



















Preview text:
CÂU HỎI ÔN THI HẾT HỌC PHẦN
MÔN LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Dành cho K47
1. Phân tích các đặc trưng cơ bản của nhà nước. Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ biểu
hiện một đặc trưng của nhà nước Việt Nam hiện nay.
➢ Đặc trưng cơ bản của nhà nước:
1. Nhà nước là tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội - Quyền lực là gì?
- Quyền lực nhà nước vì sao lại đặc biệt (trên các khía cạnh: nguồn gốc, phạm vi,
cách thức thực hiện, mục đích)
2. Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư theo lãnh thổ
3. Nhà nước nắm giữ và thực thi chủ quyền quốc gia
- Chủ quyền quốc gia là gì?
- Vì sao nhà nước có đủ tư cách và khả năng đại diện hợp pháp cho quốc gia?
- Trong quan hệ đối nội nhà nước có quyền gì?
- Trong quan hệ đối ngoại nhà nước có quyền gì?
4. Nhà nước ban hành pháp luật và sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý xã hội - Pháp luật là gì?
- Nhờ đâu nhà nước có quyền ban hành pháp luật làm công cụ quản lý xã hội?
- Nhà nước bảo đảm cho pháp luật được thực hiện bằng cách biện pháp nào?
=> Pháp luật là một trong những công cụ hiệu quả nhất để nhà nước quản lý xã hội
5. Nhà nước quy định và thực hiện việc thu thuế - Thuế là gì?
- Vì sao chỉ nhà nước mới có quyền quy định và thực hiện việc thu thuế?
➢ Liên hệ với Nhà nước CHXHCN Việt Nam
*Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư theo lãnh thổ
- Nhà nước CHXHCN Việt Nam được phân chia thành các đơn vị hành chính – lãnh
thổ: tỉnh, thành phố -> quận, huyện, thị -> xã, phường,… Người dân sống ở đâu thì
nhà nước tổ chức chính quyền tại đó để người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ tại
đó được thuận tiện và nhà nước cũng thuận tiện trong việc quản lý xã hội.
2. Phân biệt Nhà nước CHXHCNVN với Đảng cộng sản VN.
Nhà nước CHXHCN Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam Khái niệm
- Là đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đồng thời là đội tiên
phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam 1
Quyền lực - Phạm vi: toàn xã hội
- Phạm vi: Trong nội bộ Đảng chính trị
- Có bộ máy chuyên thực thi quyền lực - Không có bộ máy thực thi quyền
- Được ban hành pháp luật, dùng pháp lực
luật làm công cụ quản lý xã hội
- Chỉ được ban hành điều lệ Đảng, có
- Nắm giữ và thực thi chủ quyền quốc tác động trong nội bộ Đảng gia
- Chỉ được nhân danh chính Đảng
- Được quy định và thực hiện thu thuế
trong đối nội và đối ngoại
- Chỉ được thu Đảng phí
Thành phần Một nhóm người tách ra từ quá trình lao Những người có đủ những điều kiện
động sản xuất để chuyên làm nhiệm vụ về phẩm chất, tư tưởng, nhân thân…
tổ chức và quản lý xã hội.
do Đảng đề ra đều có thể trở thành Đảng viên Cơ
cấu Gồm các CQNN được phân chia có thể Gồm các cơ quan do Đảng lập ra để tổ chức
theo nhiệm vụ, quyền hạn, chuyên môn, đảm bảo duy trì, phát triển hoạt động
lĩnh vực, đơn vị hành chính – lãnh thổ, của Đảng: Bộ chính trị, ban Bí thư, thời gian tồn tại Ban Kiểm tra trung ương
Nhiệm vụ, Tổ chức và quản lý xã hội
Quy định tại điều 4 Hiến pháp: Đảng quyền hạn
là lực lượng lãnh đạo nhà nước
3. Phân loại nhà nước, trình bày khái quát về từng loại nhà nước, cho ví dụ.
3.1. Định nghĩa kiểu nhà nước
Kiểu nhà nước là tổng thể những đặc điểm, đặc thù của một nhóm nhà nước, qua
đó phân biệt với nhóm nhà nước khác
3.2. Phân loại (kiểu) nhà nước
• Do nhà nước là một hiện tượng tương đối phức tạp nên cũng có nhiều cách
khác nhau để phân loại nhà nước.
- Tiếp cận từ các thời kỳ lịch sử: nhà nước cổ đại, nhà nước trung đại, nhà
nước cận đại và nhà nước hiện đại.
- Tiếp cận từ các nền văn minh: nhà nước trong nền văn minh nông nghiệp,
nhà nước trong nền văn minh công nghiệp, nền văn minh hậu công nghiệp (văn minh tri thức)
- Phân chia thành kiểu nhà nước phương Đông và kiểu nhà nước phương Tây.
Ban đầu, cách phân chia này chỉ dựa hoàn toàn vào yếu tố địa lý, nhưng ngày
nay, cách phân chia này còn dựa vào cả yếu tố nhân chủng, ngữ hệ, văn hóa, kinh tế, chính trị…
- Tiếp cận trên cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước: nhà nước
độc tài, nhà nước chuyên chế, nhà nước dân chủ
- Tiếp cận theo tiến trình lịch sử của sự phát triển xã hội (hình thái kinh tế -
xã hội). Đây là cách tiếp cận của chủ nghĩa Mác – Lenin. Theo đó, tương ứng 2
với mỗi hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp là một kiểu nhà nước. Xã hội có
giai cấp sẽ trải qua các hình thái kinh tế - xã hội là: chiếm hữu nô lệ, phong
kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa. Các hình thái kinh tế - xã hội sau sẽ thay thế
các hình thái kinh tế - xã hội trước dẫn đến sự thay đổi kiểu nhà nước. Tuy
nhiên sự thay đổi đó luôn phải trải qua quá trình quá độ, dẫn đến việc trong
cùng một kiểu nhà nước ở thời kỳ đầu của hình thái kinh tế - xã hội có thể có
nhiều điểm khác biệt với nhà nước ở thời kỳ sau đó. Chính vì vậy, sự phân
chia kiểu nhà nước chỉ mang tính chất tương đối.
3.3. Trình bày khái quát về từng loại nhà nước a. Nhà nước chủ nô:
Cơ sở kinh tế: quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, đất đai và các tư liệu sản
xuất khác hầu hết thuộc sở hữu tư nhân của các chủ nô, kể cả nô lệ.
Cơ sở xã hội: trong xã hội chiếm hữu nô lệ tồn tại 02 giai cấp cơ bản: chủ nô
và nô lệ. Bên cạnh đó là lực lượng dân tự do (giới bình dân). Nô lệ có địa vị vô cùng
thấp kém, họ bị coi là tài sản thuộc sở hữu của chủ nô, chủ nô có quyền tuyệt đối đối
với nô lệ, khai thác bóc lột sức lao động, đánh đập, đem bán, tặng cho, bỏ đói hay
giết chết. Ví dụ: Đế chế La Mã, nhà nước Athen, nhà nước Sparte, Nhà Thương, nhà
Hạ ở Trung Quốc… là các nhà nước chủ nô.
b. Nhà nước phong kiến:
Cơ sở kinh tế quan hệ sản xuất phong kiến mà đặc trưng là sở hữu của địa chủ,
phong kiến về ruộng đất và bóc lột nông dân thông qua phát canh, thu tô.
Cơ sở xã hội: Xã hội phong kiến có kết cấu phức tạp, trong đó có hai giai cấp
cơ bản là địa chủ, phong kiến và nông dân, ngoài ra còn có các tầng lớp khác như
thợ thủ công, thị dân… Giai cấp địa chủ, phong kiến được phân chia thành nhiều
đẳng cấp khác nhau phụ thuộc vào chức tước, phẩm hàm, đất đai, tài sản… Nông
dân là bộ phận đông đảo nhất trong xã hội phong kiến nhưng đồng thời cũng là đối
tượng bị áp bức, bóc lột nặng nề. Trong xã hội phong kiến, về nguyên tắc địa chủ
không có quyền sở hữu đối với người sản xuất là nông dân mà chỉ có quyền sở hữu
đối với tư liệu sản xuất. Nhưng vì không có đất không có tư liệu sản xuất nên nông
dân rơi vào tình trạng lệ thuộc vào địa chủ phong kiến về mặt kinh tế, họ buộc phải
làm thuê cho địa chủ phong kiến và phải làm nhiều nghĩa vụ nặng nề đối với địa chủ
phong kiến. Hình thức bóc lột phổ biến của địa chủ đối với nông dân là địa tô. Ví
dụ: Trung Quốc thời nhà Chu đến nhà Thanh, nước Nga thời Sa hoàng,... là các nhà nước phong kiến. c. Nhà nước tư sản:
Đây là kiểu nhà nước thay thế cho nhà nước phong kiến. Cơ sở kinh tế của
nhà nước tư sản là các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chủ yếu dựa trên chế độ tư
hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư.
Cơ sở xã hội: trong xã hội hình thành 02 giai cấp chính là giai cấp tư sản và
giai cấp vô sản. Giai cấp này dựa vào giai cấp kia để tồn tại, đồng thời hai giai cấp 3
này lại mâu thuẫn, đấu tranh với nhau. Ngoài ra, trong xã hội còn xuất hiện các tầng
lớp khác như trí thức, tiểu thương, thợ thủ công… Về mặt xã hội, ở thời kỳ đầu mới
thành lập, nhà nước tư sản tỏ ra là một bước tiến lớn trong lịch sử nhân loại khi đã
xác lập nhiều thể chế dân chủ như: Nghị viện, quyền tự do dân chủ, phổ thông đầu
phiếu… Tuy nhiên, về mặt giai cấp, do tồn tại trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất và phục vụ cho chế độ đó, nhà nước tư sản vẫn là công cụ trấn áp của thiểu số
người bóc lột đối với đa số quần chúng bị bóc lột, nó không thể nào tiến bộ và dân
chủ thực sự được. Tuy nhiên, so với các hình thức bóc lột nô lệ và nông dân, hình
thức bóc lột của giai cấp tư sản đối với công nhân tinh vi hơn, vô hình hơn. Người
công nhân không nắm tư liệu sản xuất, và do đó, họ buộc phải bán sức lao động cho
các nhà tư bản nắm tư liệu sản xuất trong tay. Ví dụ: đại đa số các nhà nước phương
tây hiện đại đều là nhà nước tư sản, trong đó nổi bật có: - Liên hiệp Vương quốc
Anh và Bắc Ireland là nhà nước liên bang, hình thức chính thể là quân chủ đại nghị;
- Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là nhà nước liên bang, hình thức chính thể là cộng hòa
tổng thống; - Cộng hòa Pháp là nhà nước đơn nhất có hình thức chính thể cộng hòa
hỗn hợp; - Cộng hòa Liên bang Đức là nhà nước liên bang có hình thức chính thể cộng hòa nghị viện.
d. Nhà nước xã hội chủ nghĩa:
Cơ sở kinh tế: quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà đặc trưng là chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất. Cần phải lưu ý rằng công hữu về tư liệu sản xuất không phải
là phương tiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà là mục tiêu cần đạt tới của chủ nghĩa xã hội.
Cơ sở xã hội: Quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, trong đó nền
tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.
Trong thời kì đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp thống trị cũ mới chỉ bị
lật đổ khỏi địa vị cầm quyền, còn nuôi âm mưu chống đối nhân dân lao động một
cách quyết liệt. Bởi vậy, đấu tranh giai cấp trong thời kỳ cách mạng mới thành công
còn còn hết sức gay gắt. Dần dần, khi nhà nước xã hội chủ nghĩa chứng minh được
sức sống và thành công của mình, giai cấp thống trị cũ ngày càng được giáo dục, cải
tạo, chúng sẽ dần từ bỏ âm mưu chống đối, đối kháng giai cấp vì thế giảm dần từng
bước. Khi đó, trong xã hội vẫn còn có các giai cấp, tầng lớp có lợi ích không hoàn
toàn giống nhau nhưng không đối lập nhau mà cơ bản là thống nhất với nhau. Về
mặt xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nhà nước
bảo vệ quyền lợi cho quảng đại quần chúng nhân dân. Về mặt giai cấp, nhà nước xã
hội chủ nghĩa là công cụ để bảo vệ thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa do
nhân dân lao động đổ nhiều xương máu mới dành được (chuyên chính vô sản). So
với các kiểu nhà nước trước đây, nhà nước xã hội chủ nghĩa có bản chất xã hội rộng
lớn, triệt để nhất, trong khi đó bản chất giai cấp lại được thu hẹp lại. Hiện tại, sau
khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội thế
giới lâm vào thoái trào, không ít người cho rằng chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung; 4
chủ nghĩa xã hội chỉ là ảo tưởng không bao giờ thực hiện được. Tuy nhiên, sự thất
bại ở Liên Xô và Đông Âu không phải là sự thất bại của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa
Mác-Lênin, mà đó là “sự sụp đổ của một mô hình lỗi thời được phổ biến ở nhiều
nước tới mức đồng dạng”. Công cuộc cải cách Mở cửa (Trung Quốc), Đổi mới (Việt
Nam) đã đạt được những thành công đáng chú ý, giữ vững được định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đặc biệt là trong giai đoạn chống dịch bệnh Covid-19, Việt Nam đã kiến
cho thế giới phải thán phục vì tính hiệu quả của các biện pháp chống dịch, đồng thời
trở thành một trong số ít nền kinh tế tăng trưởng dương trong năm 2020. Điều đó đã
phần nào chứng minh được tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
4. Trình bày khái niệm bản chất nhà nước. Phân tích ý nghĩa của vấn đề bản chất nhà nước. 4.1. Khái niệm:
• Bản chất là nước là nói tới tổng hợp những mặt, những mối liên hệ, những
thuộc tính tất nhiên, tương đối ổn định bên trong của nhà nước, quy định sự
tồn tại, phát triển của nhà nước.
• Nhà nước là một hiện tượng xã hội, nó sinh ra từ hai nhu cầu cơ bản nhu cầu
tổ chức và quản lý xã hội và nhu cầu bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị về
kinh tế, nên khi tìm hiểu bản chất nhà nước, cần tập trung vào hai phương
diện: phương diện giai cấp và phương diện xã hội. Do vậy, việc xác định, đánh
giá bản chất nhà nước phải xuất phát từ việc xem xét cơ sở kinh tế và cơ sở xã hội của nhà nước.
• Mỗi nhà nước đều được xây dựng và tồn tại trên cơ sở kinh tế nhất định. Cơ
sở kinh tế của nhà nước là những quan hệ sản xuất chủ yếu mà nhà nước dựa
vào đó để tồn tại và phát triển, đồng thời nhà nước cũng ra sức củng cố, bảo
vệ và tạo điều kiện cho cơ sở kinh tế đó phát triển. Nhà nước là một bộ phận
thuộc kiến trúc thường tầng nên nhà nước với kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau và nằm chung trong mối quan hệ giữa
thượng tầng và hạ tầng. Có thể nói cơ sở kinh tế quyết định bản chất nhà nước
• Nhà nước là sản phẩm của sự phát triển xã hội, sinh ra từ xã hội, là hình thức
tổ chức của xã hội có giai cấp, nên nhà nước luôn phụ thuộc vào xã hội. Cơ
sở xã hội của nhà nước là các lực lượng tồn tại trong xã hội mà quan trọng
nhất là lực lượng trực tiếp cầm quyền cùng quan hệ của họ đối với các lực
lượng khác trong xã hội. Do đó, cơ sở xã hội có ảnh hưởng rất lớn tới nhà
nước, cơ sở xã hội thay đổi thì nhà nước thay đổi.
4.2. Ý nghĩa của vấn đề bản chất nhà nước
• Bản chất Nhà nước là đặc tính quan trọng xác định nội dung, mục đích, sứ
mệnh và vai trò xã hội của nhà nước. 5
• Bản chất Nhà nước cho ta thấy tính chất xã hội và tính chất giai cấp của một
nhà nước bất kì, từ đó biết được mức độ thể hiện các tính chất đó ở các nước
khác nhau sẽ khác nhau và trong mỗi giai đoạn khác nhau cũng khác nhau,
tùy thuộc vào điều kiện và nhận thức của lực lượng cầm quyền.
• Bản chất nhà nước xác định những vấn đề: (i) Quyền lực nhà nước thuộc về
ai? (ii) Nhà nước bảo vệ quyền lợi của ai? (iii) Những ưu tiên nào trong đường
lối, chính sách của nhà nước?
• Nghiên cứu bản chất nhà nước giúp việc hiểu đúng đắn bản chất pháp luật.
5. Phân tích sự thống nhất giữa tính xã hội và tính giai cấp của nhà nước. Trình
bày ảnh hưởng của nó trong việc thực hiện chức năng nhà nước Việt Nam hiện nay.
5.1. Sự thống nhất giữa tính xã hội và tính giai cấp của nhà nước.
Tính xã hội và tính giai cấp là hai mặt cơ bản thống nhất thể hiện bản chất của bất
kỳ nhà nước nào, chúng luôn gắn bó chặt chẽ, đan xen nhau. Sự thống nhất được thể
hiện ở chỗ tính xã hội và tính giai cấp luôn song hành tồn tại với sự tồn tại của nhà
nước, thuộc tính này là cơ sở của thuộc tính kia.
Ở phương diện xã hội, nhà nước là một tổ chức sinh ra từ xã hội để duy trì, quản
lý xã hội khi xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định. Xã hội muốn tồn tại
ổn định, có trật tự và phát triển thì đòi hỏi phải có sự tổ chức và quản lí chặt chẽ và
nhà nước là tổ chức thay mặt xã hội, nhân danh xã hội để tổ chức, tập hợp, quản lí toàn thể xã hội.
Mặt khác, trong xã hội có giai cấp, các giai cấp dù là thống trị hay bị trị thì đều là
những bộ phận thống nhất tạo nên xã hội. Vì vậy, nhà nước cũng phải bảo vệ lợi ích
của các giai cấp khác, tất nhiên trong giới hạn mà giai cấp thống trị cho phép. Tính
xã hội của nhà nước ảnh hưởng tới tính giai cấp, là bởi:
• Nhà nước duy trì sự lãnh đạo của giai cấp thống trị lên các giai cấp khác để
các giai cấp khác không xung đột, tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội.
• Giai cấp thống trị sử dụng quyền lực của mình để tập hợp nhân dân thực hiện
các công việc chung của xã hội: chống thiên tai, ngoại xâm, dịch bệnh…
Ở phương diện giai cấp, nhà nước là công cụ bảo vệ lợi ích, mà chủ yếu là lợi
ích của giai cấp thống trị, thực hiện các mục đích mà giai cấp thống trị đề ra.
Tuy nhiên nhà nước chỉ có thể duy trì sự thống trị nếu bảo vệ được lợi ích của
những giai cấp khác, tất nhiên trong giới hạn mà giai cấp thống trị cho phép.
Nói cách khác, chừng nào nhà nước còn đáp ứng được những yêu cầu về
“những hoạt động về mặt xã hội của nó” thì sự thống trị chính trị vẫn còn cơ sở tồn tại. 6
Ngày nay, xu hướng chung của các nhà nước trên thế giới là mở rộng tính xã
hội, thu hẹp tính giai cấp. Tuy nhiên, tính giai cấp và tính xã hội của nhà nước
là không thể thiếu. Nếu triệt tiêu tính giai cấp, tức là các giai cấp không có
động lực để giành lấy quyền lực nhà nước, thì nhà nước không được thành
lập, sẽ không có tổ chức nào thay mặt xã hội giải quyết những vấn đề xã hội.
Ngược lại, nếu xóa bỏ tính xã hội thì sẽ đẩy đấu tranh giai cấp đến mức gay
gắt, sẽ đến một lúc giai cấp thống trị bị lật đổ, nhà nước bị tiêu diệt. Một nhà
nước mới sẽ ra đời có đủ cả 2 thuộc tính của nó, tuy nhiên những hệ lụy của
quá trình thay thế này sẽ gây nguy hiểm không nhỏ tới xã hội.
5.2. Ảnh hưởng trong việc thực hiện chức năng nhà nước Việt Nam hiện nay
Dù trong xã hội nào, nhà nước cũng phải chú ý đến lợi ích chung của toàn xã hội
và ở những mức độ khác nhau bảo vệ lợi ích của giai cấp (lực lượng) cầm quyền.
Tuy nhiên mức độ và sự thể hiện (công khai hay kín đáo, tế nhị) tính giai cấp, tính
xã hội của mỗi nhà nước khác nhau thì khác nhau, trong mỗi giai đoạn khác nhau
cũng có thể khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và nhận thức của lực lượng cầm quyền.
Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là một nhà nước xã hội chủ nghĩa, là kiểu nhà
nước có tính xã hội rộng rãi nhất trong lịch sử loài người. Tại Việt Nam, Nhà nước
quan tâm chăm lo đến lợi ích của quần chúng nhân dân, tạo điều kiện mở rộng dân
chủ tối đa. Kể từ khi thành lập đến nay, Nhà nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, đã đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi nhiều mục tiêu, nhiệm
vụ mang tính thời đại như chống giặc ngoại xâm, phát triển kinh tế, phòng chống
dịch bệnh Covid-19... Đây là các chức năng thể hiện tính xã hội của Nhà nước ta,
tuy nhiên, để thực hiện thành công, Nhà nước ta cũng phải dùng các biện pháp cưỡng
chế, áp đặt ý chí nhà nước, tức là có thể hiện tính giai cấp. Mặt khác, Nhà nước ta
càng thể hiện tính xã hội rộng rãi bao nhiêu, niềm tin của nhân dân vào Đảng, chính
quyền càng gia tăng bấy nhiêu, kể cả bạn bè quốc tế cũng phải thừa nhận vào sự lãnh
đạo của Đảng đối với cả hệ thống chính trị. Như vậy, Nhà nước ta càng củng cố
vững chắc vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của liên minh giai cấp công
nhân, nông dân và đội ngũ trí thức. Như vậy, Nhà nước ta thể hiện tính giai cấp gián
tiếp thông qua tính xã hội của mình.
Việt Nam đang ở trong giai đoạn quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, do đó, đấu
tranh giai cấp chưa hoàn toàn dịu bớt. Kẻ thù của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong
thời kì này là giai cấp bóc lột cũ, các thế lực phản động trong và ngoài nước được
sự hỗ trợ, giúp sức của các nước đế quốc tư bản chủ nghĩa. Theo đó, các thế lực thù
địch vẫn còn âm mưu chống phá với thủ đoạn hết sức tinh vi và thâm độc. Do đó,
việc thể hiện tính giai cấp vẫn cần thiết để bảo vệ chủ quyền quốc gia, chính quyền
nhân dân. Nhà nước ta chủ trương giải quyết một cách hoà bình những xung đột nêu
trên. Việc giải quyết hoà bình vừa tạo môi trường lành mạnh và ổn định cho xã hội 7
phát triển vừa đảm bảo tranh chấp được giải quyết một cách nhẹ nhàng, êm đềm.
Tuy nhiên, nếu những thế lực thù địch không chịu thương lượng thì buộc nhà nước
phải dùng đến những biện pháp mạnh mẽ, cứng rắn hơn để quyết bảo vệ thành quả
cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Như vậy, kể cả khi tiến
hành bảo vệ lợi ích giai cấp, nhà nước vẫn luôn quan tâm tới lợi ích chung của xã
hội. Điều này thể hiện sự hài hoà giữa tính xã hội và tính giai cấp của nhà nước
CHXHCNVN. Chính sự nhận thức đúng đắn, vận dụng mềm dẻo, linh hoạt các quy
luật khách quan vào thực tiễn của đất nước, Nhà nước CHXHCNVN đã thể hiện tính
xã hội và giai cấp đúng nơi, đúng chỗ, đúng đối tượng để đạt được kết quả cao khi
thực hiện chức năng nhà nước của mình.
6. Phân tích vai trò xã hội của nhà nước CHXHCNVN hiện nay.
Hiện nay, vai trò xã hội của Nhà nước CHXHCNVN biểu hiện đậm nét, cụ thể:
1. Nhà nước CHXHCNVN thay mặt nhân dân, thực hiện và bảo vệ các lợi ích cơ
bản, lâu dài của quốc gia, dân tộc: Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp của
nước CHXHCNVN năm 2013. Nhà nước CHXHCNVN hiện nay đang thực hiện
tương đối tốt nhiệm vụ bảo vệ các lợi ích lâu dài của quốc gia dân tộc như: chủ quyền
quốc gia, chú trọng đào tạo, phát triển con người, bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc…
Một số điểm đáng chú ý có thể kể đến như: Nhà nước tích cực đấu tranh trên mặt
trận ngoại giao để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng, bất khả xâm phạm của 2
quần đảo là Hoàng Sa và Trường Sa bằng cách lên tiếng phản đối, kêu gọi ủng hộ
của cộng đồng quốc tế trong vấn đề biển Đông, thúc đẩy sự phát triển của Tuyên bố
về ứng xử của các bên ở biển Đông COC…; Nhà nước chú trọng phát triển giáo dục,
tạo điều kiện để trẻ em được hưởng nền giáo dục tốt nhất có thể, nhất là những trẻ
em ở những vùng biên giới, hải đảo…; Nhà nước CHXHCNVN tích cực bảo tồn các
giá trị di sản văn hoá phi vật thể như ca trù, nhã nhạc cung đình Huế…;
2. Nhà nước CHXHCNVN thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân, đầu tư và
phát triển văn hoá - xã hội, từ đó hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh: có thể thấy, Nhà nước ta có chủ trương phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, Nhà nước ta tích cực hợp
tác quốc tế, tham gia ký kết các hiệp định thương mại tự do nhằm đẩy mạnh đầu tư
nước ngoài, thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo điều kiện cho đất nước vươn lên về mọi
mặt, nâng cao đời sống nhân dân;
3. Tập hợp mọi tầng lớp trong xã hội vào nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, phát triển
kinh tế, văn hoá, xã hội, duy trì trật tự xã hội: Dân tộc ta là một dân tộc đoàn kết, từ
xưa tới nay, tinh thần đoàn kết luôn được các nhà nước trong suốt chiều dài lịch sử
phát triển của Việt Nam nhận thức và vun đắp. Trong thời đại mới, tinh thần đoàn
kết cũng được Nhà nước CHXHCNVN phát huy trên mọi phương diện nhằm giúp
đất nước phát triển đồng đều, toàn diện.
4. Nhà nước CHXHCNVN hiện nay đã, đang và không ngừng đảm bảo quyền làm
chủ mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành vi xâm phạm lợi ích quốc gia, dân 8
tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, xoá bỏ mọi áp bức,
bóc lột, bất công. Trong Hiến pháp nước CHXHCNVN, Nhà nước ta luôn định
hướng phát triển theo hướng “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, quyền lợi của
người dân được Nhà nước ta đặt lên hàng đầu, biểu hiện rõ ràng là đợt dịch Covid-
19 năm 2020, Nhà nước thậm chí tạm thời quên đi việc phát triển kinh tế để dập
dịch, đảm bảo sức khỏe, tính mạng cho nhân dân. Nhà nước ta được Chính phủ rất
nhiều nước trên thế giới khen ngợi và bày tỏ sự ngưỡng mộ với tinh thần vì nhân
dân của mình. Thêm vào đó, Nhà nước quan tâm đến các thành phần yếu thế trong
xã hội, hỗ trợ, giúp đỡ, bảo trợ họ
7. Trình bày sự hiểu biết của anh/chị về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân. Theo anh (chị), làm thế nào để một nhà nước thực sự là nhà nước
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
• Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một nhà nước đáp ứng
được các tiêu chí sau:
- Nhà nước phải là của toàn thể nhân dân mà không phải của riêng tầng lớp, giai
cấp nào. Nhân dân có quyền tham gia, quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nước.
- Nhân dân là chủ thể của QLNN. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân,
quyền lực của các cơ quan nhà nước là do nhân dân ủy quyền cho, nhà nước chỉ là
công cụ đại diện và thực hiện quyền lực cho toàn thể nhân dân. Nhân dân thực hiện
quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp hoặc đại diện thông qua Quốc hội, HĐND
và các cơ quan nhà nước khác.
- Nhà nước là do các tầng lớp nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp tổ chức thành lập
nên thông qua con đường bầu cử. Các cơ quan đại biểu của nhân dân chịu trách
nhiệm trước nhân dân, phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Nhân dân còn có thể trực
tiếp làm việc trong cơ quan nhà nước để trực tiếp nắm giữ, thực hiện quyền lực nhà nước.
- Nhà nước do nhân dân ủng hộ, đóng thuế để “nuôi”, giám sát hoạt động của cơ
quan nhà nước. Nhà nước do nhân dân phê bình, xây dựng, đóng góp giúp đỡ để nhà
nước ngày càng trong sạch, vững mạnh.
- Nhà nước vì nhân dân là nhà nước phục vụ lợi ích và đáp ứng tốt nhất những
nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tất cả chính sách, pháp luật, hoạt động, cố
gắng của nhà nước đều là vì lợi ích của nhân dân, phục vụ nhân dân. Nhà nước phải
liêm chính, kiến tạo sự phát triển và đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
- Nhân viên nhà nước phải luôn luôn tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân,
liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.
• Để nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân:
- Phải tăng cường dân chủ, dân chủ thực sự, tuyệt đối không dân chủ hình thức.
Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật,
được pháp luật bảo đảm. Bởi vì dân chủ là bản chất của nhà nước ta, đồng thời cũng 9
là mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước. Cần xây dựng và từng bước hoàn
thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống
ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực.
- Đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức, hình
thức, phương thức hoạt động của các cơ quan Nhà nước ở Trung ương, địa phương
nhằm hướng tới một bộ máy Nhà nước gọn về tổ chức, hiệu quả trong hoạt động,
đáp ứng ngày càng tích cực hơn các yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, an
ninh - quốc phòng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân phù hợp với
các chuẩn mực của chế độ pháp quyền.
- Thực hiện cơ chế công khai, minh bạch trong tổ chức, hoạt động của BMNN. Thực
hiện tốt việc phê bình, tự phê bình và nhận trách nhiệm trước nhân dân.
8. Trình bày sự hiểu biết của anh/chị về nhà nước dân chủ. Theo anh/chị, làm thế
nào để một nhà nước dân chủ thực sự và rộng rãi.
Thứ nhất, một nhà nước dân chủ là một nhà nước mà trong đó người dân có quyền
tham gia vào việc tổ chức và hoạt động của nhà nước; bàn bạc, thảo luận và quyết
định những vấn đề quan trọng của quốc gia.
Thứ hai, nhà nước phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ rộng rãi của nhân dân,
thừa nhận địa vị pháp lý cho các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng thông qua pháp
luật. Đồng thời, pháp luật cũng phải có những biện pháp bảo vệ, bảo đảm thực hiện
các quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Tuy nhiên, cũng cần nhận thức đúng đắn giữa nhà nước biểu hiện tính dân chủ
thực sự và nhà nước biểu hiện tính dân chủ hình thức, tức là chỉ biểu hiện dân chủ
một cách giả tạo, không thể thực hiện trên thực tế.
Xét về mức độ biểu hiện tính dân chủ, có nhà nước mang tính dân chủ rộng rãi và
nhà nước mang tính dân chủ hạn chế. Xét về cách thức thực hiện dân chủ có nhà
nước dân chủ trực tiếp và nhà nước dân chủ gián tiếp.
Để một nhà nước dân chủ thực sự và rộng rãi
- Thứ nhất, trong việc tổ chức và hoạt động, nhà nước cần minh bạch trong công tác
cán bộ, việc bầu cử, bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phải được thực
hiện đúng quy trình, đảm bảo công bằng để bất kì người dân nào, nếu có đủ phẩm
chất, năng lực thì đều có thể trở thành nhân viên nhà nước. Phải loại bỏ tình trạng
chạy chức, chạy quyền trong công tác cán bộ
- Thứ hai, phải bảo đảo quyền tự do ngôn luận, coi trọng đúng mức dư luận xã hội.
Bởi vì trong thời kì cách mạng công nghiệp 4.0, mỗi người dân đều có thể công khai
bàn bạc, thảo luận, góp ý, phê bình những hoạt động của cơ quan nhà nước thông
qua nhiều hình thức khác nhau. Chính vì thế, cách đơn giản nhất để lắng nghe ý kiến
của nhân dân chính là thông qua dư luận xã hội. Đồng thời, nhà nước cũng cần làm
tốt công tác truyền thông, để mọi chính sách, chủ trương, hoạt động của nhà nước
đều được nhân dân biết tới. 10
- Pháp luật của nhà nước cần chú trọng mở rộng hơn nữa những quyền con người, quyền công dân.
9. Trình bày khái niệm chức năng nhà nước. Phân tích ý nghĩa của việc xác định
và thực hiện chức năng nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Chức năng nhà nước là những mặt hoạt động cơ bản của nhà nước, phù hợp với
bản chất, mục đích, nhiệm vụ của nhà nước và được xác định bởi điều kiện kinh tế
xã hội của đất nước trong những giai đoạn phát triển của nó.
Việc xác định đúng đắn chức năng nhà nước hiện nay giúp nhà nước có định
hướng phát triển một cách phù hợp trong thời kỳ mới: Như đã phân tích, ở môi thời
kỳ, ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau thì nhà nước lại có những chức năng và yêu
cầu về thực hiện các chức năng đó hoàn toàn khác nhau. Việc xác định đúng chức
năng nhà nước hiện nay giúp nhà nước có khả năng hội nhập tốt trong thời kỳ Đổi
mới, bắt kịp xu thế toàn cầu hoá. VD: Việc bảo tồn và phát huy truyền thống văn
hoá dân tộc là một vấn đề đang rất được nhà nước ta quan tâm bởi trong giai đoạn
hội nhập hiện nay, các xu hướng văn hoá du nhập vào nước ta ngày càng nhiều và
để tránh tình trạng “hoà nhập nhưng bị hoà tan” thì nhà nước cần xác định rõ chức
năng, vai trò của mình, từ đó có hướng thực hiện đúng đắn, phù hợp chức năng đã được xác định;
Việc xác định và thực hiện đúng đắn chức năng nhà nước giúp thực hiện đúng
đắn mục tiêu, nhiệm vụ mà nhà nước đề ra: Trong từng giai đoạn phát triển, nhà
nước lại có những mục tiêu, nhiệm vụ khác nhau đòi hỏi việc xác định và thực hiện
chức năng nhà nước phải thật chính xác để góp phần đạt được mục tiêu đề ra. VD:
Một trong những nhiệm vụ mà nhà nước ta xác định trong giai đoạn hiện nay là xoá
đói, giảm nghèo bền vững thì chức năng quản lý, phát triển kinh tế cần được đẩy mạnh.
10. Phân tích các yếu tố quy định chức năng nhà nước.
1. Bản chất nhà nước: Bản chất nhà nước là yếu tố tiên quyết quy định chức năng
nhà nước, bởi bản chất nhà nước thế nào thì chức năng nhà nước sẽ phát triển theo
hướng như vậy. Một nhà nước dân chủ, của dân, do dân, vì dân sẽ có những chức
năng chủ yếu liên quan đến phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục, bảo đảm an sinh xã
hội cho người dân. Mặt khác, một nhà nước sinh ra chỉ để bảo vệ quyền lợi cho giai
cấp thống trị sẽ thực hiện các chức năng đàn áp, nô dịch để phục vụ tốt nhất cho quyền lợi của mình
2. Điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của đất nước trong từng thời kỳ phát triển của
nó: Thực tế cho thấy, nhà nước phải làm gì, làm như thế nào, điều đó phụ thuộc rất
lớn vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước, do đó, các nhà nước khác nhau có
thể có chức năng khác nhau. Ví dụ, chức năng của Nhà nước phong kiến Việt Nam
trước đây khác với chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
hiện nay. Trong một nhà nước cụ thể, ở các giai đoạn phát triển khác nhau, số lượng
chức năng, tầm quan trọng của mỗi chức năng, nội dung, cách thức thực hiện từng 11
chức năng cũng có thể khác nhau. Ví dụ, trước năm 1986, quản lý, bảo vệ môi trường
chưa phải là chức năng của nhà nước ta nhưng hiện nay nỏ trở thành chức năng có
tầm quan trọng đặc biệt và không thể thiếu. Hoặc thiết lập và phát triển các mối quan
hệ ngoại giao, hữu nghị và hợp tác quốc tế, hội nhập quốc tế là chức năng không thể
thiếu của các nhà nước đương đại…
3. Nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ: Nhiệm vụ của nhà nước có ảnh hưởng
rất nhiều tới chức năng nhà nước. Ví dụ: Trong giai đoạn chiến đấu chống dịch bệnh
Covid-19 hiện nay, nhiệm vụ của nhà nước là kiểm soát dịch bệnh, không để dịch
bệnh lây lan nên chức năng bảo vệ tính mạng, sức khoẻ cho người dân cần được
triển khai thực hiện mạnh mẽ hơn so với các chức năng khác;
4. Mối quan hệ giữa các chức năng của nhà nước: Việc thực hiện một số chức năng
nhà nước có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện các chức năng khác. Ví dụ: Chức
năng phát triển kinh tế mà không được đảm bảo thì tiềm lực về tài chính của nhà
nước sẽ không đủ để thực hiện chức năng bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển
văn hóa trong giai đoạn hiện nay
11. Phân tích những yêu cầu, đòi hỏi đối với chức năng của nhà nước Việt Nam
hiện nay (số lượng chức năng, nội dung chức năng, phương pháp thực hiện chức năng).
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước xã hội chủ nghĩa,
là một nhà nước đang phát triển, đời sống văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội có nhiều
biến chuyển mạnh mẽ. Chính vì vậy, thực tế đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi đối với
chức năng của Nhà nước Việt Nam hiện đại.
Về số lượng chức năng, cần phải xem xét những chức năng nào còn phù hợp thì
giữ lại, những chức năng nào không còn phù hợp thì loại bỏ, những chức năng nào
cần thiết nhưng còn thiếu thì phải bổ sung. Việc xem xét tính phù hợp của các chức
năng phải xét đến một số yếu tố như: định hướng phát triển của đất nước (được thể
hiện trong văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, chương trình hành động
của Chính phủ...); yêu cầu, đòi hỏi của xã hội; khả năng và tiềm lực của Nhà nước;
tình hình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; an ninh quốc phòng; xu hướng chung
của thế giới; biến động của tình hình quốc tế… Nhìn chung, chức năng của các nhà
nước trên thế giới đều đang vận động, biến đổi theo hướng mở rộng các chức năng
mang tính xã hội và thu hẹp các chức năng mang tính giai cấp. Tuy nhiên, cũng
giống như bản chất của nhà nước, tính xã hội và tính giai cấp là hai thuộc tính đối
lập nhưng luôn song hành tồn tại của chức năng nhà nước. Vì vậy, các chức năng
mang tính giai cấp chỉ có thể bị thu hẹp nhưng không hoàn toàn biến mất hoặc bị
thay thế. Việt Nam cũng không thể nằm ngoài xu thế này.
VD: Nhà nước Việt Nam hiện đại không còn chức năng tiến hành chiến tranh xâm
lược như một số triều đại phong kiến Việt Nam trước đây; chức năng bảo tồn những
giá trị văn hoá truyền thống trước tác động của hội nhập, chức năng hợp tác để giải
quyết các vấn đề quốc tế... là các chức năng hoàn toàn mới. 12
Về nội dung chức năng, có những chức năng luôn song hành với quá trình tồn tại
của một nhà nước như: chức năng kinh tế, chức năng xã hội, chức năng bảo vệ đất
nước… Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra những yêu cầu đòi hỏi các chức năng này phải
luôn được mở rộng theo hướng hoàn thiện, đầy đủ và phức tạp hơn, thậm chí nội
dung của chức năng này lại tác động đến nội dung của chức năng khác. Điều này
xuất phát từ một thực tế khách quan là đời sống kinh tế xã hội ngày càng phát triển
và phức tạp hơn, từ đó đặt ra nhiều vấn đề mà nhà nước cần phải giải quyết.
VD1: Cùng là chức năng kinh tế, nhưng dưới thời phong kiến, chức năng này chỉ
dừng lại ở việc nhà nước khuyến khích nông nghiệp, lập chợ, mở cửa các thương
cảng để giao dịch với nước ngoài, nhưng ngày nay, chức năng kinh tế của Nhà nước
Việt Nam hiện đại có thêm một nội dung quan trọng là quản lý, điều hành kinh tế vĩ
mô. Bên cạnh đó, chức năng ngoại giao cũng có ảnh hưởng tích cực đến chức năng
kinh tế (tham gia các hiệp định thương mại, các tổ chức kinh tế thế giới
VD2: Cùng là chức năng bảo vệ Tổ quốc, nhưng Nhà nước Việt Nam ngày nay
có thêm nội dung bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng (tác chiến điện tử). Bên
cạnh việc mở rộng nội dung các chức năng sẵn có, nhà nước cần phải rút bớt những
nội dung không còn cần thiết hay không còn phù hợp để tập trung nguồn lực cho các
nội dung khác quan trong hơn.
VD3: Trước đây việc kinh doanh và phân phối do Nhà nước đảm nhận vào thời
bao cấp. Tuy nhiên đến giai đoạn hiện nay, chức năng đấy là không còn phù hợp
nữa, nhà nước bỏ gần như hoàn toàn chức năng kinh doanh và phân phối, chỉ giữ lại
nội dung độc quyền kinh doanh và phân phối một số sản phẩm, mặt hàng ảnh hưởng
đến an ninh quốc phòng, kinh tế vĩ mô, sức khỏe cộng đồng như vũ khí, dịch vụ cảng
hàng không, khoáng sản, nhập khẩu thuốc lá…
Về phương thức thực hiện chức năng nhà nước, bao gồm hình thức thực hiện và
phương pháp (biện pháp) thực hiện. Hình thức thực hiện chức năng nhà nước bao
gồm: xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật. Ba hoạt
động này phải được tách bạch rõ ràng để tạo nên sự phân định rõ thẩm quyền của
các CQNN trong việc thực hiện chức năng nhà nước. Việc phân chia rõ ràng các
hình thức thực hiện pháp luật cũng là tiền đề để chuyên môn hóa việc thực hiện chức
năng nhà nước của từng cơ quan cụ thể. Bên cạnh đó, các hình thức này tuy độc lập
nhưng cũng phải phối hợp nhuần nhuyễn, nhịp nhàng với nhau để không làm xơ
cứng, máy móc hoạt động thực hiện chức năng nhà nước.
VD1: Ngày nay, thực hiện chức năng nhà nước không còn giao cho một cá nhân
quản lý và thực hiện. Thay vào đó, các hình thức thực hiện chức năng nhà nước được
giao cho nhiều cơ quan như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao… tương
ứng với các hình thức cụ thể theo nguyên tắc phân công, phối hợp QLNN. Biện pháp
thực hiện chức năng nhà nước gồm biện pháp giáo dục, thuyết phục và biện pháp
cưỡng chế. Yêu cầu hiện nay đối với không chỉ riêng Nhà nước Việt Nam là tăng
dần biện pháp giáo dục, thuyết phục và giảm dần biện pháp cưỡng chế. Vì biện pháp 13
giáo dục, thuyết phục là biện pháp làm cho người dân hiểu và tự nguyện chấp hành
quy định của pháp luật, do đó, biện pháp này tỏ ra hiệu quả trong việc đưa pháp luật
của nhà nước vào đời sống, không gây ra phản ứng tiêu cực như biện pháp cưỡng
chế. Tuy nhiên, không thể hoàn toàn loại bỏ biện pháp cưỡng chế, đặc biệt là trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa nghĩa xã hội. Biện pháp cưỡng chế mang lại hiệu quả
nhanh chóng, đối tượng bị tác động phải ngay lập tức ứng xử theo ý chí của nhà
nước. Ở góc độ nào đó, biện pháp cưỡng chế cũng có tác động giáo dục đến các chủ thể khác trong xã hội.
VD2: Thời nhà Lý (hậu Lý), khi thực hiện chức năng quản lý nông nghiệp, người
dân nào có hành vi vi phạm thì sẽ lập tức chịu sự cưỡng chế từ nhà nước (đánh, thích
chữ vào mặt…) bất kể mức độ vi phạm là lớn hay nhỏ. Hiện nay, đối với những vi
phạm có tính chất không nghiêm trọng, do chủ thể chưa có NLHVPL đầy đủ thực
hiện, pháp luật chủ yếu dùng biện pháp giáo dục thuyết phục (cảnh cáo, buộc đưa
vào cơ sở giáo dục) để xử lý. Tuy nhiên, nếu các chủ thể này lại lặp lại hành vi VPPL
của mình hoặc với những hành vi mang tính chất nguy hiểm cho xã hội, nhà nước
buộc phải áp dụng ngay lập tức các biện pháp cưỡng chế như phạt tiền, phạt tù, cải
tạo không giam giữ, thậm chí là tử hình để xử lý. Việc răn đe kịp thời giúp nhanh
chóng khôi phục trật tự pháp luật, đồng thời có tác động cảnh báo, giáo dục đến các
chủ thể khác trong xã hội không được thực hiện các hành vi VPPL.
12. Phân tích ý nghĩa của hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp đối với việc thực
hiện chức năng nhà nước.
Chức năng nhà nước có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong
đó có những hình thức cơ bản mang tính pháp lý, bao gồm: lập pháp, hành pháp, tư
pháp. Như vậy, ba hoạt động kể trên chính là hình thức thực hiện chức năng nhà nước, cụ thể như sau:
1. Lập pháp: Hiểu một cách đơn giản, lập pháp là việc xây dựng, ban hành ra pháp
luật. Để thực hiện chức năng quản lý, thiết lập trật tự quản lý xã hội, trước tiên, nhà
nước cần ban hành ra pháp luật làm cơ sở để điều chỉnh hành vi của con người trong
xã hội. Khi có pháp luật, người dân có thể biết được những việc cần phải làm, những
việc không được làm hay những việc được phép làm, từ đó, người dân có cách xử
sự phù hợp khi tham gia các quan hệ xã hội. Ví dụ: Nếu muốn thiết lập trật tự quản
lý nhà nước về môi trường, nhà nước ban hành Luật Bảo vệ môi trường… Như vậy,
thông qua hoạt động lập pháp, hệ thống pháp luật ngày càng được củng cố và hoàn
thiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện các chức năng nhà nước;
2. Hành pháp: Hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật được hiểu là hành pháp. Khi
pháp luật được ban hành, để các chủ thể trong xã hội biết đến và thực hiện pháp luật
một cách đúng đắn, nhà nước cần thiết phải có các biện pháp để đưa pháp luật vào
thực tiễn thông qua việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục… pháp luật. Khi thực hiện
được như vậy, những yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước đối với các chủ thể trong xã hội
mới được thực hiện một cách hiệu quả; 14
3. Tư pháp: Hoạt động tư pháp là hoạt động xét xử, bảo vệ pháp luật của Toà án.
Trong quá trình thực hiện pháp luật, nhiều chủ thể có thể có những hành vi VPPL.
Vì vậy, đòi hỏi nhà nước cần có những biện pháp để xử lý chủ thể có hành vi VPPL,
qua đó, răn đe, giáo dục người vi phạm, bảo đảm những quy định của pháp luật phải
được thực hiện, bảo đảm tính tôn nghiêm của pháp luật. Ví dụ: Để thực hiện chức
năng bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của người dân trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19
hiện nay, trước tiên, nhà nước ta cần ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các
QHXH liên quan tới y tế, dược… Tiếp đó, nhà nước tuyên truyền trên các phương
tiện thông tin đại chúng về các hành vi có thể bị xử phạt vi phạm, thông qua đó nhắc
nhở người dân thực hiện đúng quy định như đeo khẩu trang, rửa tay sát khuẩn, dãn
cách xã hội… Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều chủ thể lại thực hiện những hành vi
vi phạm trật tự quản lý mà nhà nước đặt ra. Lúc này, nhà nước có thể thông qua cơ
chế tư pháp để xử lý những hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội, có tính chất hình
sự như: Trốn cách ly, khai báo gian dối... Tất cả đều góp phần giúp nhà nước thực
hiện hiệu quả chức năng bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của người dân trong thời buổi
dịch bệnh Covid-19.
13. Phân tích vai trò của bộ máy nhà nước đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Bộ máy nhà nước là nhà nước nhưng được tiếp cận từ góc độ cấu trúc bên trong
của nhà nước. BMNN bao gồm các CQNN. Bộ máy nhà nước được hình thành dựa trên:
- Cơ sở chuyên môn hóa các chức năng nhà nước, mỗi CQNN được giao thực hiện
một chức năng chuyên biệt.
- Phạm vi hoạt động của nhà nước rất rộng lớn nên đặt ra yêu cầu phải phân chia
để thực hiện nhiệm vụ quản lý.
- Số lượng thành viên của nhà nước có xu hướng tăng lên nên đặt ra yêu cầu phải
phân chia người làm việc chuyên trách ở những lĩnh vực khác nhau.
Bộ máy nhà nước được thành lập và hoạt động để thực hiện các chức năng của
nhà nước. Do vậy, BMNN và chức năng, nhiệm vụ của nhà nước có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau. BMNN có những vai trò không thể phủ nhận đối với việc thực hiện
chức năng, nhiệm vụ nhà nước.
- Bộ máy nhà nước quyết định tính hiệu quả trong thực hiện chức năng nhà nước.
Một trong những cơ sở hình thành bộ máy nhà nước là chuyên môn hoá các chức
năng nhà nước cho các bộ phận khác nhau của bộ máy nhà nước thực hiện, nghĩa là,
mỗi bộ phận cơ bản cấu thành nên bộ máy nhà nước (CQNN) sẽ đảm nhiệm việc
thực hiện một chức năng nhà nước,(ví dụ: Bộ Y tế đảm nhiệm việc thực hiện chức
năng liên quan đến sức khoẻ của người dân…) hoặc nhiều cơ quan cùng đảm nhiệm
việc thực hiện một chức năng (ví dụ: Bộ Tài chính, bộ Kế hoạch - đầu tư đảm nhiệm
việc thực hiện chức năng quản lý và phát triển kinh tế). Về mặt tư duy nói chung,
hiệu quả công việc khi một cơ quan ôm đồm nhiều công việc không thể cao bằng 15
một cơ quan chỉ chuyên môn một nhiệm công việc duy nhất. Cũng tương tự như vậy,
nếu không có bộ máy nhà nước gồm các cơ quan chuyên trách thực hiện các chức
năng nhà nước cụ thể thì hiệu quả thực hiện chức năng nhà nước sẽ không cao. Như
vậy, khi có bộ máy nhà nước, hiệu quả thực hiện chức năng nhà nước đã được cải
thiện. Tuy nhiên, nếu bộ máy đó được tổ chức, sắp xếp một cách hợp lý thì hiệu quả
thực hiện chức năng sẽ còn được nâng cao hơn. Điều này cho thấy vai trò quan trọng
của bộ máy nhà nước trong việc thực hiện chức năng nhà nước.
- Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước quyết định cơ cấu, tổ chức của bộ máy nhà
nước: Hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước sinh ra là để thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của nhà nước. Vì vậy, nhà nước có chức năng, nhiệm vụ gì thì sẽ tổ
chức bộ máy nhà nước tương ứng với chức năng, nhiệm vụ đó. Ví dụ: Nhà nước chủ
nô và nhà nước phong kiến có chức năng nghiêng về trấn áp và xâm lực nên có thể
thấy, bộ máy nhà nước nghiêng về tổ chức quân đội, binh lính; chức năng nhà nước
Việt Nam hiện nay đa dạng và phong phú hơn so với chức năng của nhà nước Việt
Nam thời phong kiến, vì thế nên BMNN Việt Nam hiện nay đa dạng hơn, được tổ
chức và hoạt động một cách khoa học, hợp lý hơn, phát triển và hoàn thiện hơn.
14. Phân tích mối quan hệ giữa bộ máy nhà nước và chức năng nhà nước của nhà
nước Việt Nam hiện nay.
Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước sẽ quyết định quy mô, cơ cấu, cách thức tổ
chức hoạt động của BMNN, nói cách khác: “chức năng sao, bộ máy vậy.” Để thực
hiện chức năng, nhà nước cần thành lập những cơ quan chuyên trách phù hợp.
Nhà nước CHXHCN Việt Nam hiện nay đang ngày càng có xu hướng tăng dần
tính xã hội. Vì thế, chức năng tổ chức và quản lý xã hội ngày càng quan trọng. Điều
đó dẫn đến, nhà nước thành lập ngày càng nhiều các cơ quan để quản lý các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Chẳng hạn, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề
về bảo vệ môi trường được chú trọng nhiều, nhà nước thành lập nên bộ Tài nguyên
và Môi trường để quản lý và bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, BMNN cũng có ảnh hưởng to lớn tới hiệu quả của việc thực hiện chức
năng nhà nước. Vì các CQNN được thành lập để chuyên môn hóa hoạt động quản
lý, nhờ đó hiệu quả hoạt động quản lý được nâng cao. Việc tổ chức, sắp xếp bộ máy
nhà nước sao cho hợp lý cũng là một yếu tố quan trọng để cải thiện việc chức năng
nhà nước. Nếu BMNN được sắp xếp hợp lý, logic, tinh gọn sẽ tăng sự hiệu quả trong
thực hiện chức năng, giảm chi phí cho ngân sách.
15. Phân tích khái niệm cơ quan nhà nước, phân biệt cơ quan nhà nước với bộ
phận khác của nhà nước.
Cơ quan nhà nước là bộ phận cơ bản cấu thành nhà nước bao gồm một số lượng
người nhất định, được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật, nhân danh nhà
nước thực hiện quyền lực nhà nước.
Đặc điểm của cơ quan nhà nước: 16
- Cơ quan nhà nước là bộ phận cơ bản cấu thành nhà nước và đó chỉ là những bộ
phận then chốt, thiết yếu của nhà nước. Tức là, chỉ những bộ phận là nền gốc mà
khi thiếu đi bộ phận đó thì BMNN bị khiếm khuyết mới được coi là CQNN. Vì thế,
có những bộ phận cấu thành nên BMNN nhưng vai trò của nó không phải then chốt,
thiết yếu, bỏ nó đi BMNN vẫn có thể tồn tại đúng nghĩa.
- Cơ quan nhà nước được thành lập theo những cách thức và trình tự khác nhau. Có
thể là thế tập, tiến cử, bầu cử, bổ nhiệm.
- Tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước do pháp luật quy định. Do các CQNN
thay mặt nhà nước thực hiện QLNN nên cần phải có những quy định chặt chẽ về tổ
chức và hoạt động của CQNN để đảm bảo hoạt động một cách nguyên tắc, không lạm quyền.
- Mỗi cơ quan nhà nước có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng do pháp luật
quy định và được trao cho những quyền năng nhất định để thực hiện những nhiệm
vụ, quyền hạn nhất định. CQNN được thành lập để thực hiện chức năng nhà nước,
vì vậy các cơ quan này cần có những quyền năng nhất định để thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của mình (thẩm quyền). Thẩm quyền của CQNN đều phải phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật quy định.
16. Phân tích nội dung, giá trị của nguyên tắc đảm bảo chủ quyền nhân dân trong
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nội dung nguyên tắc:
Trong các xã hội trước đây, chủ quyền quốc gia thuộc về nhà nước. Nhà nước có
quyền quyết định tối cao mọi vấn đề của đất nước, người dân bị coi như bề tôi của
nhà nước, được gọi là thần dân, họ phải phục tùng nhà nước một cách tuyệt đối.
Trong xã hội hiện đại, chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân. Nhân dân là người
chủ tối cao của đất nước, là người thành lập ra nhà nước, trao quyền cho nhà nước
và kiểm tra, giám sát hoạt động của nhà nước. Nhân dân có quyền quyết định tối cao
các vấn đề quan trọng của đất nước, nhà nước phải phục tùng quyết định của nhân dân
Hiện nay, nhìn chung Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều
quy định chủ quyền thuộc về nhân dân, quy định các hình thức để nhân dân tham gia
vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quy định vị trí, vai trò của cơ quan
dân cử trong bộ máy nhà nước, quy định những vấn đề quan trọng của đất nước mà
nhà nước không được tự ý quyết định, nhà nước phải trưng cầu ý kiến nhân dân, quy
định trách nhiệm của nhà nước trong việc thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ các
quyền con người, quyền công dân, quy định vai trò của xã hội dân sự….
Ở các quốc gia khác nhau, nguyên tắc đảm bảo chủ quyền nhân dân được nhận
thức và thực hiện với những mức độ, phạm vi khác nhau. Tại Việt Nam, chủ quyền
nhân dân đã trở thành một nguyên tắc hiến định với nội dung: “Nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa VIệt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả QLNN thuộc về nhân dân mà 17
nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức” (khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013)
Giá trị của nguyên tắc:
Giá trị của nguyên tắc này thể hiện hết sức rõ nét tính xã hội của nhà nước. Tại
đó nhà nước sẽ hoạt động vì lợi ích của nhân dân. Một cách gián tiếp, nhân dân có
thể chi phối, kiểm soát những quyết định quan trọng của đất nước, tránh sự lạm
quyền, chuyên quyền của các CQNN. Nguyên tắc cũng khẳng định vị trí quan trọng
của nhân dân trong công cuộc xây dựng và điều hành bộ máy nhà nước cũng như
thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của nhà nước. Như vậy, nguyên tắc này khẳng
định chân lý QLNN không tự nhiên sinh ra, cũng không phải do chúa trời hay thượng
đế trao cho, mà là được nhân dân tin tưởng trao cho nhà nước. Do đó, đây là tiền đề,
cơ sở pháp lý cho việc nhân dân có thể lật đổ nhà nước nếu nhà nước không hoàn
thành nhiệm vụ của mình. Từ đó, buộc bộ máy nhà nước phải tổ chức và hoạt động
hiệu quả hơn để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của nhân dân.
17. Phân tích nội dung, giá trị của nguyên tắc bộ máy nhà nước được tổ chức và
hoạt động theo hiến pháp và pháp luật.
Nội dung của nguyên tắc:
Nguyên tắc bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo hiến pháp và pháp
luật (nguyên tắc pháp chế) là nguyên tắc đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước không thể tiến hành một cách tùy tiện, độc đoán theo ý chí cá nhân
của người cầm quyền mà phải dựa trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp
luật. Hầu hết các nhà nước đương đại đều có Hiến pháp và pháp luật quy định khá
đầy đủ về cơ cấu bộ máy nhà nước, trình tự thành lập mới, giải thể, chia tách, sáp
nhập một CQNN, cơ cấu của nó, vấn đề tuyển dụng, bổ nhiệm các thành viên trong
cơ quan đó… đều phải được tiến hành theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp
luật. Về mặt hoạt động, nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan và nhân viên nhà nước
phải thực hiện đúng đắn, đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo
đúng trình tự, thủ tục đã được Hiến pháp và pháp luật quy định, mọi sự VPPL của
nhân viên và CQNN đều phải xử lý theo pháp luật...
Nguyên tắc này được áp dụng rộng rãi trong nhà nước tư sản và nhà nước xã hội
chủ nghĩa. Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc này ở các nhà nước tư sản không
hoàn toàn nhất quán mà có sự thay đổi qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư
bản. Đối với Nhà nước Việt Nam, đây cũng là một nguyên tắc hiến định và được ghi
nhận trong Hiến pháp ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn. Chẳng hạn, Điều 12 Hiến pháp
năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” thì đến Hiến pháp
năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp
luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật…” (khoản 1 Điều 8).
Giá trị của nguyên tắc: 18
Đây là một trong những nguyên tắc bắt buộc trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước hiện đại. Nếu như trong các kiểu nhà nước chưa có Hiến pháp và pháp
luật mang tính chủ quan của giai cấp thống trị, bộ máy nhà nước thường có kết cấu
lộn xộn, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Hoạt động của các cơ quan này cũng còn
tuỳ tiện và chịu sự chi phối của nhà cầm quyền. Chính vì vậy, không thể tránh khỏi
việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước gây phương hại đến lợi ích của nhiều
cá nhân tổ chức trong xã hội, thậm chí là lợi ích của chính bản thân nhà nước. Do
đó, ngay từ khi nhà nước tư sản còn chưa ra đời, người ta đã nghĩ rằng cần phải có
công cụ để chống lại sự tuỳ tiện của bộ máy nhà nước. Khi nhà nước tư sản và nhà
nước xã hội chủ nghĩa ra đời, Hiến pháp và pháp luật cùng với các nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cũng theo đó ra đời, trở thành công cụ hiệu
quả để chống lại sự tuỳ tiện của bộ máy nhà nước. Trong đó, nguyên tắc pháp chế là
nguyên tắc quan trọng, đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật được thực thi trên thực
tế. Khi đó, bộ máy nhà nước không thể nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp
và pháp luật, nhờ đó mà tránh được sự tuỳ tiện trong tổ chức và hoạt động của các CQNN này.
Ngoài ra, nguyên tắc này tạo cơ sở cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
trở nên hiệu quả, qua đó củng cố niềm tiên của nhân dân vào một bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh.
18. Phân tích nội dung, giá trị của nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước tư sản.
Định nghĩa: Nguyên tắc phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước tư sản là nguyên tắc cơ bản, quan trọng bậc nhất trong tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước tư sản và hiện được áp dụng vào tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước của rất nhiều nhà nước đương đại.
Nguyên tắc này bao gồm những nội dung cơ bản sau:
1. Quyền lực nhà nước được phân chia thành nhiều loại quyền khác nhau như
quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp và được trao cho các CQNN khác
nhau thực hiện một cách độc lập, mỗi cơ quan chỉ thực hiện một loại quyền, không
một cơ quan nào nắm trọn vẹn QLNN, cũng như không một cơ quan nào có thể “lấn
sân” sang hoạt động của cơ quan khác. Thực chất của sự phân chia quyền lực là sự
phân định một cách rạch ròi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các CQNN, đồng
thời bảo đảm sự chuyện môn hóa trong việc thực hiện QLNN. Các cơ quan lập pháp
hành pháp, tư pháp đều thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên cơ sở pháp luật.
2. Giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp còn có sự kiềm chế, đối trọng
với nhau theo phương châm không cơ quan nào nằm ngoài sự kiểm soát, giám sát từ
phía cơ quan khác nhằm ngăn ngừa tình trạng lạm quyền, chuyên quyền, độc đoán
hoặc thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện QLNN, qua đó bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp, chính đáng của các cá nhân, tổ chức trong xã hội cũng như có thể tránh 19
được những mối nguy khác. Sự kiểm soát, giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan lập
pháp, hành pháp, tư pháp cũng thể hiện sự phối hợp với nhau nhằm tạo nên sự thống nhất của QLNN.
Ở các nhà nước tư sản, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, việc áp
dụng nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước không hoàn
toàn giống nhau. Thực tế cho thấy, có thể có ba mô hình áp dụng nguyên tắc này
trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản, đó là mô hình phân quyền
cứng rắn, mô hình phân quyền mềm dẻo, mô hình phân quyền hỗn hợp (trung gian).
Sự khác nhau giữa ba mô hình này thể hiện ở cơ cấu các thiết chế quyền lực tối cao,
địa vị của từng thiết chế cũng như mối quan hệ giữa chúng.
Trong thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước, sự phân chia QLNN không chỉ giới hạn
ở việc phân quyền theo chiều ngang (lập pháp, hành pháp, tư pháp) mà còn diễn ra
theo chiều dọc, giữa nhà nước liên bang với nhà nước thành viên, giữa chính quyền
trung ương với chính quyền địa phương giữa các cấp chính quyền địa phương với nhau.
19. Phân tích các giải pháp hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay.
1. Hoàn thiện thể chế, chính sách xây dựng tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước
Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước có phạm vi vô cùng rộng lớn, vì vậy, cần phân
chia nhỏ chúng ra thành các lĩnh vực hoặc các khu vực địa lý khác nhau để giao cho
các cơ quan chuyên biệt thực hiện.
Chính vì có phạm vi rộng lớn như vậy, đặt ra đòi hỏi BMNN cần phải có một hệ
thống thể chế, chính sách khoa học, hợp lý để có thể hoạt động hiệu quả. Thứ nhất,
chức năng, nhiệm vụ của các CQNN cần phải được phân định rõ ràng, tránh sự
chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Thứ hai, các CQNN cần phải đảm bảo
sự phối hợp và kiểm soát quyền lực, tuy nhiên việc kiểm soát chỉ nằm trong phạm
vi nhất định để tránh việc chuyên quyền, lạm quyền nhưng cũng không chồng chéo
lên nhau. Thứ ba, cần tinh giản BMNN, tức là hoạt động cắt giảm cơ cấu tổ chức
bộ máy nhà nước. Yêu cầu tinh giản đặt ra trong thực trạng hiện nay BMNN vẫn còn
cồng kềnh. Việc tinh giản bộ máy dựa trên cơ sở đánh giá, phân tích chất lượng tổ
chức và hoạt động của các CQNN so với yêu cầu thực tiễn đặt ra, từ đó sắp xếp lại
các đầu mối công việc; giải thể, sáp nhập, phân tách các cơ quan theo xu hướng: một
cơ quan quản lý đa lĩnh vực.
Việc xây dựng một hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động BMNN khoa học,
hiệu quả là giải pháp tối ưu nhất để hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay.
Nó giúp tăng hiệu quả công việc của BMNN trong thực tế, giảm phiền hà cho nhân
dân và thuận tiện trong việc thanh, kiểm tra đồng thời tiết kiệm thời gian, công sức,
tiền bạc đáng kể cũng như tăng tính trách nhiệm của CQNN khi giải quyết công việc.
2. Nâng cao năng lực, phẩm chất, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cũng như tính
chuyên nghiệp, tinh thần phục vụ trong hoạt động của đội ngũ công chức, viên chức 20