đã
công nhận ba giai cấp hội: giới thượng lưu (một trong những dòng họ
ruộng đất từ lâu đời), giới công dân t do không ruộng đất giới lệ.
Luật nghiêm khắc trừng phạt kẻ nào xúc phạm đến người tự do, đặc biệt
người địa vị cao. Theo như điều 202: “nếu một kẻ nào đó tát vào mặt một
người địa vị cao, thì kẻ ấy phải mang ra trước công chúng đánh 50 roi”.
Những hình phạt khác nhau dành cho các hành vi khác nhau cũng không
đồng bộ giữa các giai cấp tầng lớp người trong hội, hơn nữa chúng
khác nhau tùy theo địa vị của tội nhân. Đôi khi bộ luật cho phép bồi thường
bằng tiền thay cho nhục hình. Thí d “Nếu một người p hỏng mắt của
người khác, người ta p hỏng mắt của hắn”, Nếu một người phá hỏng mắt
của một lệ, hắn chỉ phải bồi thường nửa giá cho tên lệ”. Chế tài phạt
tiền cũng được áp dụng, mức tiền phạt tùy vào địa vị hội của các đương
sự.
Một điều đáng chú ý trong bộ luật Hammurabi sự kết hợp c quy cách của
tập quán cổ xưa, nguồn gốc từ thời công thị tộc với các quy cách mới
của pháp luật chiếm hữu lệ. Một bộ phận của án quyết tử hình đã được
Hammurabi hợp pháp hóa. Theo điều 21, kẻ phạm tội đào tường ăn trộm cần
giết chết mang chôn ngay trước chỗ hốc bị đào. Theo điều 25, kẻ ăn trộm
trong khi người ta đang chữa cháy cần phải ném vào đống lửa ngay nơi
phạm tội.
Tàn của hội nguyên thủy còn tồn tại được thể hiện trong b luật
nguyên tắc trả thù ngang bằng (đồng thái phục thù) hay còn gọi luật pháp
talion”, thậm chí cho phép trừng trị cả những người không liên quan đến tội
phạm. Nguyên tắc này chỉ căn cứ vào hậu quả xảy ra trên thực tế đ áp dụng
trách nhiệm pháp l , chứ không xét trên phương diện mức độ lỗi chủ thể
thực hiện hành vi vi phạm. như điều 196: “Nếu n tự do làm hỏng mắt
của con của bất cứ người dân tự do nào, thì phải làm hỏng mắt của y”. Điều
197: “Nếu y làm y xương của dân tự do, thì phải làm gãy ơng của y”.
Các hình phạt thật khắc nghiệt, thể nói tệ hại nhất luật đền tội thật
khắt khe giữa hai thành viên cùng giai cấp. Vì thế, mới câu tục ngữ “mắt
đền mắt, răng đền răng” làm khẩu hiệu cho những nguyên tắc của
Hammurabi. Các hình thức của hình phạt thường rất man. Bằng phương
pháp thống kê, tác giả thấy trong luật Hammurabi nhắc tới 32 trường hợp
xử tử hình. Bên cạnh đó,các hình phạt rất khắc nghiệt như chặt tay, chân,
dìm xuống nước, đóng đinh, thiêu…. Tính chất tương xứng trong trách nhiệm
pháp luật nhấn mạnh nhiều đến trừng trị đối nhân hoặc đối vật, chưa đề
cập đến tính giáo dục, hay tạo điều kiện để người vi phạm sửa chữa sai lầm.
Ngoài ra, bộ luật còn nêu ra trách nhiệm tập th của các thành viên công
đối với nhà nước; quy định về trừng phạt kẻ giúp lệ chạy trốn, trừng phạt
những kẻ xâm phạm đến sở hữu của n vua, chủ nô; trừng phạt người quản
gia làm thất thoát tài sản của chủ bị ném cho thú xác. Tội lấy cắp gia
cầm hoặc c đồ dùng khác của chủ sẽ bị phạt từ 10 đến 30 lần giá trị thứ lấy
cắp. Nếu không nộp được phạt, kẻ lấy cắp sẽ bị giết.
Điểm tiến bộ trong lĩnh vực hình sự luật đã manh nha phân biệt phạm tội
ý phạm tội cố ý. dụ luật ghi trong khi ẩu đả làm người chết, nếu kẻ làm
chết người chứng minh được rằng không cố ý giết người thì sẽ không bị tử
hình, chỉ bị phạt. Đây một trong những quy định khá khách quan trong xét
xử các vụ án hình sự. Điều này làm cho luật pháp mang tính chất công bằng
hơn.
Về tố tụng
Tố tụng là thủ tục giải quyết c vụ án. Bộ luật đã nhiều qui định về thủ tục
bắt giữ, giam cầm, quy định những nguyên tắc khi xét xử n xét xử phải
công khai, phải coi trọng chứng cứ, phán quyết phải thi hành nghiêm minh…
hai quy định rất đặc thù về tố tụng của bộ luật này:
Thứ nhất quy định về trách nhiệm của thẩm phán: “Nếu thẩm phán xử một
vụ kiện ra phán quyết bằng văn bản, nếu sau đó phát hiện lỗi trong văn
bản là do lỗi của thẩm phán, thẩm phán sẽ phải trả 12 lần giá trị phạt tiền
ông ta u cầu bồi thường trong vụ kiện, đồng thời ông ta sẽ bị buộc phải rời
khỏi ghế thẩm phán vĩnh viễn không bao gi thể trở thành thẩm phán
lần nữa”. Quy định về trách nhiệm của thẩm phán như vậy trong hội thể
hiện sự tiến bộ sâu sắc. Quy định này khiến các thẩm phán phải làm việc
khách quan, thận trọng khi xét xử c vụ án. Qua đó th thấy, thời kỳ này
rất coi trọng công tác xét xử, coi trọng trách nhiệm xét xử công bằng của
thẩm phán. Sử sách đã ca ngợi rằng, Lưỡng Hà cổ đại, tinh thần thượng
tôn luật pháp thói quen cầu viện công l đã ăn sâu vào tác phong sinh hoạt
của người dân nơi đây. Luật pháp của các quốc gia khác ng cần học tập
kế thừa quy định tiến bộ này của luật Hammurabi.
Thứ hai về hình thức xét xử: “Nếu một người kiện một người khác, bị đơn sẽ
phải đi đến một dòng ng nhảy xuống, nếu anh ta bị chìm, bị dòng nước
cuốn đi, nguyên đơn sẽ sở hữu nhà của bị đơn. Nhưng ngược lại, dòng sông
chứng minh rằng b đơn không tội, tức anh ta sống t, thì nguyên đơn sẽ
bị giết chết, bị đơn sẽ sở hữu nhà của nguyên đơn”. Như vậy, hình thức
xét xử nhiều khi mang tính thần thánh (phụ thuộc vào thần linh). Thực tế cho
thấy rằng, người Lưỡng cổ đại bất lực trước tự nhiên, bất lực trước việc
giải thích các hiện tượng tự nhiên hội, hơn nữa không phải lúc nào
cũng dễ dàng được chứng cứ xác thực khi khoa học chưa phát triển.
vậy, cách thức xử lý vẻ như bất bình thường kia lại trở nên rất dễ hiểu, dễ
hiểu đến mức nh thường t nhiên trong quan niệm, trong cách hành xử
của người dân Lưỡng cổ đại. Họ tin rằng đấng tối cao đã sáng tạo muôn
loài, sáng tạo nên n nước luật pháp nên họ chấp nhận điều đó tin
rằng thần thánh mới người công minh nhất người cho họ biết thế nào
đúng, thế nào sai, thế nào công bằng hay không công bằng. Đây
không chỉ niềm tin của người Lưỡng còn niềm tin của hầu hết
dân các quốc gia cổ đại phương Đông khác. Trong luật pháp của Ấn Độ cổ
đại, ta thấy hình thức xét xử những điểm giống với luật pháp Lưỡng
như lấy dầu sôi + phân hay rắn độc làm phép thử tội.
Bên cạnh những tiến bộ, đúng đắn, về hình thức bộ luật còn một số hạn
chế nhất định như: Luật chưa tính khái quát cao, c quy định của luật ch
sự tả c hành vi cụ thể; Các điều khoản thường được quy định dài
dòng, các câu chữ trùng lặp với nhau; Đa số các điều khoản của bộ luật đều
liên quan đến nh luật, rất ít điều khoản quy định về các quan hệ dân sự
hoặc nếu thì cũng bị hình sự hóa. Trong b luật này, chúng ta thấy hầu hết
các tội đều quy về tội tử hình, chưa tạo điều kiện cho những người phạm tội
hội sửa chữa sai lầm trở lại hoàn lương.
Bộ luật xưa nhất ngày nay chúng ta biết đến đó bộ luật của quốc ơng
Babilon Hammurabi nh hưởng tới pháp chế muộn nhất của những dân
tộc cổ phương Đông khác, đặc biệt pháp chế cổ Do Thái đã được duy trì
trong kinh thánh. Mặc n duy trì một vài tàn của tập quán pháp cổ của
chế độ thị tộc mặc dù sự sưu tập còn thiếu hệ thống đã làm cho bộ luật
một tính chất nguyên thủy rệt, nhưng luật Hammurabi đã nhiều yếu tố
mới của luật pháp chiếm hữu lệ. Luật pháp mới này khác xa với tập quán
pháp cổ xưa của thời đại thị tộc. Ý nghĩa to lớn của luật Hammurabi chỗ
các yếu tố mới của luật pháp chiếm hữu nô lệ trên một chừng mực nhất định
đã thúc đẩy tiếp tục phá bỏ các vết tích của chế độ thị tộc củng cố toàn bộ
chế đ chiếm hữu nô lệ nói chung.
5. Ý nghĩa của Bộ luật HAMMURABI
Hammurabi khẳng định lại mục đích của B luật tuyên bố sẽ trừng phạt bất
cứ ai vi phạm Bộ luật này: "Để cho kẻ mạnh không hiếp kẻ yếu; để cho
những người quả thể nương tựa thành Babylon…; để cho sự tuyên
án trong nước tiện việc quyết định; để cho những kẻ thiệt thòi được trình bày
lẽ phải... Nếu kẻ nào thi hành triệt để bộ luật y thì sẽ được các thần phù hộ,
trái lại nếu người o không nghiêm chỉnh thi hành hoặc sửa đổi b luật thì
sẽ bị thần linh trừng phạt".
Bộ luật Hammurabi Bộ luật thành văn cổ nhất trên thế giới được tìm thấy,
một trong những thành tựu giá trị bậc nhất của lịch sử văn minh cổ đại.
Giá trị của Bộ luật này cho đến nay vẫn tiếp tục được nhiều nhà khoa học tập
trung nghiên cứu, khai thác kế thừa. Bộ luật đã xây dựng rất công phu,
điều chỉnh phản ánh một cách sinh động các hoạt động kinh tế, chính trị,
văn h hội của vương quốc Babylon. B luật không chỉ giá trị về
nghiên cứu pháp còn nguồn cứ liệu lịch sử phong phú, quý giá để
nghịên cứu nền văn hoá Babylon - Lưỡng cổ đại.
Bộ luật phản ánh c hoạt động kinh tế, chính trị, n hóa hội của
vương quốc Babylon thời đó. Bộ luật không chỉ ý nghĩa về mặt pháp
còn nguồn liệu quý, phong phú cho người đời sau biết được những giá
trị vật chất tinh thần thời ấy.
Bộ luật Hammurabi bộ luật thành n cổ nhất thế giới, một trong những
thành tựu giá trị bậc nhất của lịch sử văn minh cổ đại. Giá trị của bộ luật
này cho đến nay vẫn tiếp tục được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu,
khai thác kế thừa. Nghiên cứu luật pháp thế giới nói chung luật pháp
Việt Nam i riêng, chúng ta không khỏi ngạc nhiên trân trọng những giá
trị lịch sử pháp của bộ luật. Mặc những quy định của bộ luật đã ra đời
cách đây gần 4000 năm nhưng vẫn chứa đựng những điểm tiến bộ văn
minh luật pháp đương đại thể kế thừa phát huy. Chính điều đó đã
góp phần làm nên giá trị rực rỡ của nền n minh Lưỡng cổ đại.

Preview text:

Bộ luật HAMMURABI là gì? Tìm hiểu về Bộ luật HAMMURABI?
1. Khái niệm bộ luật HAMMURABI
Bộ luật HAMMURABI là bộ luật được soạn thảo vào thời vua Hammurabi
(Hammourabi; 1793-1750 trước Công nguyên), người sáng lập vương triều
Amôrit (Amorite) đầu tiên của vương quốc cổ Babylon.
Bộ luật Hammurabi được đoàn khảo cổ người Pháp tìm ra năm 1902. Theo
các nhà sử học, Bộ luật Hammurabi được khắc trên những tấm đá bazan với
chiều cao 2 mét và được dựng tại các quảng trường của thành phố để mọi
người biết và tuân thủ. Trước Bộ luật Hammurabi còn có một vài Bộ luật của
người Xume (Sumer) và người Akan (Akkal) để nhà vua có thể noi theo.
Nguồn chính của Bộ luật Hammurabi là những pháp điển của người Xume,
những phán quyết của vua Hammurabi và của toà án thời đó. Bộ luật
Hammurabi có 282 điều với các nhóm chế định:
1) Chế định dân luật: trong chế định này đã có những quy định khá cụ thể về
hợp đồng mua bán, vay mượn, lĩnh canh ruộng đất.
2) Chế định gia đình: Theo bộ luật Hammurabi, người đàn ông (là người
chồng hoặc người cha) có một quyền lực tuyệt đối trong gia đình như quyền
được li hôn, lấy vợ lẽ. quyển bán vợ, bán con.. ;
3) Chế định về quyền thừa kế: Bộ luật Hammurabi đã thể hiện sự coi trọng và
bảo hộ quyền thừa kế của chủ sở hữu tài sản. Trong bộ luật Hanmurabi đã có
sự phân định các loại thừa kế - đó là thừa kế theo luật và thừa kế theo di
chúc. Chế định quyền thừa kế trong bộ luật này cũng đã có nhiều điểm tiến
bộ như các quy định về sự bình đẳng trong việc nhận thừa kế giữa con trai và
con gái, quy định về giới hạn của việc tước quyền thừa kế...;
4) Chế định luật hình sự: Chế định hình sự trong bộ luật Hammurabi thể hiện
tính hà khắc trong các quy định trừng phạt đối với người phạm tội. Vĩ dụ:
nguyên tắc trả thù công bằng, nguyên tắc trách nhiệm tập thể,... Cách thức
tiến hành hình phạt tử hình rất dã man như thiêu, đóng cọc... Bộ luật
Hammurabi đã áp dụng các quy định về phạt tiền đối với những người phạm
tội. Yếu tố lỗi (cố ý hay vô ý) cũng đã được viện dẫn để xác định mức độ của hành vỉ phạm tội.
2. Nội dung chính của Bộ luật Hammurabi
Bộ luật Hammurabi được ghi bằng văn tự hình đinh xưa nhất trên tấm đá
badan cao 2,25m và đường kính đáy gần 2m. Các nhà khảo cổ học Pháp đã
tìm thấy cột đá này vào năm 1902 ở di chỉ của thành phố Susa, kinh đô xưa
của người Elam (phía Đông Lưỡng Hà) và hiện được lưu giữ tại viện bảo
tàng Louvre (Pháp). Ở mặt trước và phía trên của tấm bia khắc mô tả hình
thần Mặt trời Samát ngồi trên ngai vàng trao cho vua Hammurabi đứng với tư
thế nghiêm trang trước thần bộ luật. Hammurabi đã ý‎ thức sâu sắc kết hợp
thần quyền, vương quyền và pháp quyền khiến bộ luật trở nên được “thiêng
hóa” nhằm đạt được mục đích cai trị dân chúng.
Bộ luật gồm 282 điều khoản nhưng chỉ còn lại trên tấm bia 247 điều khoản.
Năm cột gồm 35 điều luật có lẽ bị quân xâm lược Elam cạo đi. Quân Elam
đưa di tích này về Susa như là một chiến lợi phẩm. Nhờ những bản sao lại
mà các thư ký và các thầy kiện cổ Babylon dùng cho mục đích giảng dạy
cũng như trong thực hành xử kiện và nhờ nhiều tài liệu có liên quan tìm thấy
ở Susa và ảnh hưởng rộng lớn của bộ luật ở khắp miền Tây Á mà người ta
khôi phục lại được phần đã mất của bộ luật.
Về nguồn gốc, trong khu vực Lưỡng Hà, trước bộ luật Hammurabi đã có bộ
luật Sumer, bộ luật của Eshnunna, do đó, bộ luật Hammurabi là sự phát triển
tiếp tục và chép lại các điều luật thời cổ Sumer có ảnh hưởng mạnh mẽ tới
pháp chế Babilon. Bộ luật tỏ ra có hệ thống hơn so với các quyết án của
Sumer cổ, trong đó thấy được ý định của người viết luật là muốn thống nhất
những nhóm điều luật có nội dung giống nhau. Ngoài ra, bộ luật này còn có
nguồn gốc từ những quyết định của tòa án và các phán quyết của tòa án cao
cấp lúc bấy giờ và những mệnh lệnh, chiếu chỉ của nhà vua. Như vậy, bộ luật
Hammurabi không phải là một thể chế hay hệ thống luật đầy đủ; hơn nữa nó
là sự sưu tập những luật và chiếu chỉ mà Hammurabi cho rằng cần được trình bày lại.
Về cơ cấu, bộ luật Hammurabi bao gồm gần 300 phần được cấu kết kỹ càng
hơn bất kỳ bộ luật nào trước đó mà chúng ta được biết, bao gồm ba phần
chính: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Phần mở đầu của bộ luật khẳng định rằng đất nước Babilon là một vương
quốc do các thần linh tạo ra. Và chính các thần linh này đã trao đất nước cho
vua Hammurabi để thống trị, làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ.
Hammurabi kể công lao của mình đối với đất nước: “vì hạnh phúc của loài
người, thần Anu (thần Trời) và thần Enlin (thần Đất) đã ra lệnh cho trẫm,
Hammurabi một vị vua quang minh và ngoan đạo, phát huy chính nghĩa ở đời,
diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không
hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần Samát (thần Mặt Trời, ánh
sáng và xét xử), soi đến dân đen, tỏ ánh sáng khắp mặt đất”. Vượt ra khỏi
hạn chế lịch sử, giá trị xã hội của bộ luật được thể hiện ngay ở mục đích ban
hành luật “để cho người mạnh không hà hiếp kẻ yếu, để cho những người cô
quả có chỗ nương tựa ở thành Babilon, nơi mà thủ lĩnh của nó được thần
Anu và thần Enlin khen ngợi, ở đền Exajin mà nền móng của nó lâu bền cùng
với trời đất, để cho tòa án trong nước tiện việc xét xử, để cho sự tuyên án
trong nước tiện việc quyết định, để cho những kẻ bị thiệt thòi được trình bày
chính nghĩa, trẫm khắc những lời vàng ngọc của trẫm lên cột đá của trẫm
trước bức tượng của trẫm cũng tức là bức tượng của một vị vua công bằng”.
Đây là giá trị nhân văn cao cả của bộ luật mà không phải tất cả các bộ luật
thời cổ đại ở phương Đông đều có được.
Phần nội dung chứa đựng 282 điều luật – đây là phần chủ yếu của bộ luật.
Nội dung của bộ luật chưa phân chia thành từng ngành luật riêng biệt, nhưng
tác giả của bộ luật đã có ý thức sắp xếp các điều khoản ra từng nhóm riêng
theo nội dung của chúng. Điều này thuận tiện cho việc tìm hiểu và xét xử.
Luật Hammurabi là một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới dạng luật hình,
bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực, chủ yếu là những
quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích của giai cấp thống trị. Phần nội dung, bộ
luật tập trung điều chỉnh bốn lĩnh vực chủ yếu là dân sự, hình sự, hôn nhân
gia đình và tố tụng nhưng không có sự tách rời giữa các lĩnh vực. Các qui
phạm của luật Hammurabi cũng giống như các bộ luật khác ở phương Đông
là mang tính hàm hỗn, các điều luật đều kèm theo chế tài. Ở mỗi nội dung
của điều luật đều chứa đựng những điểm tiến bộ và hạn chế so với luật pháp
của các quốc gia cổ đại khác.
Trong phần kết luận, Hammurabi đề cao công lao của mình trước nhân dân,
kêu gọi những ông vua kế tục đền ơn và thực hiện những điều luật của
Hammurabi: “Đây là pháp luật do đức vua Hammurabi bách thắng đặt ra để
đem lại hạnh phúc cho chân chính và đặt nền thống trị nhân từ trong nước”.
“Từ nay đến ngàn đời sau, các vua trong nước phải tuân theo những lời
chính nghĩa của trẫm đã khắc trên cột đá của trẫm, không được thay đổi việc
xét xử do trẫm đã quyết định”. Đồng thời, Hammurabi tuyên bố sẽ trừng trị tất
cả những ai xem thường và có ý định hủy bỏ bộ luật. Điều đó phần nào
chứng tỏ vai trò to lớn của bộ luật này đối với sự phát triển toàn thịnh của đất
nước Lưỡng Hà thời Babylonia.
3. Nét đặc trưng của Bộ luật Hammurabi
Đánh dấu hoạt động pháp điển hóa đầu tiên, sớm nhất trong pháp luật
thế giới. Do chính hoàng đế tổ chức biên soạn.
Nền kinh tế hàng hóa Lưỡng Hà xuất hiện sớm và phát triển vào bậc nhất ở
phương Đông cổ đại nên luật pháp Lưỡng Hà cũng phát triển nổi trội hơn so
với các vùng khác. Ngày nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiển thấy một văn
bản pháp luật Lưỡng Hà – đó là những văn bản về mua bán ruộng đất và một
vài bộ luật. Trong đó, Bộ luật Hammurabi có giá trị lớn nhất, nó được soạn
thảo vào triều đại Hammurabi (1894-1594 TCN).
Bộ luật này được soạn thảo do chính hoàng đế Hammurabi – người đã thiết
lập bộ máy chính quyền của một nhà nước trung ương tập quyền chuyên chế. Tổ chức nhà nước
Babilon đồ sộ, quy củ nhất trong lịch sử Lưỡng Hà cổ đại.
Bộ luật này được chia làm ba phần chính rõ ràng, tổng hợp tất cả các quy
phạm trong mọi lĩnh vực. Khác với Bộ luật Manu chỉ tổng hợp các quy phạm,
tín điều tôn giáo do tầng lớp tăng lữ biên soạn. Bộ luật Manu này gồm 12
chương, 2685 Điều. Thực chất Bộ luật này là những luật lệ, tập quán pháp
của giai cấp thống trị được các trường thần học Bàlamon tập hợp lại cà viết
thành trường ca. Từ đây thấy được giá trị của Bộ luật Hammurabi có nhiều
điểm tiến bộ hơn, so với đó thì Ai Cập chưa có một Bộ luật nào.
Tiếp đến đó là hoạt động pháp điển hóa diễn ra khá đa dạng.
Các lĩnh vực, phạm vi điều chỉnh của Bộ luật này rất rộng, bao trùm lên hầu
hết các quan hệ xã hội. Phần nội dung là phần chủ yếu của Bộ luật. Nội dung
Bộ luật bắt đầu từ sự kế thừa những bộ luật trước đó của nhiều quốc gia
Lưỡng Hà, cụ thể là những pháp điều của người Xume (chủ nhân của những
quốc gia đó). Bộ luật còn chứa đựng những luật lệnh của vua Hammurabi và
nhiều quyết định của Tòa án cao cấp bấy giờ. Bộ luật gồm 282 điều khoản cụ
thể, trong đó, điều đầu tiên của Bộ luật quy định thủ tục kiện cáo, cách xét xử
tức là thủ tục tố tụng. Tiếp đó là những quy định về hình phạt của tội trộm cắp,
bắt cóc nô lệ; về quyền và nghĩa vụ của binh lính; quyền lợi của người lính
canh ruộng đất; Tội sử dụng bừa bãi nguồn nước, tội để súc vật tàn phá hoa
màu; Các hình thức cho vay lãi nô lệ vì nợ cũng được quy định rất cụ thể.
Sau đó, Bộ luạt dành nhiều khoản về việc gả bán con gái, về gia đình, về các
hình thức trị tội khi làm tổn hại đến thân thể người khác; hình phạt đối với tộ
thủ tiêu dấu trên mặt nô lệ, trách nhiệm và tiền công của những người làm
thuê trong xây dựng, trong nông nghiệp, chăn nuôi, thủ công nghiệp. Cuối
cùng là những điều khoản về mua bán nô lệ.
Như vậy, luật Hammurabi điều chỉnh khá rõ ràng các mối quan hệ xã hội thời Babilon cổ.
Ngoài ra, trong quá trình biên soạn còn chú ý đến cả việc sắp xếp điều khoản,
điều chỉnh các quan hệ giống nhau ở liền nhau. Tuy là chưa có sự phân chia
thành những ngành luật như hiện nay nhưng tác giả của bộ luật đã có ý thức
sắp xếp các điều khoản thành từng nhóm riêng theo từng loại quan hệ xã hội
trong lúc bấy giờ. Qua các điều khoản đó, có thể chia thành những chế định
sau: chế định hợp đồng; chế định hôn nhân và gia đình; chế định về thừa kế;
những chế định hình sự, những chế định tố tụng. Mỗi một chế đình đều quy
định rõ các điều khoản, các trường hợp xảy ra. Ví dụ trong chế định hợp đồng
thì phân chia thành hợp đồng mua bán, hợp đồng vay mượn và hợp đồng
lĩnh canh ruộng đất. So với bộ luật Manu thì các chế định này đầy đủ và rõ
ràng hơn, các quy tắc, điều luật về nội dung vẫn có nhiều điểm tiến bộ hơn.
Bộ luật Hammurabi thể hiện kĩ thuật lập pháp khá cao.
Điểm nổi bật trong kĩ thuật lập pháp của bộ luật là không của luật pháp có xu
hướng hình sự hóa tất cả cacá quan hệ pháp luật. Đây cũng chính là điểm
khác biệt của luật pháp triều đại Hammurabi Lưỡng Hà với thời Tây Chu
phong kiến. Trong pháp luật Tây chu thiên về hình luật.
Nghiên cứu về bộ luật Hammurabi, có ý kiến cho rằng đây là “một bộ luật
tổng hợp dưới dạng hình luậ
t” .Có thể khẳng định không phải vì những lí do sau đây:
Thứ nhất: Trong tổng số 247 điều còn đọc được của bộ luật có đến một nửa
số điều luật này không liên quan tới hình luật. Quy phạm pháp luật chứa
đựng trong các điều luật này là quy phạm điều chỉnh chứ không phải là quy
phạm bảo vệ. Các điều luật trong nhóm này thường không có phần chế tài.
Thứ hai: ngay cả đối với những điều luật có quy định chế tài đó cũng không
rõ rệt là chế tài của luật hình sự. Chính vì lý do này ta không thể khẳng định
tất cả các quy phạm pháp luật trong Bộ luật Hammurabi đều là quy phạm lụât hình sự.
Tiếp theo thấy được sự tiến bộ rõ nét trong các nhà làm luật đã biết dự liệu
liên quan tới nhau. Điển hình là từ điều 26 tới điều 32. Đây là một hệ thống
đặt ra các quy tắc có liên quan tới nhau, dự liệu các trường hợp có thể xảy ra
và đề ra những hình phạt theo từng mức độ phạm tội một cách đúng đắn.
Bộ luật Hammurabi cũng có sự kế thừa từ các bộ luật thành văn trước đó. Từ
đây thể hiện rõ ràng về tính chất, sự nhất quán trong tư tưởng thần quyền
pháp chế. Đồng thời ở bộ luật này đã có sự kết hợp hài hóa việc bảo lưu các
yếu tố truyền thống với Nhà nước. Điển hình nhất trong các quy định điều
chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình. Các quan hệ thứ bậc trong gia đình,
quan hệ cha mẹ – con cái.. cũng được chú trọng. Khi nói về quan hệ giữa cha
mệ và con, Điều 168 Bộ luật này quy định:
Nếu người cha muốn từ đứa con của mình. Ông ta nói với thẩm phán: “Tôi từ
đứa con tôi”. Thẩm phán sẽ phải điều tra tường tận vụ việc. Nếu đứa con
không mắc phải trọng tội dẫn đến việc cắt đứt quan hệ máu mủ. Thì người cha không thể từ con”.
Truyền thống, tư tưởng chủ đại của pháp luật Lưỡng Hà cổ đại là bảo tồn tính
bền vững của gia đình, đề cao đạo đức xã hội. Vì thế bộ luật Hammurabi đã
kế thừa, nâng cao truyền thống ấy lên, đưa ra những quy định phù hợp.
Trong bộ luật này thì mức độ điều chỉnh của nó cũng được biểu hiện bằng
các dẫn chứng, tình tiết cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng trong thực tiễn cuộc sống.
Luật tư trong Bộ luật này rất phát triển, nó điều chỉnh quan hệ giữa các cá
nhân với nhau mà ở các bộ luật khác chưa xuất hiện. Đây là một điểm tiến bị vượt trội.
Ví dụ: Trong những quy định điều chỉnh quan hệ lao động nhìn chung các vấn
đề liên quan ở đây chỉ là tiền công trả chi người lao động, mối quan hệ giữa
người lao động và người thuê lao động. Có thể thấy rằng quan hệ giữa các
cá nhân được hình thành.
Bộ luật có nhiều tư tưởng mang tính thời đại tiến bộ.
Bộ luật Hammurabi có nhiều quy định mang tính chất tiến bộ vượt thời đại, có
giá trị lâu bền cùng với thời gian. Bộ luật là nguồn tài liệu phong phú cho
phép người hiện đại hiểu biết hơn về lịch sử, phong tục, tập quán và nhiều
mặt khác của một xã hội cổ xưa.
Bên cạnh việc bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị, pháp luật cũng bảo vệ
những người yếu thế, được xem như là một nguyên tắc pháp luật tiến bộ.
Ngay ở phần mở đầu của bộ luật Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã
trao đất nước cho nhà vua thống trị “Khi mác đúc cử ta thống trị muôn dân
một cách công bằng, chính nghĩa truyền khắp đất nước và tạo ra hạnh phúc
cho nhân dân”. Thể hiện nguyên tắc này, bộ luật ngăn cấm hành vi xâm phạm
thân thể của người phải vào nhà người khác làm con tin để gán nợ, giới hạn
thời gian làm con tin chỉ trong ba năm, quy định là tội phạm ngay cả đối với
những hành vi xâm phạm đến nô lệ, quy định cho phép con nợ được hoãn trả
nợ trong một năm nếu như năm đó bị mất mùa, quy định việc bảo vệ quyền
lợi của con chưa thành niên, con nuôi cũng phải được ngang quyền với con đẻ.
Đặt trong bối cảnh có nhiều áp bức bất công, những quy định này như thế
thực sự có nhiều ý nghĩa tiến bộ mang tinh thần nhân đạo sâu sắc.
Không những tiến bộ trong nguyên tắc này, bộ luật Hammrabi còn có những
tiến bộ hơn trong việc áp dụng các hình phạt. Có thể thấy rằng nhà làm luật
thời đó đưa ra cả một hệ thống chế tài hình sự để đối phó với từng loại tội
phạm, ở những mức độ nặng nhẹ khác nhau. Nhưng đối với các hình phạt
nặng thì đối tượng áp dụng với nó rất hạn chế.
Không dừng ở đó, bộ luật Hammurabi còn có những quy định trách nhiệm
hình sự, vấn đề miễn trách nhiệm hình sự cũng được đề cập. Cụ thể biểu
hiện trong các Điều 20, Điều 129, Điều 227 của bộ luật. Đồng thời có sự phân
biệt rõ ràng các chế định miễn trách nhiệm hình sự với trường hợp không có tội.
Có những quy định trong bộ luật này mà ngày nay trên pháp luật của các
nước có sự tiếp thu và chọn lọc.
4. Các điểm tiến bộ và hạn chế của bộ luật Hammrabi Về dân sự
Những điểm tiến bộ, đặc sắc nhất của bộ luật này chính là các qui định về
dân sự. Bộ luật đã đặc biệt chú ý‎ điều chỉnh quan hệ hợp đồng vì đây là quan
hệ phổ biến ở xã hội Lưỡng Hà cổ đại, có nhiều quy định không những tiến
bộ về nội dung mà còn chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp.
Về hợp đồng mua bán, luật quy định ba điều kiện bắt buộc đối với hợp đồng mua bán là:
Thứ nhất, người bán phải là chủ thực sự của tài sản (điều 7: Nếu dân tự do
mua của con hoặc nô lệ của dân tự do hoặc trữ giúp học cho họ bạc hoặc
vàng hoặc nô lệ, hoặc nữ nô lệ, hoặc bò, hoặc cừu, hoặc lừa, hoặc bất cứ vật
gì, mà không có người làm chứng hoặc giấy chứng nhận thì tức là ăn trộm, sẽ bị xử tử.)
Thứ 2, tài sản phải có giá trị sử dụng (Điều 108: Nếu mụ hàng rượu không
chịu lấy thóc khi bán rượu xikêramà lại dùng cân giả để lấy bạc và số lượng
rượu xikêra quy định lại thấp hơn số lượng thóc quy định thì mụ hàng rượu
đó bị tố giác và bị ném vào lửa).
Thứ 3, hợp đồng phải có người làm chứng (điều 7)
Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên thì hợp đồng không có giá trị. Người vi
phạm những quy định này sẽ bị xử phạt rất nặng, có khi phải đánh đổi bằng
cả mạng sống. Quy định này rất tiến bộ và chặt chẽ, bảo vệ quyền lợi cho
người mua và tránh gian lận trong buôn bán. Điều này thể hiện rõ giá trị thực
tiễn cao trong các quy định của bộ luật.
Về hợp đồng vay mượn, luật quy định mức lãi suất khác nhau đối với từng
loại: vay thóc và vay tiền (Điều 89: Nếu tamca cho vay thóc hoặc bạc lấy lãi,
thì mỗi guru (1 guru= 121 lít) có thể lấy lại 100 ca thóc (1 ca= 0,4 lít đến 0,8
lít). Nếu cho vay bạc trắng thì mỗi xikhơ bạc (1 xikhơ = 8 cm3 = 180 sêun, 1
sêun = 1.05 cm3) có thể lấy lại 1/6 và 6 sêun). Nếu người cho vay lấy lãi xuất
cao hơn mức quy định thì sẽ mất vật cho vay (Điều 91: Nếu tamca không
tuân theo quy định là thóc thì mỗi guru lấy lại 100 ca, bạc trắng thì mỗi xikhơ
lấy lại 1/6 xikhơ và 6 sêun mà tăng thêm lợi tức thì người này bị mất vật đã
cho vay). Luật cũng quy định, khi cho vay, dùng thân thể con người làm vật
bảo đảm hợp đồng. Quy định này được thể hiện ở điều 115, 116, 117 như:
“Nếu dân tự do là chủ nợ của một người dân tự do khác, và giữ con tin của
người này, mà người làm con tin vì số mệnh mà chết ở nhà người giữ mình
làm con tin, thì việc đó không thể làm căn cứ để tố cáo. Mức quy định lãi xuất
đối với hợp đồng vay nợ là 1/5 đối với tiền, vay thóc là 1/3”. Đây là những quy
định tiến bộ, một phần bảo vệ quyền lợi của người đi vay, một phần đảm bảo
cho việc vay mượn được công bằng, tránh hiện tượng cho vay nặng lãi,
không phù hợp với giá trị của vật cho vay. Nhưng trên thực tế, những ông
chủ (chủ yếu là tầng lớp thương nhân) cho vay thường đẩy cao mức lãi xuất
cho vay, có khi lên đến 20%. Hiện tượng cho vay nặng lãi đã khá phổ biến ở
Lưỡng Hà. Đó cũng là nguyên nhân thúc đẩy thương nghiệp ở Lưỡng Hà
phát triển hơn các quốc gia khác.
Về hợp đồng lĩnh canh ruộng đất, luật quy định mức thu tô đối với từng loại
lĩnh canh: vườn và ruộng. Đối với những vườn trồng cây chà là, người trồng
vườn phải nộp 2/3 số thu hoạch trong vườn mà mình quản lý cho chủ vườn,
còn mình được 1/3 (điều 64). Đối với đất ruộng thì căn cứ theo thu hoạch để
thu tô 1/2 hay 1/3 thì thu hoạch của ruộng đất sẽ do nông dân và chủ ruộng
căn cứ theo tỉ lệ đã định để chia nhau (điều 48). Ngoài ra, điều 42, 43,44 của
luật cũng quy định trách nhiệm của người lĩnh canh trong trường hợp không
chuyên cần canh tác: Nếu không cày cấy mà để ruộng bỏ hoang, thì người
này phải căn cứ theo người bên cạnh để nộp thóc cho chủ ruộng và còn phải
cày bừa ruộng đã bỏ hoang cho bằng phẳng rồi trả lại cho ruộng. Quy định
này đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp được đều đặn, tránh hiện tượng bỏ
hoang ruộng đất, bởi sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo của
không chỉ Lưỡng Hà mà còn của hầu hết các quốc gia cổ đại phương Đông
khác. Do đó, luật pháp cũng đã có nhiều quy định đối với những việc liên
quan đến phát triển sản xuất nông nghiệp. Dân tự do mà gây thiệt hại cho
hoa màu thì đều phải bồi thường tất cả những thiệt hại do mình gây ra, nhất
là những người không chịu chăm lo cho công tác thủy, bởi thủy lợi là vấn đề
sống còn đối với cư dân nông nghiệp. Công tác thủy lợi không chỉ là công
việc của nhà nước mà còn là việc của toàn dân. Nhà nước có trách nhiệm
sửa chữa, tu bổ và phát triển các công trình thủy lợi, nhân dân có trách nhiệm
bảo vệ và trông coi. Ai cố tình vi phạm sẽ bị xử lí, bồi thường, nếu không có
tài sản thì phải bán thân để bồi thường thiệt hại do họ gây ra. Quy định này
được thể hiện ở điều 53, 54, 55, 56: “Nếu dân tự do lười biếng không chịu
củng cố đê đập bên ruộng của mình, do đó đê đập bị vỡ, nước ngập ruộng
đất cày cấy (của công xã), thì người dân tự do có đê đập bị vỡ đó phải bồi
thường số hoa màu đã bị thiệt hại”. Nhờ những quy định đầy đủ và chặt chẽ
này, sản xuất nông nghiệp ở Lưỡng Hà không ngừng phát triển, sản phẩm
sản xuất ra không những đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn có dư thừa cho xuất khẩu.
Về hợp đồng gửi giữ, luật quy định khi gửi giữ phải có người làm chứng, nếu
không người nhận giữ sẽ bị coi là ăn trộm và xử tử, đồng thời quy định mức
thù lao gởi giữ (Điều 121: Dân tự do gửi thóc ở nhà dân tự do, thì mỗi năm
cứ mỗi guru thóc phải nộp 5 ca thuế kho).
Như vậy, những quy định về quan hệ hợp đồng đã thể hiện sự chặt chẽ và
tiến bộ của bộ luật, góp phần bảo vệ tài sản của cư dân trong xã hội và thúc
đẩy sản xuất phát triển. Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu vẫn đặt ra câu hỏi là
vì sao kỹ thuật xây dựng luật pháp của Lưỡng Hà lại đạt đến sự hoàn thiện
đến thế. Bởi trong các chế định về hợp đồng, so với luật pháp hiện đại, người
ta chỉ thấy thiếu một loại hợp đồng duy nhất là hợp đồng bảo hiểm. Điều đó
thể hiện trình độ kỹ thuật luật pháp khá cao của Lưỡng Hà.
Tuy nhiên, các chế tài của hợp đồng thường là các chế tài hình sự (hình phạt)
khá khắc nghiệt. Bộ luật quy định nếu người bán bị người làm chứng tố cáo
vật bán là của người khác thì sẽ bị tử hình. Ngược lại, nếu có người nhận vật
bán là của mình bị mất nhưng không có người làm chứng thì người nhận đó
cũng bị tử hình và luật cho rằng đấy là tội vu khống (điều 9 và điều 11). Qua
đó có thể thấy luật bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị. Những kẻ giàu có cho
vay mượn, thuê mướn luôn luôn được pháp luật bảo vệ, còn nhân dân lao
động nghèo khổ là đối tượng trừng trị của pháp luật. Cho nên, đời sống của
nhân dân ở tất cả các thời kỳ đều khổ cực như nhau. Pháp luật là do giai cấp
thống trị đặt ra để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị, còn nhân dân lao
động hầu như không được bảo vệ mà luôn là đối tượng bóc lột chủ yếu của
nhà nước. Đây là điểm hạn chế của luật Hammurabi cũng như của tất cả các
bộ luật khác trên thế giới khi xã hội vẫn còn sự phân chia giai cấp.
Chế định hôn nhân và gia đình
Hammurabi không chỉ quan tâm đến sự đền tội khắt khe. Trong số những quy
định tiến bộ nhất trong bộ luật của ông là những luật về gia đình. Luật về hôn
nhân và gia đình gồm 66 điều rất chi tiết về kết hôn, thoái hôn, ly hôn, vợ cả,
vợ lẽ, vợ kế, nàng hầu, con nuôi kế thừa tài sản cha mẹ, dì chú… Điểm tiến
bộ đầu tiên trong luật về hôn nhân và gia đình là quy định thủ tục kết hôn phải
có giấy tờ. Mục đích của thủ tục này chủ yếu nhằm bảo vệ quyền lợi của
người vợ khi người vợ hay người chồng đòi ly dị. Quy định này là một bước
phát triển sớm trong nền văn minh Lưỡng Hà mà không phải quốc gia cổ đại
phương Đông nào cũng có. Ở Ấn Độ cổ đại, từ “cưới vợ” đồng nghĩa với từ
“mua vợ”, cuộc hôn nhân đó không có gì đảm bảo cho người phụ nữ và
người chồng Ấn Độ có toàn quyền đối với người vợ của mình. Ngay ở một số
khu vực của nước ta hiện nay, vấn đề đăng ký‎ kết hôn vẫn chưa được coi trọng.
Một quy định rất nhân đạo khác đặt trong hoàn cảnh lúc bấy giờ là: “Người
chồng không được bỏ vợ khi biết người vợ mắc bệnh phong hủi”. Với những
trường hợp vợ mắc các bệnh khác, người chồng có thể lấy vợ khác nhưng
vẫn phải cấp dưỡng cho vợ trước và nếu muốn, người vợ có thể rời khỏi nhà
chồng và giữ lại của hồi môn của mình nghĩa là phần đóng góp của gia đình
nhà gái khi cho con đi lấy chồng. Một người đàn ông góa vợ không được giữ
và tiêu xài của hồi môn của người vợ quá cố mà phải để lại cho các con trai
của mình. Nhưng một quả phụ lại có thể giữ của hồi môn của mình.
Hammurabi đã quy định vấn đề hôn nhân thật tỉ mỉ, rõ ràng là ông muốn bảo
đảm một cuộc sống ổn định cho những thế hệ tương lai. Ông đã xử lý sự bội
ước bằng cách quy định rằng: nếu một người đàn ông đã đưa tiền thách cưới
cho cha vợ tương lai và sau đó lại quyết định không cưới cô gái đó nữa, cha
cô gái có thể giữ lại tiền thách cưới đó. Nếu một người đàn ông muốn ly dị
người vợ không sinh được con, anh ta có thể làm được điều này nhưng phải
hoàn trả của hồi môn và cho cô ta một khoản tiền bằng số tiền thách cưới
(điều 138). Như vậy, luật đã quan tâm bảo đảm đời sống cho những người vợ
không có con, dành cho họ những điều kiện sống tối thiểu để không bị bạc
đãi, không bị tước bỏ quyền sống. Điều đó chứng tỏ, Hammurabi đã công
khai thừa nhận vị thế dễ bị tổn hại của phụ nữ và trẻ em trong xã hội và đã
quan tâm chăm sóc, bảo vệ họ. Quan điểm này của Hammurabi vì vậy mang
giá trị nhân văn rất sâu sắc.
Tuy nhiên, bộ luật này không hẳn là một tài liệu tiến bộ. Một số quyết định
trong bộ luật này phản ánh một tiêu chuẩn kép về giới tính. Gia đình gia
trưởng giữ một ý nghĩa lớn trong xã hội Babylon cổ. Người phụ nữ có địa vị
thấp kém. Theo điều khoản 129 của bộ luật, người chồng là ông chủ, nghĩa là
kẻ chiếm hữu đầy quyền hành đối với vợ mình. Người chồng mua vợ về như
mua một nô lệ. Nếu không có con, người chồng có quyền ly dị, bán vợ hoặc
lấy vợ lẽ. Khi phạm tội ngoại tình, chồng và vợ chịu những hình phạt khác
nhau. Nếu bắt được vợ ngoại tình thì người chồng có quyền trói vợ và nhân
tình của vợ ném xuống sông cho chết. Ngược lại, nếu người chồng không
chung thủy thì người vợ có thể lấy của hồi môn và trở về với cha mẹ mình.
Không có chỗ nào trong bộ luật này lại phát biểu rằng một người chồng sẽ
phải chịu hình phạt giống như vậy nếu anh ta không trung thành với vợ. Các
bản giá thú hồi đó còn cho thấy nếu người vợ chê chồng thì người chồng có
thể đóng dấu nô lệ vào người vợ rồi mang đi bán. Một bức minh văn còn cho
thấy rằng, người cha, người chồng cò quyền không giới hạn đối với gia đình
mình. Một văn kiện có nói một người tên là Samat Daian đã bán tất cả thành
viên trong gia đình gồm vợ, con và các nô lệ nam, nữ để lấy tiền trả chủ nợ.
Anh ta đã bảo vệ quyền tự do của mình bằng một giá cao như thế.
Như vậy, giống như các bộ luật khác của các nước phương Đông cổ đại, bộ
luật Hammurabi đã bênh vực quyền lợi cho người đàn ông và bảo vệ chế độ
gia trưởng uy quyền độc đoán. Điều ấy chứng tỏ, xã hội Lưỡng Hà có sự bất
bình đẳng khá sâu sắc giữa quyền lợi và địa vị của người đàn ông và phụ nữ.
Về chế định thừa kế tài sản
Theo quan điểm của Ăng- ghen: “là sự chuyển dịch tài sản của người chết
cho người còn sống”. Quyền thừa kế là quyền thừa hưởng tài sản của người
chết để lại theo một trình tự do pháp luật quy định. Pháp luật cho phép những
người thừa kế được hưởng di sản, đồng thời buộc họ phải thực hiện những
nghĩa vụ tài sản của người chết. Luật Hammurabi phân làm hai hình thức
thừa kế: thừa kế theo luật pháp và thừa kế theo di chúc. Ở thời kỳ đầu, hình
thức chủ yếu là thừa kế theo luật, sau đó thừa kế theo di chúc trở thành phổ biến hơn.
Thừa kế theo di chúc: Di chúc là ý chí chủ quan của người có tài sản định
đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo luật gia Ulpian thì:
“Di chúc là sự thể hiện ý chí của chúng ta và ý chí đó được thực hiện sau khi
chúng ta chết”. Bộ luật đã hạn chế quyền tự do của người viết di chúc như
qui định người cha không được tước quyền thừa kế của con trai nếu người
con mới phạm lỗi lần đầu và lỗi không nghiêm trọng.
Thừa kế theo pháp luật: Trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc vô
hiệu thì di sản của người chết để lại được chia theo luật, tài sản được chuyển
đến cho những người có quyền đối với tài sản đó theo luật định. Thời gian
đầu, tài sản tập trung ở dòng họ và dần dần được chuyển về gia đình có
quyền thừa kế và thành tài sản chung của gia đình.
Nếu trong pháp luật của một số quốc gia cổ đại phương Đông khác, quyền
thừa kế chỉ thuộc về con trai thì trong luật pháp Lưỡng Hà, con trai, con gái
đều được hưởng quyền thừa kế ngang nhau. Đây có thể coi là một sự bình
đẳng ít ỏi về giới ở Lưỡng Hà. Luật pháp- công cụ thể hiện tinh thần cai trị
của nhà nước đã quan tâm tới quyền lợi và đời sống của người con gái khi
cha mẹ mất. Điều 170 quy định: “Nếu người vợ chính thức của dân tự do sinh
con cái cho y, nữ nô lệ của y cũng sinh con cái cho y và khi người cha đang
sống nói những đứa con do nữ nô lệ sinh ra là “con của tôi- coi những đứa
con đó ngang hàng với những đứa con của người vợ chính thức thì sau khi
người cha chết, những đứa con của người vợ chính thức và những đứa con
của người nữ nô lệ phải cùng nhau chia đều gia tài của cha. Khi chia tài sản,
con của người vợ chính thức được ưu tiên chọn phần của mình”. Tất cả đều
đã quy định rất chi tiết với mục đích bảo đảm quyền thừa kế của người con
theo đúng vị trí của họ trong quan hệ với người cha. Về hình sự
Lĩnh vực hình sự là lĩnh vực thể hiện rõ nhất tính giai cấp và sự bất bình đẳng.
Một nguyên tắc xuyên suốt và thể hiện rõ trong bộ luật là nguyên tắc bảo vệ
quyền lợi, địa vị của người chồng, người cha trong gia đình. Bộ luật đã thể
hiện địa vị thấp kém và dễ bị xâm hại của người phụ nữ ở xã hội Lưỡng Hà
cổ đại. Về vấn đề này, chế định về hôn nhân và gia đình đã thể hiện khá rõ nét.
Chế định hình sự cũng bảo vệ các quan hệ xã hội như: quyền sở hữu, bảo vệ
chế độ nô lệ, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người. Hammurabi đã
công nhận ba giai cấp xã hội: giới thượng lưu (một trong những dòng họ có
ruộng đất từ lâu đời), giới công dân tự do không có ruộng đất và giới nô lệ.
Luật nghiêm khắc trừng phạt kẻ nào xúc phạm đến người tự do, đặc biệt là
người có địa vị cao. Theo như điều 202: “nếu một kẻ nào đó tát vào mặt một
người có địa vị cao, thì kẻ ấy phải mang ra trước công chúng đánh 50 roi”.
Những hình phạt khác nhau dành cho các hành vi khác nhau cũng không
đồng bộ giữa các giai cấp và tầng lớp người trong xã hội, hơn nữa chúng
khác nhau tùy theo địa vị của tội nhân. Đôi khi bộ luật cho phép bồi thường
bằng tiền thay cho nhục hình. Thí dụ “Nếu một người phá hỏng mắt của
người khác, người ta phá hỏng mắt của hắn”, “ Nếu một người phá hỏng mắt
của một nô lệ, hắn chỉ phải bồi thường nửa giá cho tên nô lệ”. Chế tài phạt
tiền cũng được áp dụng, mức tiền phạt tùy vào địa vị xã hội của các đương sự.
Một điều đáng chú ý trong bộ luật Hammurabi là sự kết hợp các quy cách của
tập quán cổ xưa, có nguồn gốc từ thời công xã thị tộc với các quy cách mới
của pháp luật chiếm hữu nô lệ. Một bộ phận của án quyết tử hình đã được
Hammurabi hợp pháp hóa. Theo điều 21, kẻ phạm tội đào tường ăn trộm cần
giết chết và mang chôn ngay trước chỗ hốc bị đào. Theo điều 25, kẻ ăn trộm
trong khi người ta đang chữa cháy cần phải ném vào đống lửa ngay ở nơi phạm tội.
Tàn dư của xã hội nguyên thủy còn tồn tại được thể hiện trong bộ luật là
nguyên tắc trả thù ngang bằng (đồng thái phục thù) hay còn gọi là “luật pháp
talion”, thậm chí cho phép trừng trị cả những người không liên quan đến tội
phạm. Nguyên tắc này chỉ căn cứ vào hậu quả xảy ra trên thực tế để áp dụng
trách nhiệm pháp l , chứ không xét trên phương diện mức độ lỗi và chủ thể
thực hiện hành vi vi phạm. Ví như điều 196: “Nếu dân tự do làm hỏng mắt
của con của bất cứ người dân tự do nào, thì phải làm hỏng mắt của y”. Điều
197: “Nếu y làm gãy xương của dân tự do, thì phải làm gãy xương của y”.
Các hình phạt thật khắc nghiệt, có thể nói là tệ hại nhất và luật đền tội thật
khắt khe giữa hai thành viên cùng giai cấp. Vì thế, mới có câu tục ngữ “mắt
đền mắt, răng đền răng” làm khẩu hiệu cho những nguyên tắc của
Hammurabi. Các hình thức của hình phạt thường rất dã man. Bằng phương
pháp thống kê, tác giả thấy trong luật Hammurabi có nhắc tới 32 trường hợp
xử tử hình. Bên cạnh đó,các hình phạt rất khắc nghiệt như chặt tay, chân,
dìm xuống nước, đóng đinh, thiêu…. Tính chất tương xứng trong trách nhiệm
pháp luật nhấn mạnh nhiều đến trừng trị đối nhân hoặc đối vật, mà chưa đề
cập đến tính giáo dục, hay tạo điều kiện để người vi phạm sửa chữa sai lầm.
Ngoài ra, bộ luật còn nêu ra trách nhiệm tập thể của các thành viên công xã
đối với nhà nước; quy định về trừng phạt kẻ giúp nô lệ chạy trốn, trừng phạt
những kẻ xâm phạm đến sở hữu của nhà vua, chủ nô; trừng phạt người quản
gia làm thất thoát tài sản của chủ bị ném cho dã thú xé xác. Tội lấy cắp gia
cầm hoặc các đồ dùng khác của chủ sẽ bị phạt từ 10 đến 30 lần giá trị thứ lấy
cắp. Nếu không nộp được phạt, kẻ lấy cắp sẽ bị giết.
Điểm tiến bộ trong lĩnh vực hình sự là luật đã manh nha phân biệt phạm tội vô
ý và phạm tội cố ý. Ví dụ luật ghi trong khi ẩu đả làm người chết, nếu kẻ làm
chết người chứng minh được rằng không cố ý‎ giết người thì sẽ không bị tử
hình, chỉ bị phạt. Đây là một trong những quy định khá khách quan trong xét
xử các vụ án hình sự. Điều này làm cho luật pháp mang tính chất công bằng hơn. Về tố tụng
Tố tụng là thủ tục giải quyết các vụ án. Bộ luật đã có nhiều qui định về thủ tục
bắt giữ, giam cầm, quy định những nguyên tắc khi xét xử như xét xử phải
công khai, phải coi trọng chứng cứ, phán quyết phải thi hành nghiêm minh…
Có hai quy định rất đặc thù về tố tụng của bộ luật này:
Thứ nhất là quy định về trách nhiệm của thẩm phán: “Nếu thẩm phán xử một
vụ kiện mà ra phán quyết bằng văn bản, nếu sau đó phát hiện lỗi trong văn
bản là do lỗi của thẩm phán, thẩm phán sẽ phải trả 12 lần giá trị phạt tiền mà
ông ta yêu cầu bồi thường trong vụ kiện, đồng thời ông ta sẽ bị buộc phải rời
khỏi ghế thẩm phán vĩnh viễn mà không bao giờ có thể trở thành thẩm phán
lần nữa”. Quy định về trách nhiệm của thẩm phán như vậy trong xã hội có thể
hiện sự tiến bộ sâu sắc. Quy định này khiến các thẩm phán phải làm việc
khách quan, thận trọng khi xét xử các vụ án. Qua đó có thể thấy, thời kỳ này
rất coi trọng công tác xét xử, coi trọng trách nhiệm xét xử công bằng của
thẩm phán. Sử sách đã ca ngợi rằng, ở Lưỡng Hà cổ đại, tinh thần thượng
tôn luật pháp và thói quen cầu viện công l đã ăn sâu vào tác phong sinh hoạt
của người dân nơi đây. Luật pháp của các quốc gia khác cũng cần học tập và
kế thừa quy định tiến bộ này của luật Hammurabi.
Thứ hai về hình thức xét xử: “Nếu một người kiện một người khác, bị đơn sẽ
phải đi đến một dòng sông và nhảy xuống, nếu anh ta bị chìm, bị dòng nước
cuốn đi, nguyên đơn sẽ sở hữu nhà của bị đơn. Nhưng ngược lại, dòng sông
chứng minh rằng bị đơn không có tội, tức anh ta sống sót, thì nguyên đơn sẽ
bị giết chết, và bị đơn sẽ sở hữu nhà của nguyên đơn”. Như vậy, hình thức
xét xử nhiều khi mang tính thần thánh (phụ thuộc vào thần linh). Thực tế cho
thấy rằng, người Lưỡng Hà cổ đại bất lực trước tự nhiên, bất lực trước việc
giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội, hơn nữa không phải lúc nào
cũng dễ dàng có được chứng cứ xác thực khi khoa học chưa phát triển. Vì
vậy, cách thức xử lý‎ có vẻ như bất bình thường kia lại trở nên rất dễ hiểu, dễ
hiểu đến mức bình thường và tự nhiên trong quan niệm, trong cách hành xử
của người dân Lưỡng Hà cổ đại. Họ tin rằng đấng tối cao đã sáng tạo muôn
loài, sáng tạo nên nhà nước và luật pháp nên họ chấp nhận điều đó và tin
rằng thần thánh mới là người công minh nhất và là người cho họ biết thế nào
là đúng, thế nào là sai, thế nào là công bằng hay không công bằng. Đây
không chỉ là niềm tin của người Lưỡng Hà mà còn là niềm tin của hầu hết cư
dân các quốc gia cổ đại phương Đông khác. Trong luật pháp của Ấn Độ cổ
đại, ta thấy hình thức xét xử có những điểm giống với luật pháp Lưỡng Hà
như lấy dầu sôi + phân bò hay rắn độc làm phép thử tội.
Bên cạnh những tiến bộ, đúng đắn, về hình thức bộ luật còn có một số hạn
chế nhất định như: Luật chưa có tính khái quát cao, các quy định của luật chỉ
là sự mô tả các hành vi cụ thể; Các điều khoản thường được quy định dài
dòng, các câu chữ trùng lặp với nhau; Đa số các điều khoản của bộ luật đều
liên quan đến hình luật, rất ít điều khoản quy định về các quan hệ dân sự
hoặc nếu có thì cũng bị hình sự hóa. Trong bộ luật này, chúng ta thấy hầu hết
các tội đều quy về tội tử hình, chưa tạo điều kiện cho những người phạm tội
có cơ hội sửa chữa sai lầm và trở lại hoàn lương.
Bộ luật xưa nhất mà ngày nay chúng ta biết đến đó là bộ luật của quốc vương
Babilon Hammurabi có ảnh hưởng tới pháp chế muộn nhất của những dân
tộc cổ phương Đông khác, đặc biệt là pháp chế cổ Do Thái đã được duy trì
trong kinh thánh. Mặc dù còn duy trì một vài tàn dư của tập quán pháp cổ của
chế độ thị tộc và mặc dù sự sưu tập còn thiếu hệ thống đã làm cho bộ luật có
một tính chất nguyên thủy rõ rệt, nhưng luật Hammurabi đã có nhiều yếu tố
mới của luật pháp chiếm hữu nô lệ. Luật pháp mới này khác xa với tập quán
pháp cổ xưa của thời đại thị tộc. Ý nghĩa to lớn của luật Hammurabi là ở chỗ
các yếu tố mới của luật pháp chiếm hữu nô lệ trên một chừng mực nhất định
đã thúc đẩy tiếp tục phá bỏ các vết tích của chế độ thị tộc và củng cố toàn bộ
chế độ chiếm hữu nô lệ nói chung.
5. Ý nghĩa của Bộ luật HAMMURABI
Hammurabi khẳng định lại mục đích của Bộ luật và tuyên bố sẽ trừng phạt bất
cứ ai vi phạm Bộ luật này: "Để cho kẻ mạnh không hà hiếp kẻ yếu; để cho
những người cô quả có thể nương tựa ở thành Babylon…; để cho sự tuyên
án trong nước tiện việc quyết định; để cho những kẻ thiệt thòi được trình bày
lẽ phải... Nếu kẻ nào thi hành triệt để bộ luật này thì sẽ được các thần phù hộ,
trái lại nếu người nào không nghiêm chỉnh thi hành hoặc sửa đổi bộ luật thì
sẽ bị thần linh trừng phạt".
Bộ luật Hammurabi là Bộ luật thành văn cổ nhất trên thế giới được tìm thấy,
là một trong những thành tựu có giá trị bậc nhất của lịch sử văn minh cổ đại.
Giá trị của Bộ luật này cho đến nay vẫn tiếp tục được nhiều nhà khoa học tập
trung nghiên cứu, khai thác và kế thừa. Bộ luật đã xây dựng rất công phu,
điều chỉnh và phản ánh một cách sinh động các hoạt động kinh tế, chính trị,
văn hoá xã hội của vương quốc Babylon. Bộ luật không chỉ có giá trị về
nghiên cứu pháp lý mà còn là nguồn cứ liệu lịch sử phong phú, quý giá để
nghịên cứu nền văn hoá Babylon - Lưỡng Hà cổ đại.
Bộ luật phản ánh các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của
vương quốc Babylon thời đó. Bộ luật không chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý mà
còn là nguồn tư liệu quý, phong phú cho người đời sau biết được những giá
trị vật chất và tinh thần thời ấy.
Bộ luật Hammurabi là bộ luật thành văn cổ nhất thế giới, là một trong những
thành tựu có giá trị bậc nhất của lịch sử văn minh cổ đại. Giá trị của bộ luật
này cho đến nay vẫn tiếp tục được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu,
khai thác và kế thừa. Nghiên cứu luật pháp thế giới nói chung và luật pháp
Việt Nam nói riêng, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và trân trọng những giá
trị lịch sử pháp lý của bộ luật. Mặc dù những quy định của bộ luật đã ra đời
cách đây gần 4000 năm nhưng vẫn chứa đựng những điểm tiến bộ và văn
minh mà luật pháp đương đại có thể kế thừa và phát huy. Chính điều đó đã
góp phần làm nên giá trị rực rỡ của nền văn minh Lưỡng Hà cổ đại.
Document Outline

  • Bộ luật HAMMURABI là gì? Tìm hiểu về Bộ luật HAMMU
    • 1. Khái niệm bộ luật HAMMURABI
    • 2. Nội dung chính của Bộ luật Hammurabi
    • 3. Nét đặc trưng của Bộ luật Hammurabi
    • 4. Các điểm tiến bộ và hạn chế của bộ luật Hammrab
    • 5. Ý nghĩa của Bộ luật HAMMURABI