-
Thông tin
-
Quiz
Câu hỏi ôn tập kinh tế chính trị không chuyên | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Với tư cách là một khoa học, đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là gì? Phân biệt quy luật kinh tế và chính sách kinh tế. Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác - Lênin đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị quốc gia? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Kinh tế chính trị Mác Lênin (vshsvhs) 64 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Câu hỏi ôn tập kinh tế chính trị không chuyên | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Với tư cách là một khoa học, đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là gì? Phân biệt quy luật kinh tế và chính sách kinh tế. Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác - Lênin đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị quốc gia? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Kinh tế chính trị Mác Lênin (vshsvhs) 64 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
Câu hỏi ôn tập không chuyên
1. Với tư cách là một khoa học, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
của kinh tế chính trị Mác - Lênin là gì? Phân biệt quy luật kinh tế và chính
sách kinh tế. Nêu ý nghĩa của việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác - Lênin
đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị quốc gia?
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lenin là quan hệ sản xuất trong
sự tác động qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng nhằm tìm ra
bản chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế, phát hiện ra các phạm trù, quy
luật kinh tế ở các giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người.
Phương pháp biện chứng duy vật
Phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin được sử dụng đối với nhiều môn khoa học. Trong kinh tế chính trị, phương
pháp này đòi hỏi: khi xem xét các hiện tượng và quá trình kinh tế phải đặt trong
mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, thường xuyên vận động, phát triển không
ngừng, chứ không phải là bất biến. Quá trình phát triển là quá trình tích luỹ những
biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất.
Phép biện chứng duy vật coi nguồn gốc của sự phát triển là sự thống nhất và đấu
tranh của các mặt đối lập. Phép biện chứng duy vật cũng đòi hỏi khi xem xét các
hiện tượng và quá trình kinh tế phải gắn liền với những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể…
Phương pháp trừu tượng hoá khoa học
Đây là phương pháp quan trọng, được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu kinh tế
chính trị và một số môn khoa học xã hội khác, bởi vì nghiên cứu các khoa học này
không thể tiến hành trong các phòng thí nghiệm, không sử dụng được các thiết bị
kỹ thuật như kính hiển vi, các thiết bị máy móc như các khoa học tự nhiên và kỹ
thuật. Mặt khác, bản thân các hiện tượng và quá trình kinh tế cũng phức tạp, có
nhiều nhân tố tác động đến chúng, cho nên sử dụng phương pháp trừu tượng hoá
khoa học làm cho việc nghiên cứu trở nên đơn giản hơn, nhanh chóng đi đến kết
quả hơn. Trừu tượng hoá khoa học là phương pháp gạt bỏ khỏi quá trình nghiên
cứu các hiện tượng được nghiên cứu những cái đơn giản, ngẫu nhiên, tạm thời,
hoặc tạm gác lại một số nhân tố nào đó nhằm tách ra những cái điển hình, ổn định,
vững chắc, từ đó tìm ra bản chất các hiện tượng và quá trình kinh tế, hình thành các
phạm trù và phát hiện ra quy luật phản ánh những bản chất đó. 1
Ngoài ra, kinh tế chính trị còn sử dụng nhiều phương pháp khác như lôgíc và lịch
sử, phân tích và tổng hợp, các phương pháp toán học, thống kê, mô hình hoá các
quá trình kinh tế được nghiên cứu, Phân biệt:
Quy luật kinh tế là cơ sở của chính sách kinh tế.
Chính sách kinh tế là sự vận dụng các quy luật kinh tế và các quy luật khác
vào hoạt động kinh tế. Nó chỉ đi vào cuộc sống, mang lại hiệu quả kinh tế
cao khi nó phù hợp với yêu cầu của quy luật kinh tế, và đáp ứng được lợi ích kinh tế của con người. Ý nghĩa:
Kinh tế Chính trị có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Học tập môn
Kinh tế Chính trị giúp cho người học hiểu được bản chất của các hiện tượng
và quá trình kinh tế, nắm được các quy luật kinh tế chi phối sự vận động và
phát triển kinh tế; phát triển lý luận kinh tế và vận dụng lý luận đó vào thực
tế, hành động theo quy luật, tránh bệnh chủ quan, giáo điều, duy ý chí.
Kinh tế Chính trị cung cấp các luận cứ khoa học, làm cơ sở cho sự hình
thành đường lối, chiến lược phát triển kinh tế, xã hội và các chính sách, biện
pháp kinh tế cụ thể phù hợp với yêu cầu của các quy luật khách quan và điều
kiện cụ thể của đất nước ở từng thời kỳ nhất định.
Học tập Kinh tế Chính trị, nắm được các phạm trù và các quy luật kinh tế, là
cơ sở cho người học hình thành tư duy kinh tế, không những cần thiết cho
các nhà quản lý vĩ mô mà còn rất cần cho quản lý sản xuất kinh doanh ở các
doanh nghiệp của mọi tầng lớp dân cư, ở tất cả các thành phần kinh tế.
Nắm vững kiến thức Kinh tế Chính trị, người học có khả năng hiểu biết một
cách sâu sắc các đường lối và chính sách kinh tế cụ thể của Đảng và Nhà
nước ta, tạo niềm tin có cơ sở khoa học vào đường lối, chiến lược, chính sách đó.
Học tập Kinh tế Chính trị, hiểu được sự thay đổi của phương thức sản xuất,
các hình thái kinh tế xã hội là tất yếu khách quan, là quy luật của lịch sử,
giúp người học có niềm tin sâu sắc vào con đường xã hội chủ nghĩa mà
Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã lựa chọn, là phù hợp với quy 2
luật khách quan, đi với dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
2. Phân biệt sản xuất hàng hóa và sản xuất tự nhiên. Phân tích khái niệm,
hai thuộc tính và giải thích tại sao hàng hóa lại có hai thuộc tính? Lượng giá trị
của hàng hóa chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố nào? Phân biệt:
Sản xuất tự nhiên: Là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm do LĐ làm ra để
thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất. Trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất: Phát triển đến một mức độ nhất định, bớt lệ thuộc vào tự nhiên.
Quy mô sản xuất: Nhỏ lẻ,
phẩm chỉ đủ cung ứng một nhóm nhỏ cá nhân. sản
Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị
Mac-Lenin dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh trong đó tế
sản phẩm được sản xuất ra
không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu của dùng
chính người trực tiếp sản xuất ra
nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao
đổi, mua bán. Hay nói một cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà
sản phẩm sản xuất ra là để bán. Phân tích:
Hàng hoá: là sản phẩm cảu lao động, nó có thể thoả mãn những nhu cầu nhất
đinh nào đó của con người thông qua trao đổi mua bán. Giá trị sử dụng
- Hàng hoá trước hết “là một vật nhờ có những thuộc tính của nó mà thoả
mãn được một loại nhu cầu nào đó của con người”, không kể nhu cầu đó
được thoả mãn trực tiếp, nếu vật ấy là một tư liệu sinh hoạt, hay gián tiếp,
nếu vật ấy là một tư liệu sản xuất. 3
- Số lượng giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc đã phát hiện
ra được hết, mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của KH- KT
- Giá trị sử dụng hay công cụ của hàng hoá là do thuộc tính tự nhiên của vật
thể hàng hóa quyết định .Với ý nghĩa nh vậy thì giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn.
- Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng, nó là nội
dung vật chất của của cải không kể hình thức xã hội của của cai đó như thế nào.
→ Một vật khi đã là hàng hoá thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng.Nhưng
không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng là hàng hoá. Chẳng hạn, không khí
rất cần cho cuộc sống con người, nhưng không phải là hàng hoá.Nước suối,
quả dại cũng có giá trị sử dụng , nhưng cũng không phải là hàng hoá.Như
vậy, một vật muốn trở thành hàng hoá thì giá trị sử dụng của nó phải là vật
được sản xuất ra để bán, để trao đổi, cũng có nghĩa là vật đó phải có giá trị
trao đổi.Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi. Giá trị hàng hoá
Muốn hiểu giá trị hàng hóa phải xuất phát từ giá trị trao đổi.
– Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.
– Khái niệm: Giá trị trao đổi trước hết là tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng
này trao đổi với giá trị sử dụng khác.
Ví dụ: 1m vải trao đổi lấy 5 kg thóc. (Điều này có nghĩa là 1m vải có giá trị trao đổi bằng 5kg thóc)
– Vấn đề đặt ra là: tại sao hai hàng hoá, hai giá trị sử dụng lại trao đổi được
cho nhau, hơn nữa chúng lại trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định?
+ Cái chung đó không thể là giá trị sử dụng vì hai loại hàng hóa này có công
dụng hoàn toàn khác nhau (vải để mặc, thóc để ăn). Và sự khác nhau đó chỉ
là điều kiện cần thiết để sự trao đổi xảy ra vì không ai đem trao đổi những vật
phẩm giống hệt nhau về giá trị sử dụng. 4
+ Cái chung đó là: cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động, đều có lao
động kết tinh trong đó. Nhờ có cơ sở chung đó mà các hàng hóa có thể trao
đổi được với nhau. Vậy, thực chất người ta trao đổi hàng hóa với nhau chẳng
qua là trao đổi lao động của mình ẩn dấu trong trong những hàng hóa đó.
Chính hao phí lao động để tạo ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa ấy là cơ sở
chung cho mọi việc trao đổi và nó tạo thành giá trị hàng hóa. – Khái niệm:
Giá trị hàng hóa là lao động của người sản xuất hàng hóa tạo ra, kết tinh trong hànghóa
Giá trị hàng hóa biểu hiện thông qua giá trị trao đổi. Tức là, giá trị là nội
dung, là cơ sở của giá trị trao đổi.
– Giá trị biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa vì
trao đổi hàng hóa là so sánh lượng hao phí lao động giữa những người sản
xuất hàng hóa. Quan hệ giữa người với người được thay thế bằng quan hệ
giữa vật với vật (hàng – hàng).
– Giá trị hàng hóa là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng
hóa, có sản xuất hàng hóa thì mới có giá trị hàng hóa. – Kết luận:
+ Giá trị của hàng hóa là do lao động xã hội (lao động trừu tượng) của người
sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa.
+ Giá trị là cơ sở là nội dung của giá trị trao đổi. Chất của giá trị là lao động,
nên sản phẩm không chứa đựng lao động thì không có giá trị. Sản phẩm chứa
đựng nhiều lao động để tạo ra thì có giá trị cao. Lượng giá trị là biểu hiện
lượng lao động kết tinh trong hàng hóa. Lượng lao động kết tinh thay đổi dẫn
đến giá trị trao đổi thay đổi. Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị.
+ Giá trị là một phạm trù lịch sử.
Hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị, hai thuộc tính đó không
phải do có hai loại lao động khác nhau kết tinh trong nó, mà do lao động của
người sản xuất hàng hoá có tính hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu
tượng. C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt đó. 5 a. Lao động cụ thể
– Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề
nghiệp chuyên môn nhất định.
– Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng: Mỗi lao động cụ thể có đối tượng lao
động, mục đích riêng, công cụ lao đông riêng, phương pháp hoạt động riêng, và kết
quả lao động riêng tạo ra những sản phẩm có công dụng khác nhau, tức là tạo ra
nhiều giá trị sử dụng của hàng hóa.
b. Lao động trừu tượng
– Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa không kể đến hình
thức cụ thể của nó, để quy về một cái chung nhất, đó chính là sự tiêu hao sức lao
động ( tiêu hao bắp thịt, thần kinh, bộ óc) của người lao động sản xuất hàng hóa nói chung.
– Lao động trừu tượng tích lũy trong hàng hóa và tạo ra giá trị.
+ Chỉ có lao động của người lao động sản xuất hàng hóa mới mang tính trừu tượng
và tạo ra giá trị hàng hóa.
+ Lao động trừu tượng chính là mặt chất của giá trị hàng hóa.
Tất nhiên không phải có hai thứ lao động kết tinh trong hàng hóa mà chỉ là lao
động của người sản xuất hàng hóa có tính hai mặt.
– Tính chất hai mặt nói trên liên quan đến tính chất tư nhân và tính chất xã hội của
lao động sản xuất hàng hóa.
+ Tính chất tư nhân: Mỗi người sản xuất hàng hoá có tính tự chủ của mình nên sản
xuất ra cái gì, sản xuất như thế nào là việc riêng của họ. Vì vậy, lao động của họ
trở thành việc riêng, mang tính tư nhân và lao động cụ thể của họ là biểu hiện của lao động tư nhân.
+ Tính chất xã hội: Lao động của mỗi sản xuất hàng hóa cũng là một bộ phận của
lao động xã hội trong hệ thống phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã
hội làm cho lao động của người sản xuất trở thành một bộ phận trong lao động xã
hội, từ đó tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất hàng hoá. Họ
làm việc cho nhau, người này làm việc vì người kia thông qua trao đổi, mua bán
hàng hóa. Việc trao đổi hàng hoá không thể dựa vào lao động cụ thể mà phải quy
thành lao động đồng nhất là lao động trừu tượng. Do đó, lao động trừu tượng là
biểu hiện của lao động xã hội. 6
Có 3 yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá là: Năng suất
lao động. Cường độ lao động. Mức độ phức tạp của lao động close arrow_forward_iosĐọc thêm
3. Trình bày các khái niệm: thị trường, cơ chế thị trường và nền kinh tế
thị trường. Là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, nền kinh tế thị
trường là sản phẩm của văn minh nhân loại có những ưu thế và những khuyết tật nào? Khái niệm:
Thị trường là nơi thực hiện các giao dịch mua bán, chuyển nhượng, trao đổi
các loại hàng hoá, dịch vụ, vốn, sức lao động và các nguồn lực khác trong nền kinh tế.
Cơ chế thị trường là tổng thể các yếu tố cung, cầu, giá cả và thị
trường cùng các mối quan hệ cơ bản vận động dưới sự điều tiết của các quy luật thị
trường trong môi trường cạnh tranh nhằm mục tiêu duy nhất là lợi nhuận.
Nền kinh tế thị trường cũng chính là nơi để các chủ thể trong xã hội có thể
thỏa mãn đam mê trong vấn đề kinh doanh, sản xuất, chính là môi trường kinh
doanh tự do và công bằng. 7
4. Trong nền kinh tế thị trường có những quy luật kinh tế nào điều tiết
thị trường? Phân tích nội dung, tác động của quy luật giá trị và nêu ý nghĩa
của việc nhận thức và vận dụng quy luật này trước và trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.
Các quy luật của kinh tế thị trường
a) Quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần thiết cho lưu
thông hàng hóa ở mỗi thời kì nhất định .
Khi tiền mới chỉ thực hiện chức năng là phương tiện lưu thông ,thì số lượng tiền
cần thiết cho lưu thông được tính theo công thức : M=P.Q/V Trong đó :
M :là lượng tiền cần thíêt cho lưu thông P :là mức giá cả
Q :là khối lừợng hàng hóa đem ra lưu thông
V: là số vòng luân chuyển trung bình của một đơn vị tiền tệ Tức :
M= Tổng giá cả hàng hóa đem ra lưu thông / số vòng luân chuyển trung bình của một đơn vị tiền tệ
Khi tiền thực hiện cả chức năng phương tiện thanh toán thì số lượng cần thiết cho
lưu thông được xác định như sau : b. Quy luật giá trị
– Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị:
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa Quy
luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó,
tức trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết .
Trong sản xuất quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí
lao động cá biệt của mình phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần 8
thiết ,có như vậy họ mới có thể tồn tại được .Còn trong trao đổi hay lưu thông phải
thực hiện theo nguyên tắc ngang giá .Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng
kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi mua bán hàng hóa phải thực
hiện với giá cả bằng gía trị .
Cơ chế tác động của quy luật giá trị được thể hiện cả trong trường hợp giá cả bằng giá trị.
-Tác động của quy luật giá trị
Trong nền sản xuất hàng hóa quy luật giá trị có 3 tác động sau:
(+)Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa :
Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường hợp sau:
Thứ nhất, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị ,hàng hóa bán
chạy và lãi cao những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất ,đầu tư thêm tư
liệu sản xuất và sức lao động .Mặt khác ,những người sản xuất hàng hóa khác nhau
cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này ,do đó tư liệu sản xúât và sức lao
động ở ngành này tăng lên quy mô sản xuất ngày càng mở rộng.
Thứ hai,nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị sẽ bị lỗ vốn.Tình
hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển
sang sản xuất mặt hàng khác làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này
giảm đi ở ngành khác lại có thể tăng lên.
Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng gía trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này.
Như vậy quy luật gía trị đã tự động điều tiết tỉ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức
lao động vào các ngành sản xuất khác nhau đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy lụât giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút
hàng hóa từ nơi có giá trị thấp đến nơi có giá cả cao và do đó góp phần làm cho
hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định.
(+)Kích thích cải tiến kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất tăng năng xuất lao động hạ giá thành sản phẩm.
Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau nhưng trên thị
trường thì các hàng hóa thì đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động cá
biệt khác nhau ,nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo
mức hao phí lao động xã hội cần thiết .Vậy người sản xuất hàng hóa nào mà có 9
mức hao phí lao động thấp hơn mức lao hao phí lao động xã hội cần thiết thì sẽ
đựơc nhiều lãi và càng thấp hơn càng lãi .Điều đó kích thích những người sản xuất
hàng hóa cải tíên kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất ,cải tiến tổ chức quản lí ,thực hiền
tiết kịêm …nhằm tăng năng xuất lao động ,hạ chi phí sản xuất.
Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn.Nếu
người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng xuất
lao động xã hội không ngừng tăng lên ,chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống.
(+)Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu, nghèo.
Những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức
lao động hao phí xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa theo mức hao phí lao động xã
hội cần thiết sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất,
mở rộng sản xuất kinh doanh,thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ.
Ngược lại những người sản xuất hàng hóa nào có mức lao động cá biệt lớn hơn
mức hao phí lao động xã hội cần thiết ,khi bán hàng hóa sẽ rơi vào tình trạng thua
lỗ ,nghèo đi ,thậm chí có thể phá sản,trở thành lao động làm thuê.
Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất
TBCN ,cơ sở ra đời của CNTB. Như vậy quy luật giá trị vừa có tác động tích cực
vừa có tác động tiêu cực. Do đó đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát
triển, nhà nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu
cực của nó ,đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
c.Cạnh tranh và quan hệ cung cầu – Cạnh tranh:
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng
hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất tiêu thụ hoặc tiêu
dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể diễn ra giữa những người sản xuất và người tiêu dùng Trong
cuộc cạnh tranh này người ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau .
Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ nhất
thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó buộc người sản xuất phải thường xuyên năng động
nhạy bén, thường xuyên cải tiến kĩ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học,công nghệ nâng
cao tay nghề hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng xuất chất lượng và hiệu 10
quả kinh tế .Đó chính là cạnh tranh lành mạnh.Thực tế cho thấy ở đâu thiếu cạnh
tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì ở đó thường trì trệ bảo thủ ,kém phát triển.
Bên cạnh mặt tích cực cạnh tranh cũng có mặt tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không
lành mạnh như dùng những thủ đoạn vi phạm đạo đức hoặc vi phạm pháp luật
nhằm thu được nhiều lợi ích nhất cho mình gây tổn hại đến lợi ích của tập thể, xã
hội cộng đồng như làm hàng giả, buôn lậu ,trốn thuế ,ăn cắp bản quyền tung tin
phá hoại uy tín đối thủ ,hoặc cạnh tranh làm tăng sự phân hóa giau nghèo hoặc tổn
hại đối với môi trường sinh thái …
– Quan hệ cung cầu và gía cả hàng hóa
(+)Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán .Như vậy cầu là nhu cầu nhưng không
phải là nhu cầu bất kì mà là nhu cầu được đảm bảo bằng số lượng tiền tương ứng
gọi là nhu cầu có khả năng thanh toán .Quy mô của cầu phụ thuộc vào các nhân tố
chủ yếu như :thu nhập ,sức mua của đồng tiền ,giá cả hàng hóa ,lãi xuất thị hiếu
của người tiêu dùng …trong đó giá cả là yếu tố có í nghĩa đặc biệt quan trọng .
(+)Cung là tổng số hàng hóa có ở thị trường hoặc có khả năng thực tế cung cấp cho
thị trường .Cung biểu hiện kết quả sản xuất dưới hình thức hàng hóa .Như vậy
cung do sản xuất quyết định nhưng cung không phải bao giờ cũng đồng nhất với
sản xuất .Ví dụ :những sản phẩm sản xuất để tự tiêu thụ hoặc không có khả năng
đưa tới thị trường thì không nằm trong cung .Cụ thể lượng cung phụ thuộc chủ yếu
vào số lượng ,chất lượng các yếu tố sản xuất ,chi phí sản xuất ,giá cả hàng hóa
trong đó cũng như cầu giá cả là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng .
Cung và cầu có quan hệ chặt chẽ với nhau .Cầu xác định cung và ngược lại cung
xác định cầu .Cầu xác định khối lượng ,cơ cấu của cung về hàng hóa: hỉ có những
hàng hóa nào có cầu thì mới được sản xuất,cung ứng ,hàng hóa nào tiêu thụ được
nhiều ,nhanh nghĩa là có cầu lớn sẽ được cung ứng nhiều và ngựơc lại .Đến lượt
mình cung tác động đến cầu ,kích thích cầu :những hàng hóa được sản xuất cung
ứng phù hợp với nhu cầu ,thị hiếu sở thích của người tiêu dùng sẽ được ưa thích
hơn ,bán chạy hơn ,làm cho cầu về chúng tăng lên .Vì vậy người sản xuất hàng hóa
phải thường xuyên nghiên cứu nhu cầu ,thị hiếu ,sở thích của người tiêu dùng ,dự
đoán sự thay đổi của cầu ,phát hiện các nhu cầu mới ..,để cải tiến chất lượng ,hình
thức mẫu mã cho phù hợp ;đồng thời phải quảng cáo để kích thích cầu ..
Cung- cầu không chỉ có mối quan hệ với nhau mà còn ảnh hưởng tới giá cả:
Khi cung = cầu , thì giá cả = giá trị 11
Khi cung > cầu , thì giá cả < giá trị
Khi cung < cầu , thì giá cả > giá trị
Đồng thời giá cả cũng có tác động đến cung và cầu .Nhìn chung trong cơ chế thị
trường khi không có sự nhất trí giữa cung và cầu ,thì giá cả có tác động đìêu tíêt
đưa cung và cầu trở về xu hướng cân bằng nhau .Ví dụ :khi cung >cầu ,giá cả sẽ
giảm xuống ,khi giá cả gỉam thì cầu sẽ tăng lên ngược lại cung sẽ giảm dần và như
vậy cung và cầu lại trở về xu thế cân bằng .Đó cũng chính là cơ chế tự điều chỉnh
của nền kinh tế hàng hóa .
Như vậy chúng ta thấy rằng :cạnh tranh,cung-cầu ,giá cả .gía trị là những yếu tố
luôn đi liền với nhau và cùng tác động đến sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Ý nghĩa của quy luật giá trị trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam
được thể hiện như sau:
– Thứ nhất: Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá trên thị trường. Điều tiết sản
xuất tức là điều khiển, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành kinh tế, các lĩnh vực sản xuất khác nhau.
– Thứ hai: Kích thích lực lượng sản xuất phát triển, muốn phát triển hoạt động sản
xuất cũng như muốn hoạt động sản xuất này có lãi thì nhà sản xuất luôn luôn phải
nâng cao trình độ kỹ thuật, máy móc, nâng cao năng lực của người lao động tìm ra
các biện pháp hữu hiệu để làm cho việc sản xuất phát triển không ngừng, từ đó mà
kích thích lực lượng sản xuất xã hội phát triển.
– Thứ ba: Thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động,
làm cho lực lượng sản xuất xã hội phát triển.người sản xuất muốn đứng vững phải
liên tục đổi mới kỹ thụât vì kỹ thuật tiên tiến thì giá trị cá biệt của hàng hoá sẽ thấp
hơn giá trị xã hội của hàng hoá như vậy người sản xuất mới có lãi nhất. Để giành
được lợi thế cạnh tranh thì người sản xuất phải dùng các biện pháp để tối đa hoa
hóa chi phí sản xuất, áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất để tăng năng suất, tạo
ra cho mình những lợi thế cạnh tranh.
Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã vận dụng quy luật giá trị để phát triển
kinh tế và đem lại nhiều thành tựu.
Việc vận dụng quy luật giá trị đã có nhiều tác động đối với sự phát triển kinh
tế thị trường ở Việt Nam. Nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu
nhất định trên tất cả các lĩnh vực. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất
– kỹ thuật, hạ tầng kinh tế – xã hội và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động cũng như thu hút
được mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. 12
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khá cao so với nhiều nước trong
khu vực và nhiều kì vọng về sự tăng trưởng cao hơn nữa trong tương lai.
Về cơ cấu GDP theo ngành đã có chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ
trọng của khu vực nông – lâm – ngư nghiệp và tăng tỷ trọng của khu vực
công nghiệp xây dựng và dịch vụ.
5. Trình bày vai trò và các chức năng chủ yếu của thị trường. Phân tích
vai trò của các chủ thể chính tham gia thị trường. Vai trò:
- Là điều kiện, môi trường để sản xuất phát triển.
- Kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, phân bổ nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế.
- Gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới.
Tóm lại, vai trò của thị trường ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế. Hiểu
được bản chất, vai trò của nó chính là cơ sở để con người khẳng định phát triển
kinh tế thị trường là đúng đắn, khách quan. Chức năng:
Thị trường có 03 chức năng chính, cụ thể như sau:
– Chức năng thừa nhận công dụng xã hội của hàng hóa và lao động đã chi phí để sản xuất ra nó.
Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi và mua bán, việc hàng hóa được
sản xuất ra thì cần phải có người mua để tiêu thụ hàng hóa. Nếu hàng hóa bán được
và bán với giá cả bằng giá trị thì xã hội đã thừa nhận công dụng của nó cũng như
thừa nhận mức hao phí lao động để sản xuất ra nó. Nếu hàng hóa không bán được
thì hoặc là công dụng của hàng hóa không được thừa nhận, hoặc là do chi phí sản
xuất cao hơn mức trung bình của xã hội nên xã hội không chấp nhận. Nếu hàng
hóa bán được với giá cả thấp hơn giá trị thì có nghĩa là xã hội chỉ thừa nhận công
dụng của nó và một phần chi phí sản xuất ra nó.
Thị trường chỉ thừa nhận những hàng hóa, dịch vụ nếu nó phù hợp với những đòi
hỏi của người tiêu dùng. Những hàng hóa vô dụng, kém chất lượng, cung vượt qua
cầu… thì sẽ không được thị trường chấp nhận.
– Chức năng cung cấp thông tin cho người sản xuất và tiêu dùng về cơ cấu
hàng hóa, giá cả, chất lượng… 13
Thị trường thông tin về tổng số cung, tổng số cầu, cơ cấu cung – cầu, quan hệ cung
cầu đối với từng loại hàng hóa, giá cả thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến thị
trường, các yêu cầu về chất lượng sản phẩm. Thị trường cho người sản xuất biết
thông tin nên cung cấp sản phẩm hàng hóa nào, khối lượng bao nhiêu, khi nào, cho
ai, ở đâu. Thị trường chỉ cho người tiêu dùng biết nên tìm kiếm mặt hàng mình cần
ở đâu nên chọn mặt hàng nào phù hợp với khả năng của mình.
– Chức năng điều tiết, kích thích hoạt động sản xuất và tiêu dùng.
Sự vận động của các quy luật kinh tế của thị trường thông qua quan hệ cung cầu và
giá cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường sẽ dẫn đến chức năng điều tiết của thị
trường với sản xuất, lưu thông và tiêu dùng của xã hội.
Vai trò của các chủ thể chính tham gia thị trường. 1. Người sản xuất
Người sản xuất hàng hóa là những người sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ ra thị
trường nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Người sản xuất bao gồm các nhà
sản xuất, đầu tư, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ... Họ là những người trực tiếp tạo ra
của cái vật chất, sản phẩm cho xã hội để phục vụ tiêu dùng.
Người sản xuất là những người sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất, kinh doanh và
thu lợi nhuận. Nhiệm vụ của họ không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu hiện tại của xã hội, mà
còn tạo ra và phục vụ cho những nhu cầu trong tương lai với mục tiêu đạt lợi nhuận tối
đa trong điều kiện nguồn lực có hạn. Vì vậy, người sản xuất luôn phải quan tâm đến
việc lựa chọn sản xuất hàng hóa nào, số lượng bao nhiêu, sản xuất với các yếu tố nào sao cho có lợi nhất.
Ngoài mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, người sản xuất cần phải có trách
nhiệm đối với con người, trách nhiệm cung cấp những hàng hóa dịch vụ không làm tổn
hại tới sức khỏe và lợi ích của con người trong xã hội. 2. Người tiêu dùng
Người tiêu dùng là những người mua hàng hóa, dịch vụ trên thị trường đề thỏa mãn
nhu cầu tiêu dùng. Sức mua của người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự phát triển bền
vững của người sản xuất. Sự phát triển đa dạng về nhu cầu của người tiêu dùng là
động lực quan trọng của sự phát triển sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất. 14
Người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất. Do đó, trong điều
kiện nền kinh tế thị trường, người ticu cùng ngoài việc thỏa mãn nhu càu của mình, cần
phải có trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của xã hội.
Lưu ý, việc phân chia người sản xuất, người tiêu dùng chỉ có tính chất tương dối để
thấy được chức năng chính của các chủ thề này khi tham gia thị trường. Trên thực tế,
doanh nghiệp luôn đóng vai trò vừa là người mua cũng vừa là người bán.
3. Các chủ thể trung gian trong thị trường
Chủ thể trung gian là những cá nhân, tổ chức dảm nhiệm vai trò cầu nối giữa các chủ
thể sản xuất, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
Do sự phát triển của sản xuất và trao đổi dưới tác động của phân công lao động xã hội,
làm cho sự tách biệt tương dối giữa sản xuất và trao đổi ngày càng sâu sắc. Trên cơ sở
đó xuất hiện những chủ thể trung gian trong thị trường. Những chủ thể này có vai trò
ngày càng quan trọng để kết nối, thông tin trong các quan hệ mua, bán.
Nhờ vai trò của các trung gian này mà nền kinh tế thị trường trở nên sống động, linh
hoạt hơn. Hoạt dộng của các trung gian trong thị trường làm tăng cơ hội thực hiện giá
trị của hàng hóa cũng như thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Các chủ thể trung
gian làm tăng sự kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, làm cho sản xuất và tiêu dùng trở nên ăn khớp với nhau.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay, các chủ thể trung gian thị
trường không phải chỉ có các trung gian thương nhân mà còn rất nhiều các chủ thể
trung gian phong phú trên tất cả các quan hệ kinh tế như: trung gian môi giới chứng
khoán, trung gian môi giới nhà đất, trung gian môi giới khoa học công nghệ...Các trung
gian trong thị trường không những hoạt động trên phạm vi thị trường trong nước mà
còn trên phạm vi quốc tế. Bên cạnh đó cũng có nhiều loại hình trung gian khồng phù
hợp với các chuẩn mực đạo đức (lừa đảo, môi giới bất hợp pháp...). Những trung gian
này cần được loại trừ. 4. Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, xét về vai trò kinh tế, nhà nước thực hiộn chức năng quản
lý nhà nước về kinh té đồng thời thực hiện những biện pháp để khắc phục những
khuyết tật của thị trường. 15
Với trách nhiệm như vậy, một mặt, nhà nước thực hiện quản trị phát triển nền kinh tế
thông qua việc tạo lập môi trường kinh tế tốt nhắt cho các chủ thể kinh tế phát huy sức
sáng tạo của họ. Việc tạo ra các rào cản đối với hoạt động sản xuất kinh doanh từ phía
nhà nước sẽ làm kìm hãm động lực sáng tạo của các chủ thể sản xuất kinh doanh. Các
rào cản như vậy phải được loại bỏ. Việc này đòi hỏi mỗi cá nhân có trách nhiệm trong
bộ máy quản lý nhà nước cần phải nhận thức được trách nhiệm của mình là thúc đầy
phát triển, không gây cản trờ sự phát triền của nền kinh tế thị trường.
Cùng với đó, nhà nước còn sử dụng các công cụ kinh tế để khắc phục các khuyết tật
của nền kinh tế thị trường, làm cho nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, mọi quan hệ sản xuất và trao đổi, các hoạt động
của các chủ thề đều chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan của thị
trường; đồng thời chịu sự điều tiết, can thiệp của nhà nước qua việc thực hiện hệ thống
pháp luật và các chính sách kinh tế. Mô hình kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà
nước ở từng nước, từng giai đoạn có thể khác nhau tùy thuộc vào mức độ can thiệp
của chính phủ đối với thị trường, song tất cả các mô hình đều có điềm chung là không
thề thiếu vai trò kinh tế của nhà nước
6. Thông qua quá trình sản xuất giá trị thặng dư trong một doanh
nghiệp tư bản tư nhân, hãy làm rõ nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư.
Phân tích các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và nêu ý nghĩa của việc
nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư của C.Mác.
2.1. Nguồn gốc của giá trị thặng dư:
Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải mua sức lao động và tư liệu sản xuất.
Vì tư liệu sản xuất và sức lao động do nhà tư bản mua, nên trong quá trình
sản xuất, người công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sản
phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản.
Sản xuất tư bản chủ nghĩa là quá trình tạo ra giá trị tăng thêm cho nhà tư bản
khi năng suất lao động đạt tới trình độ nhất định – chỉ cẩn một phần của ngày
lao động người công nhân làm thuê đã tạo tra giá trị bằng giá trị sức lao động của chính mình. 16
Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dụng các tư liệu sản xuất và
chuyển giá trị của chúng vào sản phẩm; và bằng lao động trừu tượng, công
nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư.
Giá trị hàng hóa (W) được sản xuất ra gồm hai phần: giá trị những tư liệu sản
xuất đã hao phí được lao động cụ thể bảo tồn và chuyển vào sản phẩm (giá
trị cũ, ký hiệu c) và giá trị mới (v+m) do lao động trìu tượng của công nhân tạo
ra (lớn hơn giá trị hàng hóa sức lao động). Phần giá trị mới do lao động sống
tạo thêm ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động, được nhà tư bản thu lấy mà
không trả cho người lao động, được gọi là giá trị thặng dư (m). Như vậy, lao
động sống là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư.
2.2. Bản chất và ý nghĩa của giá trị thặng dư:
Từ việc nghiên cứu Học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác, chúng ta thấy rõ ít
nhất ba vấn đề lớn trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước.
Một là, trong thời kỳ quá độ nền kinh tế ở nước ta, trong một chừng
mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo
cách tiếp cận giáo điều và xơ cứng cũ. Càng phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừng nào quan hệ bóc lột còn
có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.
Hai là, trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rành
mạch, máy móc và xơ cứng về mức độ bóc lột trong việc hoạch định
các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệt đối xử với
tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thực hiện
được. Điều có sức thuyết phục hơn cả hiện nay là quan hệ phân phối
phải được thể chế hóa bằng luật.
Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước mỗi khi được thể
chế hóa thành luật và các bộ luật thì chẳng những góp phần xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy luật làm công cụ và cơ sở để điều
chỉnh các hành vi xã hội nói chung, mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng. Ai
chấp hành đúng pháp luật thì được xã hội thừa nhận và tôn vinh theo phương
châm: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 17
Trong nhận thức, quan điểm chung nên coi đó cũng chính là mức độ bóc lột
được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp. Trong quản lý xã hội thì
phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một
mặt, chống thất thu thuế, mặt khác, bảo đảm sự công bằng trong phân phối
thông qua Nhà nước và bằng các “kênh” phân phối lại và điều tiết thu nhập xã
hội. Thiết nghĩ, đây là một hướng tiếp cận vấn đề bóc lột giúp chúng ta tránh
được những nhận thức giáo điều, phi biện chứng về quan hệ bóc lột, cũng
như việc vận dụng nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải phóng
sức sản xuất, tạo động lực phát triển kinh tế và chủ động hội nhập thành công
với nền kinh tế quốc tế.
Ba là, mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả
người lao động lẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng các
chế tài thật cụ thể mới bảo đảm công khai, minh bạch và bền vững.
Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động là một
thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh những
xung đột không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, thể
hiện trong bản chất của chế độ mới. Bảo vệ được những quyền lợi
chính đáng, những quyền lợi được luật pháp bảo vệ, của tất cả các bên
trong quan hệ lao động là một bảo đảm cho việc vận dụng một cách
hợp lý quan hệ bóc lột trong điều kiện hiện nay, đồng thời cũng là
những đóng góp cơ bản nhất cho cả quá trình hoàn thiện và xây dựng
mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Hiện có 2 phương pháp chủ yếu để thu được giá trị thặng dư:
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
– Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Là phương pháp sản
xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi
năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi.
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được từ việc kéo dài ngày lao
động vượt giới hạn thời gian lao động cần thiết. Ngày lao động kéo dài còn
thời gian lao động cần thiết không đổi dẫn đến thời gian lao động thặng dư
tăng lên. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chính là kéo dài
thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất, giá trị và thời gian lao động 18
tất yếu không đổi. Cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa chính là sản
xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối được sử dụng phổ biến trong
giai đoạn đầu chủ nghĩa tư bản. Đây là thời điểm lao động còn ở trình độ thủ
công, năng suất lao động còn thấp. Lúc này bằng lòng tham vô hạn, các nhà
tư bản giở mọi thủ đoạn kéo dài ngày lao động nhằm nâng cao khả năng bóc
lột sức lao động công nhân làm thuê.
Tuy nhiên sức lực con người có hạn. Hơn nữa vì công nhân đấu tranh quyết
liệt đòi rút ngắn ngày lao động nên các nhà tư bản không thể kéo dài ngày lao
động vô thời hạn. Nhưng ngày lao động cũng không được rút ngắn đến mức
bằng thời gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của phương pháp sản
xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chính là tăng cường độ lao động. Bởi vì tăng
cường độ lao động cũng tương tự việc kéo dài thời gian lao động trong ngày
nhưng thời gian lao động cần thiết không đổi.
– Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là phương pháp sản
xuất giá trị thặng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp
giá trị sức lao động nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều
kiện ngày lao động, cường độ lao động không đổi.
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được từ việc rút ngắn thời
gian lao động tất yếu dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động. Tăng năng
suất lao động xã hội mà đầu tiên là ở ngành sản xuất vật phẩm tiêu dùng làm
cho giá trị sức lao động giảm xuống. Từ đó thời gian lao động cần thiết cũng
giảm. Khi độ dài ngày lao động không đổi, thời gian lao động cần thiết giảm
sẽ tăng thời gian lao động thặng dư (thời gian sản xuất giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản).
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là rút ngắn thời gian lao
động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động. Từ đó tăng thời gian lao
động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động và cường độ lao động không đổi. 19
7. Trình bày bản chất tích lũy tư bản và phân tích các nhân tố góp phần
làm tăng quy mô tích lũy tư bản. Bằng kiến thức lý luận và thực tiễn, chứng
minh rằng tích lũy tư bản dẫn tới gia tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản, thúc
đẩy tích tụ và tập trung tư bản, phân hóa thu nhập giữa nhà tư bản và lao động làm thuê.
Nói một cách ngắn gọn thì TÍCH LŨY TƯ BẢN là sự chuyển hóa không
ngừng một phần giá trị thặng dư thành tư bản - cũng có nghĩa là tư bản hóa giá trị thặng dư.
Với bản chất khát vọng không có giới hạn về giá trị thặng dư đã khiến cho tư
bản không ngừng mở rộng sản xuất để đạt mục tiêu không ngừng tăng qui mô giá
trị thặng dư. Do đó thực chất của tích lũy tư bản là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư thành tư bản.
* Những nhân tố ảnh hưởng đến qui mô và tốc độ tích lũy tư bản :
Trường hợp khối lượng giá trị thặng dư không đổi thì qui mô tích lũy tư bản
phụ thuộc vào tỉ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó thành hai quĩ: quĩ tich1
lũy và quĩ tiêu dùng cùa nhà tư bản. Đương nhiên trong một tổng quĩ đó, tỉ lệ quĩ
này tăng lên thì tỉ lệ giành cho quĩ kia giảm đi.
Nếu tỉ lệ phân chia đó đã được xác định, thì qui mô của quĩ tích lũy tư bản
phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Trong trường hợp này khối lượng giá trị
thặng dư bị phụ thuộc vào những nhân tố sau đây: 20