



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61470371 GIÁO DỤC HỌC
Câu 1: Các khái niệm cơ bản của GDH:
1. Các khái niệm cơ bản của giáo dục học:
- GDH là khoa học nghiên cứu quá trình giáo dục toàn vẹn của con người.
- Nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có
nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục
trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ.
- Nghĩa hẹp: Giáo dục là quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động
cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen
cư xử đúng đắn trong xh thông qua việc tổ chức cho HS các hoạt động và giao lưu.
- Dạy học: là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp cho
người học lĩnh hôị những tri thức khoa học, phát triển năng lực tư duy và năng lực
hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và các phẩm chất nhân
cách của người học theo mục đích giáo dục. 2. Phân biệt các khái niệm trên:
Giữa các khái niệm của GDH vừa có những điểm chung, vừa có những điểm khác biệt:
- Điểm chung: đều hướng tới mục tiêu hình thành, phát triển nhâncách cho con người;
đều cần có sự tương tác, phối hợp giữa nhà giáo dục và người được giáo dục.
- Điểm khác biệt: lOMoAR cPSD| 61470371
Câu 2: Tính chất của Giáo dục: 1. Khái niệm.
Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và
bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ
quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ.
Giáo dục là quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm,
niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn
trong xh thông qua việc tổ chức cho học sinh các hoạt động và giao lưu.
2. Các tính chất của giáo dục (4):
Tính chất 1: Giáo dục là một hiện tượng có tính phổ biến và vĩnh hằng - Tính phổ biến:
+ “ Phổ biến” là có tính chất chung, có thể áp dụng cho 1 tập hợp hiện tượng, sự vật.
+ Tính phổ biến của giáo dục nghĩa là: Hiện tượng giáo dục xuất hiện từ khi xuất hiện
xã hội loài người. Ở đâu có con người sinh sống, ở đó có giáo dục. - Tính vĩnh hằng:
+ “ Vĩnh hằng” là sự tồn tại ngoài thời gian hoặc trong mọi thời gian, không có bắt
đầu cũng không có kết thúc.
+ Tính vĩnh hằng của giáo dục nghĩa là: Giáo dục là 1 hiện tượng xã hội nảy sinh 1 cách
tất yếu, là 1 phần không thể tách rời đời sống xã hội. Nó tồn tại, phát triển và tiêu
vong cùng với xã hội loài người. + Giáo dục là điều kiện không thể thiếu được cho sự
tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và xã hội loài người.
VD: chữ viết của con người thay đổi theo thời gian: chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ.
Tính chất 2: Giáo dục chịu sự quy định của xã hội:
- Đây là 1 quy định tất yếu khách quan.
- Ở mỗi giai đoạn phát triển lịch sử xã hội đều có nên giáo dục tương ứng.(hay sự phát
triển của giáo dục phụ thuộc vào phản ánh sự phát triển của xã hội trong những điều kiện cụ thể).
- Giáo dục luôn biến đổi trong quá trình phát triển của lịch sử loài người, không có 1 nền
giáo dục rập khuôn cho mọi hình thái kt-xh, cho mọi giai đoạn của mỗi hình thái cũng như cho mọi quốc gia.
Tính chất 3: Giáo dục mang tính lịch sử:
- Ở mỗi thời kì lịch sử khác nhau thì giáo dục có những đặc trưng riêng về mục tiêu, nội
dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, yêu cầu đối với nhà giáo dục, người
được giáo dục, kết quả giáo dục và môi trường giáo dục. lOMoAR cPSD| 61470371
- Lịch sử dân tộc riêng của mỗi quốc gia tạo nên sự khác biệt về giáo dục là điều tất yếu.
(Do đó, không thể đem mô hình giáo dục của quốc gia này áp dụng rập khuôn cho 1 quốc gia khác)
- Như vậy, GD phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng các yêu cầu của
kinh tế - xã hội trong những điều kiện cụ thể.
Ví dụ: Lịch sử phát triển giáo dục phổ thông của việt nam từ sau CMTT8:
- Sau CMTT8 – 12/1946: xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ
- 1946 – 1954: giáo dục phục vụ kháng chiến kiến quốc (kháng chiến chống Pháp)
- 1954 – 1975: giáo dục phục vụ sự nghiệp xây dựng cnxh ở miền Bắc và thống nhất đất nước.
- 1975 – nay: xây dựng hệ thóng giáo dục thống nhất cả nước và đổi mới GDVN.
Tính chất 4: Giáo dục mang tính giai cấp:
- Trong xã hội có giai cấp, GD bao giờ cũng mang tính giai cấp.
- GD thuộc về một giai cấp xác định – giai cấp thống trị xã hội. GD được sử dụng như
một công cụ để duy trì và củng cố vai trò thống trị của mình. Do đó, trong xã hội có giai
cấp đối kháng, giáo dục là đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị; không có giai cấp
đối kháng giáo dục hướng tới sự công bằng.
- Giáo dục cũng được sử dụng như một công cụ, phương tiện để đấu tranh giai cấp –
đối với giai cấp bị bóc lột, bị thống trị. Giáo dục làm phương tiện đấu tranh, lật đổ giai cấp thống trị.
- Ở Việt Nam, mục đích của Nhà nước ta là hướng tới xóa bỏ áp bức, bóc lột, từ đó
hướng tới sự bình đẳng, công bằng trong giáo dục:
+ Mọi công dân đều có quyền tiếp cận hệ thống giáo dục.
+ đảm bảo cho học sinh, sinh viên có năng khiếu, tài năng tiếp tục được đào tạo lên
cao mà không bị hạn chế vì nhiều mặt.
+ Tiến hành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục.
+ Đa dạng, mềm dẻo các loại hình đào tạo, phù hợp với mọi tầng lớp, độ tuổi.
Bên cạnh những tính chất trên, giáo dục còn có những tính chất dưới đây: Tính đại chúng Tính nhân văn Tính dân tộc Tính thời đại
Câu 3: Các chức năng xã hội của Giáo dục:
1. Khái niệm Giáo dục, chức năng xã hội của Giáo dục: lOMoAR cPSD| 61470371
K/n Giáo dục: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có
nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục
trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ.
K/n chức năng: Giáo dục tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến các quá
trình xã hội mà con người là chủ thể. Những tác động đó, xét dưới góc độ xã hội học,
được gọi là các chức năng xã hội của giáo dục.
2. Các chức năng xã hội của giáo dục:
Chức năng kinh tế − sản xuất; chức năng chính trị − xã hội và chức năng tư tưởng − văn hóa.
a) Chức năng kinh tế − sản xuất.
Giáo dục tái sản xuất sức lao động xã hội, tạo nên sức lao động mới có chất lượng cao
hơn, thay thế sức lao động cũ đã lạc hậu, đã già cỗi hoặc đã mất đi bằng cách phát
triển những năng lực chung và năng lực chuyên biệt của con người, nhằm tạo ra một
năng suất lao động cao hơn, thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế xã hội.
Giúp có nguồn nhân lực có trình độ học vấn cao, có tay nghề vững vàng, năng động,
sáng tạo, linh hoạt để thích nghi, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội phát
triển. Dạy học theo tiếp cận năng lực là một trong giải pháp quan trọng để phát triển
năng lực hành động cho người học trong các nhà trường, đáp ứng được yêu cầu của
thị trường lao động hiện nay. Biểu hiện:
+ Giáo dục thông qua đào tạo đã giúp cho mỗi cá nhân phát triển năng lực, phát huy
sức mạnh thể chất và tinh thần bản thân. + Giáo dục cung cấp cho xã hội một đội ngũ
những người lao động có chất lượng.
Kết luận sư phạm:
Giáo dục luôn gắn kết với thực tiễn xã hội.
Tiếp tục thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Hệ thống giáo dục nhà trường không ngừng đổi mới nhằm phát triển năng lực hành
động cho người học, đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn nghề nghiệp.
b)Chức năng chính trị − xã hội
Giáo dục tác động đến các bộ phận, các thành phần xã hội (các giai cấp, các tầng lớp,
các nhóm xã hội...) làm thay đổi tính chất mối quan hệ giữa các bộ phận, thành phần
đó bằng cách nâng cao trình độ văn hóa chung cho toàn thể xã hội.
Giáo dục trở thành phương tiện, công cụ để khai sáng nhận thức, bồi dưỡng tình cảm,
củng cố niềm tin, kích thích hành động của tất cả các lực lượng xã hội, nhằm duy trì,
củng cố thể chế chính trị - xã hội cho một quốc gia nào đó.
Giáo dục xã hội chủ nghĩa góp phần làm cho cấu trúc xã hội trở nên thuần nhất, làm
cho các giai cấp, các tầng lớp, các thành phần xã hội ngày càng xích lại gần nhau. lOMoAR cPSD| 61470371
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước, đại diện cho quyền lực của dân,
do dân, vì dân” trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo
dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân, Giáo dục phục vụ cho mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Kết luận sư phạm:
Người giáo viên luôn phải nắm vững quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước.
Giúp học sinh hiểu, tin tưởng và thực hiện theo đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước.
c) Chức năng tư tưởng − văn hóa.
Xây dựng một hệ tư tưởng chi phối toàn xã hội, xây dựng một lối sống phổ biến trong
xã hội bằng cách phổ cập giáo dục phổ thông với trình độ ngày càng cao cho mọi tầng lớp xã hội.
Thông qua giáo dục, những tư tưởng xã hội được thấm đến từng con người, giáo dục
hình thành ở con người thế giới quan, giáo dục ý thức, hành vi phù hợp với chuẩn mực
đạo đức xã hội. Nhờ giáo dục, tất cả các giá trị văn hoá của nhân loại, của dân tộc,
của cộng đồng được bảo tồn và phát triển, trở thành hệ thống giá trị của từng con người.
Kết luận sư phạm:
Đa dạng hóa các loại hình và phương thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân,
nhằm tạo cơ hội cho người dân được đi học và học suốt đời.
Sử dụng sức mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng.
- Giáo dục phải được quan tâm từ bậc Mầm non cho đến ĐH và sau ĐH.
Trong ba chức năng xã hội của giáo dục, chức năng kinh tế sản xuất là chức năng quan
trọng nhất, nó là cơ sở để thực hiện chức năng chính trị - xã hội, chức năng tư tưởng - văn hóa.
Câu 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách.
1. Khái niệm giáo dục, nhân cách, sự phát triển nhân cách:
Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và
bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ
quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ.
Nhân cách là hệ thống giá trị làm người mà cá nhân đạt được với sự trưởng thành về
phẩm chất và năng lực trong quá trình thực hiện các chức năng xã hội của mình, được
xã hội đánh giá và thừa nhận. lOMoAR cPSD| 61470371
Sự phát triển nhân cách là quá trình phát triển tâm lí - ý thức - xã hội của cá nhân. Đó
là quá trình diễn ra lâu dài, khó khăn, phức hợp với tác động của nhiều yếu tố: Bẩm
sinh – di truyền, môi trường, hoạt động cá nhân, giáo dục. 2. Phân tích: -
Yếu tố bẩm sinh – di truyền có vai trò là tiền đề vật chất -
Yếu tố môi trường có vai trò là điều kiện, phương tiện cho hoạtđộng của cá nhân,
góp phần tạo nên hoặc làm thay đổi mục đích, động cơ hoạt động của cá nhân. -
Yếu tố hđ cá nhân có vai trò qđ đối với quá trình hình thành và pháttriển nhân cách -
Yếu tố giáo dục có vai trò chủ đạo đối với quá trình hình thành vàphát triển nhân cách.
3. Vai trò của yếu tố giáo dục đối với quá trình hình thànhvà phát triển nhân cách được thể hiện:
1. Giáo dục vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách của học
sinh và tổ chức, chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiện quá trình đó đến kết quả mong muốn.
2. Giáo dục là những tác động tự giác có điều khiển, có thể mang lại những tiến bộ mà
các yếu tố di truyền bẩm sinh hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể tạo ra được do tác động tự phát.
3. Giáo dục có sức mạnh cải biến những nét tính cách, hình thành phẩm chất lệch lạc
không phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của xã hội. Đó chính là kết quả quan trọng
của giáo dục lại đối với trẻ em hư hoặc người phạm pháp.
4. Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tật hoặc thiểu năng
do bệnh tật, tai nạn hoặc bẩm sinh, di truyền tạo ra. Nhờ có sự can thiệp sớm, nhờ
có phương pháp giáo dục, rèn luyện đặc biệt cùng với sự hỗ trợ của các phương tiện
khoa học có thể giúp cho người khuyết tật, thiểu năng phục hồi một phần chức năng
đã mất hoặc phát triển các chức năng khác nhằm bù trừ những chức năng bị khiếm
khuyết, giúp cho họ hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng
5. Giáo dục là những tác động có điều khiển và điều chỉnh cho nên không những thích
ứng với các yếu tố di truyền, bẩm sinh, môi trường, hoàn cảnh trong quá trình hình
thành và phát triển nhân cách mà nó còn có khả năng kìm hãm hoặc thúc đẩy các yếu
tố ảnh hưởng đến quá trình đó theo một gia tốc phù hợp mã di truyền và môi trường
không thể thực hiện được.
6. Kết luận sư phạm
Cần có nhận thức đúng đắn về vai trò của giáo dục đến sự hình thành và phát triển nhân cách.
Biến quy trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục ở người học lOMoAR cPSD| 61470371
Giáo dục phải bao gồm tính tích cực, đa dạng của người giáo dục và người được giáo
dục để đem lại hiệu quả tốt nhất.
Không nên coi giáo dục là “vạn năng” mà cần phải tự mình trải nghiểm để đúc rút thêm kinh nghiệm.
Phải biết tận dụng, kết hợp nhiều loại hình giáo dục: giáo dục ở nhàtrường, ở gia đình,
ở xã hội; giáo dục them hình thức học tập và trải nghiệm,...
Tổ chức quá trình giáo dục một cách khoa học, hợp lý:
Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý HS
Yêu cầu giáo dục mang tính vừa sức với HS
Tổ chức các hoạt động và giao lưu đa dạng, phong phú cho HS
Lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp và các phương pháp giáo dục khoa học
Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà giáo dục và người được giáo dục
Khơi dậy khả năng tiềm ẩn, tố chất di truyền, tính tích cực trong hoạt động cá nhân của
học sinh nhằm mang lại hiệu quả cho quá trình giáo dục
Câu 5: Bản chất của quá trình giáo học. 1. Khái niệm:
Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và
bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ
quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ.
Quá trình giáo dục là một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục,
người được giáo dục tự giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục.
2. Cơ sở xác định bản chất của quá trình giáo dục
a) Quy trình giáo dục là quá trình hình thành một kiểu nhân cách trong xã hội
Nhân cách của mỗi người được thể hiện không chỉ thông qua lời nói mà quan trọng là
ở hành vi và thói quen hành vi ở họ trong cuộc sống. Vì vậy, mục đích của quá trình
giáo dục là hình thành ở người được giáo dục hành vi và thói quen hành vi phù hợp
với các chuẩn mực xã hội (CMXH) quy định.
Sự phát triển nhân cách con người là kết quả của quá trình hoạt động và giao lưu của
con người trong xã hội. “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa
các mối quan hệ xã hội” (Mác).
Vì vậy để hình thành nhân cách con người có hành vi, thói quen hành vi phù hợp với
các CMXH quy định đòi hỏi quá trình giáo dục phải tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt
động và các quan hệ giao lưu của người được giáo dục , nhằm thu hút sự tham gia của
họ vào quá trình giáo dục trên cơ đó đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra, lOMoAR cPSD| 61470371
b)Mối quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục trong quá trình giáo dục
Trong quá trình giáo dục, mối quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục (cá
nhân hoặc tập thể) là quan hệ sư phạm, một loại quan hệ xã hội đặc thù. Quan hệ sư
phạm này luôn luôn chịu sự chi phối của các quan hệ chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã
hội, kinh tế, khoa học - kĩ thuật ..., đặc biệt là quan hệ chính trị xã hội.
Hiệu quả của quá trình giáo dục phụ thuộc vào mối quan hệ thống nhất biện chứng
giữa vai trò chủ đạo của nhà giáo dục và vai trò tự giác, tích cực tự giáo dục của người
được giáo dục. Xét cho cùng, sự nỗ lực của nhà giáo dục và người được giáo dục trong
quá trình giáo dục là nhằm giúp người được giáo dục chuyển hóa những yêu cầu của
CMXH quy định thành hành vi, thói quen hành vi tương ứng ở họ trên cơ sở đó thực
hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục.
3. Bản chất của quá trình giáo dục
a) Quá trình giáo dục - quá trình xã hội nhằm giúp đối tượng giáo dục biến các yêu cầu
khách quan thành vêu cầu chủ quan của cá nhân.
Quá trình giáo dục nhằm hình thành và phát triển cá nhân con người trở thành những
thành viên xã hội. Những thành viên này phải thỏa mãn được hai mặt: vừa phù hợp
(thích ứng) với các yêu cầu xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển, vừa có khả năng tác động
cải tạo, xây dựng xã hội làm cho nó tốn tại và phát triển. Những nét bản chất của cá
nhân con người chính là do các mối quan hệ xã hội hợp thành. Quá trình giáo dục là
quá trình làm cho đối tượng giáo dục ý thức được các quan hệ xã hội và các giá trị của
nó, biết vận dụng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, văn hóa - xã hội, đạo
đức, tôn giáo, pháp luật, gia đình, ứng xử nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân và yêu cầu của xh
Khi đứa trẻ mới sinh ra, ý thức, nhân cách của nó chưa được hình thành. Các chuẩn
mực, các quy tắc ... của xã hội vốn tồn tại khách quan bên ngoài, độc lập với đứa trẻ.
Quá trình trẻ lớn lên trong môi trường văn minh của xã hội loài người, thẩm thấu
những giá trị văn hóa của loài người để tạo ra nhân cách của chính mình - quá trình xã
hội hóa con người. Đó là quá trình giúp trẻ biến những yêu cầu khách quan của xã hội
thánh ý thức, thảnh niềm tin và thái độ, thành những thuộc tinh, những phẩm chất
nhân cách của cá nhân. Bên cạnh đó, quá trình này cũng giúp đối tượng biết loại bỏ
khỏi bản thân những quan niệm, những biểu hiện tiêu cực, tàn dư cũ, lạc hậu không
còn phù hợp với xã hội hiện đại.
b)Quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho đối
tượng giáo dục
Quá trình giáo dục là quá trình hình thành bản chất ngưởi – bản chất xã hội trong mỗi
cá nhân một cách có ý thức, là quá trình tổ chức để mỗi cá nhân chiếm lĩnh được các kinh nghiệm xã hội. lOMoAR cPSD| 61470371
Triết học Mác - xít đã khẳng định: Bản chất xã hội của con người chỉ có được khi nó
tham gia vào đời sống xã hội đích thực thông qua hoạt động vi giao lưu ở một môi
trường văn hóa (văn hóa vật chất và tinh thần).
Hoạt động và giao lưu là hai mặt cơ bản, thống nhất trong cuộc sống của con người và
cũng là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân. Tâm
lý học đã khẳng định: hoạt động và giao lưu vừa là nguồn gốc vừa là động lực của sự
hình thành và phát triển nhân cách.
Các thuyết về hoạt động đã chứng tỏ là con người muốn tồn tại và phát triển phải có
hoạt động và giao lưu. Nếu các hoạt động và giao lưu của cá nhân (hoặc nhóm người)
được tổ chức một cách khoa học với các điều kiện, phương tiện hoạt động tiên tiến, phong phú,
cá nhân được tham gia vào các hoạt động và giao lưu đó thì sẽ có rất nhiều cơ hội tốt cho sự phát triển.
Chính vì vậy quá trình giáo dục vừa mang tính chất của hoạt động, vừa mang tính chất
của giao lưu. Giáo dục là một quá trình tác động qua lại mang tính xã hội giữa nhà giáo
dục và đối tượng giáo dục, giữa các đối tượng giáo dục với nhau và với các lực lượng,
các quan hệ xh trong và ngoài nhà trường.
Như vậy, bản chất của quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các
hoạt động và giao lưu cho người được giáo dục tham gia một cách tự giác, tích
cực, độc lập, sáng tạo nhằm chuyển hóa những yêu cầu của các chuẩn mực của xã
hội quy định thành hành vi và thói quen hành vi tương ứng ở họ trên cs đó thực
hiện tốt các nhiệm vụ gd
Câu 6: Đặc điểm của quá trình giáo dục.
Khái niệm quá trình giáo dục: QTGD là một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo
của nhà giáo dục, người được giáo dục tự giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm
thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục.
- Đặc điểm 1: QTGD diễn ra dưới những tác động phức hợp.
+ Quá trình giáo dục diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi con người, nên chịu tác động
của rất nhiều yếu tố: khách quan, chủ quan; bên trong, bên ngoài; trực tiếp, gián tiếp;
có chủ định, không có chủ đinh; tích cực, tiêu cực… đan xen vào nhau tác động tới
người được giáo dục.
+ Yếu tố khách quan là những yếu tố môi trường KTXH, khoa học công nghệ.(Ví dụ:
điều kiện văn hóa, kinh tế, hoạt động văn hóa, thông tin,... lOMoAR cPSD| 61470371
+ Yếu tố chủ quan là các thành tố của quá trình giáo dục (mục đích, nội dung, phương
pháp, phương tiện),.. nó tồn tại để đem lại hiệu quả cho giáo dục, tạo mối quan hệ
sư phạm, mối quan hệ giữa học sinh, giáo viên và các lực lượng giáo dục.
+ Quá trình giáo dục chịu sự chi phối của những tác động vừa phức tạp vừa hỗn hợp,
tuy với từng mức độ khác nhau, nhưng thống nhất, hỗ trợ cho nhau, nhưng cũng có
mâu thuẫn với nhau gây hạn chế hiệu quả giáo dục hay thậm chí là vô hiệu hóa giáo dục.
Kết luận sư phạm: Nhà giáo dục phải biết chủ động phối hợp thống nhất các tác động
(gia đình, nhà trường, xã hội), phát huy tính tích cực, hạn chế tính tiêu.
- Đặc điểm 2: QTGD là một quá trình diễn ra lâu dài
- Mục tiêu của quá trình giáo dục: hình thành quan điểm, thế giớiquan, nhân sinh
quan, niềm tin, lý tưởng, phẩm chất nhân cách cho con người. Để thực hiện mục tiêu
đó đòi hỏi: giáo dục diễn ra suốt cuộc đời mỗi người.
- Tính chất lâu dài của giáo dục:
+ Hình thành thói quen và thói quen hành vi đúng đắn cho người học, người được
giáo dục phải được luyện tập, trải nghiệm đeer hành vi trở thành thói quen bền vững.
+ Bản thân người giáo dục cần phải quyết tâm đấu tranh loại bỏ cái cũ, tiêu cực, lạc
hậu, tạo lập cái mới tích cực, hiệu quả.
Kết luận sư phạm: Nhà giáo dục không được nôn nóng, đốt cháy giai đoạn, mà phải
kiên trì, bền bỉ, liên tục tác động, cùng với sự tự giác, nỗ lực, quyết tâm rèn luyện của
người được giáo dục.
- Đặc điểm 3: QTGD mang tính cá biệt, cụ thể
- Người được giáo dục có sự khác nhau về tuổi tác, trình độ, tínhcách, điều kiện
hoàn cảnh… Vì vậy, trong những điều kiện môi trường giáo dục xác định, với những
đối tượng giáo dục cụ thể thì quá trình giáo dục luôn có những tác động phù hợp.
- Tính cá biệt, cụ thể được thể hiện:
+ Khi thực hiện các hoạt động giáo dục, và đưa ra những quyết định của nhà giáo dục
cần tính đến đặc điểm của từng nhóm đối tượng, từng đối tượng giáo dục cụ thể.
+ Quá trình giáo dục phải diễn ra trong thời gian, địa điểm, không gian, hoàn cảnh cụ
thể để có những yêu cầu, tác động phù hợp với người được giáo dục. lOMoAR cPSD| 61470371
+ Phải giáo dục đặc biệt chú ý đến việc đáp ứng các yêu cầu kĩ năng toàn diện, phù
hợp với chuẩn mực xã hội, những vẫn thể hiện được ents độc đáo riêng của từng đối tượng.
+ Cần phải có những tác động riêng, tuyệt đối tránh các cách giáo dục rập khuôn, máy móc.
- Đặc điểm 4: QTGD thống nhất biện chứng với quá trình dạy học
+ Quá trình dạy học và quá trình giáo dục là 2 quá trình bộ phận có mối quan hệ thống
nhất biện chứng với nhau, hướng tới sự phát triển nhân cách toàn diện, đáp ứng nhu cầu xã hội.
+ Mỗi quá trình có chức năng, nhiệm vụ riêng, tác động qua lại, hỗ trợ, đan xen, bổ sung cho nhau.
+ Nhiệm vụ của quá trình dạy học: hình thành tri trức, kỹ năng kỹ xảo, phát triển năng
lực hoạt động trí tuệ và hình thành phẩm chất nhân cách của con người.
+ Mục đích cuối cùng của giáo dục là phát triển con người có đủ đức đủ tài, đpas ứng
yêu cầu, sự cạnh tranh, phát triển của xã hội.
KLSP: Trong giáo dục, tránh tách rời quá trình giáo dục và quá trình dạy học.
Câu 7: Phương pháp Giáo dục.
1. Khái niệm phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục là hệ thống cách thức hoạt động của nhà giáo dục và người
được giáo dục thực hiện trong sự thống nhất với nhau nhằm thực hiện tốt các nhiệm
vụ giáo dục phù hợp với mục đích giáo dục đặt ra.
2. Hệ thống phương pháp giáo dục
Quá trình giáo dục là một quá trình phức tạp, các phương pháp giáo dục được hiểu
trên nhiều bình diện khác nhau và có cách phân chia nhóm phương pháp giáo dục gọi tên khác nhau.
Sau đây là một số cách phân loại các phương pháp giáo dục:
Dựa trên cơ sở lực lượng giáo dục tham gia vào quá trình giáo dục: Nhóm phương
pháp giáo dục gia đình, nhóm phương pháp giáo dục xã hội, nhóm phương pháp giáo
dục đoàn thể, nhóm phương pháp giáo dục như trường.
Dựa trên cơ sở nội dung giáo dục: phương pháp giáo dục đạo đức, phương pháp giáo
dục thẩm mỹ, phương pháp giáo dục pháp luật....
Dựa trên cơ sở đặc điểm tâm lý lứa tuổi của đối tượng giáo dục: phương pháp giáo dục
tre trước tuổi học, phương pháp giáo dục học sinh tiểu học, phương pháp giáo dục học sinh THPT... lOMoAR cPSD| 61470371
Dựa trên cơ sở tiếp cận phương thức tác động giáo dục trực tiếp hay gián tiếp đối
tượng giáo dục: phương phản giáo dục tác động “tay đội”, phương phủy “bùng nổ sư
phạm”, phương pháp giáo dục tác động song song, phương pháp tạo dư luận...
Dựa trên cơ sở quy trình các khâu của quá trình giáo dục: Nhóm các phương pháp hình
thành ý thức cá nhân của người được giáo dục về các chuẩn mực xã hội quy định
(Đàm thoại, Kể chuyện, Giảng giải, Nêu gương); Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt
động hình thành hành vi và thói quen hành vi ứng xử cho người được giáo dục phù
hợp với các chuẩn mực xã hội (CMXH) quy định (Phương pháp giao việc, Phương
pháp tập luyện, Phương pháp ven luyện); Nhóm các phương pháp kích thích và điều
chỉnh hành vi ứng xử của người được giáo dục phù hợp với các CMXH quy định (Khen
thưởng, Trách phạt, Phương pháp thi đua )
Các cách phân chia phương pháp giáo dục nêu trên đều dựa trên các cách tiếp cận
khác nhau và tùy thuộc vào mục đích, mục tiêu giáo dục đặt ra mà nhà giáo dục lựa
chọn, sử dụng các phương pháp giáo dục cho phù hợp. Tuy nhiên, cách phân loại phổ
biến các phương pháp giáo dục được đa số các nhà giáo dục lựa chọn hiện nay là cách
phân loại dựa trên cơ sở lôgic của quá trình giáo dục.
3. Các phương pháp Giáo dục:
Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân của người được giáo dục về các
chuẩn mực xh đã được quy định.
Ý thức cá nhân là một thể thống nhất giữa tri thức và niềm tin của cá nhân về các chuẩn
mực xã hội quy định. Vì vậy, quá trình giáo dục muốn hình thành ý thức cá nhân cho
người được giáo dục thì cần tác động tới nhận thức và xúc cảm, tình cảm của người
được giáo dục đối với các chuẩn mực xã hội quy định.
Các phương pháp giáo dục có ưu thế trong việc tác động tới nhận thức, cảm xúc của
người được giáo dục đối với các chuẩn mực xã hội bao gồm: Đàm thoại, Kể chuyện,
Giảng giải, Nêu gương. a. Đàm thoại
Đàm thoại là phương pháp trò chuyện chủ yếu giữa nhà giáo dục và người được giáo
dục về các chủ đề có liên quan đến các CMXH nói chung, các chuẩn mực đạo đức, pháp
luật, thẩm mỹ nói riêng bằng một hệ thống các câu hỏi do nhà giáo dục chuẩn bị trước.
Các loại đàm thoại: tùy vào mục tiêu của hoạt động đàm thoại, ta có các loại như: đàm
thoại gợi mở, đàm thoại củng cố, hệ thống hóa.
Ý nghĩa của phương pháp đàm thoại:
Thông qua đàm thoại, người được giáo dục có cơ hội giải thích, đánh giá những sự
kiện, hiện tượng có liên quan đến các hành vi tích cực hay tiêu cực, giải thích những
tình huống đạo đức, pháp luật...trên cơ sở đó nắm vững được những tri thức về các
CMXH quy định và từ đó rút ra những kết luận bổ ích cho bản thân. lOMoAR cPSD| 61470371
Thông qua đàm thoại, người được giáo dục có điều kiện để khắc sâu, phát triển, hệ
thống hoả những vấn đề có liên quan đến các CMXH đã được giáo dục, từ đó hình
thành, phát triển xe cảm, tình cảm tích cực đối với các CMXH.
Thông qua đàm thoại, người được giáo dục có điều kiện để khắc sâu, phát triển, hệ
thống hoá những vấn đề có liên quan đến các CMXH đã được giáo dục, từ đó hình
thành, phát triển xúc cảm, tình cảm tích cực đối với các CMXH.
Qua đàm thoại sẽ hình thành và phát triển được ở người được giáo dục niềm tin đối
với các CMXH và trên cơ sở đó hình thành được ý thức cá nhân của người được giáo
dục đổi với các CMXH quy định.
Yêu cầu thực hiện phương pháp đàm thoại:
Công tác chuẩn bị đàm thoại: Nhà giáo dục cần xác định rõ chủ đề, mục tiêu, nội dung
của buổi đàm thoại; xây dựng hệ thống câu hỏi (chính - phụ) và thông báo cho người
được GD chuẩn bị trước.
Tổ chức đàm thoại: Người tổ chức nêu lên chủ đề, mục tiêu, nội dung và các câu hỏi
đặt ra của buổi đàm thoại; Sau đó tổ chức trò chuyện giữa nhà giáo dục với người
được giáo dục và giữa những người được giáo dục với nhau; Các ý kiến được lật đi
lật lại cho đến khi hoàn thành mục tiêu chủ đề đảm thoại.
Kết thúc đàm thoại: Nhà giáo dục cần kích thích những người được giáo dục rút ra
những kết luận, bài học cần thiết đối với bản thân và những người xung quanh. Sau
cùng nhà giáo dục tổng kết đánh giá kết quả đàm thoại.
b. Kể chuyện
Kể chuyện là phương pháp tác động rất mạnh mẽ tới cảm xúc của người nghe thông
qua cách thức kể chuyện của người kế và các nhân vật, tình huống trong nội dung của
cốt truyện. Vì vậy, kể chuyện là phương pháp được sử dụng rất phổ biến trong quá
trình giáo dục với những người được giáo dục nhỏ tuổi.
Định nghĩa kể chuyện là phương pháp nhà giáo dục dùng lời nói, điệu bộ, cử chỉ, nét
mặt để thuật lại một cách sinh động một câu chuyện có ý nghĩa giáo dục.
Ý nghĩa của phương pháp kể chuyện:
Qua nội dung truyện kể và cách thức kể chuyện, người được giáo dục sẽ hình thành
phát triển trí thức, xúc cảm tình cảm tích cực, niềm tin đúng đắn đối với các CMXH.
Người được giáo dục sẽ học tập được những gương tốt và tránh được những gương
phản diện với óc phế phản nhận xét, đánh giá thông qua nội dung câu chuyện.
Yêu cầu khi thực hiện phương pháp kể chuyện:
Lựa chọn truyện kể: Nhà giáo dục cần trên cơ sở mục tiêu giáo dục, với đối tượng giáo
dục cụ thể xác định chủ đề truyện kể; Lựa chọn cốt truyện được xây dựng phong phú,
hấp dẫn chửa đựng các tình huống giáo dục hướng tới mục tiêu giáo dục; Lưu ý khối
lượng truyện kể phai phủ hợp về mặt thời gian, phù hợp với trình độ nhận thức, đặc
điểm tâm sinh lý người được giáo dục. lOMoAR cPSD| 61470371
Người kể chuyện phải thể hiện lời nói sinh động, giọng nói, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt
phải phù hợp với các tình tiết, các nhân vật trong cốt truyện. Nhằm gây sự tập trung
chủ ý, cảm xúc mạnh mẽ cho người được giáo dục; lưu ý có thể có thể kết hợp với
bằng hình, các bức tranh ảnh minh hoạ cho những tình huống nổi bật.
Sau khi kể chuyện: Đối với người được giáo dục tuổi nhỏ, nhà giáo dục có thể yêu cầu
trẻ tập kể lại và nêu một số câu hỏi cho người được giáo dục trao đổi nhằm khắc sâu
những bài học về các CMXH, củng cố niềm tin đối với các CMXH và phát triển năng
lực tưởng tượng sáng tạo của người được giáo dục.
c. Giảng giải
Giảng giải là phương pháp trong đó, nhà giáo dục dùng lời nói để giải thích, chứng
minh các CMXH đã được qui định, nhằm giúp cho người được giáo dục hiểu và nắm
được ý nghĩa, nội dung, qui tắc thực hiện các chuẩn mực này.
Ý nghĩa phương pháp giảng giải:
Người được giáo dục nắm vững những tri thức về các CMXH một cách tự giác trên cơ
sở những luận cứ, luận chứng khoa học, ví dụ cụ thể, rõ ràng... thông qua cách phân
tích, giảng giải của nhà giáo dục,
Thông qua giảng giải giúp hình thành niềm tin ở người được giáo dục về các CMXH quy định.
Qua giảng giải người được giáo dục tránh được các tình trạng: nắm các CMXH, mù
quáng, máy móc, hình thức dẫn đến những hành vi tương ứng không tự giác.
Yêu cầu trong quá trình giảng giải:
Chuẩn bị nội dung diễn giải đầy đủ, chính xác, đáp ứng các câu hỏi:
Tại sao? Nội dung gồm? Thực hiện theo qui tắc nào?
Khi giảng giải phải:
Lời nói: rõ ràng, khúc triết, không lan man dài dòng.
Lập luận: chính xác, dễ hiểu, lô gic.
Minh hoạ: Tranh ảnh, băng hình (nếu cần), giáo dục thực tế gần gũi đời thường của
người được giáo dục.
Có thể và nên thu hút người được giáo dục tham gia vào giải thích chứng minh... và
rút ra kết luận trong quá trình giảng giải.
Nên liên hệ để người được giáo dục liên hệ với thực tế, với bản thân. d. Nêu gương
Nêu gương là phương pháp dùng những tấm gương sáng của các cá nhân hoặc của tập
thể để kích thích những người được giáo dục học tập và làm theo.
Phương pháp nêu gương có thể dùng những tấm gương tốt để người được giáo dục
học tập và gương xấu để tránh những hành vi tương tự. lOMoAR cPSD| 61470371
Nêu gương tốt (chính diện) nhằm giúp người được giáo dục khắc phục những khó khăn
gặp phải của bản thân, học tập và làm theo gương tốt, hướng vào những hành vi tích
cực làm việc thiện). Ví dụ về những tấm gương tốt: học sinh học giỏi, giúp đỡ bạn,
giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, luôn có trách nhiệm, nhiệt tình trong
các hoạt động, “sinh viên nghèo vượt khó”, “các nhà doanh nghiệp trẻ”, lao động giỏi,
dùng cảm hy sinh vì nước vì dân, ...
Nêu gương xấu (gương phản diện) nhằm giúp người được giáo dục phân tích, tránh
hành vi tương tự. Ví dụ gương xấu như: lười học, chơi bời lêu lổng, cờ bạc rượu chè,
ăn cắp, gây gổ, ăn nói vô lễ, chốn thuế...
Ý nghĩa phương pháp nêu gương:
Qua nêu gương, nhà giáo dục sẽ giúp người được giáo dục phát triển năng lực phê
phán, đánh giá được hành vi của người khác và rút ra những kết luận bổ ích.
Người được giáo dục biết học những gương tốt đồng thời biết trảnh gương xấu trong
cuộc sống và các hoạt động thực tiễn.
Qua việc phân tích, đánh giá của nhà giáo dục về những tấm gương sẽ giúp người được
giáo dục hình thành niềm tin về các CMXH và mong muốn có những hành vi phù hợp với các CMXH quy định.
Yêu cầu thực hiện phương pháp nêu gương: lOMoAR cPSD| 61470371
Trên cơ sở; mục tiêu, nội dung giáo dục cụ thể, đặc điểm tâm sinh lý của người được
giáo dục, nhà giáo dục lựa chọn những tấm gương sáng và gương phản diện cho phù
hợp. Tránh lạm dụng những gương phản diện vì dễ dẫn tới tác dụng phản giáo dục.
Những tấm gương lựa chọn phải thoả mãn điều kiện sau đây:
Gần gũi với cuộc sống đời thường của người được giáo dục, tránh xa lạ, không thích hợp.
Có tính điển hình, cụ thể. Tránh lan man, chung chung.
Phải có tính khả thi với người được giáo dục. “Tránh" quá lý tưởng nên người được
giáo dục chit có thể “chiêm ngưỡng” mà không bắt chước được.
Trong quá trình nêu gương, nhà giáo dục nên khuyến khích người được giáo dục liên
hệ thực tế, nêu những tấm gương cần học tập, phê phán và tham gia tích cực vào
phân tích, đánh giá những tấm gương đỏ dể rút ra kết luận bổ ích.
Nhà giáo dục cần phải tự rèn luyện, xây dựng nhân cách bản thân trở thành là một tấm
gương sáng trước người được giáo dục.
Tóm lại: Các phương pháp giáo dục nêu trên (đàm thoại, kể chuyện, giang giai, nếu
gương) sẽ giúp cho người được giáo dục có những tri thức cần thiết về các CMXH
mà thực chất là giúp họ hiểu và nắm được những giá trị xã hội cần tôn trọng và
những giá trị đi ngược giá trị xã hội đồng thời mong muốn có được những hành vi
phù hợp với cục CMXH. Các phương pháp này sẽ là cơ sở để hình thành hành vi
tương ứng ở người được giáo dục đối với các CMXH quy định.
Nhóm các phương pháp hình thành hành vi và thói quen hành vi của người được
giáo dục phù hợp với các chuẩn mực xã hội.
Trên cơ sở những hiểu biết và cảm xúc tích cực đối với các CMXH được hình thành ở
người được giáo dục . Người được giáo dục mong muốn được thể hiện, trải nghiệm
những hiểu biết đó trong các hoạt động thực tiễn cuộc sống.
Vì vậy nhóm phương pháp giáo dục tổ chức các hoạt động thực tiễn nhằm tạo môi
trường để người được giáo dục được trải nghiệm biển nhận thức, cảm xúc tích cực với
các CMXH quy định thành hành vi, thói quen hành vi tương ứng ở họ.
Các phương pháp giáo dục có trụ thể trong việc tạo môi trường hoạt động thực tiễn
cho người được giáo dục tham gia bao gồm: giao việc (yêu cầu sư phạm), luyện tập,
rèn luyện (trải nghiệm)
a. Phương pháp giao việc (phương pháp yêu cầu sư phạm) lOMoAR cPSD| 61470371
Giao việc là phương pháp nhà giáo dục lôi cuốn người được giáo dục vào các hoạt động
đa dạng với những công việc nhất định, với những nghĩa vụ cá nhân và xã hội nhất định
mỗi người được giáo dục phải hoàn thành.
Ý nghĩa của phương pháp giao việc: Qua thực hiện công việc, hoạt động được giao
người được giáo dục sẽ hình thanh những hành vi, thoi quen phụ hợp với các yêu cầu
công việc được giao, yêu cầu của các CMXH quy định và được thể hiện những kinh
nghiệm ứng xử của mình trong mỗi quan hệ đa dạng. Yêu cầu thực hiện phương pháp giáo việc:
Trước khi giao việc, nhà giáo dục cần giúp người được giáo dục ý thức đầy đủ về ý nghĩa
xã hội và ý nghĩa cá nhân của công việc phải làm và kích thích họ tự giác, tích cực hoạt
động thực hiện công việc được giao.
Nhà giáo dục đưa ra những yêu cầu cụ thể mà người được giáo dục phải hoàn thành
và giúp họ định hướng đúng đắn toàn bộ chuỗi hành động phải hoàn thành,
Giao việc phải tính tới hứng thú, năng khiếu, điều kiện thực tiễn và tính khả thi của
hoạt động của người được giáo dục nhằm phát huy thế mạnh ở họ trong hoạt động.
Quá trình thực hiện hoạt động nhà giáo dục cần theo dõi, giúp đỡ tạo điều kiện (nếu
cẩn) để người được GD hoàn thành mọi yêu cầu của công việc được giao,
Cần kiểm tra đánh giá công khai kết quả hoàn thành công việc của cá nhân hay tập thể
người được giáo dục. Lưu ý: nhà giáo dục luôn có nhận xét cụ thể, những chỉ dẫn hỗ
trợ và khuyến khích, động viên người được giáo dục tiếp tục tham gia các hoạt động thực tiễn.
Cần kiểm tra đánh giá công khai kết quả hoàn thành công việc của cá nhân hay tập thể
người được giáo dục. Lưu ý: nhà giáo dục luôn có nhận xét cụ thể, những chỉ dẫn hỗ
trợ và khuyến khích, động viên người được giáo dục tiếp tục tham gia các hoạt động thực tiễn.
Có thể phát huy ý thức tự quản của tập thể học sinh bằng việc để tập thể học sinh giao
việc cho cá nhân trong các hoạt động của lớp mà không nhất thiết giáo viên giao việc.
b. Phương pháp tập luyện
Tập luyện là phương pháp tổ chức cho người được giáo dục thực hiện một cách đều
dặn và có kế hoạch các hoạt động nhất định, nhằm biến những hành động có thành
những thói quen ứng xử ở người được giáo dục.
Ý nghĩa của phương pháp luyện tập:
Người được giáo dục có môi trường hoạt động thực tiễn để trải nghiệm, củng cố, phát
triển niềm tin đối với các CMXH và biến ý thức cá nhân và các CMXH thành những
hành vi tương ứng ở họ.
Người được giáo dục có môi trường hoạt động thực tiễn để lặp đi lặp lại các hành vi
hoạt động theo quy trình xác định trên cơ sở đó tạo lập thành những thói quen hành
vi ứng xử tương ứng ở họ, đảm bảo tính bền vững của hành vi ứng xử phù hợp với
các CMXH quy định ở người được giáo dục. lOMoAR cPSD| 61470371
Yêu cầu khi thực hiện phương pháp luyện tập:
Nhà giáo dục cần giúp cho người được giáo dục năm được quy tắc hành vi và hình dung
rõ hành vi đó cần thực hiện như thế nào? để giúp họ có thể định hướng cho việc thực
hiện hành vi qua tập luyện.
Trong những trường hợp cần thiết, nhà giáo dục có thể lắm mẫu cho người được giáo
dục về những hành vi cần tập luyện.
Cẩn tạo điều kiện cho người được giáo dục tập luyện theo quy tắc hành vi, theo mẫu hành vi đã giới thiệu.
Nhà giáo dục cần khuyến khích người được giáo dục tập luyện thường xuyên, lặp đi lặp
lại những hành vi đã tập luyện qua việc thực hiện chế độ sinh hoạt hàng ngày, các
hoạt động thực tiễn của cuộc sống.
Nhà giáo dục cần tiến hành kiểm tra uốn nắn thường xuyên hành vi hoạt động của
người được giáo dục theo yêu cầu quy trình chuẩn đồng thời khuyến khích, động viên
họ tự kiểm tra, tự luôn nặn hành vi của mình trong quá trình luyện tập.
c. Phương pháp rèn luyện
Rèn luyện là phương pháp tổ chức cho người được giáo dục được thể nghiệm ý thức,
tình cảm, hành vi của mình về các CMXII trong những tình huống dạ dụng của cuộc
sống. Qua đó hình thành và củng có được những hành vi phù hợp với các CMXH đã quy định.
Ý nghĩa của phương pháp rèn luyện:
Thông qua những tình huống, hoạt động mới, đa dạng của cuộc sống thực, người được
giáo dục được trải nghiệm là chinh mình đưa ra những quyết định và chịu trách nhiệm
với những quyết định đó. Trên cơ sở đó nhận ra mình là ai, những cải phù hợp và
chưa phù hợp từ đó điều chính bản thân đáp ứng yêu cầu của CMXH.
Chính trong quá trình “thâm nhập” vào những tình huống mới, đa dạng của cuộc sống.
người được giáo dục phải tiến hành cuộc đấu tranh động cơ để tự xác định động cơ
đúng đãn, định hưởng cho hoạt động nhằm giải quyết đúng đắn những tình huống
đó. Điều đó sẽ giúp cho ý thức về các CMXH ở người được giáo dục được khắc sâu,
phát triển đảm bảo những hành vi, hoạt động tương ứng mang tính tự giác, bền vững
cao và hình thành thói quen hành vi tương ứng ở họ.
Quá trình được trải nghiệm, lặp đi lặp lại những hành vi đó trong những tình huống
khác nhau của cuộc sống thực sẽ giúp người được giáo dục biến những hành vi đó
trở thành thói quen bền vững.
Yêu cầu khi thực hiện phương pháp rèn luyện:
Tạo cơ hội cho người được giáo dục “Thâm nhập” vào những tình huống đa dạng từ
đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó của cuộc sống thực,
Tạo cơ hội cho người được giáo dục dựa vào kết quả của tập luyện, lặp đi lặp lại những
hành vi đó trong những tình huống khác nhau của cuộc sống thực để những hành vi
đó trở thành thói quen bền vững. lOMoAR cPSD| 61470371
Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra của nhà giáo dục và tự kiểm tra của người được giáo dục .
Tổ chức liên tục có hệ thống các hoạt động thông qua tình huống tự nhiên của cuộc
sống thực hoặc tạo ra những tình huống thích hợp nhằm thu hút người được giáo dục tich cực tham gia.
Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của người được giáo dục.
Trong quá trình giáo dục tác động đến ý thức, hành vi và tạo lập thói quen hành vi ứng
xử ở người được giáo dục phù hợp với các CMXH, không phải mọi tác động đều được
người được giáo dục hưởng ứng một cách tích cực và đem lại hiệu quả giáo dục. Vì vậy,
quá trình giáo dục luôn cần thêm các phương pháp kich thich hoạt động và điều chỉnh
hành vi ứng xử của người được giáo dục hướng tới mục tiêu giáo dục đặt ra.
Nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của người được
giáo dục bao gồm các phương pháp: Khen thưởng, trách phạt và thi đua. a. Khen thưởng
Khen thưởng là phương pháp biểu thị sự đồng tình, sự đánh giá tích cực của nhà giáo
dục đối với thái độ, hành vi ứng xử của người được giáo dục trong những tình huống
nhất định nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra.
Ý nghĩa của khen thưởng:
Khen thưởng là cách thức để khẳng định hành vi của người được giáo dục là đúng đắn,
phù hợp với các CMXH đã quy định.
Qua việc khen thưởng sẽ giúp người được giáo dục tự khẳng định những hành vi tốt
của minh, củng cố và phát triển niềm tin đối với các CMXH có liên quan đến những
hành vi tốt của minh đã thực hiện.
Khen thưởng sẽ kích thích người được giáo dục duy trì, phát triển những hành vi tích
cực đồng thời tránh được những hành vi tiêu cực không phù hợp các CMXH.
Vì vậy có thể nói: khen thưởng là phương pháp rất quan trọng và có ý nghĩa sâu sắc đối
với người được giáo dục, khen thưởng mang lại sức mạnh và niềm tin cho người được
giáo dục trong quá trình học tập và rèn luyện bản thân. Các hình thức khen thưởng:
Để lựa chọn đưa ra quyết định về hình thức và mức độ khen thưởng phù hợp với
người được giáo dục , đòi hỏi nhà giáo dục cần căn cứ vào tính chất, mức độ, phạm
vi ảnh hưởng, động cơ, sự nỗ lực của người được giáo dục ... đối với hành vi tieh cực
đó mà nhà giáo dục có hình thức, mức độ khen thưởng phù hợp,
Ví dụ: về các mức độ khen thưởng đối với hành vi tích cực của người được giáo dục (theo chiều tăng dân):
Tỏ thái độ đồng tình, ủng hộ những hành vi tốt một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Tỏ lời khen với những hành vi tốt.
Biểu dương những hành vi tốt, lOMoAR cPSD| 61470371
Tặng giấy khen, bằng khen có kèm thưởng (Lưu ý: thường có thể bằng nhiều hình thức
như vật phẩm, tiền mặt, học bổng, chuyến du lịch...)
Yêu cầu khi thực hiện khen thưởng:
Đảm bảo khen thưởng trên cơ sở hành vi thực tế đạt được của người được giáo dục,
VD: Nhà giáo dục cần xem xét hành vi đó thể hiện có phù hợp với các CMXH hay
không? Có động cơ đúng đắn không? Có tính phổ biến, tính thường xuyên không?
Đảm bảo khen thường phải khách quan, công bằng không vì thiên vị mà đánh giá cao,
thành kiến mà đánh giá thấp.
Đảm bảo khen thưởng phải kịp thời, đúng lúc, đúng chỗ, tránh khen thưởng ở những
nơi không thích hợp, tuỳ tiện quá sớm hay quá muộn.
Đảm bảo kết hợp khen thưởng thường xuyên với khen thưởng quả trình.
Đảm bảo khen thưởng phải gây được dư luận tập thể đồng tình, ủng hộ. Vì khi dư luận
tập thể đồng tình, ủng hộ sẽ làm tăng thêm giá trị, ý nghĩa của hành vi tốt, kích thích
người được GD tiếp tục phát triển hành vi tốt và kích thích, định hướng cho những
người khác noi theo những hành vi tốt.
b. Trách phạt.
Trách phạt là phương pháp biểu thị sự không đồng tình, sự phản đối, sự phê phán
những hành vi sai trái của người được giáo dục so với các CMXH quy định.
Ý nghĩa của việc trách phạt:
Trách phạt sẽ buộc người mắc lỗi trong ứng xử phải ngừng ngay hành vi sai trái một
cách tự giác, nâng cao ý thức tự kim chẻ trong tương lai không tái phạm nữa mà trái
lại có những hành vi đúng đắn, tích cực phù hợp với các CMXH quy định.
Tạo cơ hội nhắc nhở những người khác không vi phạm các CMXH, không rơi vào những
hành vi sai trái như người bị trách phạt.
Các hình thức trách phạt: Tùy vào từng trường hợp mà nhà giáo dục có thể đưa ra
quyết định hình thức, mức độ trách phạt phù hợp theo mức độ tăng dần như sau: Nhắc
nhở (khuyên bảo), chê trách, phê bình, cảnh cáo, buộc thôi học, đuổi học.
Khi đưa ra quyết định lựa chọn hình thức, mức độ trách phạt đòi hỏi nhà giáo dục cần
căn cứ vào các yếu tố sau đây:
Loại hình của hành vi sai lệch là học tập, lao động hay ứng xử ? sẽ có cách trách phạt khác nhau.
Tính chất của hình vi sai lệch (Nghiêm trọng hay không nghiêm trọng? thường xuyên
hay không thường xuyên? cô tình hay vô ý?).
Phạm vi và mức độ tai hại do hành vi sai lệch gây ra (Tai hại nhiều hay ít?, ở diện rộng
hay diện hẹp?) Yêu cầu khi trách phạt:
Đảm bảo trách phạt phải khách quan: Nhà giáo dục phải thận trọng xem xét đánh giá
những hành vi sai lệch của người được giáo dục, cũng như đưa ra những quyết định
về mức độ, hình thức trách phạt sao cho đúng đắn, chính xác và thoả đáng. Tránh tình
trạng đánh giá sai, không phù hợp với thực tế (Quá cao hay quá thấp)