lOMoARcPSD| 58702377
1. Trình bày các hình thức thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?
- Thực hiện pháp luật hành vi của chủ thể (hành động hoặc không nh động) được
tiến hành phù hợp với quy định, với yêu cầu của pháp luật, tức không trái, không
vượt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định
- Thực hiện pháp luật thể một xử sự tính chủ động, được tiến hành bằng một
thao tác nhất định nhưng đó cũng thể một xử sự tính thụ động, tức không
tiến hành vượt xử sự bị pháp luật cấm.
- Có bốn hình thức thực hiện pháp luật:
Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách thụ động, thể hiện
ở sự kiểm chế của chủ thể để không vi phạm các quy định cấm đoán của pháp
luật
Sự kiềm chế của các chủ thể pháp luật được hiểu là khi pháp luật quy định cấm
làm một điều đó thì họ không tiến hành hoạt động này mặchọ có cơ hội
để thực hiện một hành vi bị cấm.
Ở hình thức này, hành vi của chủ thể pháp luật được thể hiện dưới dạng không
hành động.
Ví dụ: không nhận hối lộ, không sử dụng chất ma tuý, không thực hiện hành vi
lừa đảo, không lái xe trong tình trạng say rượu…;
Thi hành pháp luật hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động. Chủ thể
pháp luật phải thực hiện một thao tác nhất định mới có thể thực hiện pháp luật
được.
Chủ thể pháp luật phải tiến hành các hoạt động bắt buộc là khi họ ở trong điều
kiện pháp luật quy định thì phải làm những việc nhà nước yêu cầu, họ
không thể viện lí do để từ chối.
Sự đòi hỏi của nhà nước đối với các chủ thể phải tích cực tiến hành những
hoạt động nhất định. hình thức này, hành vi của chủ thể thi hành pháp luật
được thể hiện dưới dạng hành động.
Ví dụ, thực hiện nghĩa vụ quân sự, thực hiện nghĩa vụ đóng thuế, nghĩa vụ lao
động công ích, nghĩa vụ nuôi dạy con cái, chăm sóc ông bà, cha mẹ khi già yếu;
Sử dụng pháp luật khả năng của các chủ thể pháp luật thể sử dụng khai
thác hay không sử dụng, khai thác, hưởng quyền luật đã dành cho mình.
Đây là hình thức chủ thể pháp luật thực hiện các quyền theo quy định của pháp
luật.
Nhà nước tạo khả năng cho chủ thể pháp luật có thể được hưởng những quyền
nào đó họ đã căn cứ vào mong muốn, điều kiện của mình để thực hiện các
quyền này.
Ví dụ: công dân có quyền đi lại trong nước, ra nước ngoài và từ nước ngoài trở
về nước theo quy định của pháp luật. Nét đặc biệt của hình thức thực hiện pháp
luật này so với tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật là chủ thể pháp luật
thể thực hiện hay không thực hiện quyền mà pháp luật cho phép còn ở hai hình
thức trên, việc thực hiện mang tính bắt buộc;
Áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên
các quy định của pháp luật để giải quyết, xử lí những vấn để cụ thể thuộc trách
nhiệm của mình.
lOMoARcPSD| 58702377
Đây hình thức các chủ thể thẩm quyền do pháp luật quy định giải quyết
các vụ việc cụ thể xảy ra trong đời sống, nhằm xác định quyền, nghĩa vụ, trách
nhiệm pháp lí… cho các chủ thể cụ thể, trong những trường hợp cụ thể.
Đây là hình thức thực hiện pháp luật rất quan trọng, phức tạp
dụ: Công dân đến UBND để đăng kết hôn à cán bộ UBND xem xét cấp
giấy chứng nhận đăng ký kết hôn là áp dụng pháp luật.
Chú ý: So sánh các hình thức thực hiện pháp luật
Về khái niệm:
- Tuân thủ pháp luật: chủ thể pháp luật kiềm chế mình để không thực hiện điều pháp luật
cấm
- Thi hành pháp luật: chủ thể pl chủ động thực hiện điều pl yêu cầu
- Sử dụng pl: Chủ thể pl thực hiện diều mà pl cho phép
- Áp dụng pl: cán bộ, quan nhà nước thẩm quyền tổ chức cho các chủ thkhác thực
hiện quyền hoặc nghĩa vụ do pl quy định Về bản chất
- Tuân thủ pl: thực hiện pl tính chất thụ động thể hiện dưới dạng “hành vi không
hành động”
- Thi hành pl: chủ động, tích cực thực hiện pháp luật dưới hình thức “hành vi hành động”
- Sử dụng pl: các chủ thể lựa chọn xử sự những điều pháp luật cho phép. Đó có thể là
hành vi hành động” hoặc “hành vi không hành đông” tùy quy định pháp luật cho phép
- Áp dụng pháp luật: Vừa là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước,
vừa một hình thức thực hiện pháp luật, vừa một giai đoạn các quan nhà
nước thẩm quyền tiến hành tổ chức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện các quy
định pháp luật -> Mang tính quyền lực nhà nước. Được thể hiện dưới hình thức “hành
vi hành động” và “hành vi không hành động”.
Về chủ thể thực hiện
- Tuân thủ pl, thi hành pl, sử dụng pl: mọi chủ thể
- Áp dụng pl: chỉ cán bộ, cơ quan nn có thẩm quyền Về hình thức thực hiện
- Tuân thủ pháp luật: Thường được thể hiện dưới dạng những quy phạm cấm đoán. Tức
là quy phạm buộc chủ thể không được thực hiện những hành vi nhất định
- Thi hành pháp luật: Thường được thể hiện dưới dạng những quy phạm bắt buộc. Theo
đó, chủ thể buộc phải thực hiện hành vi hành động, hợp pháp.
- Sử dụng pháp luật: Thường được thể hiện dưới những quy phạm trao quyền. Tức pháp
luật quy định về quyền hạn cho các chủ thể.
- Áp dụng pháp luật: Tất cả các loại quy phạm vì nhà nước có nghĩa vụ cũng như quyền
hạn tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện pháp luật.
Về tính bắt buộc thực hiện
- Tuân thủ pháp luật: Mọi chủ thể đều bắt buộc phải thực hiện theo quy định pháp luật
mà không có sự lựa chọn.
- Thi hành pháp luật: Mọi chủ thể đều bắt buộc phải thực hiện theo quy định pháp luật
mà không có sự lựa chọn.
- Sử dụng pháp luật: Các chủ thể thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp
luật cho phép tùy theo ý chí của mình, phụ thuộc vào sự lựa chọn của từng chủ thể chứ
không bị ép buộc phải thực hiện.
lOMoARcPSD| 58702377
- Áp dụng pháp luật: Mọi chủ thể đều bắt buộc phải thực hiện theo quy định pháp luật
mà không có sự lựa chọn. Ví dụ:
- Tuân thủ pháp luật: Pháp luật cấm hành vi mua, bán dâm. Do đó, “không thực hiện
hành vi mua, bán dâm” được xem là tuân thủ pháp luật.
- Thi hành pháp luật: Pháp luật quy định về nghĩa vụ đóng thuế thu nhập nhân/ thuế
thu nhập doanh nghiệp. Do đó, nếu không thuộc trường hợp miễn thuế/đối tượng không
chịu thuế thì chủ thể đóng thuế được xem là “thi hành pháp luật”.
- Sử dụng pháp luật: Khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị B xâm phạm,
Aquyền khởi kiện B ra tòa án vì pháp luật trao cho A quyền được khởi kiện B ra tòa
án có thẩm quyền. Khi đó, A được xem là đang “sử dụng pháp luật”.
- Áp dụng pháp luật: Khi A khởi kiện B ra tòa, tòa án đó có trách nhiệm xem xét và thụ
lý đơn khởi kiện của A. Theo đó, tòa án được xem là cơ quan “áp dụng pháp luật”.
2. Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng PL, cho ví dụ cụ thể ?
Yếu tố dư luận: luận hội vai trò tác động quan trọng đến nhiều nh vực khác
nhau của đời sống hội như kinh tế chính trị đạo đức pháp luật văn hóa giáo dục trong đó
phải kể đến sự tác động ảnh hưởng của dư luận xã hội đối với hoạt động xây dựng pháp luật ở
nước ta hiện nay sự ảnh hưởng đó thể hiện trên các phương diện sau:
- Thứ nhất, một dư luận xã hội là sự thể hiện lợi ích chung thông qua tiếng nói chung của
nhân dân nên đó là điều kiện cần thiết để tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ
hội mở rộng nền dân chủ xã hội tích cực tham gia vào hoạt động pháp luật. Như đã nói
trên các tầng lớp nhân dân chủ thể rộng rãi hoạt động này, Hiến pháp của nhà
nước ta đã khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đồng thời
thiết lập chế bảo đảm sao cho lợi ích của nhân dân luôn nằm dưới sự kiểm soát
của nhân dân giữa chế độ ta nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hai hình
thức bản dân chủ trực tiếp dân chủ đại diện. Dân chủ trực tiếp hình thức
nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình. Dân chủ đại diện hình
thức bản thông qua đó nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước vận hành theo
quy định của hiến pháp theo chế này nhân dân tạo ra quan đại diện quan đại
diện trực tiếp tiếp dân quyền lực về nhân dân nên còn được gọi quan quyền lực
nhà nước. Đối với trường hợp của BLHS 2015 nói riêng các văn bản khác nói chung,
việc tham gia ý kiến của người dân luôn ít trong quá trình dự thảo, lấy ý kiến người
dân, nhưng khi văn bản được ban hành, sự tham gia này lại rất tích cực. Đây một
hiện trạng cần thay đổi để tránh trường hợp này lặp lại một lần nữa ở nước ta.
- Thứ hai, luận hội nguồn thông tin phản hồi có ý nghĩa rất quan trọng thiết
thực với quá trình xây dựng pháp luật đối với việc ban hành các quyết định của nhân
nhà chức trách có thẩm quyền. Để các văn bản pháp luật xác thực tế các văn bản quản
lý hành chính nhà nước đúng đắn có tính khả thi cao trước khi xây dựng soạn thảo các
dự án luật hay ban hành các quyết định các cơ quan lập pháp cơ quan quản lý nắm bắt
được thực trạng tưởng tâm các đối tượng xã hội văn bản pháp luật. Mọi chủ
trương chính sách pháp luật khó thể trở thành hiện thực nếu không hợp lòng dân
lOMoARcPSD| 58702377
không được nhân dân ủng hộ. Ý kiến về BLHS 2015, Nguyên chánh tòa hình sự
TANDTC Đinh Văn Quế nói trên báo Tuổi Trẻ rằng: “Nếu nghiên cứu kỹ bộ luật Hình
sự 2015, có thể thấy một số điều luật nếu không giải thích hoặc hướng dẫn thì không
thể áp dụng được”. dụ điều 175 (điều 140 bộ luật Hình sự 1999) quy định về tội
“lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đã bỏ tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt” trước
đây quy định tại điểm a khoản 1 điều 140 bộ luật Hình sự. Vậy kể từ ngày 1/7/2016 trở
đi cứ vay mượn, thuê tài sản của người khác rồi bỏ trốn để chiếm đoạt thì không phạm
tội sao? Hay như quy định điều 12, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi
chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội đã được liệt kê trong điều luật, còn các
tội phạm khác không được “liệt kê” tại điều 12 thì không phải chịu trách nhiệm hình
sự…Những ý kiến này đã được tiếp thu và sửa đổi trong lần chỉnh sửa sau đó.
- Thứ 3, luận hội không mang tính pháp nhưng lại sức mạnh rất to lớn
trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi hoạt động của các thành viên trong xã hội
trong hoạt động xây dựng pháp luật. Các cá nhân nhà chức trách có thẩm quyền với tư
cách chủ thể xây dựng pháp luật cần phải biết lắng nghe luận hội một cách
nghiêm túc và phân tích nó một cách khoa học để rút ra được những kết luận chính xác
về thực trạng.
Yếu tố thông tin đại chúng: Sự hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng như
báo chí truyền thanh truyền hình có tác động rất mạnh mẽ và quan trọng tới hoạt động xây
dựng pháp luật thể hiện ở các điểm sau:
Các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp thông tin tương đối đầy đủ đa dạng về
các sự việc sự kiện hiện tượng pháp lý xảy ra trong hệ thống chính trị xã hội pháp luật phản
ánh hoạt động tiếp xúc cử tri của Quốc hội Hội đồng Nhân dân các cấp qua đó phương tiện
truyền thông tác động tới nhận thức của các chủ thể về tầm quan trọng của hoạt động xây
dựng pháp luật tạo sở thông tin để các tầng lớp hội tham gia vào hoạt động hội
tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật. Thật vậy, quá trình xây dựng dự thảo, ban hành
BLHS 2015 cũng rất rầm rộ trên báo, đài, tivi cả mạng hội. Truyền thanh, truyền hình
liên tục đưa tin liên quan đến hoạt động này, chính vì vậy, sự tham gia của người dân cũng
nhiều và hiệu quả hơn.
Các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải những thông tin về chính sách pháp luật của
Nhà nước, các dự thảo văn bản pháp luật mới đưa các thông tin đó đến được với đông đảo
các tầng lớp nhân dân. Thông tin đại chúng những diễn đàn ngôn luận để các chthể
của hoạt động xây dựng pháp luật tham gia bình luận phân tích đóng góp ý kiến vào hình
thức nội dung cấu trúc văn bản pháp luật. Đồng thời các phương tiện thông tin đại chúng
đang giải quyết thông tin phản hồi ý kiến đóng góp của các nhà khoa học các tầng lớp
nhân dân cho hoạt động xây dựng pháp luật. Bằng cách tác động đó thông tin nhà nước
giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tập hợp thông tin xử lý chọn lọc các ý kiến
đánh phục vụ cho việc sửa đổi bổ sung ngày càng hoàn thiện các văn bản pháp luật.
Ngoài ra các phương tiện thông tin đại chúng còn góp phần đấu tranh chống lại các ấm
lOMoARcPSD| 58702377
nước phá hoại các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc bịa đặt của các thế lực thù địch về nội
dung bản chất hệ thống pháp luật nước ta cùng cố niềm tin của nhân dân o bản chất ưu
việt của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
3. Trình bày các cơ chế thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?
Thực hiện pháp luật hành vi của một chủ thể (bao gồm hành động hoặc không hành
động) tiến hành, phù hợp với những quy định và yêu cầu của pháp luật. Có nghĩa là, những
hành vi ấy không trái pháp luật và không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật quy định.
Thực hiện pháp luật bao gồm 04 hình thức sau:
- Sử dụng pháp luật: Các chủ thể pháp luật có thể sử dụng hay không sử dụng các quyền
mà luật pháp cho phép. Ví dụ: công dân có quyền đi du lịch trong nước, ra nước ngoài
hoặc di chuyển từ nước ngoài về Việt Nam theo quy định. Điểm đặc biệt của hình thức
thực hiện pháp luật này là chủ thể có thể thực hiện hay không thực hiện quyền mà pháp
luật cho phép.
- Tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật theo cách thụ động. Các cá nhân,
tổ chức kiềm chế để không vi phạm các quy định cấm đoán của pháp luật. dụ như
không nhận hối lộ, không vận chuyển chất ma tuý, không thực hiện các hành vi lừa
đảo, không lái xe sau khi uống rượu bia…
- Thi hành pháp luật: hình thức thực hiện pháp luật theo hướng chủ động. Chủ thể
pháp luật phải chủ động thực hiện một hành động nhất định theo quy định của pháp
luật. Ví dụ: thanh niên thực hiện nghĩa vụ quân sự, công dân thực hiện nghĩa vụ đóng
thuế, nghĩa vụ lao động công ích…
- Áp dụng pháp luật: Là hình thức của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào
quy định của pháp luật để ra các quyết định, xử những vấn đề thuộc phạm vi trách
nhiệm của mình. VD: áp dụng pháp luật vào quy trình giải quyết thủ tục hành
chính, áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp dân sự…
Chú ý: Phân biệt các hình thức thực hiện pháp luật
Tuân thủ pháp luật
Thi hành pháp
luật
Sử dụng pháp luật
Áp dụng pháp luật
Bản
chất
hoạt động thực
hiện pháp luật
tính chất thụ động
thể hiện dưới
dạng không hành
động một hành vi
việc chủ thể
pháp luật hành
động một hành vi
nào đó theo
hướng chủ động
hoạt động thực
hiện pháp luật bằng
cách hành động
hoặc không hành
động một
việc những quan
thẩm quyền dựa vào
pháp luật để điều chỉnh,
giải quyết những hành vi
sai trái, trong khuôn khổ
trách nhiệm quyền
nào đó
và tích cực
hành vi cụ thể
hạn của mình
lOMoARcPSD| 58702377
Chủ
thể
thực
hiện
Mọi chủ thể pháp
luật
Mọi chủ thể
pháp luật
Mọi chủ thể pháp
luật
Cán bộ, quan nhà nước
có thẩm quyền
Hình
thức
thể
hiện
Thường hình thức
cấm đoán một hành
vi cụ thể nào đó
Thường được thể
hiện dưới hình
thức bắt buộc thực
hiện
Thể hiện mọi loại
quy phạm
khác nhau
Thường được thể hiện
theo hình thức quy phạm
trao quyền.
Tính
bắt
buộc
Bắt buộc thực hiện
Bắt buộc thực
hiện
Không bắt buộc.Chủ
thể tự thực hiện theo
mong muốn của
mình
Bắt buộc thực hiện
Đặc điểm của thực hiện pháp luật:
- Thực hiện pháp luật bằng hành vi: Hành vi cách thức tồn tại của con người, được
hình thành trên sở nhận thức được biểu hiện bằng hành động thực tế. Coi thực
hiện pháp luật bằng hành vi để có cơ sở gắn với trách nhiệm pháp lý của chủ thể
- Thực hiện pháp luật phải đảm bảo các yêu cầu theo pháp luật quy định: Thực hiện pháp
luật là thực hiện các quyền, nghĩa vụ hợp pháp dành cho chủ thể. Thực hiện pháp luật
trên từng lĩnh vực đời sống là khác nhau. Pháp luật cần có yêu cầu cụ thể cho từng lĩnh
vực: về nhận thức, về thời hạn, an ninh xã hội…
- Thực hiện pháp luật là hoạt động mục đích cụ thể: Mục đích thực hiện pháp luật
phạm trù mang tính cơ quan và tùy thuộc từng lĩnh vực, hình thức thực hiện pháp luật
khác nhau. Mục đích thực hiện pháp luật không giống nhau. Để đảm bảo thực hiện
pháp luật có tác dụng lâu dài thì mục đích phải rõ ràng, cụ thể.
- Thực hiện pháp luật thông qua quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật sản phẩm của
thực hiện pháp luật. Cùng với đó, quan hệ pháp luật tạo môi trường điều kiện cần
thiết cho quá trình thực hiện pháp luật được hoạt động.
- Thực hiện pháp luật được đảm bảo bằng các chính sách ca Nhà nước: Pháp luật là sản
phẩm do Nhà nước tạo nên. Trong hoạt động xã hội, pháp luật thể hiện ý chí của nhân
dân lao động. Do đó, việc pháp luật được tôn trọng thực hiện nghiêm minh yêu
cầu khách quan đặt ra từ chính thực tế hội, từ sự mong muốn của Nhà nước cũng
như nguyện vọng chung của hầu hết nhân dân lao động.
Ý nghĩa của thực hiện pháp luật trong xã hội:
- Bằng cách thực hiện pháp luật, các quy định của pháp luật từ tất cả nguồn luật khác
nhau như tập quán pháp, án lệ, văn bản quy phạm pháp luật… mang tính hiện thực hóa,
thực sự đi vào đời sống, trở thành hành vi cụ thể, thực tiễn của các chủ thể pháp luật
tham gia vào các quan hệ xã hội theo điều chỉnh của pháp luật.
lOMoARcPSD| 58702377
- Từ đó, ý chí và mục đích của nhà nước tồn tại trong các quy phạm pháp luật có cơ hội
trở thành hiện thực. Các chủ trương, chính sách, quy định của pháp luật nhà nước đi
vào cuộc sống thực và phát huy được hết vai trò, tác dụng, hiệu quả của chúng. Qua đó
giúp cho đời sống xã hội được ổn định, trật tự và có điều kiện phát triển bền vững. Các
quyền lợi ích hợp pháp của những nhân, tổ chức được bảo đảm, bảo vệ đời
sống xã hội được an toàn.
- Trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, thông qua các hoạt động phổ biến và giáo
dục pháp luật, các chủ thể sẽ có điều kiện được nâng cao nhận thức về pháp luật, hiểu
rõ hơn các quyền và nghĩa vụ pháp của mình trong mối quan hệ pháp luật. Nhờ đó,
họ tích cực và chủ động tham gia vào xây dựng các quan hệ đó, chủ động tiếp cận các
nguồn lực để phát triển.
- Thông qua quá trình thực hiện pháp luật, những hạn chế, thiếu sót (nếu có) của pháp
luật sẽ được, được bộc lkịp thời xử lý. Từ đó, hệ thống pháp luật sẽ ngày càng
hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với thực tế nhờ vào quá trình sửa đổi, bổ sung và thay thế
kịp thời những khiếm khuyết, chưa phù hợp.
4. Trình bày các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng đến việc thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?
Yếu tố kinh tế:
Yếu tố kinh tế bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế – xã hội, hệ thống các
chính sách kinh tế, chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong thực
tế xã hội. Nền kinh tế – xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho
hoạt động thực hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý
thức pháp luật của các tầng lớp hội. Ngược lại, nền kinh tế hội chậm phát triển,
kém năng động hiệu quả sẽthể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật của
các chủ thể pháp luật. Yếu tố kinh tế nền tảng của sự nhận thức, hiểu biết pháp luật
thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ
thể pháp luật.
Quá trình thực hiện pháp luật chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển kinh tế – xã hội.
Nước ta là một nước đang phát triển, trình độ kinh tế xã hội ở mỗi vùng miền là khác nhau,
do đó cũng ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện pháp luật nước ta. Kinh tế
phát triển, đời sống vật chất của các tầng lớp dân được cải thiện, lợi ích kinh tế được
đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn khởi, tin tưởng vào đường lối kinh tế, chính sách pháp luật,
sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động điều hành, quản lý của Nhà nước. Khi đó, niềm tin của
các chủ thđối với pháp luật được củng cố, hoạt động thực hiện pháp luật sẽ mang tính
tích cực, thuận chiều, phù hơp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật hiện hành. Khi kinh tế
phát triển, đời sống tinh thần, vật chất đươc cải thiện, các cán bộ, công chức Nhà nước, các
tầng lớp nhâ dân có điều kiện mua sắm các phương tiện nghe, nhìn, có điều kiện thõa mãn
các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng và cập nhật. Các chương trình phổ biến, giáo dục
pháp luật sẽ dễ dàng đến được với đông đảo cán bộ nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang
bị thông tin, kiến thức pháp luật trở thành nhu cầu tự giác, thường trực trong suy nghĩ
hành động của họ. Điều đó giúp cho hoạt động thục hiên pháp luật của các chủ thể mang
tính tự giác, tích cực.
lOMoARcPSD| 58702377
Còn khi kinh tế chậm phát triển, thu nhập thấp, nh trạng thất nghiệp gia tăng, lợi ích kinh
tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ, nhân dân gặp khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn
biến phức tạp, cái xấu hội nảy sinh, tác động tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật.
Đây chính mảnh đất tưởng cho sự xuất hiện các loại hành vi vi phạm pháp luật, đi
ngược lại các giá trị, chuẩn mực pháp luật như tệ quan liêu, của quyền, nhũng nhiễu, tham
nhũng trong cán bộ; buôn lậu, trốn thuế; trộm cắp, cướp giật…trong các thành phần xã hội
bất hảo.
Cơ chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật. Cơ chế tập trung quan liêu,
bao cấp trước đây đã tạo ra tâm lú thụ động, ỷ lại. Do đó nhận thúc pháp luật và hoạt động
thực hiện pháp luật thường mang tính phiến diện, một chiều theo kiểu mệnh lệnh phục
tùng. chế kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa hiện nay với những mặt tích
cực của nó sẽ tạo ra tư duy năng động, sáng tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của
hoạt động kinh tế.
Từ đó tác động tích cực hơn tói ý thức pháp luật hành vi thực hiện pháp luật của các chủ
thể trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt tiêu dùng. Nhưng mặt trái của
tâm lý thị trường sẽ tạo ra tâm sùng bái đồng tiền, coi tiền là tất cả, bất chấp các giá trị
đạo đức, pháp luật đồng thời sẽ tạo ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện
pháp luật, lấy đồng tiền làm thước đo đánh giá c quan hệ giữa người với người. Đây
nguyên nhân phát sinh các hành vi trái pháp luật, là môi trường cho các loại tội phạm nảy
sinh và phát triển.
Việc thực hiện chính sách hội, đảm bảo các nguyên tắc của công bằng hội điều
kiện cần thiết cho sự ổn định chính trị, tăng cường pháp chế và đoàn kết mọi tầng lớp nhân
dân trong xã hội; củng cố ý thức của con người về cái chung trong các lợi ích, lý tưởng của
họ, khơi dậy thái độ tích cực của quần chúng đối với việc tham gia quản lý Nhà nước, quản
lý xã hội bằng pháp luật; nhờ đó ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật cũng được nâng lên
một bước và việc thực hiện pháp luật của các chủ thể trở nên tự giác và chủ động hơn.
Yếu tố chính trị:
Yếu tố chính trị là toàn bộ yếu tố tạo nên đời sống chính trị của xã hội từng giai đoạn lịch
sử nhất định, bao gồm môi trường chính trị, hệ thống các chuẩn mực chính trị, chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng quá trình tổ chức, thực hiện chúng; các quan hệ chính
trị và ý thức chính trị, hoạt động của hệ thống chính trị. Cùng với đó là nền dân chủhội
và bầu không khí chính trị – xã hội.
Yếu tố chính trị ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quae của hoạt động thực hiện pháp luật
của các chủ thể pháp luật, đặc biệt các nhân, quan Nhà nước thẩm quyền áp
dụng pháp luật. Một đất nước có môi trường chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi đối với
hoạt động thực hiện pháp luật, bởi nó củng cố niềm tin của người dân, để họ tin và đi theo
Đảng. Một đất nước bất ổn về chính trị sẽ luôn khiến người dân hoang mang, lo lắng, dao
động…và dẫn đến việc thực hiện pháp luật không tốt. Nhận thấy đây một trong những
yếu tố quan trọng cho việc thực hiện pháp luật hiệu quả, chính xác. Hiện nay Đảng ta luôn
quan tâm chỉ đạo sâu sát đối với việc tuyên truyền và phổ biến kiến thức nhằm nâng cao ý
thức chính trị cũng như hiểu biết pháp luật cho các Đảng viên đã đạt được kết quả tốt
lOMoARcPSD| 58702377
đẹp, để các Đảng viên luôn là những người đi trước, gương mẫu thực hiện pháp luật, từ đó
tăng được lòng tin của quần chúng nhân dân.
Môi trường chính trị – xã hội của đất nước ta trong những năm qua luôn ổn định, phát triển
bền vững chính là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật, vì nó củng cố
ý thức và niềm tin chính trị của cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân đối với sự lãnh
đạo của Đảng, gia tăng lập trường chính trị - tưởng của các nhân thẩm quyền áp
dụng pháp luật. Thực tiễn lịch sử chứng minh rằng, trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX,
khi Liên các nước hội chủ nghĩa Đông Âu suy thoái, tan rã, một bộ phận
không nhỏ cán bộ, Đảng viên, nhân dân có sự hoang mang, dao động về tư tưởng, tâm lý;
nhưng nhờ mội trường chính trị ổn định dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nên
chúng ta đã vượt qua thử thách một cách thành công.
Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng ảnh hưởng rất quan trọng tới hoạt
động thực hiện pháp luật. Ở nước ta, sự vận hành của hệ thống pháp luật trên các phương
diện xây dựng, thực hiện áp dụng pháp luật luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng muốn xây dựng được một bộ máy Nhà
nước trong sạch, vững mạnh vận hành trên các sở nguyên tắc, quy định của pháp luật
thì vấn đề thực hiện pháp luật một cách nhất quán, nghiêm chỉnh từ phía cán bộ, Đảng viên
và nhân dân phải được đặt lên trên vị trí hàng đầu.
Muốn cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc thì cán bộ, Đảng viên phải là
những người đi trước, gương mẫu thực hiện và có “năng lực tổ chức và vận động nhân dân
thực hiện đường lối của Đảng , pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với
nhân dân, biết phát huy sức dân”. Chính vì vậy, Đảng ta luôn quan tâm và chỉ đạo sâu sắc
đối với các hoat động pháp luật, trong đó có thực hiện pháp luật .
Ý thức chính trị cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động thực hiện pháp luật. Nó phản
ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, hội giữa các giai cấp, các dân tộc các quốc gia
cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực Nhà nước, thhiện trực tiếp tập
trung nhất lợi ích giai cấp. nước ta, hệ thống chính trị được thể hiện trong cương lĩnh,
đường lối chính trị của Đảng cũng như trong các chính sách, pháp luật của Nhà nước dựa
trên nền tanngr của chủ nghĩa Mác Leenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vai trò chủ đạo
trong đời sống tinh thần của hội, thể hiện lợi ích của đông đảo các giai cấp, tầng
lớp nhân dân lao động.
Trong hoạt động thực hiện pháp luật, ý thức chính trị thể hiện trước hết ở việc các chủ thể
có chức năng áp dụng pháp luật quán triệt, thấm nhuần nhiệm vụ chính trị của mình, lãnh
đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật, giữ nghiêm kỷ
cương, phép nước. Điều đó sẽ giúp cho hoạt động thực hiện pháp luật thực sự đạt được
chất lượng, hiệu qucao, khơi dậy ý thức, trách nhiệm chính trị của các chủ thể khác trong
thực hiện pháp luật.
Tính chất, mức độ của nền dân chủ xã hội cũng có ảnh hưởng tới hoạt động thực hiện pháp
luật. Trong điều kiện xã hội nền dân chủ rộng rãi, thông tin đa dạng, phong phú, nhiều
chiều, các tầng lớp hội thể thẳng thắn, công khai, cởi mở, bày tỏ chính kiến, quan
điểm, nguyện vọng của mình đối với các vấn đề pháp luật các quan thực hiện pháp
lOMoARcPSD| 58702377
luật hoặc yêu cầu các cơ quan pháp luật trợ giúp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của
mình.
Ngược lại, trong điều kiện xã hội thiếu dân chủ, thông tin nghèo nàn, thậm chí bị bưng bít
thì bầu không khí chính trị hội bị ngột ngạt, gò bó, các công dân không dám nói thật
suy nghĩ của lòng mình, không dám đòi hỏi công lý vì e ngại ý kiến, yêu cầu mà họ đưa ra
có thể “phạm húy” hoặ không “hợp khẩu vị” của ai đó.
Yếu tố văn hóa – xã hội:
Các yếu tố văn hóa – đời sống bao giờ cũng thuộc về một môi trường văn hóa xã hội nhất
định gắn liền vói một phạm vi không gian xã hội nhất định, nơi các cá nhân và cộng đồng
người tổ chức các hoạt động sống, sinh hoạt, cùng nhau tạo dựng, thừa nhận và chia sẻ các
giá trị văn hóa, lối sống, phong tục tập quán, lễ nghi… Với những mặt, những khía cạnh
biểu hiện của mình, các yếu tố văn hóa ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện
pháp luật, thể hiện trên các điểm sau:
Các phong tục tập quán trong cộng đồng xã hội có ảnh hưởng nhất định tới hoạt động thực
hiện pháp luật của c tầng lớp nhân dân, thể hiện đặc biệt rõ nét ở khu vực nông thôn. Bên
cạnh những ưu điểm rất căn bản, các phong tục tập quán nông thôn cũng đang bộc lộ
những nhược điểm nhất định như việc tổ chức hội hè, đình đám, ma chay, giỗ chạp nhiều
lúc nhiều nơi còn cồng kềnh, tốn kém lãng phí; những hủ tục lạc hậu, lỗi thời còn tồn
tại; trình độ dân trí còn thấp; thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội phát sinh; tính tích cực chính
trị – xã hội của người dân còn hạn chế…
Tại một số làng xã, chính quyền người dân đứng ra tổ chức lễ hội ồn ào, kéo dài, ảnh
hưởng đến sản xuất sinh hoạt, bán thu phí sai nguyên tắc tài chính, sự chỉ đạo
thiếu sâu sát, để cho một số người lợi dụng lễ hội để hành nghề mê tín dị đoan. Trong khi
một số thói tật xấu tệ nạn hội như nạ cờ bạc, số đề, tín dị đoan, mại dâm…
đang nhập vào nông thôn, thì những người, thay tích cực đấu tranh, ngăn chặn,
phòng ngừa lại tiếp tay hoặc trực tiếp tham gia vào những thói xấu đó. Những hiện tượng
trên đây gây khó khăn cho việc thực hiện đúng đắn pháp luật, đồng thời là những hành vi
vi phạm pháp luật, coi thường kỷ cương, phép nước, cần phải biện pháp xử nghiêm
minh, thích đáng.
Lối sống đô thị lối sống nông thôn ảnh hưởng khác nhau tới hoạt động thực hiện pháp
luật. Đặc trưng nổi bật của lối sống đô thị là tích cực chính trị – xã hội ở đo thị cao. Cư dân
đô thị có nhiều điều kiện tiếp xúc với các thông tin chính trị – xã hội tích cực tham gia
vào các hoạt động xã hội lớn mà phần nhiều được tổ chức tại các đô thị. Các phong trào
sức huy động quần chúng ở các đô thị thường diễn ra nhanh hơn so với ở nông thôn. Đây
cũng là điều dễ hiểu đô thị thường nơi tập trung nhiều thành phần hội trình độ
học vấn tương đối cao.
Tại các thành phố, phạm vi giao tiếp về xã hội bản tương đối rộng, cường độ giao tiếp
cao và mang tính ẩn danh trong giao tiếp. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành
phát triển ý thức pháp luật và các hình thức thực hiện pháp luật. Mặt khác, đô thịnơi tập
trung phần lớn bộ phận không thể thiếu trong dân cư đô thị thường được gọi dưới cái tên
“những phần tử ngoài lề hội”. Về phương diện hội, đây là môi trường phát sinh nhiều
lOMoARcPSD| 58702377
loại tệ nạn hội tội phạm nhiều tới mức đáng báo động, gây khó khăn cho công tác
quản lý xã hội và hoạt động thực thi, bảo vệ pháp luât.
Lối sống nông thôn lối sống mang tính cộng đồng rất cao rất chặt chẽ, liên kết cả
thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác . Điều
đó thể hiện ở mối quan hệ gắn bó, sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong
gia đình, dòng họ, lối m nông thôn. Người dân nông thôn thường sống đoàn kết gắn
với quê hương làng xóm, rất coi trọng tình làng nghĩa xóm. Đây một biểu hiện rất
riêng, rất đặc thù của lối sống nông thôn Việt.
Tính cộng đồng được coi là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật. Bằng
ý thức cộng đồng, nó giúp cho các cán bộ pháp luật dễ dàng hơn trong việc phổ biến, tuyên
truyền thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước đến với đông đảo người dân nông thôn. Sức mạnh của tinh thần đoàn kết giúp cho
các cơ quan hành chính, tư pháp hoàn thành tốt các nhiệm vụ thực thi và bảo vệ pháp luật.
Khi truyền thống làng xã được phát huy, người dân cởi mở, thẳng thắn tham gia ý kiến về
những cái được và cái chưa được trong hoạt động thực hiện pháp luật. Sự đề cao tính cộng
đồng và chủ nghĩa tập thể dễ dẫn cán bộ làm công tác thực thi và bảo vệ pháp luật đến việc
đánh mất ý thức về con người nhân, cái tôi bị triệt tiêu, ý thức nhân hành vi
nhân cũng bị đặt vào lối xử thế hòa cả làng. Tình trạng này khiến cho cán bộ cả nước khi
phải đối mặt với những việc làm sai trái, khuyết điểm, thậm chí vi phạm pháp luật, thì họ
thường tìm cách né tránh trách nhiệm cá nhân và muốn đó là trách nhiệm tập thể.
Bên cạnh đó tính cộng đồng thường là cái cớ được cán bộ làm công tác thực thi và bảo vệ
pháp luật dùng để biện minh cho thói quen ỷ lại vào tập thể và tâm lý an phận thủ thường.
Cính điều này làm hạn chế năng lực sáng tạo, sự chủ động và quyết đoán của họ trong điều
hành, giải quyết các công việc chung từ đó ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật.
Các phương tiện thông tin đại chúng thuồng xuyên đăng tải các thông tin về các sự kiện
pháp luật hiện tượng xảy ra trong xã hội, hoạt động thực hiện pháp luật của các tầng lớp xã
hội. và của các quan chức năng, nêu lên những tấm gương điển hình người tốt việc tốt
trong việc thực hiện pháp luật… Những thông tin đó ở chừng mực khác nhau tác động đến
suy nghĩ, nhận thức hành vi của mỗi con người, khiến cho họ thực hiện pháp luật tốt
hơn.
luận hội tác động mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện pháp luật. luận hội
gắn liền với ý chí cộng đồng của nhóm hội tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ
hành động của các nhân. Trong một chừng mực nhất định người ta thể không sợ sự
trừng phạt của pháp luật khi thực hiện những hành vi sai trái, phạm pháp nhưng chúng lại
sợ sự phê phán lên án của dư luận xã hội – một thứ bất thành văn.
Trong điều kiện hội nền dân chủ rộng rãi, luận hội được coi phương tiện
kiểm tra hội đối với ý thức pháp luật hành vi pháp luật của mỗi người. Dưới áp lực
của dư luận xã hội, mỗi người luôn phải xem xét, suy nghĩ, kiểm định trước khi thực hiện
một hành vi pháp luật nào đó. Những câu hỏi phải được đặt ra về cái đúng, cái sai, nên hay
không nên… Nhờ đó, ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật trong mỗi chủ thể cũng được
nâng lên một bước.
lOMoARcPSD| 58702377
Yếu tố pháp luật:
Yếu tố pháp luật tổng thể các yếu tố tạo nên đời sống pháp luật của hội từng giai
đoạn nhất định bao gồm hệ thống pháp luật, các quan hệ pháp luật… Bản thân pháp luật
được sinh ra để điều chỉnh các quan hhội sở để các chủ thể thực hiện pháp
luật. Song chính các mặt, khía cạnh khác nhau của các chuẩn mực pháp luật cũng ảnh
hưởng nhất định đến hoạt động thực hiện pháp luật.
Văn hóa pháp luật được hình thành từ tổng thể các hoạt động hội pháp luật trên cả
phương diện lý luận thực tiễn, văn hóa pháp luật hệ thống các giá trị, chuẩn mực pháp
luật được kết tinh từ trí thức pháp luật, nh cảm, niềm tin đối với pháp luật hành vi pháp
luật; có ảnh hưởng sâu rộng tới các hình thức pháp luật từ tuân thủ chấp hành sử dụng cho
tới áp dụng pháp luật. Văn hóa pháp luật được thể hiện ra trong đời sống pháp luật thông
qua quá trình thực hiện pháp luật. Giữa văn hóa pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Văn hóa pháp luật là cơ sở, nền tảng, khuôn mẫu tư duy
và chuẩn mực hành vi của hoạt động thực hiện pháp luật, có định hướng đúng đắn. Ngược
lại, hoạt động thực hiện pháp luật có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm cho các giá trị
chuẩn mực của văn hóa pháp luật.
Các yếu tố truyền thống cũng ảnh hưởng không nhỏ đối với hoạt động thực hiện pháp
luật trong giai đoạn hiện tại. Sự quản Nhà nước bằng pháp luật là nhằm khắc phục tính
thiển cận, cục bộ trong quá trình phát triển, sản xuất, xây dựng làng trên các lĩnh vực
kinh tế – xã hội. Thông qua pháp luật, Nhà nước nhắc nhở, duy trì mọi nghĩa vụ của người
dân và làng xã đối với Nhà nước và xã hội. Trong quá trình phát triển Nhà nước thừa nhận
làng lệ riêng của mình sao cho không trái với nguyên tắc quy định của pháp luật. Hệ
thống tự quản chủ yếu dựa vào luận xã hội, uy tín của các vị chức sắc đặc biệt vai
trò của lệ làng. Cần kết hợp cả hai hình thức quản này trong hoạt động thực hiện pháp
luật.
Sự tồn tại dai dẳng của pháp luật do các chế độ để lại ảnh hưởng nhất định tới hoạt
động thực hiện pháp luật. Một số người quan niệm sai lầm cho rằng pháp luật chỉ chủ
yếu là công cụ trừng phạt, do thiếu hiểu biết họ có tâm lý sợ hãi pháp luật. Tâm lý lo sợ đó
khiến cho hành vi của con người thiếu ổn định do đó khó có thẻ dẫn đến hành vi xử sự tích
cực trước pháp luật và đối với pháp luật.
Tình trạng thờ ơ trước pháp luật hoặc coi thường pháp luật một số người tác động tiêu
cực đến việc thực hiện pháp luật của những người khác. Vẫn còn tồn tại tình trạng không
tuân thủ pháp luật, thờ ơ coi thường pháp luật. Điều này không chỉ ảnh hưởng xấu đến việc
thực hiện pháp luật mà còn có tác động không nhỏ tới xã hội cộng đồng.
Ý thức, niềm tin đối với pháp luật của con người ảnh hưởng quan trọng tới việc thực
hiện pháp luật. Bởi lẽ, nếu thiếu sự tin tưởng vào pháp luật, không niềm tin vững chắc
vào tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật…thì việc thực hiện pháp luật không thể
tốt và chặt chẽ được.
Sự hoạt động của các quan chức năng trong việc thực hiện pháp luật tác động quan
trọng đến việc hoạt động thực hiện pháp luật. Sự can thiệp của các quan chức năng nhằm
lOMoARcPSD| 58702377
đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện mỗi khi xảy ra vi phạm pháp luật, tranh
chấp là cần thiết, đúng đắn.
Chú ý: Tình hình thực tiễn pháp luật ở nước ta hiện nay
Thực hiện pháp luật hiện nay nước ta đang vấn đề nóng bỏng. Trước thực trạng coi
thường kỷ cương phép nước, bất chấp pháp luật của một bộ phận dân cư, nhiều tác giả đã
đi sâu nghiên cứu vấn đề này. nước ta hiện nay nhiều quan điểm về vấn đề áp dụng
pháp luật. Nhưng nhìn chung các định nghĩa về áp dụng pháp luật đó tương đối đồng nhất,
sự khác nhau có chăng chỉ là việc sử dụng các từ ngữ khác nhau để diễn đạt mà thôi.
Trong hoạt động áp dụng pháp luật bao hàm tất cả các hình thức thực hiện pháp luật. Việc
các cơ quan nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật, thực
hiện các quyền nghĩa vụ pháp lý của họ đòi hỏi các quan phải tuyệt đối tuân thủ pháp
luật, tức tự kiềm chế không phạm vào các điều cấm trong khi áp dụng pháp luật. Thi
hành các nghĩa vụ pháp lý và vận dụng đúng đắn, chính xác các quy phạm pháp luật trong
quá trình áp dụng pháp luật. Nói cách khác, các quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm
quyền phải tiến hành áp dụng pháp luật trong các trường hợp sau:
- Thứ nhất, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế do các chế tài pháp luật quy định
đối với những chủ thể vi phạm pháp luật, dụ cho trường hợp này việc cảnh sát giao
thông xử phạt người vi phạm luật giao thông, Hội đồng kỷ luật nhà trường xử kỷ
luật đối với cán bộ, giáo viên hoặc sinh viên vi phạm kỷ luật…
- Thứ hai, nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước, những quyền và nghĩa vụ pháp lý trong
quan hệ pháp luật không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt. dụ, Hiến
pháp Việt Nam 1992 quy định lao động quyền nghĩa vụ của công dân, nhưng
quan hệ pháp luật lao động với những quyền và nghĩa vụ lao động cụ thể giữa một
công dân với một cơ quan, tổ chức nhà nước chỉ phát sinh khi có quyết định tuyển
dụng người công dân nói trên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền nghĩa vụ pháp giữa các bên tham gia quan
hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được, ví dụ, một người cho thuê tài sản
kiện ra tòa đòi tài sản cho thuê, tòa án thụ giải quyết vụ án đó tức là áp dụng pháp
luật để giải quyết tranh chấp giữa người cho thuê tài sản với người thuê tài sản.
- Thứ tư, khi cần áp dụng sự cưỡng chế của nhà nước đối với các chủ thể không vi phạm
pháp luật chỉ lợi ích chung của xã hội, dụ, để phục vụ cho việc xây dựng các
công trình công cộng, cơ quan nhà nước thẩm quyền đã phải ra quyết định thu hồi
đất của các chủ thể đang quyền sử dụng hợp pháp trên diện tích đất đó, đương
nhiên, các chủ thể đang sử dụng phải giao lại đất đó cho nhà nước nhận sự đền
của nhà nước.
- Thứ năm, khi cần áp dụng các hình thức khen thưởng đối với các chủ thể thành tích
theo quy định của pháp luật, ví dụ, việc các chủ thể có thẩm quyền xét tặng bằng khen,
danh hiệu vinh dự nhà nước cho một chủ thể nào đó chính là áp dụng pháp luật trong
trường hợp này.
- Thứ sáu, khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền nghĩa vụ pháp của các
chủ thể trong một số quan hệ pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật. Thứ bảy,
lOMoARcPSD| 58702377
khi cần phải xác nhận sự tồn tại của một sự kiện thực tế cụ thể nào đó theo quy định
của pháp luật. Chẳng hạn như: Nhà Nước chứng thực tính hợp pháp của hợp đồng mua
bán tài sản; tính hợp pháp của di chúc; chứng nhận sự kiện sinh hay sự kiện chết của
một người nào đó.
Việc ban hành nhiều đạo luật rất quan trọng nhưng quan trọng hơn phải làm cho pháp
luật phát huy tác dụng tích cực trong cuộc sống. Thực hiện pháp luật là khâu quan trọng để
các đạo luật, các văn bản quy phạm pháp luật đi vào thực tế cuộc sống. Nó phải được thển
hiện dưới các hình thức thông qua các quy định chặt chcủa pháp luật. Thực hiện pháp
luật đạt hiệu quả là góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, ổn định tình hình chính trị của đất
nước trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Thực hiện pháp luật quá
trình phức tạp, phải được nhạn thức đúng, tiến hành đồng bộ một trong những vấn đề
cấp thiết hiện nay.
NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI
1. Xã hội học pháp luật là lĩnh vực nghiên cứu giáp ranh lien ngành giữa xã hội học
và luật học
2. XHHPL nghiên cứu khía cạnh xh của pl
3. Nghiên cứu ý thức pl là 1 nội dung thuộc đối tượng nghiên cứu của XHHPL
4. XHHPL không có mối lien hệ gì với Lý luận nn và pl
5. XHHPL và Lý luận nn và pl có đối tượng nghiên cứu khác nhau
6. Lý luận nn và pl cung cấp cho XHHPL công cụ tiếp cận nghiên cứu các khía cạnh
xh của pl, đồng thời sở để xây dựng các chỉ báo nhằm nghiên cứu thực
nghiệm các sự kiện, hiện tượng pl xảy ra trong đời sống xh
7. Hiện tượng tội phạm là khách thể chung của xhhpl và tội phạm học
8. XHHPL không có mối quan hệ chặt chẽ với các khoa học pháp lý chuyên ngành
9. XHHPL trang bị cho người nghiên cứu môn học cách thức tiếp cận nghiên cứu
các quy luật của quá trình phát sinh, hoạt động và phát triển của pl bằng tri thức
xhh qua việc nghiên cứu hệ thống các khái niệm, thuyết phương pháp của
môn học. Nội dụng trên thể hiện chức năng thực tiễn của môn XHHPL
10. XHHPl chỉ bao gồm 2 chức năng: nhận thức và thực tiễn
11. Chức năng nhận thức của XHHPL giúp chúng ta làm sang tỏ các nguyên nhân
điều kiện dẫn đến các hành vi sai lệch chuẩn mực pl. hậu quả của hành vi sai lệch
giúp cho các cá nhân, nhóm xh nhận thức đầy đủ hơn vị thế, vai trò của mình
12. Chức năng thực tiễn của XHHPL có quan hệ mật thiết với chức năng nhận thức
13. Chức năng dự báo của xhhpl chỉ ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động xây dựng
pl
14. Một cuộc điều tra XHH về 1 vấn đề pl phải trải qua 2 giai đoạn
15. Công việc của giai đoạn chuẩn bị chủ yếu liên quan đến việc chuẩn bị cho nội dung
của vấn đề pl được nghiên cứu
16. Xác định vấn đpl cần nghiên cứu đặt tên đề tài nghiên cứu bước đầu tiên
trong giai đoạn chuẩn bị tiến hành 1 cuộc điều tra xhh về vấn đề pl
lOMoARcPSD| 58702377
17. Giả thuyết nghiên cứu đưa ra không được trái với các nguyên tác, quy định của
Hiến pháp, pl hiện hành
18. Mỗi phương pháp thu thập thông tin đều đảm bảo tính tổng hợp và toàn diện khi
sử dụng
19. Thành phần của miêu tả trong phân tích thông tin chỉ 1 yếu tố duy nhất
những tài liệu nghiên cứu có tính chất kinh nghiệm
20. Giải thích xác nhận hoặc loại bỏ 1 giả thiết nào đó hay toàn bhệ thống giả thuyết
21. Đối với nhà nghiên cứu xhhpl giá trị của tài liệu trước hết là nội dung bảng hỏi
22. Phương pháp phân tích định tính gắn liền với việc phân tích các số liệu, chỉ báo,
các nhóm dấu hiệu thu thập được từ c cuộc khảo sát, điều tra xhhpl, tìm ra
những mối liên hệ nhân quả giữa các thông spps, các chỉ báo về pl
23. Phương pháp quan sát là pp thu thập thông tin xh sơ cấp về đối tượng bằng sự tri
giác trực tiếp của người nghiên cứu
24. Quan sát tham dự là quan sát “từ bên trong” và có độ tin cậy rất cao
25. PP phỏng vấn chỉ bao gồm phỏng vấn tiêu chuẩn hóa phỏng vấn không tiêu
chuẩn hóa
26. Quan điểm xhhpl tiếp cận, nghiên cứu pl dựa trên 2 quan điểm khác nhau
27. Cơ cấu xh cho phép chúng ta giải thích xh được cấu thành từ những thành tố nào,
cách thức sắp xếp và liên kết các bộ phận của xh ra sao
28. Cơ cấu xh là 1 bộ khung để xem xét xh
29. Nhóm xh không có sự phân chia thành các nhóm riêng
30. Nhóm gđ, hội nghề nghiệp là vd trong nhóm sơ cấp
31. Trong nhóm thứ cấp, các mối qh xh rời rc, thành lập theo 1 quy trình đơn giản,
các tv của nhomd biệt lập với nhau
32. Vị thế xh sự “mong chờ” hvi đặc thù đối với người mang 1 vị thế nhất định
trong xh
33. Vị thế xh và vai trò xh có mối quan hệ tác động qua lại với nhau
34. Thiết chế xh 1 tập hợp không bền vưng của các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai
trò, nhóm xh lập ra không có chủ đích vận động xung quanh nhu cầu cơ bản của
xh
35. Căn cứ vào các đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi, cơ cấu lứa tuổi phân chia thành các
nhóm: người thành niên, người chưa thành niên
36. Cá nhân có nhiệm vụ tổng hợp và tạo ra cho mình 1 hệ thống chuẩn mực riêng
37. Trong nhóm thứ cấp, các mối quan hệ xh được thiết chế hóa, thành lập theo 1 quy
trình chặt chẽ các tv của nhóm ý thức được nhóm của họ tồn tại để đạt được
mục đích nào đó
38. Chuẩn mực xh có thể là 1 cái gì đó chung chung, trừ tượng, khó nhận biết
39. Cái có thể dùng để chỉ khả năng hành động hay không hành động
40. Chuẩn mực xh thành văn những loại chuẩn mực xh các nguyên tắc, quy
định của chúng được ghi chép lại thành văn bản dưới những hình thức nhất định
41. Tính tất yếu xh là 1 trong các đặc trưng cơ bản của chuẩn mực xh
42. Theo thời gian, sự định hướng chuẩn mực xh đòi hỏi phải chú ý đến lợi ích của
các cộng đồng người, các nhóm xh khác nhau
lOMoARcPSD| 58702377
43. Các loại chuẩn mực xh không mang tính bất biến thường trong trạng thái
động
44. Tồn tại 1 loại chuẩn mực xh chung cho mỗi chế độ, mỗi nn, mỗi nhóm xh
45. Chuẩn mực chính trị được thể hiện cả 2 phương diện: chuẩn mực chính trị đối
nội và đối ngoại
46. Chuẩn mực chính trị đối nội tồn tại độc lập với chuẩn mực chính trị đối ngoại
47. Chuẩn mực tôn giáo là loại chuẩn mực xh không thành văn
48. Chuẩn mực tôn giáo chỉ có những tác động tích cực
49. Tìm hiểu các mối liên hệ giữa pl với hiện thực xh và các nhân tố xh có ảnh hưởng,
liên quan đến pl phục vụ cho việc hoạch định chính sách pl nói chung cũng như
kế hoạch xây dựng pl thep các cấp độ ngắn hạn, trung hạn dài hạn của cơ quan
lập pháp
50. Để đảm bảo các văn bản pl được áp dụng có hiệu quả trên thực tế, các cơ quan nn
sẽ áp dụng các biện pháp xh (tạo dựng môi trường văn hóa – xã hội thuận lợi, bầu
không khí tâm lý xh đồng thuận,…)
51. Năng lực soạn thảo các dự án luật không ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng pl
52. Nhận thức của các chủ thể hoạt động xây dựng pl ảnh hưởng mạnh mẽ đến
chất lượng văn bản pl
53. Thông tin đại chúng tạo sở thông tin để tầng lớp xh tham gia vào hoạt động xây
dựng pl
54. luận xh chỉ thể hiện lợi ích riêng của bộ phận người không đồng ý với chính
sách pl
55. Tăng cường công tác thẩm định nội dung các dự án luật bằng công cụ xh học là 1
biện pháp bảo đảm nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng pl nước ta hiện nay
56. Việc nghiên cứu, đánh giá tác động của văn bản qppl chuẩn bị được ban hành đối
với các đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản 1 khía cạnh xh của doạt
động xây dựng pl
57. Tiến hành các thực nghiệm xhhpl cần các chuyên gia thực hành trình độ luận
về pl và kinh nghiệm thực tiễn cao
58. Sự kết hợp giữa dư luận xh và các phương tiện truyền thông đại chúng tạo thành
công luận
59. Có thể dự đoán được hết những hạn chế của vb qppl ở khâu xây dựng
60. Việc nghiên cứu các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa tưởng,… khác tác động
đến quá trình thực hiện các văn bản qppl chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận
61. Các qppl càng phù hợp với lợi ích của nhiều người thì các quy phạm đó càng hoạt
động cps hiệu quả được sự đồng tình ủng hộ của dông đảo quần chúng nhân
dân
62. Khi nghiên cứu về cơ chế thực hiện pl. xhhpl xem xét các yếu tố xh có mối liên hệ
độc lập, riêng biệt với quá trình hình thành hành vi phù hợp với chuẩn mực pl
63. Cơ chế về sự hiểu biết pl là 1 cơ chế thực hiện pl
64. Để các chủ thể ủng hộ thực hiện hành vi phù hợp với chuẩn mực pl chỉ phụ
thuộc vào việc chủ thể biết đến chuẩn mực đó
65. Sự hiểu biết pl không phải c nào cùng tương ứng với hành vi phù hợp với chuẩn
mực pl chỉ phụ thuộc vào việc chủ thể biết đến chuẩn mực đó
lOMoARcPSD| 58702377
66. Sự hiểu buêts pl không phải lúc nào cũng tương ứng với hành vi phù hợp với
chuẩn mực pl
67. Cơ chế bắt chước có vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự đồng nhất về hành vi
giữa các cá nhân
68. Cơ chế lây lan làm ức chế sự liên kết số đông do không có chung suy nghĩ giữa các
đối tượng
69. Yếu tố chính trị là 1 yếu tố xh ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pl
70. Ý thức pl có vai trò quyết định đến hiệu quả của việc thực hiện pl, góp phần đưa
pl vao cuộc sống
71. Văn hóa pl chỉ có ý nghĩa về mặt nghiên cứu lý luận, không tác động đến việc thực
hiện pl
72. Khi kinh tế phát triển, ổn định, bền vựng sẽ điều kiện thuận lợi cho hoạt động
thực hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pl, ý thức pl của
các tầng lớp xh
73. Cơ chế thị trường không có hạn chế nếu xem xét ở mặt xhhpl
74. Lối sống được hình thành trên cơ sở những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định
75. luận xh của cộng đồng làng tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện
pl
76. Mối quan hệ giữa chính trị áp dụng pl nội dụng quan trọng của xhhpl khi
nghiên cứu về các khía cạnh xh của hoạt động áp dụng pl
77. Kết quả của hoạt động thực hiện pháp luật phụ thuộc trước hết vào chủ thể áp
dụng pl với phẩm chất đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp
78. ảnh hưởng của sự bất cập, hạn chế trong các nguyên tác, quy định của pl hiện
hành nhân tố khách quan trong hoạt động áp dụng pl 79. sự sai lệch tính
tương đối về mặt không gian và văn hóa 80.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58702377
1. Trình bày các hình thức thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?
- Thực hiện pháp luật là hành vi của chủ thể (hành động hoặc không hành động) được
tiến hành phù hợp với quy định, với yêu cầu của pháp luật, tức là không trái, không
vượt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định
- Thực hiện pháp luật có thể là một xử sự có tính chủ động, được tiến hành bằng một
thao tác nhất định nhưng đó cũng có thể là một xử sự có tính thụ động, tức là không
tiến hành vượt xử sự bị pháp luật cấm.
- Có bốn hình thức thực hiện pháp luật:
 Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách thụ động, thể hiện
ở sự kiểm chế của chủ thể để không vi phạm các quy định cấm đoán của pháp luật
Sự kiềm chế của các chủ thể pháp luật được hiểu là khi pháp luật quy định cấm
làm một điều gì đó thì họ không tiến hành hoạt động này mặc dù họ có cơ hội
để thực hiện một hành vi bị cấm.
Ở hình thức này, hành vi của chủ thể pháp luật được thể hiện dưới dạng không hành động.
Ví dụ: không nhận hối lộ, không sử dụng chất ma tuý, không thực hiện hành vi
lừa đảo, không lái xe trong tình trạng say rượu…;
 Thi hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động. Chủ thể
pháp luật phải thực hiện một thao tác nhất định mới có thể thực hiện pháp luật được.
Chủ thể pháp luật phải tiến hành các hoạt động bắt buộc là khi họ ở trong điều
kiện mà pháp luật quy định thì phải làm những việc mà nhà nước yêu cầu, họ
không thể viện lí do để từ chối.
Sự đòi hỏi của nhà nước đối với các chủ thể là phải tích cực tiến hành những
hoạt động nhất định. Ở hình thức này, hành vi của chủ thể thi hành pháp luật
được thể hiện dưới dạng hành động.
Ví dụ, thực hiện nghĩa vụ quân sự, thực hiện nghĩa vụ đóng thuế, nghĩa vụ lao
động công ích, nghĩa vụ nuôi dạy con cái, chăm sóc ông bà, cha mẹ khi già yếu;
 Sử dụng pháp luật là khả năng của các chủ thể pháp luật có thể sử dụng khai
thác hay không sử dụng, khai thác, hưởng quyền mà luật đã dành cho mình.
Đây là hình thức chủ thể pháp luật thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật.
Nhà nước tạo khả năng cho chủ thể pháp luật có thể được hưởng những quyền
nào đó và họ đã căn cứ vào mong muốn, điều kiện của mình để thực hiện các quyền này.
Ví dụ: công dân có quyền đi lại trong nước, ra nước ngoài và từ nước ngoài trở
về nước theo quy định của pháp luật. Nét đặc biệt của hình thức thực hiện pháp
luật này so với tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật là chủ thể pháp luật có
thể thực hiện hay không thực hiện quyền mà pháp luật cho phép còn ở hai hình
thức trên, việc thực hiện mang tính bắt buộc;
 Áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên
các quy định của pháp luật để giải quyết, xử lí những vấn để cụ thể thuộc trách nhiệm của mình. lOMoAR cPSD| 58702377
Đây là hình thức các chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định giải quyết
các vụ việc cụ thể xảy ra trong đời sống, nhằm xác định quyền, nghĩa vụ, trách
nhiệm pháp lí… cho các chủ thể cụ thể, trong những trường hợp cụ thể.
Đây là hình thức thực hiện pháp luật rất quan trọng, phức tạp
Ví dụ: Công dân đến UBND để đăng ký kết hôn à cán bộ UBND xem xét cấp
giấy chứng nhận đăng ký kết hôn là áp dụng pháp luật.
Chú ý: So sánh các hình thức thực hiện pháp luật Về khái niệm:
- Tuân thủ pháp luật: chủ thể pháp luật kiềm chế mình để không thực hiện điều pháp luật cấm
- Thi hành pháp luật: chủ thể pl chủ động thực hiện điều pl yêu cầu
- Sử dụng pl: Chủ thể pl thực hiện diều mà pl cho phép
- Áp dụng pl: cán bộ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể khác thực
hiện quyền hoặc nghĩa vụ do pl quy định Về bản chất
- Tuân thủ pl: thực hiện pl có tính chất thụ động và thể hiện dưới dạng “hành vi không hành động”
- Thi hành pl: chủ động, tích cực thực hiện pháp luật dưới hình thức “hành vi hành động”
- Sử dụng pl: các chủ thể lựa chọn xử sự những điều pháp luật cho phép. Đó có thể là “
hành vi hành động” hoặc “hành vi không hành đông” tùy quy định pháp luật cho phép
- Áp dụng pháp luật: Vừa là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước, nó
vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là một giai đoạn mà các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền tiến hành tổ chức cho các chủ thể pháp luật khác thực hiện các quy
định pháp luật -> Mang tính quyền lực nhà nước. Được thể hiện dưới hình thức “hành
vi hành động” và “hành vi không hành động”.
Về chủ thể thực hiện
- Tuân thủ pl, thi hành pl, sử dụng pl: mọi chủ thể
- Áp dụng pl: chỉ cán bộ, cơ quan nn có thẩm quyền Về hình thức thực hiện
- Tuân thủ pháp luật: Thường được thể hiện dưới dạng những quy phạm cấm đoán. Tức
là quy phạm buộc chủ thể không được thực hiện những hành vi nhất định
- Thi hành pháp luật: Thường được thể hiện dưới dạng những quy phạm bắt buộc. Theo
đó, chủ thể buộc phải thực hiện hành vi hành động, hợp pháp.
- Sử dụng pháp luật: Thường được thể hiện dưới những quy phạm trao quyền. Tức pháp
luật quy định về quyền hạn cho các chủ thể.
- Áp dụng pháp luật: Tất cả các loại quy phạm vì nhà nước có nghĩa vụ cũng như quyền
hạn tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện pháp luật.
Về tính bắt buộc thực hiện
- Tuân thủ pháp luật: Mọi chủ thể đều bắt buộc phải thực hiện theo quy định pháp luật
mà không có sự lựa chọn.
- Thi hành pháp luật: Mọi chủ thể đều bắt buộc phải thực hiện theo quy định pháp luật
mà không có sự lựa chọn.
- Sử dụng pháp luật: Các chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp
luật cho phép tùy theo ý chí của mình, phụ thuộc vào sự lựa chọn của từng chủ thể chứ
không bị ép buộc phải thực hiện. lOMoAR cPSD| 58702377
- Áp dụng pháp luật: Mọi chủ thể đều bắt buộc phải thực hiện theo quy định pháp luật
mà không có sự lựa chọn. Ví dụ:
- Tuân thủ pháp luật: Pháp luật cấm hành vi mua, bán dâm. Do đó, “không thực hiện
hành vi mua, bán dâm” được xem là tuân thủ pháp luật.
- Thi hành pháp luật: Pháp luật quy định về nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cá nhân/ thuế
thu nhập doanh nghiệp. Do đó, nếu không thuộc trường hợp miễn thuế/đối tượng không
chịu thuế thì chủ thể đóng thuế được xem là “thi hành pháp luật”.
- Sử dụng pháp luật: Khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị B xâm phạm,
A có quyền khởi kiện B ra tòa án vì pháp luật trao cho A quyền được khởi kiện B ra tòa
án có thẩm quyền. Khi đó, A được xem là đang “sử dụng pháp luật”.
- Áp dụng pháp luật: Khi A khởi kiện B ra tòa, tòa án đó có trách nhiệm xem xét và thụ
lý đơn khởi kiện của A. Theo đó, tòa án được xem là cơ quan “áp dụng pháp luật”.
2. Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng PL, cho ví dụ cụ thể ?
Yếu tố dư luận: Dư luận xã hội có vai trò và tác động quan trọng đến nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội như kinh tế chính trị đạo đức pháp luật văn hóa giáo dục trong đó
phải kể đến sự tác động ảnh hưởng của dư luận xã hội đối với hoạt động xây dựng pháp luật ở
nước ta hiện nay sự ảnh hưởng đó thể hiện trên các phương diện sau:
- Thứ nhất, một dư luận xã hội là sự thể hiện lợi ích chung thông qua tiếng nói chung của
nhân dân nên đó là điều kiện cần thiết để tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ xã
hội mở rộng nền dân chủ xã hội tích cực tham gia vào hoạt động pháp luật. Như đã nói
ở trên các tầng lớp nhân dân là chủ thể rộng rãi có hoạt động này, Hiến pháp của nhà
nước ta đã khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đồng thời
thiết lập cơ chế bảo đảm sao cho lợi ích của nhân dân và luôn nằm dưới sự kiểm soát
của nhân dân giữa chế độ ta nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hai hình
thức cơ bản là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ trực tiếp là hình thức
nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình. Dân chủ đại diện là hình
thức cơ bản mà thông qua đó nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước vận hành theo
quy định của hiến pháp theo cơ chế này nhân dân tạo ra cơ quan đại diện cơ quan đại
diện trực tiếp tiếp dân quyền lực về nhân dân nên còn được gọi là cơ quan quyền lực
nhà nước. Đối với trường hợp của BLHS 2015 nói riêng và các văn bản khác nói chung,
việc tham gia ý kiến của người dân luôn ít trong quá trình dự thảo, lấy ý kiến người
dân, nhưng khi văn bản được ban hành, sự tham gia này lại rất tích cực. Đây là một
hiện trạng cần thay đổi để tránh trường hợp này lặp lại một lần nữa ở nước ta.
- Thứ hai, dư luận xã hội là nguồn thông tin phản hồi có ý nghĩa rất quan trọng và thiết
thực với quá trình xây dựng pháp luật đối với việc ban hành các quyết định của cá nhân
nhà chức trách có thẩm quyền. Để các văn bản pháp luật xác thực tế các văn bản quản
lý hành chính nhà nước đúng đắn có tính khả thi cao trước khi xây dựng soạn thảo các
dự án luật hay ban hành các quyết định các cơ quan lập pháp cơ quan quản lý nắm bắt
được thực trạng tư tưởng tâm lý các đối tượng xã hội và văn bản pháp luật. Mọi chủ
trương chính sách pháp luật khó có thể trở thành hiện thực nếu không hợp lòng dân lOMoAR cPSD| 58702377
không được nhân dân ủng hộ. Ý kiến về BLHS 2015, Nguyên chánh tòa hình sự
TANDTC Đinh Văn Quế nói trên báo Tuổi Trẻ rằng: “Nếu nghiên cứu kỹ bộ luật Hình
sự 2015, có thể thấy một số điều luật nếu không có giải thích hoặc hướng dẫn thì không
thể áp dụng được”. Ví dụ điều 175 (điều 140 bộ luật Hình sự 1999) quy định về tội
“lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đã bỏ tình tiết “bỏ trốn để chiếm đoạt” trước
đây quy định tại điểm a khoản 1 điều 140 bộ luật Hình sự. Vậy kể từ ngày 1/7/2016 trở
đi cứ vay mượn, thuê tài sản của người khác rồi bỏ trốn để chiếm đoạt thì không phạm
tội sao? Hay như quy định điều 12, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi
chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội đã được liệt kê trong điều luật, còn các
tội phạm khác không được “liệt kê” tại điều 12 thì không phải chịu trách nhiệm hình
sự…Những ý kiến này đã được tiếp thu và sửa đổi trong lần chỉnh sửa sau đó.
- Thứ 3, dư luận xã hội không mang tính pháp lý nhưng nó lại có sức mạnh rất to lớn
trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi hoạt động của các thành viên trong xã hội
trong hoạt động xây dựng pháp luật. Các cá nhân nhà chức trách có thẩm quyền với tư
cách là chủ thể xây dựng pháp luật cần phải biết lắng nghe dư luận xã hội một cách
nghiêm túc và phân tích nó một cách khoa học để rút ra được những kết luận chính xác về thực trạng.
Yếu tố thông tin đại chúng: Sự hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng như
báo chí truyền thanh truyền hình có tác động rất mạnh mẽ và quan trọng tới hoạt động xây
dựng pháp luật thể hiện ở các điểm sau:
Các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp thông tin tương đối đầy đủ và đa dạng về
các sự việc sự kiện hiện tượng pháp lý xảy ra trong hệ thống chính trị xã hội pháp luật phản
ánh hoạt động tiếp xúc cử tri của Quốc hội Hội đồng Nhân dân các cấp qua đó phương tiện
truyền thông tác động tới nhận thức của các chủ thể về tầm quan trọng của hoạt động xây
dựng pháp luật tạo cơ sở thông tin để các tầng lớp xã hội tham gia vào hoạt động xã hội
tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật. Thật vậy, quá trình xây dựng dự thảo, ban hành
BLHS 2015 cũng rất rầm rộ trên báo, đài, tivi và cả mạng xã hội. Truyền thanh, truyền hình
liên tục đưa tin liên quan đến hoạt động này, chính vì vậy, sự tham gia của người dân cũng
nhiều và hiệu quả hơn.
Các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải những thông tin về chính sách pháp luật của
Nhà nước, các dự thảo văn bản pháp luật mới đưa các thông tin đó đến được với đông đảo
các tầng lớp nhân dân. Thông tin đại chúng có những diễn đàn ngôn luận để các chủ thể
của hoạt động xây dựng pháp luật tham gia bình luận phân tích đóng góp ý kiến vào hình
thức nội dung cấu trúc văn bản pháp luật. Đồng thời các phương tiện thông tin đại chúng
đang giải quyết thông tin phản hồi có ý kiến đóng góp của các nhà khoa học các tầng lớp
nhân dân cho hoạt động xây dựng pháp luật. Bằng cách tác động đó thông tin nhà nước
giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tập hợp thông tin xử lý chọn lọc các ý kiến
đánh phục vụ cho việc sửa đổi bổ sung và ngày càng hoàn thiện các văn bản pháp luật.
Ngoài ra các phương tiện thông tin đại chúng còn góp phần đấu tranh chống lại các ấm lOMoAR cPSD| 58702377
nước phá hoại các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc bịa đặt của các thế lực thù địch về nội
dung bản chất hệ thống pháp luật nước ta cùng cố niềm tin của nhân dân vào bản chất ưu
việt của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
3. Trình bày các cơ chế thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?
Thực hiện pháp luật là hành vi của một chủ thể (bao gồm hành động hoặc không hành
động) tiến hành, phù hợp với những quy định và yêu cầu của pháp luật. Có nghĩa là, những
hành vi ấy không trái pháp luật và không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật quy định.
Thực hiện pháp luật bao gồm 04 hình thức sau:
- Sử dụng pháp luật: Các chủ thể pháp luật có thể sử dụng hay không sử dụng các quyền
mà luật pháp cho phép. Ví dụ: công dân có quyền đi du lịch trong nước, ra nước ngoài
hoặc di chuyển từ nước ngoài về Việt Nam theo quy định. Điểm đặc biệt của hình thức
thực hiện pháp luật này là chủ thể có thể thực hiện hay không thực hiện quyền mà pháp luật cho phép.
- Tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật theo cách thụ động. Các cá nhân,
tổ chức kiềm chế để không vi phạm các quy định cấm đoán của pháp luật. Ví dụ như
không nhận hối lộ, không vận chuyển chất ma tuý, không thực hiện các hành vi lừa
đảo, không lái xe sau khi uống rượu bia…
- Thi hành pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật theo hướng chủ động. Chủ thể
pháp luật phải chủ động thực hiện một hành động nhất định theo quy định của pháp
luật. Ví dụ: thanh niên thực hiện nghĩa vụ quân sự, công dân thực hiện nghĩa vụ đóng
thuế, nghĩa vụ lao động công ích…
- Áp dụng pháp luật: Là hình thức của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào
quy định của pháp luật để ra các quyết định, xử lý những vấn đề thuộc phạm vi trách
nhiệm của mình. VD: áp dụng pháp luật vào quy trình giải quyết thủ tục hành
chính, áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp dân sự…
Chú ý: Phân biệt các hình thức thực hiện pháp luật Tuân thủ pháp luật Thi hành pháp
Sử dụng pháp luật Áp dụng pháp luật luật Bản
Là hoạt động thực Là việc chủ thể Là hoạt động thực Là việc những cơ quan chất
hiện pháp luật có pháp luật hành hiện pháp luật bằng có thẩm quyền dựa vào
tính chất thụ động động một hành vi cách hành động pháp luật để điều chỉnh, và thể hiện dưới nào đó
theo hoặc không hành giải quyết những hành vi
dạng không hành hướng chủ động động một sai trái, trong khuôn khổ động một hành vi trách nhiệm quyền nào đó và tích cực hành vi cụ thể hạn của mình lOMoAR cPSD| 58702377 Chủ Mọi chủ thể pháp Mọi chủ thể Mọi chủ thể pháp
Cán bộ, cơ quan nhà nước thể luật pháp luật luật có thẩm quyền thực hiện Hình
Thường là hình thức Thường được thể Thể hiện ở mọi loại Thường được thể hiện thức
cấm đoán một hành hiện dưới hình quy phạm theo hình thức quy phạm thể vi cụ thể nào đó
thức bắt buộc thực khác nhau trao quyền. hiện hiện Tính
Bắt buộc thực hiện Bắt buộc thực
Không bắt buộc.Chủ Bắt buộc thực hiện bắt hiện thể tự thực hiện theo buộc mong muốn của mình
Đặc điểm của thực hiện pháp luật:
- Thực hiện pháp luật bằng hành vi: Hành vi là cách thức tồn tại của con người, được
hình thành trên cơ sở nhận thức và được biểu hiện bằng hành động thực tế. Coi thực
hiện pháp luật bằng hành vi để có cơ sở gắn với trách nhiệm pháp lý của chủ thể
- Thực hiện pháp luật phải đảm bảo các yêu cầu theo pháp luật quy định: Thực hiện pháp
luật là thực hiện các quyền, nghĩa vụ hợp pháp dành cho chủ thể. Thực hiện pháp luật
trên từng lĩnh vực đời sống là khác nhau. Pháp luật cần có yêu cầu cụ thể cho từng lĩnh
vực: về nhận thức, về thời hạn, an ninh xã hội…
- Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích cụ thể: Mục đích thực hiện pháp luật là
phạm trù mang tính cơ quan và tùy thuộc từng lĩnh vực, hình thức thực hiện pháp luật
khác nhau. Mục đích thực hiện pháp luật là không giống nhau. Để đảm bảo thực hiện
pháp luật có tác dụng lâu dài thì mục đích phải rõ ràng, cụ thể.
- Thực hiện pháp luật thông qua quan hệ pháp luật: Quan hệ pháp luật là sản phẩm của
thực hiện pháp luật. Cùng với đó, quan hệ pháp luật tạo môi trường và điều kiện cần
thiết cho quá trình thực hiện pháp luật được hoạt động.
- Thực hiện pháp luật được đảm bảo bằng các chính sách của Nhà nước: Pháp luật là sản
phẩm do Nhà nước tạo nên. Trong hoạt động xã hội, pháp luật thể hiện ý chí của nhân
dân lao động. Do đó, việc pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm minh là yêu
cầu khách quan đặt ra từ chính thực tế xã hội, từ sự mong muốn của Nhà nước cũng
như nguyện vọng chung của hầu hết nhân dân lao động.
Ý nghĩa của thực hiện pháp luật trong xã hội:
- Bằng cách thực hiện pháp luật, các quy định của pháp luật từ tất cả nguồn luật khác
nhau như tập quán pháp, án lệ, văn bản quy phạm pháp luật… mang tính hiện thực hóa,
thực sự đi vào đời sống, trở thành hành vi cụ thể, thực tiễn của các chủ thể pháp luật
tham gia vào các quan hệ xã hội theo điều chỉnh của pháp luật. lOMoAR cPSD| 58702377
- Từ đó, ý chí và mục đích của nhà nước tồn tại trong các quy phạm pháp luật có cơ hội
trở thành hiện thực. Các chủ trương, chính sách, quy định của pháp luật nhà nước đi
vào cuộc sống thực và phát huy được hết vai trò, tác dụng, hiệu quả của chúng. Qua đó
giúp cho đời sống xã hội được ổn định, trật tự và có điều kiện phát triển bền vững. Các
quyền và lợi ích hợp pháp của những cá nhân, tổ chức được bảo đảm, bảo vệ và đời
sống xã hội được an toàn.
- Trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, thông qua các hoạt động phổ biến và giáo
dục pháp luật, các chủ thể sẽ có điều kiện được nâng cao nhận thức về pháp luật, hiểu
rõ hơn các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình trong mối quan hệ pháp luật. Nhờ đó,
họ tích cực và chủ động tham gia vào xây dựng các quan hệ đó, chủ động tiếp cận các
nguồn lực để phát triển.
- Thông qua quá trình thực hiện pháp luật, những hạn chế, thiếu sót (nếu có) của pháp
luật sẽ được, được bộc lộ và kịp thời xử lý. Từ đó, hệ thống pháp luật sẽ ngày càng
hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với thực tế nhờ vào quá trình sửa đổi, bổ sung và thay thế
kịp thời những khiếm khuyết, chưa phù hợp.
4. Trình bày các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng đến việc thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?
Yếu tố kinh tế:
Yếu tố kinh tế bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế – xã hội, hệ thống các
chính sách kinh tế, chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong thực
tế xã hội. Nền kinh tế – xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho
hoạt động thực hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý
thức pháp luật của các tầng lớp xã hội. Ngược lại, nền kinh tế – xã hội chậm phát triển,
kém năng động và hiệu quả sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật của
các chủ thể pháp luật. Yếu tố kinh tế là nền tảng của sự nhận thức, hiểu biết pháp luật và
thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật.
Quá trình thực hiện pháp luật chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển kinh tế – xã hội.
Nước ta là một nước đang phát triển, trình độ kinh tế xã hội ở mỗi vùng miền là khác nhau,
do đó nó cũng ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện pháp luật ở nước ta. Kinh tế có
phát triển, đời sống vật chất của các tầng lớp dân cư được cải thiện, lợi ích kinh tế được
đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn khởi, tin tưởng vào đường lối kinh tế, chính sách pháp luật,
sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động điều hành, quản lý của Nhà nước. Khi đó, niềm tin của
các chủ thể đối với pháp luật được củng cố, hoạt động thực hiện pháp luật sẽ mang tính
tích cực, thuận chiều, phù hơp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật hiện hành. Khi kinh tế
phát triển, đời sống tinh thần, vật chất đươc cải thiện, các cán bộ, công chức Nhà nước, các
tầng lớp nhâ dân có điều kiện mua sắm các phương tiện nghe, nhìn, có điều kiện thõa mãn
các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng và cập nhật. Các chương trình phổ biến, giáo dục
pháp luật sẽ dễ dàng đến được với đông đảo cán bộ và nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang
bị thông tin, kiến thức pháp luật trở thành nhu cầu tự giác, thường trực trong suy nghĩ và
hành động của họ. Điều đó giúp cho hoạt động thục hiên pháp luật của các chủ thể mang
tính tự giác, tích cực. lOMoAR cPSD| 58702377
Còn khi kinh tế chậm phát triển, thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp gia tăng, lợi ích kinh
tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ, nhân dân gặp khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn
biến phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh, tác động tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật.
Đây chính là mảnh đất lý tưởng cho sự xuất hiện các loại hành vi vi phạm pháp luật, đi
ngược lại các giá trị, chuẩn mực pháp luật như tệ quan liêu, của quyền, nhũng nhiễu, tham
nhũng trong cán bộ; buôn lậu, trốn thuế; trộm cắp, cướp giật…trong các thành phần xã hội bất hảo.
Cơ chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật. Cơ chế tập trung quan liêu,
bao cấp trước đây đã tạo ra tâm lú thụ động, ỷ lại. Do đó nhận thúc pháp luật và hoạt động
thực hiện pháp luật thường mang tính phiến diện, một chiều theo kiểu mệnh lệnh – phục
tùng. Cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay với những mặt tích
cực của nó sẽ tạo ra tư duy năng động, sáng tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của hoạt động kinh tế.
Từ đó tác động tích cực hơn tói ý thức pháp luật và hành vi thực hiện pháp luật của các chủ
thể trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và tiêu dùng. Nhưng mặt trái của
tâm lý thị trường sẽ tạo ra tâm lý sùng bái đồng tiền, coi tiền là tất cả, bất chấp các giá trị
đạo đức, pháp luật đồng thời sẽ tạo ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện
pháp luật, lấy đồng tiền làm thước đo đánh giá các quan hệ giữa người với người. Đây là
nguyên nhân phát sinh các hành vi trái pháp luật, là môi trường cho các loại tội phạm nảy sinh và phát triển.
Việc thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo các nguyên tắc của công bằng xã hội là điều
kiện cần thiết cho sự ổn định chính trị, tăng cường pháp chế và đoàn kết mọi tầng lớp nhân
dân trong xã hội; củng cố ý thức của con người về cái chung trong các lợi ích, lý tưởng của
họ, khơi dậy thái độ tích cực của quần chúng đối với việc tham gia quản lý Nhà nước, quản
lý xã hội bằng pháp luật; nhờ đó ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật cũng được nâng lên
một bước và việc thực hiện pháp luật của các chủ thể trở nên tự giác và chủ động hơn.
Yếu tố chính trị:
Yếu tố chính trị là toàn bộ yếu tố tạo nên đời sống chính trị của xã hội ở từng giai đoạn lịch
sử nhất định, bao gồm môi trường chính trị, hệ thống các chuẩn mực chính trị, chủ trương,
đường lối, chính sách của Đảng và quá trình tổ chức, thực hiện chúng; các quan hệ chính
trị và ý thức chính trị, hoạt động của hệ thống chính trị. Cùng với đó là nền dân chủ xã hội
và bầu không khí chính trị – xã hội.
Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quae của hoạt động thực hiện pháp luật
của các chủ thể pháp luật, đặc biệt là các cá nhân, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp
dụng pháp luật. Một đất nước có môi trường chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi đối với
hoạt động thực hiện pháp luật, bởi nó củng cố niềm tin của người dân, để họ tin và đi theo
Đảng. Một đất nước bất ổn về chính trị sẽ luôn khiến người dân hoang mang, lo lắng, dao
động…và dẫn đến việc thực hiện pháp luật không tốt. Nhận thấy đây là một trong những
yếu tố quan trọng cho việc thực hiện pháp luật hiệu quả, chính xác. Hiện nay Đảng ta luôn
quan tâm chỉ đạo sâu sát đối với việc tuyên truyền và phổ biến kiến thức nhằm nâng cao ý
thức chính trị cũng như hiểu biết pháp luật cho các Đảng viên và đã đạt được kết quả tốt lOMoAR cPSD| 58702377
đẹp, để các Đảng viên luôn là những người đi trước, gương mẫu thực hiện pháp luật, từ đó
tăng được lòng tin của quần chúng nhân dân.
Môi trường chính trị – xã hội của đất nước ta trong những năm qua luôn ổn định, phát triển
bền vững chính là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật, vì nó củng cố
ý thức và niềm tin chính trị của cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân đối với sự lãnh
đạo của Đảng, gia tăng lập trường chính trị - tư tưởng của các cá nhân có thẩm quyền áp
dụng pháp luật. Thực tiễn lịch sử chứng minh rằng, trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX,
khi mà Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu suy thoái, tan rã, một bộ phận
không nhỏ cán bộ, Đảng viên, nhân dân có sự hoang mang, dao động về tư tưởng, tâm lý;
nhưng nhờ mội trường chính trị ổn định dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nên
chúng ta đã vượt qua thử thách một cách thành công.
Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng có ảnh hưởng rất quan trọng tới hoạt
động thực hiện pháp luật. Ở nước ta, sự vận hành của hệ thống pháp luật trên các phương
diện xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng muốn xây dựng được một bộ máy Nhà
nước trong sạch, vững mạnh vận hành trên các cơ sở nguyên tắc, quy định của pháp luật
thì vấn đề thực hiện pháp luật một cách nhất quán, nghiêm chỉnh từ phía cán bộ, Đảng viên
và nhân dân phải được đặt lên trên vị trí hàng đầu.
Muốn cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc thì cán bộ, Đảng viên phải là
những người đi trước, gương mẫu thực hiện và có “năng lực tổ chức và vận động nhân dân
thực hiện đường lối của Đảng , pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với
nhân dân, biết phát huy sức dân”. Chính vì vậy, Đảng ta luôn quan tâm và chỉ đạo sâu sắc
đối với các hoat động pháp luật, trong đó có thực hiện pháp luật .
Ý thức chính trị cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động thực hiện pháp luật. Nó phản
ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia
cũng như thái độ của các giai cấp đối với quyền lực Nhà nước, thể hiện trực tiếp và tập
trung nhất lợi ích giai cấp. Ở nước ta, hệ thống chính trị được thể hiện trong cương lĩnh,
đường lối chính trị của Đảng cũng như trong các chính sách, pháp luật của Nhà nước dựa
trên nền tanngr của chủ nghĩa Mác – Leenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vai trò chủ đạo
trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện và vì lợi ích của đông đảo các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động.
Trong hoạt động thực hiện pháp luật, ý thức chính trị thể hiện trước hết ở việc các chủ thể
có chức năng áp dụng pháp luật quán triệt, thấm nhuần nhiệm vụ chính trị của mình, lãnh
đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật, giữ nghiêm kỷ
cương, phép nước. Điều đó sẽ giúp cho hoạt động thực hiện pháp luật thực sự đạt được
chất lượng, hiệu quả cao, khơi dậy ý thức, trách nhiệm chính trị của các chủ thể khác trong thực hiện pháp luật.
Tính chất, mức độ của nền dân chủ xã hội cũng có ảnh hưởng tới hoạt động thực hiện pháp
luật. Trong điều kiện xã hội có nền dân chủ rộng rãi, thông tin đa dạng, phong phú, nhiều
chiều, các tầng lớp xã hội có thể thẳng thắn, công khai, cởi mở, bày tỏ chính kiến, quan
điểm, nguyện vọng của mình đối với các vấn đề pháp luật và các cơ quan thực hiện pháp lOMoAR cPSD| 58702377
luật hoặc yêu cầu các cơ quan pháp luật trợ giúp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình.
Ngược lại, trong điều kiện xã hội thiếu dân chủ, thông tin nghèo nàn, thậm chí bị bưng bít
thì bầu không khí chính trị – xã hội bị ngột ngạt, gò bó, các công dân không dám nói thật
suy nghĩ của lòng mình, không dám đòi hỏi công lý vì e ngại ý kiến, yêu cầu mà họ đưa ra
có thể “phạm húy” hoặ không “hợp khẩu vị” của ai đó.
Yếu tố văn hóa – xã hội:
Các yếu tố văn hóa – đời sống bao giờ cũng thuộc về một môi trường văn hóa xã hội nhất
định gắn liền vói một phạm vi không gian xã hội nhất định, nơi các cá nhân và cộng đồng
người tổ chức các hoạt động sống, sinh hoạt, cùng nhau tạo dựng, thừa nhận và chia sẻ các
giá trị văn hóa, lối sống, phong tục tập quán, lễ nghi… Với những mặt, những khía cạnh
biểu hiện của mình, các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện
pháp luật, thể hiện trên các điểm sau:
Các phong tục tập quán trong cộng đồng xã hội có ảnh hưởng nhất định tới hoạt động thực
hiện pháp luật của các tầng lớp nhân dân, thể hiện đặc biệt rõ nét ở khu vực nông thôn. Bên
cạnh những ưu điểm rất căn bản, các phong tục tập quán ở nông thôn cũng đang bộc lộ
những nhược điểm nhất định như việc tổ chức hội hè, đình đám, ma chay, giỗ chạp nhiều
lúc nhiều nơi còn cồng kềnh, tốn kém và lãng phí; những hủ tục lạc hậu, lỗi thời còn tồn
tại; trình độ dân trí còn thấp; thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội phát sinh; tính tích cực chính
trị – xã hội của người dân còn hạn chế…
Tại một số làng xã, chính quyền và người dân đứng ra tổ chức lễ hội ồn ào, kéo dài, ảnh
hưởng đến sản xuất và sinh hoạt, bán vé và thu phí sai nguyên tắc tài chính, sự chỉ đạo
thiếu sâu sát, để cho một số người lợi dụng lễ hội để hành nghề mê tín dị đoan. Trong khi
một số thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội như nạ cờ bạc, số đề, mê tín dị đoan, mại dâm…
đang xâ nhập vào nông thôn, thì có những người, thay vì tích cực đấu tranh, ngăn chặn,
phòng ngừa lại tiếp tay hoặc trực tiếp tham gia vào những thói xấu đó. Những hiện tượng
trên đây gây khó khăn cho việc thực hiện đúng đắn pháp luật, đồng thời là những hành vi
vi phạm pháp luật, coi thường kỷ cương, phép nước, cần phải có biện pháp xử lý nghiêm minh, thích đáng.
Lối sống đô thị và lối sống nông thôn có ảnh hưởng khác nhau tới hoạt động thực hiện pháp
luật. Đặc trưng nổi bật của lối sống đô thị là tích cực chính trị – xã hội ở đo thị cao. Cư dân
đô thị có nhiều điều kiện tiếp xúc với các thông tin chính trị – xã hội và tích cực tham gia
vào các hoạt động xã hội lớn mà phần nhiều được tổ chức tại các đô thị. Các phong trào có
sức huy động quần chúng ở các đô thị thường diễn ra nhanh hơn so với ở nông thôn. Đây
cũng là điều dễ hiểu vì đô thị thường là nơi tập trung nhiều thành phần xã hội có trình độ
học vấn tương đối cao.
Tại các thành phố, phạm vi giao tiếp về xã hội cơ bản tương đối rộng, cường độ giao tiếp
cao và mang tính ẩn danh trong giao tiếp. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và
phát triển ý thức pháp luật và các hình thức thực hiện pháp luật. Mặt khác, đô thị là nơi tập
trung phần lớn bộ phận không thể thiếu trong dân cư đô thị thường được gọi dưới cái tên
“những phần tử ngoài lề xã hội”. Về phương diện xã hội, đây là môi trường phát sinh nhiều lOMoAR cPSD| 58702377
loại tệ nạn xã hội và tội phạm nhiều tới mức đáng báo động, gây khó khăn cho công tác
quản lý xã hội và hoạt động thực thi, bảo vệ pháp luât.
Lối sống nông thôn là lối sống mang tính cộng đồng rất cao và rất chặt chẽ, liên kết cả
thành viên trong làng xã lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác . Điều
đó thể hiện ở mối quan hệ gắn bó, sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong
gia đình, dòng họ, lối xóm ở nông thôn. Người dân nông thôn thường sống đoàn kết gắn
bó với quê hương làng xóm, rất coi trọng tình làng nghĩa xóm. Đây là một biểu hiện rất
riêng, rất đặc thù của lối sống nông thôn Việt.
Tính cộng đồng được coi là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực hiện pháp luật. Bằng
ý thức cộng đồng, nó giúp cho các cán bộ pháp luật dễ dàng hơn trong việc phổ biến, tuyên
truyền và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước đến với đông đảo người dân nông thôn. Sức mạnh của tinh thần đoàn kết giúp cho
các cơ quan hành chính, tư pháp hoàn thành tốt các nhiệm vụ thực thi và bảo vệ pháp luật.
Khi truyền thống làng xã được phát huy, người dân cởi mở, thẳng thắn tham gia ý kiến về
những cái được và cái chưa được trong hoạt động thực hiện pháp luật. Sự đề cao tính cộng
đồng và chủ nghĩa tập thể dễ dẫn cán bộ làm công tác thực thi và bảo vệ pháp luật đến việc
đánh mất ý thức về con người cá nhân, cái tôi bị triệt tiêu, ý thức cá nhân và hành vi cá
nhân cũng bị đặt vào lối xử thế hòa cả làng. Tình trạng này khiến cho cán bộ cả nước khi
phải đối mặt với những việc làm sai trái, khuyết điểm, thậm chí vi phạm pháp luật, thì họ
thường tìm cách né tránh trách nhiệm cá nhân và muốn đó là trách nhiệm tập thể.
Bên cạnh đó tính cộng đồng thường là cái cớ được cán bộ làm công tác thực thi và bảo vệ
pháp luật dùng để biện minh cho thói quen ỷ lại vào tập thể và tâm lý an phận thủ thường.
Cính điều này làm hạn chế năng lực sáng tạo, sự chủ động và quyết đoán của họ trong điều
hành, giải quyết các công việc chung từ đó ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật.
Các phương tiện thông tin đại chúng thuồng xuyên đăng tải các thông tin về các sự kiện
pháp luật hiện tượng xảy ra trong xã hội, hoạt động thực hiện pháp luật của các tầng lớp xã
hội. và của các cơ quan chức năng, nêu lên những tấm gương điển hình người tốt việc tốt
trong việc thực hiện pháp luật… Những thông tin đó ở chừng mực khác nhau tác động đến
suy nghĩ, nhận thức và hành vi của mỗi con người, khiến cho họ thực hiện pháp luật tốt hơn.
Dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến hoạt động thực hiện pháp luật. Dư luận xã hội
gắn liền với ý chí cộng đồng của nhóm xã hội mà nó tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ và
hành động của các cá nhân. Trong một chừng mực nhất định người ta có thể không sợ sự
trừng phạt của pháp luật khi thực hiện những hành vi sai trái, phạm pháp nhưng chúng lại
sợ sự phê phán lên án của dư luận xã hội – một thứ bất thành văn.
Trong điều kiện xã hội có nền dân chủ rộng rãi, dư luận xã hội được coi là phương tiện
kiểm tra xã hội đối với ý thức pháp luật và hành vi pháp luật của mỗi người. Dưới áp lực
của dư luận xã hội, mỗi người luôn phải xem xét, suy nghĩ, kiểm định trước khi thực hiện
một hành vi pháp luật nào đó. Những câu hỏi phải được đặt ra về cái đúng, cái sai, nên hay
không nên… Nhờ đó, ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật trong mỗi chủ thể cũng được nâng lên một bước. lOMoAR cPSD| 58702377
Yếu tố pháp luật:
Yếu tố pháp luật là tổng thể các yếu tố tạo nên đời sống pháp luật của xã hội ở từng giai
đoạn nhất định bao gồm hệ thống pháp luật, các quan hệ pháp luật… Bản thân pháp luật
được sinh ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội là cơ sở để các chủ thể thực hiện pháp
luật. Song chính các mặt, khía cạnh khác nhau của các chuẩn mực pháp luật cũng có ảnh
hưởng nhất định đến hoạt động thực hiện pháp luật.
Văn hóa pháp luật được hình thành từ tổng thể các hoạt động xã hội – pháp luật trên cả
phương diện lý luận và thực tiễn, văn hóa pháp luật là hệ thống các giá trị, chuẩn mực pháp
luật được kết tinh từ trí thức pháp luật, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật và hành vi pháp
luật; có ảnh hưởng sâu rộng tới các hình thức pháp luật từ tuân thủ chấp hành sử dụng cho
tới áp dụng pháp luật. Văn hóa pháp luật được thể hiện ra trong đời sống pháp luật thông
qua quá trình thực hiện pháp luật. Giữa văn hóa pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Văn hóa pháp luật là cơ sở, nền tảng, khuôn mẫu tư duy
và chuẩn mực hành vi của hoạt động thực hiện pháp luật, có định hướng đúng đắn. Ngược
lại, hoạt động thực hiện pháp luật có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm cho các giá trị
chuẩn mực của văn hóa pháp luật.
Các yếu tố truyền thống cũng có ảnh hưởng không nhỏ đối với hoạt động thực hiện pháp
luật trong giai đoạn hiện tại. Sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật là nhằm khắc phục tính
thiển cận, cục bộ trong quá trình phát triển, sản xuất, xây dựng làng xã trên các lĩnh vực
kinh tế – xã hội. Thông qua pháp luật, Nhà nước nhắc nhở, duy trì mọi nghĩa vụ của người
dân và làng xã đối với Nhà nước và xã hội. Trong quá trình phát triển Nhà nước thừa nhận
làng có lệ riêng của mình sao cho không trái với nguyên tắc quy định của pháp luật. Hệ
thống tự quản chủ yếu dựa vào dư luận xã hội, uy tín của các vị chức sắc và đặc biệt vai
trò của lệ làng. Cần kết hợp cả hai hình thức quản lý này trong hoạt động thực hiện pháp luật.
Sự tồn tại dai dẳng của pháp luật do các chế độ cũ để lại có ảnh hưởng nhất định tới hoạt
động thực hiện pháp luật. Một số người có quan niệm sai lầm cho rằng pháp luật chỉ chủ
yếu là công cụ trừng phạt, do thiếu hiểu biết họ có tâm lý sợ hãi pháp luật. Tâm lý lo sợ đó
khiến cho hành vi của con người thiếu ổn định do đó khó có thẻ dẫn đến hành vi xử sự tích
cực trước pháp luật và đối với pháp luật.
Tình trạng thờ ơ trước pháp luật hoặc coi thường pháp luật ở một số người tác động tiêu
cực đến việc thực hiện pháp luật của những người khác. Vẫn còn tồn tại tình trạng không
tuân thủ pháp luật, thờ ơ coi thường pháp luật. Điều này không chỉ ảnh hưởng xấu đến việc
thực hiện pháp luật mà còn có tác động không nhỏ tới xã hội cộng đồng.
Ý thức, niềm tin đối với pháp luật của con người có ảnh hưởng quan trọng tới việc thực
hiện pháp luật. Bởi lẽ, nếu thiếu sự tin tưởng vào pháp luật, không có niềm tin vững chắc
vào tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật…thì việc thực hiện pháp luật không thể
tốt và chặt chẽ được.
Sự hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện pháp luật có tác động quan
trọng đến việc hoạt động thực hiện pháp luật. Sự can thiệp của các cơ quan chức năng nhằm lOMoAR cPSD| 58702377
đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện mỗi khi xảy ra vi phạm pháp luật, tranh
chấp là cần thiết, đúng đắn.
Chú ý: Tình hình thực tiễn pháp luật ở nước ta hiện nay
Thực hiện pháp luật hiện nay ở nước ta đang là vấn đề nóng bỏng. Trước thực trạng coi
thường kỷ cương phép nước, bất chấp pháp luật của một bộ phận dân cư, nhiều tác giả đã
đi sâu nghiên cứu vấn đề này. Ở nước ta hiện nay có nhiều quan điểm về vấn đề áp dụng
pháp luật. Nhưng nhìn chung các định nghĩa về áp dụng pháp luật đó tương đối đồng nhất,
sự khác nhau có chăng chỉ là việc sử dụng các từ ngữ khác nhau để diễn đạt mà thôi.
Trong hoạt động áp dụng pháp luật bao hàm tất cả các hình thức thực hiện pháp luật. Việc
các cơ quan nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật, thực
hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ đòi hỏi các cơ quan phải tuyệt đối tuân thủ pháp
luật, tức là tự kiềm chế không phạm vào các điều cấm trong khi áp dụng pháp luật. Thi
hành các nghĩa vụ pháp lý và vận dụng đúng đắn, chính xác các quy phạm pháp luật trong
quá trình áp dụng pháp luật. Nói cách khác, các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm
quyền phải tiến hành áp dụng pháp luật trong các trường hợp sau:
- Thứ nhất, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế do các chế tài pháp luật quy định
đối với những chủ thể vi phạm pháp luật, ví dụ cho trường hợp này là việc cảnh sát giao
thông xử phạt người vi phạm luật giao thông, Hội đồng kỷ luật nhà trường xử lý kỷ
luật đối với cán bộ, giáo viên hoặc sinh viên vi phạm kỷ luật…
- Thứ hai, nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước, những quyền và nghĩa vụ pháp lý trong
quan hệ pháp luật không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt. Ví dụ, Hiến
pháp Việt Nam 1992 quy định lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân, nhưng
quan hệ pháp luật lao động với những quyền và nghĩa vụ lao động cụ thể giữa một
công dân với một cơ quan, tổ chức nhà nước chỉ phát sinh khi có quyết định tuyển
dụng người công dân nói trên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan
hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được, ví dụ, một người cho thuê tài sản
kiện ra tòa đòi tài sản cho thuê, tòa án thụ lý và giải quyết vụ án đó tức là áp dụng pháp
luật để giải quyết tranh chấp giữa người cho thuê tài sản với người thuê tài sản.
- Thứ tư, khi cần áp dụng sự cưỡng chế của nhà nước đối với các chủ thể không vi phạm
pháp luật mà chỉ vì lợi ích chung của xã hội, ví dụ, để phục vụ cho việc xây dựng các
công trình công cộng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã phải ra quyết định thu hồi
đất của các chủ thể đang có quyền sử dụng hợp pháp trên diện tích đất đó, và đương
nhiên, các chủ thể đang sử dụng phải giao lại đất đó cho nhà nước và nhận sự đền bù của nhà nước.
- Thứ năm, khi cần áp dụng các hình thức khen thưởng đối với các chủ thể có thành tích
theo quy định của pháp luật, ví dụ, việc các chủ thể có thẩm quyền xét tặng bằng khen,
danh hiệu vinh dự nhà nước cho một chủ thể nào đó chính là áp dụng pháp luật trong trường hợp này.
- Thứ sáu, khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của các
chủ thể trong một số quan hệ pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật. Thứ bảy, lOMoAR cPSD| 58702377
khi cần phải xác nhận sự tồn tại của một sự kiện thực tế cụ thể nào đó theo quy định
của pháp luật. Chẳng hạn như: Nhà Nước chứng thực tính hợp pháp của hợp đồng mua
bán tài sản; tính hợp pháp của di chúc; chứng nhận sự kiện sinh hay sự kiện chết của một người nào đó.
 Việc ban hành nhiều đạo luật là rất quan trọng nhưng quan trọng hơn là phải làm cho pháp
luật phát huy tác dụng tích cực trong cuộc sống. Thực hiện pháp luật là khâu quan trọng để
các đạo luật, các văn bản quy phạm pháp luật đi vào thực tế cuộc sống. Nó phải được thển
hiện dưới các hình thức thông qua các quy định chặt chẽ của pháp luật. Thực hiện pháp
luật đạt hiệu quả là góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, ổn định tình hình chính trị của đất
nước trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Thực hiện pháp luật là quá
trình phức tạp, phải được nhạn thức đúng, tiến hành đồng bộ là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay.
NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI
1. Xã hội học pháp luật là lĩnh vực nghiên cứu giáp ranh lien ngành giữa xã hội học và luật học
2. XHHPL nghiên cứu khía cạnh xh của pl
3. Nghiên cứu ý thức pl là 1 nội dung thuộc đối tượng nghiên cứu của XHHPL
4. XHHPL không có mối lien hệ gì với Lý luận nn và pl
5. XHHPL và Lý luận nn và pl có đối tượng nghiên cứu khác nhau
6. Lý luận nn và pl cung cấp cho XHHPL công cụ tiếp cận nghiên cứu các khía cạnh
xh của pl, đồng thời là cơ sở để xây dựng các chỉ báo nhằm nghiên cứu thực
nghiệm các sự kiện, hiện tượng pl xảy ra trong đời sống xh

7. Hiện tượng tội phạm là khách thể chung của xhhpl và tội phạm học
8. XHHPL không có mối quan hệ chặt chẽ với các khoa học pháp lý chuyên ngành
9. XHHPL trang bị cho người nghiên cứu môn học cách thức tiếp cận nghiên cứu
các quy luật của quá trình phát sinh, hoạt động và phát triển của pl bằng tri thức
xhh qua việc nghiên cứu hệ thống các khái niệm, lý thuyết và phương pháp của
môn học. Nội dụng trên thể hiện chức năng thực tiễn của môn XHHPL

10. XHHPl chỉ bao gồm 2 chức năng: nhận thức và thực tiễn
11. Chức năng nhận thức của XHHPL giúp chúng ta làm sang tỏ các nguyên nhân
điều kiện dẫn đến các hành vi sai lệch chuẩn mực pl. hậu quả của hành vi sai lệch
giúp cho các cá nhân, nhóm xh nhận thức đầy đủ hơn vị thế, vai trò của mình

12. Chức năng thực tiễn của XHHPL có quan hệ mật thiết với chức năng nhận thức
13. Chức năng dự báo của xhhpl chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động xây dựng pl
14. Một cuộc điều tra XHH về 1 vấn đề pl phải trải qua 2 giai đoạn
15. Công việc của giai đoạn chuẩn bị chủ yếu liên quan đến việc chuẩn bị cho nội dung
của vấn đề pl được nghiên cứu
16. Xác định vấn đề pl cần nghiên cứu và đặt tên đề tài nghiên cứu là bước đầu tiên
trong giai đoạn chuẩn bị tiến hành 1 cuộc điều tra xhh về vấn đề pl lOMoAR cPSD| 58702377
17. Giả thuyết nghiên cứu đưa ra không được trái với các nguyên tác, quy định của
Hiến pháp, pl hiện hành
18. Mỗi phương pháp thu thập thông tin đều đảm bảo tính tổng hợp và toàn diện khi sử dụng
19. Thành phần của miêu tả trong phân tích thông tin chỉ có 1 yếu tố duy nhất là
những tài liệu nghiên cứu có tính chất kinh nghiệm
20. Giải thích xác nhận hoặc loại bỏ 1 giả thiết nào đó hay toàn bộ hệ thống giả thuyết
21. Đối với nhà nghiên cứu xhhpl giá trị của tài liệu trước hết là nội dung bảng hỏi
22. Phương pháp phân tích định tính gắn liền với việc phân tích các số liệu, chỉ báo,
các nhóm dấu hiệu thu thập được từ các cuộc khảo sát, điều tra xhhpl, tìm ra
những mối liên hệ nhân quả giữa các thông spps, các chỉ báo về pl

23. Phương pháp quan sát là pp thu thập thông tin xh sơ cấp về đối tượng bằng sự tri
giác trực tiếp của người nghiên cứu
24. Quan sát tham dự là quan sát “từ bên trong” và có độ tin cậy rất cao
25. PP phỏng vấn chỉ bao gồm phỏng vấn tiêu chuẩn hóa và phỏng vấn không tiêu chuẩn hóa
26. Quan điểm xhhpl tiếp cận, nghiên cứu pl dựa trên 2 quan điểm khác nhau
27. Cơ cấu xh cho phép chúng ta giải thích xh được cấu thành từ những thành tố nào,
cách thức sắp xếp và liên kết các bộ phận của xh ra sao
28. Cơ cấu xh là 1 bộ khung để xem xét xh
29. Nhóm xh không có sự phân chia thành các nhóm riêng
30. Nhóm gđ, hội nghề nghiệp là vd trong nhóm sơ cấp
31. Trong nhóm thứ cấp, các mối qh xh rời rc, thành lập theo 1 quy trình đơn giản,
các tv của nhomd biệt lập với nhau
32. Vị thế xh là sự “mong chờ” hvi đặc thù đối với người mang 1 vị thế nhất định trong xh
33. Vị thế xh và vai trò xh có mối quan hệ tác động qua lại với nhau
34. Thiết chế xh là 1 tập hợp không bền vưng của các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai
trò, nhóm xh lập ra không có chủ đích vận động xung quanh nhu cầu cơ bản của xh
35. Căn cứ vào các đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi, cơ cấu lứa tuổi phân chia thành các
nhóm: người thành niên, người chưa thành niên
36. Cá nhân có nhiệm vụ tổng hợp và tạo ra cho mình 1 hệ thống chuẩn mực riêng
37. Trong nhóm thứ cấp, các mối quan hệ xh được thiết chế hóa, thành lập theo 1 quy
trình chặt chẽ và các tv của nhóm ý thức được nhóm của họ tồn tại để đạt được mục đích nào đó
38. Chuẩn mực xh có thể là 1 cái gì đó chung chung, trừ tượng, khó nhận biết
39. Cái có thể dùng để chỉ khả năng hành động hay không hành động
40. Chuẩn mực xh thành văn là những loại chuẩn mực xh mà các nguyên tắc, quy
định của chúng được ghi chép lại thành văn bản dưới những hình thức nhất định
41. Tính tất yếu xh là 1 trong các đặc trưng cơ bản của chuẩn mực xh
42. Theo thời gian, sự định hướng chuẩn mực xh đòi hỏi phải chú ý đến lợi ích của
các cộng đồng người, các nhóm xh khác nhau lOMoAR cPSD| 58702377
43. Các loại chuẩn mực xh không mang tính bất biến mà thường ở trong trạng thái động
44. Tồn tại 1 loại chuẩn mực xh chung cho mỗi chế độ, mỗi nn, mỗi nhóm xh
45. Chuẩn mực chính trị được thể hiện ở cả 2 phương diện: chuẩn mực chính trị đối
nội và đối ngoại
46. Chuẩn mực chính trị đối nội tồn tại độc lập với chuẩn mực chính trị đối ngoại
47. Chuẩn mực tôn giáo là loại chuẩn mực xh không thành văn
48. Chuẩn mực tôn giáo chỉ có những tác động tích cực
49. Tìm hiểu các mối liên hệ giữa pl với hiện thực xh và các nhân tố xh có ảnh hưởng,
liên quan đến pl phục vụ cho việc hoạch định chính sách pl nói chung cũng như
kế hoạch xây dựng pl thep các cấp độ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của cơ quan lập pháp

50. Để đảm bảo các văn bản pl được áp dụng có hiệu quả trên thực tế, các cơ quan nn
sẽ áp dụng các biện pháp xh (tạo dựng môi trường văn hóa – xã hội thuận lợi, bầu
không khí tâm lý xh đồng thuận,…)

51. Năng lực soạn thảo các dự án luật không ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng pl
52. Nhận thức của các chủ thể hoạt động xây dựng pl có ảnh hưởng mạnh mẽ đến
chất lượng văn bản pl
53. Thông tin đại chúng tạo cơ sở thông tin để tầng lớp xh tham gia vào hoạt động xây dựng pl
54. Dư luận xh chỉ thể hiện lợi ích riêng của bộ phận người không đồng ý với chính sách pl
55. Tăng cường công tác thẩm định nội dung các dự án luật bằng công cụ xh học là 1
biện pháp bảo đảm nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng pl ở nước ta hiện nay
56. Việc nghiên cứu, đánh giá tác động của văn bản qppl chuẩn bị được ban hành đối
với các đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản là 1 khía cạnh xh của doạt động xây dựng pl
57. Tiến hành các thực nghiệm xhhpl cần các chuyên gia thực hành có trình độ lý luận
về pl và kinh nghiệm thực tiễn cao
58. Sự kết hợp giữa dư luận xh và các phương tiện truyền thông đại chúng tạo thành công luận
59. Có thể dự đoán được hết những hạn chế của vb qppl ở khâu xây dựng
60. Việc nghiên cứu các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng,… khác tác động
đến quá trình thực hiện các văn bản qppl chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận
61. Các qppl càng phù hợp với lợi ích của nhiều người thì các quy phạm đó càng hoạt
động cps hiệu quả và được sự đồng tình ủng hộ của dông đảo quần chúng nhân dân
62. Khi nghiên cứu về cơ chế thực hiện pl. xhhpl xem xét các yếu tố xh có mối liên hệ
độc lập, riêng biệt với quá trình hình thành hành vi phù hợp với chuẩn mực pl
63. Cơ chế về sự hiểu biết pl là 1 cơ chế thực hiện pl
64. Để các chủ thể ủng hộ và thực hiện hành vi phù hợp với chuẩn mực pl chỉ phụ
thuộc vào việc chủ thể biết đến chuẩn mực đó
65. Sự hiểu biết pl không phải lúc nào cùng tương ứng với hành vi phù hợp với chuẩn
mực pl chỉ phụ thuộc vào việc chủ thể biết đến chuẩn mực đó lOMoAR cPSD| 58702377
66. Sự hiểu buêts pl không phải lúc nào cũng tương ứng với hành vi phù hợp với chuẩn mực pl
67. Cơ chế bắt chước có vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự đồng nhất về hành vi giữa các cá nhân
68. Cơ chế lây lan làm ức chế sự liên kết số đông do không có chung suy nghĩ giữa các đối tượng
69. Yếu tố chính trị là 1 yếu tố xh ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pl
70. Ý thức pl có vai trò quyết định đến hiệu quả của việc thực hiện pl, góp phần đưa pl vao cuộc sống
71. Văn hóa pl chỉ có ý nghĩa về mặt nghiên cứu lý luận, không tác động đến việc thực hiện pl
72. Khi kinh tế phát triển, ổn định, bền vựng sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động
thực hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pl, ý thức pl của các tầng lớp xh
73. Cơ chế thị trường không có hạn chế nếu xem xét ở mặt xhhpl
74. Lối sống được hình thành trên cơ sở những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định
75. Dư luận xh của cộng đồng làng xã có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pl
76. Mối quan hệ giữa chính trị và áp dụng pl là nội dụng quan trọng của xhhpl khi
nghiên cứu về các khía cạnh xh của hoạt động áp dụng pl
77. Kết quả của hoạt động thực hiện pháp luật phụ thuộc trước hết vào chủ thể áp
dụng pl với phẩm chất đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp
78. ảnh hưởng của sự bất cập, hạn chế trong các nguyên tác, quy định của pl hiện
hành là nhân tố khách quan trong hoạt động áp dụng pl 79. sự sai lệch có tính
tương đối về mặt không gian và văn hóa 80.