



















Preview text:
ĐỊA LÝ THỦY VĂN NHÓM 10
Các đặc trưng hình thái và tài nguyên nước lưu vực Sông Mê Kông
Nguyễn Thị Kiều Trang - 11208097
Lê Thị Thùy Linh - 11202149 Ninh Minh Hoàng - 11201610
Trần Thị An Bình - 11204625 MỤC LỤC
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG VÀ HÌNH
THÁI LƯU VỰC....................................................................2
1. Đặc điểm địa lý............................................................2
2. Tài nguyên thiên nhiên.................................................2
3. Con người và sinh kế....................................................2
4. Các hoạt động phát triển..............................................3
II. TÀI NGUYÊN NƯỚC SÔNG MÊ CÔNG..................................4
1. Tài nguyên nước mặt....................................................4
2. Tài nguyên nước dưới đất lưu vực sông Cửu Long..........5
3. Diễn biến mưa..............................................................5
4. Chế độ dòng chảy tại các trạm Tân Châu và Châu Đốc....7
5. Cấp nước sạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long..............8
III. NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN TÀI NGUYỂN NƯỚC
LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG....................................................9
1. Tác động từ biến đổi khí hậu, thiên tai và từ các hồ đập
thuỷ điện.........................................................................9
2. Áp lực về gia tăng dân số và phát triển kinh tế – xã hội 11
IV. GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NGUỒN TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC
SÔNG MÊ CÔNG................................................................12
1. Về cấp vùng...............................................................12
2. Ở cấp quốc gia...........................................................13
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................14 Page | 1
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LƯU VỰC SÔNG MÊ
CÔNG VÀ HÌNH THÁI LƯU VỰC 1. Đặc điểm địa lý
Sông Mê Công dài 4.763 km bắt nguồn từ vùng núi cao
tỉnh Thanh Hải, theo suốt chiều dài tỉnh Vân Nam (Trung Quốc),
qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia trước khi vào
Việt Nam rồi đổ ra biển Đông. Lưu vực sông Mê Công có tổng
diện tích 810,000 km2 trong đó phần nằm trên lãnh thổ của bốn
quốc gia Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam là Hạ lưu vực, chiếm trên 77%.
Mê Công là con sông dài thứ 10 trên thế giới và lớn thứ 12
về tổng lượng dòng chảy hàng năm (đạt khoảng 425 tỷ m3)
(Theo số liệu của Ủy hội sông Mê Công quốc tế thì giá trị này
trước đây là 475 tỷ m ). 3
Việt Nam có hai vùng thuộc lưu vực sông Mê Công đó là
lưu vực sông Cửu Long và lưu vực sông Sê San – Srêpốk. 2. Tài nguyên thiên nhiên
Ngoài nguồn tài nguyên nước, lưu vực sông Mê Công có
tính đa dạng sinh học rất cao, chỉ xếp sau lưu vực sông Amazon
ở Nam Mỹ. Dòng chảy sông Mê Công nuôi dưỡng nhiều vùng
đất ngập nước đa dạng, đa chức năng trong lưu vực Mê Công và
duy trì các giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội và sinh thái đặc trưng.
Đất ngập nước có vai trò quan trọng: là nguồn sống của người
dân địa phương, tạo môi trường thuận lợi cho nông nghiệp,
đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, sản xuất hàng hóa và phát
triển du lịch. Ngoài ra, các vùng đất ngập nước tự nhiên còn
mang lại các lợi ích khác như giảm thiểu lũ, trữ nước và làm sạch môi trường.
Những cánh rừng rộng lớn trong lưu vực sông Mê Công là
môi trường sinh sống cho hàng ngàn loài động thực vật. Các hệ
sinh thái rừng ở lưu vực này rất phong phú với các khu rừng
xanh, rừng trên núi, rừng cây rụng lá, cây bụi, cây lấy gỗ và
rừng đước. Rừng cung cấp vật liệu xây dựng và các sản phẩm
ngoài gỗ là nguồn thu nhập quan trọng của người dân nông
thôn và nguồn thị trường các sản phẩm động, thực vật như thức
ăn, dược liệu và các loại khác. Page | 2
Hạ lưu vực sông Mê Công là một trong những vựa cá nước
ngọt lớn nhất trên thế giới với khoảng 850 loài cá và sản lượng
khoảng 4 triệu tấn mỗi năm. Vựa cá này là nguồn cung cấp
protein động vật phong phú cho cư dân lưu vực. 3. Con người và sinh kế
Hạ lưu vực sông Mê Công là “ngôi nhà” của hơn 60 triệu
người với trên 100 dân tộc khác nhau tạo thành một trong
những vùng đa dạng văn hoá nhất trên thế giới. Khoảng 85%
dân cư trong lưu vực là nông dân và ngư dân sống dưới mức
nghèo. Mức sống bình quân của người dân trong lưu vực thấp
hơn người dân nằm ngoài lưu vực của quốc gia mình.
Nông dân trong lưu vực Mê Công đã canh tác ruộng nước
từ lâu đời. Ngày nay, nhiều nông dân đã có cơ hội canh tác 2
đến 3 vụ một năm trên những vùng đất với khoảng 12.500 hệ
thống tưới tiêu. Do yếu tố giá cả nông phẩm biến động, người
dân chuyển dần từ canh tác lúa sang các cây trồng khác có
hiệu quả kinh tế cao hơn.
Thủy sản là nguồn sống quan trọng của cư dân lưu vực. Nó
không chỉ mang lại thu nhập cho ngư dân mà còn tạo việc làm
cho người lao động với các nghề liên quan như sản xuất thức ăn
cho cá, công cụ đánh bắt, sửa chữa tàu thuyền v.v…
4. Các hoạt động phát triển Thủy điện
Với lượng nước phòng phú và địa hình tạo nên thế năng
lớn cho dòng chảy, lưu vực sông Mê Công có tiềm năng rất lớn
về thủy điện với tổng năng lượng kỹ thuật khoảng 53.900 MW,
trong đó riêng Trung Quốc là 23.000 MW. Phần còn lại ở Hạ Lưu
vực Mê Công thì dòng chính có tiềm năng thủy điện là 13.000
MW và của dòng nhánh là 17.900 MW. Tuy nhiên, nguồn năng
lượng thủy điện của vùng Hạ lưu vực chỉ tập trung chủ yếu là ở
Lào với 21.000 MW (chiếm tới 70%).
Hiện nay trên lưu vực phía Trung Quốc có 8 công trình thủy
điện lớn đang hoạt động với tổng công suất là 15.650 MW, chủ
yếu cung cấp điện cho các đô thị và công nghiệp ngoài lưu vực.
Vùng Hạ lưu vực sông Mê Công cũng có tốc độ phát triển thủy
điện rất mạnh mẽ, trên các dòng nhánh của sông Mê Công có
khoảng 100 dự án ở Lào, 7 dự án của Thái Lan, Việt Nam và
Campuchia mỗi nước có 14 dự án đã và đang được nghiên cứu Page | 3
xây dựng. Trong đó công suất các công trình thủy điện đã hoàn
thành là là 3.235 MW và công suất các công trình đang được xây dựng là hơn 3.209 MW.
Kế hoạch xây dựng các đập thủy điện trên dòng chính
sông Mê Công từ lâu đã có nhiều tranh cãi và Chính phủ của
các nước trong lưu vực luôn phải cân đối nhu cầu tăng thêm
năng lượng với các mối quan ngại về kinh tế, xã hội và môi
trường. Hiện nay, đã có 02 công trình thủy điện trên dòng chính
đã được xây dựng và vận hành ở Lào đó là Xay-nha-bu-ly (1.260
MW) và Đôn-sa Hồng (260 MW). Các dự án thủy điện trên dòng
chính ở Hạ lưu vực sông Mê Công là một vấn đề thời sự nổi bật
và các nghiên cứu về tác động của các công trình này đã và đang được tiến hành. Nông nghiệp
Nông nghiệp là nền tảng trong việc tăng trưởng kinh tế
của vùng Hạ lưu vực Mê Công, mang lại sinh kế cho 70% dân số
trong lưu vực với diện tích canh tác khoảng 7,8 triệu ha. Chiếm
tới 80% sản lượng nông nghiệp của Vùng Hạ lưu vực là sản suất
lúa nước. Lượng nước sử dụng cho tưới trong nông nghiệp
khoảng 22 tỷ m3/năm chiếm 5% tổng lượng lượng dòng chảy
trung bình nhiều năm trên lưu vực.
Tới năm 2040, diện tích nông nghiệp ở Vùng Hạ Lưu vực
Mê Công dự kiến là khoảng 9,5 triệu ha, cần lượng nước là 25 tỷ
m /năm, chiếm 6% tổng lượng nước trên lưu vực. 3
Giao thông, thương mại và du lịch
Từ lâu, sông suối là đường vận chuyển hàng hóa chính
trong lưu vực sông Mê Công. Trừ khu vực gần thác Khone ở biên
giới Lào – Campuchia thì gần như toàn bộ dòng chính sông Mê
Công đều có thể đi lại bằng đường thủy. Việc xây dựng hệ thống
đường cao tốc châu Á bắt đầu khởi động liên kết các thành phố
chính trong lưu vực. Đến nay, đã có 18 cây cầu bắc qua sông
Mê Công và trong đó có 5 cây cầu ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Khi các quốc gia trong lưu vực Mê Công tiến vào kỷ
nguyên hợp tác hoà bình thì nhịp độ phát triển ở nhiều lĩnh vực
tăng lên nhanh chóng.Trong những năm gần đây, rất nhiều các
thỏa thuận thương mại, giao thông, du lịch được ký kết. Kim
ngạch thương mại của 6 nước trong lưu vực tăng nhanh. Page | 4
Cùng với sự gia tăng các hoạt động thương mại và hệ
thống giao thông được cải thiện, ngành du lịch trong lưu vực
bắt đầu phát triển. Các cảnh đẹp thiên nhiên, sự đa dạng về
văn hoá của lưu vực đang thu hút du khách đến lưu vực.
II. TÀI NGUYÊN NƯỚC SÔNG MÊ CÔNG
Bắt đầu từ Phnom Penh, sông Mê Công chia thành hai
nhánh theo dòng chảy từ Bắc xuống Nam: bên phải (hữu ngạn)
là sông Bassac (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông
Hậu) và bên trái (tả ngạn) là Mê Kông (sang Việt Nam gọi là
Tiền Giang hay sông Tiền), cả hai đều chảy vào khu vực đồng
bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng 220–250
km mỗi sông. Tại Việt Nam, sông Mê Kông còn có tên gọi là sông Lớn, sông Cái, hay sông
Cửu Long. Lưu lượng hai sông
này rất lớn, khoảng 6.000 m³/s về mùa khô, lên đến 120.000
m³/s vào mùa mưa, và chuyên chở rất nhiều phù sa bồi đắp đồng bằng Nam Bộ. 1. Tài nguyên nước mặt
Lượng mưa trung bình nhiều năm lưu vực sông Cửu Long
dao động từ khoảng 1300-2400mm. Tổng lượng dòng chảy
trung bình hàng năm trên lưu vực sông Cửu Long là khoảng
500km3 , trong đó khoảng 23,0km3 được hình thành trong
đồng bằng sông Cửu Long, 477km3 từ trung thượng lưu sông
Mê Công chảy vào đồng bằng sông Cửu Long. Mùa mưa hàng
năm thường xuất hiện vào các tháng V – X, lượng dòng chảy
mùa lũ chiếm khoảng 70 – 85% tổng lượng dòng chảy năm.
Mùa cạn từ tháng XI đến tháng IV năm sau, lượng dòng chảy
mùa cạn chiếm khoảng 15 – 30% tổng lượng dòng chảy năm. Page | 5
2. Tài nguyên nước dưới đất lưu vực sông Cửu Long
Lưu vực sông bao gồm 5 tầng chứa nước chính là tầng
chứa nước Pleistocene thượng (qp3), tầng chứa nước
Pleistocene trungthượng (qp2-3), tầng chứa nước Pleistocene
hạ (qp1), tầng chứa nước Pliocene trung (n2 2 ) và tầng chứa
nước Pliocene hạ (n2 1 ). Theo báo cáo thuộc dự án “Biên hội -
thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho
các tỉnh trên toàn quốc”, tổng tài nguyên nước dự báo cho các
tầng chứa nước như sau: tầng chứa nước qp3 là
4.975.661m3 /ngày, tầng chứa nước qp2-3 là 7.218.972m3
/ngày, tầng chứa nước qp1 là 7.135.305m3 /ngày, tầng chứa
nước n2 2 là 10.128.854m3 /ngày và tầng chứa nước n2 1 là 8.563.299m3 /ngày. 3. Diễn biến mưa
Kết quả phân tích số liệu từ các trạm quan trắc trên lưu
vực sông Mê Công cho thấy: tổng lượng mưa trung bình trên Hạ
lưu vực sông Mê Công trong nửa cuối tháng 10/2022 giảm
mạnh đạt giá trị 52 mm, thấp hơn giá trị trung bình nhiều năm
(TBNN) tới 30%. Lượng mưa ở hầu hết các vùng biến động trong
khoảng từ 50 mm đến 60 mm, riêng trên thượng lưu khu vực Page | 6
3S, phần lãnh thổ Lào giáp với Việt Nam và vùng Đồng bằng
châu thổ sông Mê Công có lượng mưa lớn hơn, có điểm lên tới
hơn 150 mm do ảnh hưởng của bão số 6. Chi tiết lượng mưa của các vùng: Vùng Vùng Vùng Vùng Trung - Vùng Vùng Châu Bắc Lào Đông Nam Lào và Biển thổsông và Thái Bắc Thái Tây nguyên Hồ Mê Công Lan Lan Lượng 35 49 41 68 107 mưa (mm) Page | 7
4. Chế độ dòng chảy tại các trạm Tân Châu và Châu Đốc
Theo số liệu quan trắc, mực nước lớn nhất ngày tại trạm
Tân Châu trong nửa cuối tháng 10/2022 có xu thế giảm dần từ
3,4m xuống 2,9m. Mực nước thời gian này cao hơn TBNN cùng
thời kỳ từ 0,4m đến 0,6m và thấp hơn mức báo động lũ cấp I từ
0,1m đến 0,5m (Xem Hình 2). Page | 8
Hình 2. Diễn biến mực nước lớn nhất ngày tại trạm Tân Châu nửa cuối tháng 10/2022
Tổng lưu lượng dòng chảy tại Đồng bằng sông Cửu Long
của Việt Nam qua hai trạm Tân Châu và Châu Đốc trong nửa
cuối tháng 10/2022 có xu thế giảm dần với mức dao động từ
27.200m3 /s xuống 23.100m3 /s, tuy nhiên lưu lượng trong thời
kỳ này vẫn cao hơn giá trị cùng kỳ TBNN từ 2.500m3 /s đến
3.900m3 /s và cao hơn cùng kỳ năm 2021 từ 2.000m3 /s đến 6.000m3 /s (Xem Hình 3).
Hình 3. Diễn biến tổng lưu lượng của hai trạm Tân Châu và
Châu Đốc trong nửa cuối tháng 10/2022
Tổng lượng dòng chảy qua hai trạm Tân Châu và Châu Đốc
nửa cuối tháng 10/2022 đạt khoảng 35,7 tỷ m3 , cao hơn so với
giá trị cùng kỳ năm 2021 khoảng 17% và cao hơn giá trị cùng
kỳ TBNN khoảng 16% (Xem Hình 4). Page | 9