lOMoARcPSD| 40551442
MỤC LỤC
VẤN ĐỀ
1....................................................................................................................................................................................2
Câu 1: Phân biệt được quy luật kinh tế với chính sách kinh
tế......................................................................................2
Câu 2: Phân biệt được đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác Lênin với các khoa học kinh tế khác.....2
VẤN ĐỀ
2:...................................................................................................................................................................................3
Câu 1: Liên hệ với thực tiễn để thấy được tại sao sản xuất hàng hoá lại tồn tại trong nền kinh tế ở nước ta...........3
Câu 2: Phân tích được mối quan hệ giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng để chỉ ra mâu thuẫn cơ bản của
nền sản xuất hàng hoá. Tr 57 giáo
trình...........................................................................................................................3
Câu 3: Liên hệ để đưa ra được các biện pháp cơ bản làm giảm lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá...................4
Câu 4. Liên hệ với thực tế để thấy được các yếu tố tác động tới giá cả thị
trường.......................................................4
Câu 5. Liên hệ với thực tế để thấy được tác động của lạm phát đối với sản xuất và đời sống....................................6
Câu 6. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để thấy được những tác động của quy luật giá trị......................................7
Câu 7. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để thấy được những tác động của quy luật cung
cầu..................................7
Câu 8. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để thấy được những tác động của quy luật cạnh tranh..............................8
VẤN ĐỀ
3:...................................................................................................................................................................................9
Câu 1. Chứng minh được hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc
biệt.........................................................................9
Câu 2 Tại sao nói hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc
biệt?.....................................................................................9
Câu 2. Liên hệ lí luận tiền công của C. Mác với chính sách tiền lương ở nước ta hiện
nay.........................................9
Câu 3. Đánh giá được tác dụng của việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản.............................................................11
Câu 4. Từ luận điểm về tư bản cố định, tư bản lưu động rút ra được ý nghĩa đối với việc quản lý và sử dụng tài
sản của các doanh
nghiệp.................................................................................................................................................11
Câu 5. Liên hệ được các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường ởViệt Nam..........12
VẤN ĐỀ
4..................................................................................................................................................................................13
Câu 1. Làm rõ được những nét khác biệt căn bản của CNTB độc quyền với CNTB tự do cạnh tranh....................13
Vấn đề
5.....................................................................................................................................................................................13
Câu 1. Làm rõ được những nét khác biệt căn bản giữa kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt
Nam.......................................................................................................................................................13 Vấn đề
6.....................................................................................................................................................................................14
Câu 1. Đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam hiện
nay.....................................................................................................................................................................14
Câu 2. Đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam hiện
nay......................................................................................................................................................................................1
6
CÂU
HỎI...........................................................................................................................................................................................18
1. Phân tích tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa của quy luât gị á trị? Vân  ụng vào tình hình
thực tiễn
ở Viêt Nam?
...............................................................................................................................................................................18
2. Phân tích tác dụng thúc đy LLSX của quy luât gị á trị trong nền sản xuất hàng hóa? Vân  ụng vào tình hình
thực
lOMoARcPSD| 40551442
tiễn ở nước ta hiên nay?
...........................................................................................................................................................18 3. Phân tích thuôc 
ính giá trị của hàng hóa sức lao đông? Liên hệ  ới thực tiễn viêt Nam? ............................................18
4. Phân tích thực chất của tích ly tư bản? Liên hê  ới thực tiễn ở Viêt Nam?
.................................................................19
5. Phân tích tư bản thương nghiêp? Liên hệ t ực tiễn ở
VN?..............................................................................................19
6. Xuất khu TB là gì? Trình bày các hình thức xuất khu TB? Vân ụng vào thực tiễn
VN?.......................................20 7. Phân tích vai tr của Đảng công ản trong quá trình thực hiên ứ mênh 
ịch sử của giai cấp công nhân? Liên hê  ới
vai tr của Đảng Công  ản
VN?...............................................................................................................................................20
8. Phân tích tính tất yếu của thời kỳ quá đô  ừ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hôi? Liên hệ ới viêc qụ á
đô lên 
CNXH ở
VN?.............................................................................................................................................................................21
9. Phân tích những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong viêc g ải quyết vấn đề dân tôc? Liên hệ
ới viêc  giải quyết vấn đề dân tôc c
ủa Đảng và Nhà nước ta hiên nay?
............................................................................................22
10. Phân tích những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lenin trong viêc gị ải quyết vấn đề tôn giáo? Liên hê  ới
viêc gịải quyết vấn đề tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiên nay?
....................................................................................22
NHẬN
ĐỊNH.....................................................................................................................................................................................23
CÂU HỎI CHƯƠNG
2.............................................................................................................................................................25
lOMoARcPSD| 40551442
VẤN ĐỀ 1
Câu 1: Phân biệt được quy luật kinh tế với chính sách kinh tế.
Quy luật kinh tế là những mối liên hệ phản ánh bản chất, khách quan, lập đi lập lại của các hiện tượng và quá trình
kinh tế trong nền sản xuất xã hội tương ứng với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội ấy.
Quy luật kinh tế có những tích chất sau:
Quy luật kinh tế tồn tại khách quan, nó xuất hiện và tồn tại trong điều kiện kinh tế nhất định, không phụ thuộc vào ý
chí con người, con người không thể thủ tiêu quy luật kinh tế, nhưng có thể nhận thức và vận dụng quy luật kinh tế để
phục vụ lợi ích của mình.
Quy luật kinh tế là quy luật xã hội, chỉ phát sinh thông qua hoạt động kinh tế của con người. Phần lớn các quy luật
kinh tế có tính lịch sử, chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định.
Quy luật kinh tế và chính sách kinh tế cả sự phân biệt:
+ Quy luật kinh tế tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chi con người, con người không thể thủ tiêu quy luật
kinh tế, nhưng có thể nhận thức và vận dụng quy luật kinh tế để phục vụ lợi ích của mình.
Khi vận dụng không phù hợp, con người phải thay đổi hành vi của mình chứ không thay đổi được quy luật.
+ Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan của con người được hình thành trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế.
Chính sách kinh tế có thể phù hợp hoặc không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan. Khi chỉnh sách không phù
hợp, chủ thể ban hành chính sách có thể ban hành chính sách khác để thay thế.
+ Quy luật kinh tế là cơ sở của chính sách kinh tế. Chính sách kinh tế là sự vận dụng các quy luật kinh tế và các quy
luật khác vào hoạt động kinh tế.
Câu 2: Phân biệt được đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin với các khoa học kinh tế khác.
- Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Leenin là các quan hệ sản xuất và trao đổi mà các quan hệ này
được đặt trong sự liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương
ứng của phương thức sản xuất nhất định
- Vi mô: Nghiên cứu hành vi của người sản xuất và người tiêu dùng. nghiên cứu các quyết định của các cá nhân và
doanh nghiệp và các tương tác giữa các quyết định này trên thị trường. Kinh tế học vi mô giải quyết các đơn vị cụ
thể của nền kinh tế và xem xét một cách chi tiết cách thức vận hành của các đơn vị kinh tế hay các phân đoạn của
nền kinh tế.
Mục tiêu của kinh tế học vi mô nhằm giải thích giá và lượng của một hàng hóa cụ thể. Kinh tế học vi mỗ còn nghiên
cứu các quy định, thuế của chính phủ tác động đến giả và lương hàng hóa và dịch vụ cụ thế. Chẳng hạn, kinh tế học vĩ
mô nghiên cứu các yếu tố nhằm xác định giả và lượng xe hơi, đồng thời nghiên cứu các quy định và thuế của chính
phủ tác động đến giá cả và sản lượng xe hơi trên thị trưởng.
- Vĩ mô: tổng thể nền kinh tế của một quốc gia, nghiên cứu nền kinh tế quốc gia và kinh tế toàn cầu.xem xét xu hướng
phát triển và phân tích biển động một cách tổng thể, toàn diện về cấu trúc của nền kinh tế và mối
quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Mục tiêu phân tích của kinh tế học vĩ mô nhằm giải thích giá cả
bình quân, tổng việc làm, tổng thu nhập, tổng sản lượng sản xuất. Kinh tế học vĩ mô còn nghiên cứu các tác động của
chính phủ như thư ngân sách, chỉ tiêu chính phủ, thâm hụt ngân sách lên tổng việc làm và tổng thu nhập
VẤN ĐỀ 2:
Câu 1: Liên hệ với thực tiễn để thấy được tại sao sản xuất hàng hoá lại tồn tại trong nền kinh tế ở nước
ta.
lOMoARcPSD| 40551442
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn như cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phủ là để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác thông qua việc
trao đổi, mua bán.
Sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện:
- Thứ nhất: Phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động
xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau. Do sự PCLĐXH nên việc trao đổi sản phẩm trở nên tất
yếu. Khi có PCLDDXH, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc
sống đòi hỏi phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó, họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi với
nhau. Như vậy, phản công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hóa, PCLĐXH càng phát triển thì sx
và trao đổi hàng hóa càng mở rộng đa dạng hơn.
- Thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất: Những người sản xuất trở thành chủ thể
có sự độc lập nhất định với nhau. Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của chủ thể kinh tế, người này muốn
tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hóa.
Liên hệ: Trong quá trình chuyển từ nền kinh tế hàng hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, nước ta đứng trước một
thực trạng: lực lượng sản xuất thấp kém, kết cấu hạ tầng, vật chất lạc hậu. Về lao động và trình độ cơ khi hóa trong
các doanh nghiệp trung ương có tới 54,3% ở tnhg độ phổ thông. 41% ở trình độ cơ khí và có tới 47% là trình độ tự
động hóa. Trinh độ phân công lao động xã hội còn thấp. việc bố trí cơ cấu kinh tế còn thấp, khả năng sinh lời chưa
cao. Sự phân bố dân cư và lao động thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, mật độ dân số và lao động
chênh lệch nhau khá nhiều lần.
Nhưng từ đại hội VI của Đảng đến nay, cơ cấu kinh tế đã có chuyển biến tích cực. Hình thành một xu hưởng khách
quan diễn ra trong quá trình phân công lao động xã hội là tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng
còn tỷ trọng lao động nông nghiệp ngày cnagf giảm xuống . Kết quả là hình thành các khu công nghiệp, các vùng
kinh tế mới, nhiều vùng chuyên môn hóa.
Câu 2: Phân tích được mối quan hệ giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng để chỉ ra mâu thuẫn
bản của nền sản xuất hàng hoá. Tr 57 giáo trình
Mối quan hệ :
- sự thống nhất: lao động cụ thể và lao động trừu tượng là 2 mặt của quá trình sản xuất hàng hóa - sự đối lập:
+ Tính chất 2 mặt của ldsxhh phản ánh tính chất tư nhân và tinh chất xã hội của ng sản xuất hàng hóa
Lao động cụ thể phản ánh tính chất tư nhân của lao động sane xuất hàng hóa bởi việc sản xuất cái gì. như thế nào là
việc riêng của mỗi chủ thể sản xuất
Lao động trừu tượng phản ánh tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa, bởi lao động của mỗi người là một bộ
phận của lao động xã hội, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội.
+ sản phẩm do người sản xuất hàng hóa tạo ra có thể không ăn khớp hoặc không phù hợp nhu cầu xã hội
+ Hao phí lao động cả biệt của người sản xuất hàng hóa có thể cao hơn hoặc thấp hơn hao phí lao động mà xã hội có
thể chấp nhận.
Do yêu cầu của mối quan hệ này, việc sản xuất và trao đổi phải được xem là thể thống nhất trong nền kinh tế hàng
hóa. Lợi ích của người sản xuất phải thống nhất với lợi ích của người tiêu dùng. Mẫu thuẫn giũa lao động cụ thể và
lao động trừu tượng xuất hiện khi sản phẩm do những người sản xuất hàng hóa riêng biệt tạo ra không phù hợp với
nhu cầu xã hội, hoặc khi mức hao phí lao động cá biệt cao hơn mức hao phí mà xã hội có thể chấp nhận được.
Khi đỏ, sẽ có một số hàng hóa không bán được. Nghĩa là có một số hao phí lao động cá biệt không được xã hội thừa
nhận. Mâu thuẫn này vừa tạo ra nguy cơ khủng hoảng tiềm ẩn vừa làm cho sản xuất hàng hóa vận động phát triển.
Tóm lại, giữa lao động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẫn với nhau. Đó là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng
hóa
Câu 3: Liên hệ để đưa ra được các biện pháp cơ bản làm giảm lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá
Gtr: Năng suất lao động, cường độ lao động, mức độ phức tạp của lao động.
Trước hết, sự thay đổi của năng suất lao động tác động đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa theo tỷ lệ nghịch, có
nghĩa là, muốn giảm lượng giá trị một đơn vị hàng hóa ta cần tăng năng suất lao động
- Tăng năng suất lao động: Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động được tính bằng số lượng sản phẩm
sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Năng
suất lao động cả biệt tăng thì số lượng hàng hoá được sản xuất ra trong cùng 1 đơn vị thời gian tăng, nghĩa là thời
gian lao động cá biệt để sản xuất ra 1 đơn vị hàng hoá giảm. Do đó, lượng giá trị cá biệt của một đơn vị hàng hoá
giảm. Tăng NSLĐ có ý nghĩa giống như tiết kiệm thời gian lao động.
Như vậy, sự thay đổi của năng suất lao động tác động theo tỷ lệ nghịch đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa
(nhưng không tác động đến tổng lượng giá trị của tổng số hàng hóa được sản xuất ra trong cùng một đơn vị thời gian).
+ Thứ nhất, cần nâng cao trình độ, tay nghề của người lao động sản xuất ra mặt hàng. Ta cần ưu tiên cho phương pháp
lOMoARcPSD| 40551442
đào tạo tay nghề tại nơi làm việc, kết hợp với các phương tiện hỗ trợ để đào tạo trong thời gian nghỉ và thời gian rảnh
rỗi
+ Thứ hai, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật chúng ta phải đầu tư cho cơ sở vật chất, máy móc cho sản
xuất.
+ Thứ ba, đó là việc tổ chức quản lý sản xuất. Xây dựng các mô hình quản lí sản xuất để thu được năng suất cao nhất
+ Thứ tư, đẩy là hiệu quả của tư liệu sản xuất. Hiệu quả càng cao thì năng suất lao động cũng tăng lên. Tư liệu sản
xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động. Tư liệu lao động của sản xuất quấn áo bao gồm nhà xưởng, máy
móc( máy may, máy dệt, máy cắt vải tự động,...), công cụ, vật liệu. Do đó, các doanh nghiệp cần phải không ngừng
đổi mới, cập nhật những máy móc hiện đại, vật liệu đang thịnh hành vào sản xuất cũng như giữ cho môi trường nhà
xưởng luôn trong lãnh.
+ Thứ năm, Thứ năm, cần tận dụng một cách hiệu quả các yếu tố về tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên: nhằm
hạ thấp lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa của mặt hàng
+ Thứ sáu, đảm bảo các yếu tố điều kiện, nhu cầu cho người lao động: bảo đảm tiền lương, xây dựng chế độ phúc lợi,
chế độ bảo hiểm y tế phù hợp, khuyến khích tạo môi trường làm việc thân thiện, có như vậy mới đảm bảo điều kiện
tốt nhất cho người lao động tăng năng suất.
Câu 4. Liên hệ với thực tế để thấy được các yếu tố tác động tới giá cả thị trường
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả thị trường
1) Giá trị thị trưởng
Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật cầu kinh tế thị trường đều biểu hiện sự hoạt động của mình thông qua giá cả
thị trưởng, nhờ sợ vận động của giá cả th trường mà diễn ra một sự thích ứng giữa cung và cầu về hàng hóa, tức là sự
hoạt động của các quy luật đó đã điều tiết nền sản xuất xã hội. ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có thị
trường và do đó có cơ chế thị trường hoạt động tín hiệu của cơ chế thị trưởng là giá cả thị trường. giá cả thị trường là
sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trưởng hàng hóa - tức là phụ thuộc rất lớn vào giá trị thị trường.
Giá trị thị trường nói ở đây, là giá trị xã hội – giá trị được xã hội thừa nhận và được đo bằng thời gian lao động xã hội
cần thiết vậy giá trị thị trưởng hình thành như thế nào? Như chúng ta đã biết trên thị trường hầu hết các loại hàng hóa
được sản xuất ra không chỉ một hoặc hai nhà sản xuất sản xuất ra mà có khi rất nhiều nhà sản xuất cùng sản xuất hàng
hóa đỏ. Ví dụ, để sản xuất lúa, gạo, không chỉ có tỉnh Hưng Yên sản xuất mà nhiều tinh như: Hải Dương, Thái Bình,
Nam Định, Hà Nam.. sản xuất. Mỗi địa phương để sản xuất một tấn gạo đều phải hao phí một lượng lao động nhất
định ( tức là một giá trị cá biệt nhất định), và như vậy trên thị trường về gạo sẽ có nhiều người cung cấp gạo, mỗi loại
ủng với một giá trị cá biệt nhất định. Nhưng khi đưa sản phẩm gạo ra thị trường thì xã hội chỉ chấp nhận một mức giá
( nếu không tính đến các yếu tố khác như: phẩm chất, tỷ lệ tẩm...) đó là giá trị thị trưởng. vậy giá trị thị trường là kết
quả của sự san bằng các giá trị cả biệt của hàng hóa trong cùng một ngành thông qua cạnh tranh. Cạnh trang trong nội
bộ ngành dẫn đến hình thành một giá trị xã hội trung bình. Tùy thuộc vào trình độ phát triển của sức sản xuất câu mỗi
ngành mà giá trị thị trường có thể ứng với một trong ba trường hợp sau đây:
- TH1: giá trị thị trưởng của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong điều kiện
trung bình quyết định. Đây là trường hợp phổ biến nhất, ở hầu hết các loại hàng hóa Ví dụ: để sản xuất quần áo, thi có
nhiều doanh nghiệp cùng tham gia sản xuất, các doanh nghiệp này về cơ bản có điều kiện sản xuất như: máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công... là như nhau. Trên thị trưởng, giá trị thị trưởng của quần áo sẻ do giá trị cá biệt
trung bình của các doanh nghiệp quyết định.
- TH2: giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong điều kiện xấu
quyết định.Ví dụ: trong ngành khai thác than, do chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, các doanh nghiệp khai thác
than ngày càng phải khai thác ở những điều kiện khó khăn hơn như: khai thác hầm lò phải đi sau vào lòng đất, điều
kiện vận chuyển than tự nơi khai thác đến nơi khai thác ra bến cảng xa hơn, năng xuất lao động có thể thấp hơn...
nhưng những doanh nghiệp này vẫn chiếm một tỷ trọng lớn sản lưng tiêu thụ của ngành khai thác than và xã hội vẫn
cần than để sản xuất và tiêu dùng. Cho nên, giá trị cá biệt của những doanh nghiệp này có ảnh hưởng quan trọng, đôi
khi quyết định giá trị thị trường của sản phẩm than.
- TH3: giá trị thị trưởng hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong điều kiện tốt
quyết định. Ví dụ: trong ngành trồng lúa nước ở nước ta. Đồng bằng sông hồng và đồng bằng sông Nam Bộ là 2 khu
vực trồng lúa chính, cung cấp đại bộ phận thóc, gạo cho cả nước và xuất khẩu. đay là vùng có điều kiện tự nhiên
thuận lớn hơn so với các vùng khác. Vì vậy giá trị cả biệt để sản xuất ra thóc (gạo) ở 2 vùng này có ảnh hưởng quyết
định đến giá thị trường của thóc ( gạo) trong nước. Trong thời đại hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đã trở thành xu thế tất
yếu, sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời các nước khu vực và thế giới, thị trường trong nước và thị
trường thế giới có quan hệ mật thiết với nhau. Do đó, giá trị xã hội về một loại hàng hóa nào đó sản xuất trong nước
sẽ là giá trị cá biệt trên thị trường khu vực và thế giới. giá trị cá biệt ảnh hưởng ở mức độ nào đến giá trị thị trường
thế giới tùy thuộc vào mức sản lượng hàng hóa cung ứng ra thị trường và các điều kiện về thuế quan, chính sách xuất
nhập khẩu của mỗi nước. Từ những vấn đề trên, trong công tác định giá, quản lý giá hiện nay chúng ta không chỉ
quan tâm tới giá trị của từng loại hàng hóa sản xuất trong nước mà còn quan tâm tới thị trường thế giới, giá tr thị
lOMoARcPSD| 40551442
trường khu vực đối với hàng hóa đỏ. Để có những chính sách quản lý kinh tế vĩ mô phù hợp, giữ được ổn định và
phát triển sản xuất trong nước.
2) Giá trị của tiền
Trong nền sản xuất hàng hoá, tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa. Muốn đó lường giá trị
của hàng hóa, bản thân tiền phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo
lường giá trị hàng hóa không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sinh với lượng vàng nào đó một cách tưởng
tượng, sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã có một tỷ lệ
nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó. Có thể nói, sự
thay đổi trong mức cung tiền gây ra sự thay đổi về giá cả. Sự thay đổi về giá cả này phụ thuộc vào 2 yếu tố sau:
- Sự tăng lượng cung tiền gây ra sự tăng giá.
- Do tác động của một số nhân tố làm cho giá cả tăng lên và chính phủ điều tiết sự tăng lên của giá cả bằng cách in
thêm tiền thì cả khối lượng tiền và giá cả cũng tăng lên.Trên thực tế, nếu như sự tăng lượng cung tiền danh nghĩa
kéo theo sự thay đổi tương ứng của tiền lương và giá cả thì điều đó sẻ dẫn đến hậu quả nguy hiểm đối vvới nền kinh
tế, khi tiền lương doanh nghĩa tăng nhanh, về cơ bản nó sẽ làm cho giá tăng lên nhanh, để đảm bảo ổn định nền kinh
tế thì mức cung tiền thực tế chi thay đổi một cách chậm chạp tương ứng với những thay đổi về nhu cầu tiền tệ. Từ
sự phân tích trên cho thấy, giá cả thị trường tỷ lệ thuận với giá trị thị trường của hàng hóa và tỷ lệ nghịch với giá trị
của tiền - Sự tác động của yếu tố tiền tệ dẫn đến sự hình thành và vận động của giá cả thị trường là hết sức phức tạp,
do vậy, trong công tác quản lý không thể tách rời với quản lý tiền tệ 3) Cung và cầu hàng hóa.
Trong nền kinh tế thị trưởng, cung và cầu là những lực lượng hoạt động trên thị trường cung cầu không chỉ có mối
quan hệ với nhau mà còn ảnh hưởng tới giá cả thị trường.
Trong thực tế, khi
+ cung = cầu thì giá cả thị trường ngang bằng với giá trị của hàng hóa. + Khi cung> cầu thì giá cả thị trường xuống
thấp hơn giá trị hàng hóa,
+ khi cung – cầu thì giá cả thị trường lên cao hơn giá trị. Như vậy, cung và cầu thay đổi dẫn đến làm thay đổi giá cả
thị trường của hàng hóa. Đồng thời, giá cả thị trường cũng có sự tác động ngược trở lạitới cung và cầu.
4) Cạnh tranh
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền kinh tế thị trường nhằm giành giật những điều kiện
thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Cạnh tranh có thể diễn ra giữa người sản xuất với người sản xuất, người
sản xuất với người tiêu dùng hoặc giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng. Do có mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, nên
những người sản xuất và người tiêu dùng cạnh tranh gay gắt với nhau. Sự cạnh tranh này dẫn đến sự thoả thuận trực
tiếpg iữa họ để hình thành nên mức giá thị trường mà 2 bên đều chấp nhận. Kết quả của cạnh tranh này, buộc những
người sản xuất, muốn chiếm lĩnh thị trường phải áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, đưa công nghệ mới vào sản xuất, cải
tiến công tác quản lý...để sản xuất ra những sản phẩm mới, chất lượng cao, giá thành thấp. Cạnh tranh giữa người tiêu
dùng với người tiêu dùng nhằm tối đa hoá lợi ích sử dụng người tiêu dùng (người mua) để đạt được nhu cầu tiêu dùng
của mình (trong điều kiện khả năng cung về hàng hoá có hạn) thường phải trả giá cao hơn những ngưi khác để mua
được hàng hoá và trong sự cạnh tranh này, làm cho giá cả thị trường thay đổi theo xu hướng tăng lên.
Từ sự phân tích các nhân tố tác động đến sự hình thành và vận động củagiá cả thị trưởng, có thể rút ra một số nhận
xét sau:
- Trong nền kinh tế thị trường, giá cả thị trường là một hiện tượng kinh tế phức tạp, tổng hợp, là bàn tay vô
hình điểu tiết sản xuất, là tấm gương phản ánh thực trạng nền kinh tế. - Nhà nước cần phải quản lý giá. Việc quản lý
giá phải được thực hiệnđồng bộ từ tài chính đến tiền tệ, từ cầu đến cung, từ giá thị trường trong nước đến giá thị
trường thế giới, từ cạnh tranh đến chống độc quyền và các biện pháphạn chế tự do kinh doanh.
- Để quản lý giả, Nhà nước cần có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh và đồng bộ về các lĩnh vực tài chính - tiễn tệ-
giá cả, củng cố hệ thống pháp luật đối với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh. Có như vậy, mới có thị trường
lành mạnh, cơ chế thị trường hoạt động theo đúng nghĩa của nó và giá cả thị trưởng đóng vai trò quan trọng trong
việc phân bố các nguồn lực kinh tế, thúc đẩy tiến bộ khoa học- kỹ thuật, làm cho sản xuất phát triển lành mạnh, hiệu
quả
Câu 5. Liên hệ với thực tế để thấy được tác động của lạm phát đối với sản xuất và đời sống.
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đó là hiện tượng không để hoảng tiền tệ,
nhưng nó là sự phản ánh và thể hiện trạng thái chung của toàn bộ nền kinh tế.
Lạm phát là tình trạng mức giá chung của toàn bộ nền kinh tế tăng lên trong một thời gian nhất định.
Căn cứ vào mức giá tăng lên, có thể chia lạm phát ra thành; lạm phát vừa phải (chỉ số giá cả tăng dưới 10%/năm); lạm
phát phi mã (trên 10%/năm); siêu lạm phát (chỉ số giá cả tăng len hàng trăm, hàng nghìn lần và hơn nữa)
Lạm phát là hiện tượng gây nhiều tác động tiêu cực tới kinh tế và xã hội. Khi lạm phát xảy ra sẽ dẫn tới sự phân phối
lại các nguồn thu nhập giữa các tầng lớp dân cư: người nắm giữ hàng hóa, người đi vay được lời; khuyến khích đầu
cơ hàng hóa, cản trở sản xuất kinh doanh, các hoạt động kinh tế bị méo mô biến dạng, tâm lý người dân hoang mang
lOMoARcPSD| 40551442
LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN VIỆT NAM
Thứ nhất là điều hành của Chính phủ, liên quan đến việc điều chỉnh giá điện, giá dịch vụ y tế và thực hiện lộ trình
tăng học phi. giá các mặt hàng dịch vụ y tế tăng 37,3% so với cuối năm 2016 và bình quân cả năm 2017 tăng 57,91%
so với năm 2016 làm cho CPI năm 2017 tăng khoảng 1,35% so với tháng 12/2016 và CPI bình quân với năm 2017
tăng khoảng 2,04% so vs 2016.
Bên cạnh đó, thực hiện lộ trình tăng học phi theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, các
tỉnh đã tăng học phi các cấp học. Điều này đã làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục trong năm 2017 tăng 7,29% so với
tháng 12/2016 và bình quân cả năm 2017 tăng 9,1% so với bình quân năm 2016, tác động làm cho CPI năm 2017 tăng
khoảng 0,41% so với tháng 12/2016 và CPI binh quân năm 2017 tăng khoảng 0,5% so với năm 2016.
Đồng thời, mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động ở các doanh nghiệp cũng tăng từ ngày 01/01/2017.
Mức lương cơ sở áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ 2017 ngày 01/7/2017 tăng
90.000 đồng/tháng đã làm cho giá một số loại dịch vụ như: dịch vụ sửa chữa đổ dùng gia đình, dịch vụ bảo dưỡng nhà
ở, dịch vụ điện, nước; dịch vụ thuê người giúp việc gia đình tăng giá từ 3 – 8% so với năm 2016. Bên cạnh đó, giả các
mặt hàng đổ uống, thuốc là và giá các loại quần áo may sẵn tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán do nhu cầu tăng. Bình
quân năm 2017, chỉ số giá các nhóm này lần lượt tăng 1,52% và 1,07% so với năm 2016. Giá gas sinh hoạt cũng được
điều chỉnh theo giá gas thế giới. Cụ thể, năm 2017 giá gas tăng 15,91% so với năm 2016. Bình quân năm 2019 so với
năm trước, giả thực phẩm tăng 5,08%, giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng khoảng 1,99%; quần áo may sẵn các
loại tăng 1,70% giá dịch vụ giao thông công cộng tăng
3,02%; giả du lịch trọn gói tăng 3,04% trong đó mặt hàng thịt lợn bình quân năm 2019 tăng 11,79%... Đây là một
trong những nguyên nhân chính làm CPI các tháng cuối năm tăng cao.
Bên cạnh đó, giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới có xu hướng tăng, như: giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép... nên
năm 2019 ước tính chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa so cùng kỳ tăng 0,59%, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 3,01%,
chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 1,25%; chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,31%.
Thứ hai là yếu tố thị trưởng. Liên quan đến vấn đề này, Tổng cục Thống kê cho biết, nhu cầu tiêu dùng dịp Tết
Nguyên đản Kỷ Hợi tăng cao vào hai tháng đầu năm và các tháng cuối năm 2019, làm tăng giá một số mặt hàng tiêu
dùng thuộc nhóm thực phẩm, dịch vụ ăn uống, đồ uống, dịch vụ giao thông công cộng, dịch vụ du lịch.... giá nhiên
liệu trên thị trường thế giới trong năm 2017 tăng khá mạnh, bình quân giá dầu Brent từ thời điểm ngày 01/01/2017
đến thời điểm ngày 20/12/2017 ở mức 54,49 USD/thùng, cao hơn nhiều so với mức 45,13 USD/thùng của bình quân
năm 2016. Trong nước, giá xăng dầu tính đến ngày 10/12/2017 được điều chỉnh 10 đợt tăng và 8 đợt giảm, hai đợt
không đổi, tổng cộng giá xăng tăng 1.040 đồng/lít; dầu diezel tăng 1.260 đồng/lít, làm cho giá xăng dầu bình quân
năm 2017 tăng 15,49% so với năm 2016, góp phần tăng CP1 chung 0,64%.
Giá vật liệu xây dựng cũng tăng 5,23% do giá cát xây dựng tăng rất mạnh vào tháng 5, tháng 6 và tháng 7/2017 do
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương siết chặt việc quản lý khai thác cát và các cơ quan chức năng không cho
phép khai thác các mỏ mới. Chỉ sắt thép tăng do giá nguyên liệu đầu vào như phối thép, than điện tăng mạnh từ tháng
7 nên các nhà máy sản xuất thép đã tăng giá bán từ 5 - 10%. Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới có xu hướng tăng
trở lại như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép…nên chỉ số giá nhập khẩu năm 2017 so năm 2016 tăng 2,57%, chỉ số giá
xuất khẩu tăng 2,93%; chỉ số giá sản xuất công nghiệp (PPI) tăng 2,82%.
Năm 2017 cũng được đánh giá là năm kỷ lục về số lượng cơn bão, áp thấp nhiệt đới trên biển đông, có 16 cơn bão và
4 áp thấp nhiệt đới. Riêng cơn bão số 12 (Damrey) gây thiệt hại lớn nhất về người và vật chất cho các tnh miền
Trung làm cho chỉ số giá nhóm lương thực, thực phẩm tại các tỉnh này có mức tăng trong tháng 11/2017 cao hơn các
tỉnh khác.
Câu 6. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để thấy được những tác động của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa vì nó quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ
sở gii trị của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hóa. * Nội dung của quy luật giá trị: Sản xuất và trao đổi hàng
hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phi lao động xã hội cần thiết. * Tác động của quy luật giá trị
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có ba tácđộng sau: Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. - Phân hóa những
người sản xuất hàng hóa thành giàu, nghèo.
LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM:
Hiện nay, nước ta đang trên con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đây là điều kiện cho các quy luật
kinh tế phát triển. Trong đó, quy luật giá trị đóng vai trò là quy luật kinh tế căn bản chi phối sự phát triển của nền kinh
tế và trên thực tế, ta thấy được sự tác động của quy luật giá trị ảnhhưởng mạnh mẽ tới sự phát triển của nước ta. - Quy
luật giá trị kích thích sản xuất phát triển: Mỗi doanh nghiệp đều phải cố gắng cải tiền máy móc mẫu mã, nâng cao tay
nghề lao động. Nếu không quy luật giá trị sẽ thực hiện vai trò đảo thái của nó: loại bỏ những cái kém hiệu quả, kích
thích các cá nhân, ngành, doanh nghiệp phát huy tính hiệu quả. Từ đó tất yếu dẫn tới sự phát triển của lực lượng sản
xuất mà trong đó đội ngũ lao động có tay nghề chuyên môn ngày càng cao, công cụ lao động luôn luôn được cải tiến
dẫn đến sự xã hội hóa, chuyên môn hỏa lực lượng sản xuất được phát triển, nền kinh tế sẽ luôn trên đà đổi mới, phát
triển mạnh mẽ
lOMoARcPSD| 40551442
- Quy luật giá trị điều hòa lưu thông hàng hóa: Trong chế độ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước
ta hiện nay, tổng khối lượng và cơ cấu hàng tiêu dùng do kế hoạch lưu chuyển hàng hóa quyết định. Nhà nước có thể
can thiệp vào giá cả hàng hóa để gây ảnh hưởng tới lực lượng tiêu thụ loại hàng hóa đó nhằm làm cho nhu cầu và
mức tăng của sản xuất về một số loại hàng tiêu dùng phủ hợp với việc đổi mới phát triển kinh tế. Căn cứ vào yêu cầu
của quy luật giá trị, trên thị trường sức lao động, nếu ai cung cấp được chất lượnglao động tốt hơn, phù hợp với yêu
cầu của các nhà tuyển dụng sẽ có thu nhập cao. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nếu xét một cách tổng thể thì
sự ổn định việc làm chỉ mang tính tương đối. Mặc dù người lao động có nhiều cơ hội lựa chọn việc làm theo khả năng
của mình song họ cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, thậm chí thất nghiệp. Để sức lao động của mình được trả
giá cao, trở thành nhân sự khó có thể thay thế, người lao động cần được đào tạo có trình độ chuyên môn tay nghề giỏi,
có sức khoẻ, ngoại ngữ và tác phong làm việc công nghiệp. Quá tnh đào tạo đó phải tính đến hiệu quả kinh tế, đào
tạo để rèn luyện kĩ năng làm việc chứ không phải vì bằng cấp. Đối với các cơ sở đào tạo, nếu chất lượng đào tạo tốt,
giá cả thấp hơn sẽ thu được số lượng khách hàng (người học và người sử dụng sản phẩm được đào tạo) nhiều hơn.
vậy, quy luật giá trị đặt ra yêu cầu tiên quyết là vấn đề chất lượng lao động. Trong điều kiện khoa học công nghệ phát
triển mạnh mẽ, kinh tế tri thức được coi là chìa khóa cho sự phát triển thì ai có khả năng cung cấp chất lượng lao
động tốt dựa trên hao phi đào tạo thấp sẽ giành được lợi thế để phát triển và ngược lại. Điều đó được thể hiện ở năng
suất, sản phẩm cận biên của lao động cũng như sự thích ứng của con người sau khi được đào tạo trước đòi hỏi của
kinh tế thị trường. Song trên thực tế yêu cầu này vẫn đang là vấn đề nan giải khi đến nay ở nước ta lao động đã qua
đào tạo theo các loại hình và trình độ khác nhau mới đạt khoảng trên 31,5%. Năng suất lao động của nước ta đạt thấp
khi chỉ đứng thứ 77/125 nước và vùng lãnh thổ, sau cả Indonesia, Philipine vàThái Lan. Hệ thống các trường đại học,
cao đẳng tham gia đào tạo NNLCLC chưa đáp ứng được đổi hội của thị trường lao động trong và ngoài nước. Theo
Viện Quản lí nhà nước dân chủ và đổi mới (ASH) của Trường công Kennedy thuộc Đại học Harvard thì Việt Nam
không có trường đại học nào được ghi nhận trên bất kì bảng xếp hạng quen thuộc các đại học hàng đầu châu Á.
vậy, quy luật giá trị đòi hỏi để phát triển NNLCLC, Việt Nam cần cải cách để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo.
thực hiện chủ trương nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đào tạo phải đạt hiệu quả kinh tế, đáp
ứng được nhu cầu của xã hội, của thị trường và doanh nghiệp. Cũng theo ASH thì qua các cuộc khảo sát cho thấy có
tới 50% sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại học đã không thể tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn của họ. Điều
này chứng tỏ có một khoảng cách rất lớn giữa giảng đường và thị trường sức lao động cũng như có sự lãng phí ghê
gớm trong giáo dục và đào tạo nhân lực ở nước ta.
Câu 7. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để thấy được những tác động của quy luật cung cầu.
Dầu mỏ cũng chịu chi phối bởi quy luật cung cầu. Thiếu đầu ra, thừa nguồn cung, khả năng cắt trừ bão hòa,... là
những nguyên nhân khiến thị trường dầu lửa không ngừng biến động. Viện Dầu khi Pháp ước tính, lượng dầu dư thừa
tích lũy trên toàn thế giới từ tháng 4 đến tháng 6/2020 có thể khoảng 1,4 tỉ thùng (gb). Trong khi đó, báo cáo mới nhất
của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) dự kiến nhu cầu đầu toàn cầu sẽ giảm 9,3 triệu thùng/ngày (mbd) trong năm
nay do sự tê liệt kinh tế bởi ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.
Để đẩy giá dầu tăng, theo quy luật cung cầu, OPEC+ đã chọn cách giảm cung. Từ tháng 5/2020, OPEC và các đối tác
bắt đầu thực hiện việc cắt giảm 9,7 mbd trong tháng 5 và tháng 6/2020, trong khi các nước G20 hứa sẽ tăng cường
hợp tác. Đó là lý thuyết, trong khi thực tế lại khác, vì việc đóng các giếng đầu cần thời gian. Việc đóng một giếng dầu
nhiều khi còn tổn nhiều chi phí hơn cả việc vẫn để giếng hoạt động và mặc dầu đổ đi.
Vì vậy, các cơ quan hữu quan 1 cẩn bám sát diễn biến cung cầu, giá dầu thô và sản phẩm để có giải pháp kịp thời; đa
dạng hóa kênh phân phối, tăng thị phần bản lẻ; xây dựng chính sách bán hàng linh động. mở rộng và tích hợp hệ
thống phân phối để chia sẻ, tiết giảm chi phí; tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong nước có ngành nghề
kinh doanh liên quan đến sản phẩm của đơn vị minh cung cấp; đồng thời kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành xem
xét có các chỉ đạo định hướng cân đối cung cầu, khuyến khích sản xuất trong nước, xử lý gian lận thương mại.
4. Kết luận: Quy luật cung cầu điều tiết quá trình lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường. Khi cung lớn hơn
cầu, giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống; khi cung nhỏ hơn cầu, giả cả hàng hóa sẽ tăng lên. Sự tăng lên hay giám xuống
của giá cả hàng hóa là tín hiệu của thị trường để những người kinh doanh thương mại chuyển hàng hóa từ nơi có giá
thấp đến nơi có giá cao, tử nơi thừa đến nơi thiếu; để các nhà sản xuất thu hẹp hay dừng sản xuất các hàng hóa thừa,
cũng lớn hơn cầu, tăng cường, mở rộng sản xuất cáchàng hóa thiếu, cung nhỏ hơn cầu. Đây chính là sự điều tiết sản
xuất và lưu thông một cách tự động. linh hoạt, nhanh nhạy của cơ chế thị trưởng, là mặt tích cực của quy luật cung -
cầu.
Câu 8. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để thấy được những tác động của quy luật cạnh tranh.
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều
kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
* Nội dung của quy luật cạnh tranh: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa,
giữa người sản xuất và người tiêu dùng là một tất yếu khách quan, là yêu cầu thường xuyên đối với những người sản
xuất hàng hóa.
lOMoARcPSD| 40551442
- Tác động của quy luật cạnh tranh: Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ
thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó buộc người sản xuất phải thường xuyên năng động, nhạy bản, thường xuyên cải tiến
kỹ thuật áp dụng tiến bộ khoa học, nâng cao tay nghề, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng
và hiệu quả kinh tế ... Thực tế cho thấy, ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì ở đó thưởng trì trệ,
bảo thủ, kém phát triển.
LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM
Hiện nay, , ở nước ta sức lao động được thừa nhận là một loại hàng hoá và tất nhiên nó cũng bị chi phối * quy luật thị
trưởng. Người làm giỏi được lương cao, người làm dữ chịu lương thấp và có nguy cơ theo bị sa thải. Sự cạnh tranh
trong việc chào bán sức lao động là một yếu tố thúc đẩy từng cá nhân và toàn xã hội nỗ lực làm việc; tự đào tạo nâng
cao chất lượng lao động của mình. Nhiều chuyên gia trên các lĩnh vực đều thống nhất quan điểm: nếu muốn tồn tại và
phát triển trong một "thế giới phẳng" nhưng cạnh tranh khốc liệt hiện nay thì vượt lên trên lợi thế về tài nguyên, vị trí
địa lí chính là yếu tố chất lượng nguồn nhân lực và việc sử dụng nó hiệu quả nhất. Thực tế cho thấy, khi kinh tế tăng
trưởng thì cạnh tranh trên thị trường sức lao động biểu hiện rõ nhất ở vị trí, địa bản làm việc và thu nhập của các chủ
thể tham gia. Nhưng khi kinh tế suy thoái, khủng hoảng thì vấn đề cạnh tranh để không bị sa thái là điều người lao
động quan tâm nhất. Hiện nay năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta còn thấp, chủ yếu là
do sức cạnh tranh của lực lượng lao động chưa cao. Lao động giá rẻ chỉ là một lợi thế nhất định trong một thời gian
cụ thể, chúng ta phải hướng tới lao động có kỹ thuật cao nhưng giá rẻ hơn lao động cùng loại ở các nước khác. Trong
bối cảnh hội nhập, lực lượng lao động trình độ cao của nước ta không chỉ cạnh tranh khi tiến hành xuất khẩu lao động
mà còn có sự cạnh tranh gay gắt với lao động nước ngoài ngay trên thị trường trong nước.
Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hiện cả nước có hơn 75.000 lao động nước ngoài đang làm việc ở nhiều
trình độ khác nhau. Không ít doanh nghiệp cho biết họ phải sử dụng lao động nước. ngoài vì nhiều vị trí không thể
tìm được lao động Việt Nam thích hợp Theo đánh giá mới của Ngân hàng thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực
hiện nay của Việt Nam mới chỉ đạt 3,19 điểm (thangđiểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước châu Á tham gia xếp hạng.
Một nghiên cứu khác cho thấy tao động Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm. Trong khi đó những nền kinh tế có chất lượng
lao động dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trưởng toàn cầu. Ở một số lĩnh vực như: ngân hàng,
y tế, v.v... có tới 40% tổng số lao động có thu nhập từ 14.000 USD/năm trở lên thuộc người nước ngoài. Năm 2009,
Tập đoàn Intel tại TP. Hồ Chí Minh tiến hành một cuộc thi tuyển với 2000 sinh viên ngành công nghệ thông tin thì chỉ
90 ứng viên (5%) đạt tiêu chuẩn. Và trong nhóm này chỉ có 40 người vừa hội đủ trình độ ngoại ngữ và đáp ứng kĩ
năng, yêu cầu làm việc. Đối với các cơ sở đào tạo NNL, muốn đứng vững trong cạnh tranh phải để thị trường đánh
giá chất lượng đào tạo. Các nhà trường cần chuyển đổi theo tư duy đào tạo theo nhu cầu xã hội, tức là dạy những cái
người học và doanh nghiệp đang cần chứ không chỉ dạy những gì mà mình có. Tác động của quy luật cạnh tranh trên
thị trường sức lao động là “mệnh lệnh" để mỗi người, mỗi cơ sở đào tạo không ngừng đổi mới và phát triển theo yêu
cầu của thực tiễn. Ở nước ta thời gian gần đây đang xúc tiến việc xây dựng trưởng đại học đẳng cấp quốc tế, đây là
một chủ trương rất đúng đắn. Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng cần triển khai xây dựng trường cao đẳng nghề đạt
trình độ quốc tế. Bởi lẽ, các trường này là một kênh cung cấp lực lượng lao động kỹ thuật cao trên thị trường trong và
ngoài nước. Bên cạnh đó, cần xây dựng chiến lược cạnh tranh về nhân lực quốc gia với những tiêu chỉ cụ thể theo
từng lĩnh vực, lấy NNLCLC là lực lượng nòng cốt, trên cơ sở đó xây dựng được thương hiệu về chất lượng lao động
Việt Nam trên thị trường lao động khu vực và thế giới.
VẤN ĐỀ 3:
Câu 1. Chứng minh được hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt.
Để hiểu thế nào là hàng hóa sức lao động, chúng ta sẽ đi phân tích sức lao động là gì và những điều kiện nào khiến
sức lao động trở thành một loại hàng hóa. Cụ thể: Sức lao động là khả năng lao động, sản xuất bao gồm cả thể lực và
trí lực. Nó đóng góp một phần không nhỏ, thậm chí là đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận hành, sản xuất ra
các loại sản phẩm, hàng hóa khác.
Và để sức lao động sẽ trở thành hàng hoá khi có những điều kiện sau:
-Thứ nhất, người lao động được tự do và có thể chỉ phối sức lao động của mình. Từ đó, họ dùng sức lao động của
mình để bán, để trao đổi lấy một giá trị khác, có thể là tiền hoặc một loại hàng hoá khác. Do đó, phải đảm bảo không
tồn tại mối quan hệ chiếm hữu nô lệ hay phong kiến để sức lao động có thể trở thành một loại hàng hoá.
- Thứ hai, bản thân người lao động không thể tự lao động sản xuất, nên phải bán sức lao động để phục vụ mục đích
tồn tại và sinh sống.
Khi hai điều kiện trên tồn tại song hành, sức lao động sẽ trở thành hàng hoá như một điều tất yếu
Câu 2 Tại sao nói hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt?
Không giống với những loại hàng hoá thông thường, hàng hoá sức lao động là loại hàng hoá đặc biệt. Hàng hóa sức
lao động cũng có hai thuộc nh: giá trị và giá trị sử dụng. Nhưng so với hàng hóa thông thường thi hàng hóa sức lao
động có những điểm riêng, khác biệt so với các loại hàng hóa khác để có thể khẳng định rằng: Hàng hóa sức lao động
là hàng hóa đặc biệt.
- Trong thuộc tỉnh “ giá trị" - là hàng hóa đặc biệt
lOMoARcPSD| 40551442
+ Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người, nó được hình thành bởi con người với những nhu cầu
phức tạp và đa dạng theo quá tình phát triển của xã hội. Chủ thể của sức lao động là con người và sức lao động có
được phụ thuộc vào nhu cầu thực tế của mỗi con người và phải thỏa mãn những nhu cầu của họ. Nói cách khác, giá trị
hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công
nhân và cuộc sống, gia đình họ.
+ Giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó còn bao gồm cả yếu tố tỉnh thần và lịch sử.
Điều đó có nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còn có những nhu cầu về tinh thần, văn hóa...
Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, đồng thời nó còn phụ thuộc vào cả
điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó.
- Trong thuộc tỉnh “giá trị sử dụng" cũng giống như hàng hóa thông thường khác giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao
động, tức là quá tnh lao động của người công nhân. Nhưng quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa sức lao động
khác với hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa thông thường sau quá trình tiên dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn
giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian. Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động, đó lại là
quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản
thân hàng hóa sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản đã chiếm đoạt. Như vậy, giá tr
sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị
mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. Nói cách khác, hàng hóa sức lao động tạo ra giá trị thặng dư khi được đem vào
sử dụng và chỉ có hàng hóa sức lao động mới có thể tạo ra giá trị thặng dư.
Tóm lại, hàng hoá sức lao động là hàng hoả đặc biệt khi tồn tại đủ hai điều kiện về sự tự do và nhu cầu bán sức lao
động. Để duy trì điều kiện cho hàng hoá sức lao động tạo ra những giá trị thặng dư, người sử dụng lao động phải đáp
ứng những nhu cầu đặc biệt về tâm lý, văn hoá và khu vực địa lý,...
Câu 2. Liên hệ lí luận tiền công của C. Mác với chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay.
a) Lý luận tiền công của C. Mác:
* Bản chất kinh tế của tiền công: Là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, hay giá cả của sức lao
động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động.
- Tiền công không phải là giá cả của lao động bởi vì:
+ Thứ nhất, nhà tư bản trả tiền công cho công nhân sau khi công nhân đã lao động để sản xuất ra hàng hóa cho nhà tư
bản,
+ Thứ hai, tiền công được trả theo thời gian lao động ( giờ, ngày, tuần, tháng), hoặc theo số lượng hàng hóa đã sản
xuất được. Cái mà nhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động mà là sức lao động
. Tiền công không phải là giá cả hay giá trị của lao động, mà chỉ là giá cả hay giá trị của hàng hóa sức lao động.
* Hai hình thức bản của tiền công.
- Tiền công tỉnh theo thời gian: là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít hay nhiều tùy theo thời gian lao
động của người lao động. Muốn đánh giá chính xác mức tiền công không chỉ căn cứ vào tiền công ngày mà phải căn
cứ vào độ dài của ngày lao động và cương độ lao động. Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mức tiền
công tinh theo thời gian.
- Tiền công tinh theo sản phẩm: là hình thức tiền công mà số lượng của nó phủ thuộc vào số lượng sản phẩm
hay số lượng những bộ phận sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc là số công việc đã hoàn thành. * Tiền công
danh nghĩavà tiền công thực tế:
- Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư
bản.- Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua
được bằng tiền công danh nghĩa. Các loại tiền công luôn luôn vận động và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Tiền công danh nghĩa có thể tăng lên hay giảm xuống tùy theo sự biến động trong quan hệ cung - cầu về hàng hóa
sức lao động trên thị trường. Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả của
tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên thì tiền công thực tế sẽ giảm xuống và ngược lại. Mác đã vạch ra xu hướng
chung của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là nâng cao mức tiền công trung bình mà là hạ thấp mức tiền công
ấy. Tiền công là giả cả của sức lao động, nên sự vận động của nó gắn liền với sự biến đổi của giá trị sức lao động.
Lượng giá trị sức lao động chịu ảnh hưởng của các nhân tố tác động ngược chiều nhau: nhân tố tác động làm tăng giá
trị sức lao động và nhân tố tác động làm giảm giá trị sức lao động.
Tuy nhiên, C.Mác đã vạch ra rằng xu hướng chung của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là nâng cao mức tiền
công trung bình mà là hạ thấp mức tiền công ấy. Nhưng sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra như một xu
hướng, vì có những nhân tố chống lại sự hạ thấp tiền công. Một mặt, đỗ là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi
tăng tiền công. Mặt khác, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản ngày nay, do sự tác động của cuộc Cách mạng khoa
học – công nghệ nên nhu cầu về sức lao độngcó chất lượng cao ngày càng tăng đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ
chức lao động cũng như kích thích người lao động bằng lợi ích vật chất. Đó cũng là một nhân tố cản trở xu hướng hạ
thấp tiền công. b) Chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay. Trong các thời kỳ phát triển của đất nước, Việt Nam đã
nhiều lẫn cải cách chính sách tiền công để phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
lOMoARcPSD| 40551442
nhập như hiện nay. Tính đến nay, chính sách tiền công ở nước ta đã đạt được một số thành công nhất định song bên
cạnh đó vẫn còn một số hạn chế.
* Thành tựu:
- Thực hiện tốt việc xác định vị trí việc làm sẽ là cơ sở và căn cứ để tính toán được biên chế công chức phù
hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng quản lý trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị Chính sách tiền công
đều đã được cải thiện( đều cao hơn các năm trước) ở mức lương tối thiểu của các doanh nghiệp, các vùng, của Cơ
quan nhà nước
- Mức lương tối thiểu của vùng cao nhất hiện nay là 2,7 triệu đồng (vùng I) và thấp nhất là 1,9 triệu đồng (vùng
IV), đến năm 2016, mức lương tối thiểu sẽ tăng lên tương ứng là 3,5 triệu đồng (vùng I) và 2,4 triệu đồng (vùng VI)
được quy định tại Nghị định 103/2014/NĐ-CP Nghị quyết 78/2014/QH13 còn quy định về việc điều chỉnh tăng 8%
lương đối với lương hưu, trợ cấp ưu đãi cho người có công và tiền lương đối với cán bộ công chức, viên chức, lực
lượng vũ trang có thu nhập thấp (hệ số lương từ 234 trở xuống). Nghị quyết 99/2015/QH2013 của Quốc hội sẽ tăng
lương cơ sở từ 1.150.000 đồng tháng lên 1.210.000 đồng /tháng đối với cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ
trang, bảo đảm thu nhập của đối tượng có hệ số lương từ 2,34 trở xuống không giảm so với mức đang hưởng Việc
tăng các mức lương như vậy góp phần cải thiện đời sống của người lao động, đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu cho
họ.Tách dẫn tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành chính nhà nước và khu vực sự nghiệp cung
cấp dịch vụ công; chính sách tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội. Đó
là bước ngoặt rất quan trọng trong cải cách tiền lương trong điều kiện mới định hướng thị trường.
*Han ché:
- Tiền lương trả cho CBCCVC được quy định bằng hệ số được tính trên cơ sở tiền lương tối thiểu chung, thang
lương cứng nhắc, lỗi thời và xã rời thực tế; tiền lương chưa được trả đúng với vị trí làm việc, chức danh và hiệu quả
công tác, chất lượng cung cấp dịch vụ công. Theo Bộ Nội vụ, giai đoạn 2016-2020 thực hiện mở rộng quan hệ mức
lương tối thiểu - trung bình - tối đa từ mức 1 - 2,34 - 10 hiện nay lên mức 1 - 3,2 - 15.
- Mức lương tối thiểu: Mặc dù đã qua rất nhiều lần điều chỉnh tăng lương tối thiểu nhưng hiện nay mức lương
tối thiểunước ta vẫn quá thấp không đảm bảo tái sản xuất giản đơn sức lao động. Mức lương tốithiểu hiện nay chỉ
bằng 37,5% nhu cầu tối thiểu (gồm:ăn, ở, mặc, đi lại, học tập, văn hóa, giao tiếp xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm
thất nghiệp). - Thời gian và mức độ điều chỉnh tiền lương danh nghĩa: Lạm phát ở nước ta mặc dù đã có sự kiềm chế
những vẫn giữ mức khá cao qua các năm, để người lao động có điều kiện sống ổn định phải tăng mức lương danh
nghĩa ngang bằng với tốc độ lạm phát. Tuy nhiên, việc điều chỉnh lương vẫn chưa kịp thời và không theo kịp được tốc
độ lạm phát. - Các chế độ phụ cấp lương và chế độ nâng ngạch, bậc, bổ sung chắp vá, ngày càng lý, phá vỡ quan
hệ tiền lương chung. Chế độ nâng ngạch, bậc, xếp lương quá bất cập, không gắn với trình độ chuyển môn, nghiệp vụ
của công việc, chức vụ yêu cầu. Chức danh, tiêu chuẩn cán bộ, công chức, viên chức với công tác đào tạo, bồi dưỡng
thì nâng ngạch công chức, viên chức không gắn với yêu cầu trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công việc đảm nhận,
vừa hình thức vừa gây lãng phí lớn cho ngân sách và chi phí của doanh nghiệp nhà nước.
Chính sách tiền lương dù đã “cải cách" vẫn chưa tạo ra động lực đủ mạnh cho người hưởng lương phát huy tài năng
và cống hiến. Tiền lương thấp không kích thích được CBCCVC gắn bó với Nhà nước, không thu hút được nhân tài;
ngược lại, người làm việc giỏi, người có tài bỏ khu vực nhà nước ra làm việc cho khu vực ngoài nhà nước, nơi có tiền
lương và thu nhập cao, có xu hướng tăng...
* Nguyên nhân của những hạn chế:
Nói chung là có cải cách, có nâng tiền công lên theo thời gian, theo lộ trình... nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế là do:
nhận thức chưa đầy đủ về tinh chất hàng hóa sức lao động cũng như bản chất tiền công, cải cách hành chính còn
chậm, thiếu kiên quyết; tiền lương chưa thực sự là để đầu tư cho người lao động mà chỉ là một khoản chi tiêu cho
nhân công, các lần cải cách luôn bị chi phối bởi khả năng của ngân sách nhà nước... khiến cho tiến công thực tế của
người lao động thấp, đời sống khó khăn.
* Phương hướng giải quyết cơ bản các hạn chế:
Vận dụng linh hoạt, sáng tạo lý luận tiền công của C.Mác trong điều kiện nước ta:
- Tăng tiền công danh nghĩa trước tăng tiền công thực tế, bởi trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh
nghĩa giữnguyên nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên thì tiền công thực tế giảm xuống.
- Chống lạm phát bởi nếu xuất hiện lạm phát, giá cả tiêu dùng dịch vụ tăng lên trong khi mức công không tăng
thì họ không thể mua được tư liệu tiêu dùng, không đảm bảo được đời sống ổn định. - Điều hòa cung – cầu để ổn định
giá cả thị trường, giá cả ổn định để người tiêu dùng có thể chấp nhậndễ dàng và người sản xuất sẽ tái sản xuất nhanh.
- Thực hiện các chính sách thuế phù hợp với từng người lao động.
Câu 3. Đánh giá được tác dụng của việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản.
Chu chuyển tư bản
Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nổ với tư cách là một quả trình định kì đổi mới và thường xuyên lặp đi lặp lại, thì gọi
là chu chuyển tư bản.
Những tư bản khác nhau chu chuyển với vận tốc khác nhau tùy theo thời gian sản xuất và lưu thông của hàng hóa.
lOMoARcPSD| 40551442
Thời gian chu chuyển của tổ bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông.
+thời gian sx là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực 5x. Thời gian sx bao gồm: thời gian lao động, thời gian gián
đoạn lao động, thời gian dự trữ sx.
+Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Thời gian trong lĩnh vực lưu thông gồm thời
gian mua và thời gian bán. Thời gian chu chuyển càng rút ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng dư đc sx ra
nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn.
Tác dụng: Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản có nhiều tác dụng rất quan trọng đối với quá trình sản xuất, kinh doanh
của tư bản, Song chung quy lại là khi tăng tốc độ chu chuyển, thì một lượng tư bản nhất định sẽ được sản xuất ra
nhiều sản phẩm hơn với một lượng giá trị hàng hóa và giá trị thặng dư nhiều hơn. Như vậy nó làm tăng quy mô sản
xuất kinh doanh trên một lượng tư bản nhất định. Đặc biệt tăng tỉ suất giá trị thặng dư hàng năm của tư bản đồng thời
tăng hiệu quả hoạt động của tư bản. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản là một kết quả tổng hợp, là một biểu hiện tập
trung của toàn bộ quá trình nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản. Biện pháp:
Đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ kĩ thuật- công nghệ mới trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông. Hợp lí hóa và nâng cao
trình độ tổ chức và quản lí sản xuất
Nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động
Tăng thời gian sử dụng máy móc thiết bị trong ngày để nhanh chóng khấu hao, đổi mới công nghệ vàgiảm bớt hao
mòn vô hình.
Hiện đại hóa các phương tiện vận chuyển. Đẩy mạnh hoạt động maketing để thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm, từ đó
góp phần thúc đẩy sản xuấtphát triển.
Câu 4. Từ luận điểm về tư bản cố định, tư bản lưu động rút ra được ý nghĩa đối với việc quản lý và sử dụng tài
sản của các doanh nghiệp.
Li thuyết tư bản cố định, tư bản lưu động
Tư bản cố định: là bộ phận tư bản tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó không chuyển hết một
lần vào sản phẩm mà chuyển dần từng phần theo mức độ hao mòn của nó trong thời gian sản xuất.
Đặc điểm của tư bản cố định là về hiện vật, nó luôn luôn cố định trong quá trình sản xuất, chỉ có giá trịcủa nó là tham
gia vào quá trình lưu thông cùng sản phẩm, hơn nữa nó cũng chỉ lưu thông từng phần, còn một phần vẫn bị cố định
trong tư liệu lao động, phần này không ngừng giảm xuống cho tới khi nóchuyển hết giá trị vào sản phẩm. Chính đặc
điểm của loại tư bản này đã làm cho thời gian mà tư bản cố định chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm bao giờ cũng
dài hơn thời gian một vòng tuần hoàn. Tư bản cố định biểu hiện dưới hình thức: tài sản cố định hữu hình( nhà xưởng,
máy móc...) tài sản cố định vô hình( thương hiệu, uy tín doanh nghiệp...). Tư bản cố định đc sử dụng lâu dài trong
nhiều chukì sx và nó bị hao mòn dần trong quá trình sx. Có hai loại hao mòn tư bản cố định là hao mòn hữu hìnhvào
hao mòn vô hình.
Tư bản hai động: là bộ phận thsx tham gia vào quá trình sx mà giá trị của nó được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản
sau mỗi quá trình sản xuất, khi hàng hóa đc bán xong. Tư bản lưu động được biểu hiện dưới các hình thức, nguyên
nhiên vật liệu, sức lao động.
Trên thực tế, trong sản xuất vật chất, thời gian chu chuyển của tư bản cố định thường dài họ so với tư bản lưu động
nên tốc độ chu chuyển của nó cũng thường chậm hơn từ bản lưu động.
Ý nghĩa: Việc phân chia tư bản cố định với tư bản lưu động có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động củadoanh nghiệp
trong việc bảo tồn và tái sản xuất tài sản cố định và lưu động, xác đnh những chi phí hình thành sản phẩm hàng hóa.
Câu 5. Liên hệ được các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường ởViệt
Nam.
Lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất 1, Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận a, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa b,
lợi nhuận tỉ suất lợi nhuận
2, sự hình thành tỷ suất lợi nhuận binh quân và giá cả sản xuất a,
cạnh tranh trong nội bộ ngành và sự hình thành giá cả thị trường
b, cạnh tranh giữa các ngành và sự hình thành tỷ suất lợi nhuận c,
sự hình thành giá cả sản xuất
II Hình thái tư bản và lợi nhuận của chúng
1, tư bản thương nghiệp và lợi nhuận thương
nghiệp a, nguồn gốc tư bản thương nghiệp b, lợi
nhuận thương nghiệp
2, tư bản cho vay và lợi tức cho
vay a, sự hình thành tư bản cho
vay b, lợi tức và tỉ suất lợi tức
3, công ty cổ phần, tư bản giá và thị trường chứng khoán
a, công ty cổ phần
b, tư bản giả
lOMoARcPSD| 40551442
c, thị trường chứng khoản
4, tư bản kinh doanh nông nghiệp và địa tô tư bản chủ nghĩa
a, tư bản kinh doanh nông nghiệp
b, bản chất của đa tô tư bản chủ nghĩa c, các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa
Thực trạng. Trong học thuyết của C. Mác, có hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất giá trị thặng dư
tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Tuy nhiên, Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, nên phương
thức tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối (tạo ra do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu trong
khi năng suất lao động xã hội, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi) không được sử dụng,
thời gian lao động không bị kéo quá 8 tiếng một ngày hay 48 tiếng một tuần theo điều 68 của bộ luật Lao Động. Gạt
bỏ đi mục đích và nh chất của tư bản thì có thể áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối (tạo ra do
rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời gian lao động
thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ) và biển tẩu của nó – giá trị thặng dư siêu ngạch
(phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá
trị thị trường của nó) vào nền kinh tế Việt Nam. Trước đổi mới, các doanh nghiệp Việt Nam đều là doanh nghiệp nhà
nước được nhà nước bao cấp hoàn toàn. Sản phẩm làm ra theo định lượng của nhà nước, thậm chí là còn không cần
biết đến việc sản phẩm đó tạo ra có đúng theo nhu cầu của thị trường hay không. Vì thế mả nền kinh tế trì trệ. Sau đổi
mới năm 1986, các doanh nghiệp nhà nước không còn hoàn toàn được nhà nước bao cấp nữa mà bắt đầu phải tự chủ,
bước vào nền kinh tế thị trường đồng thời, các doanh nghiệp tư nhân đầu tiên cũng ra đời. Tiếp đến, sự tràn vào của
hàng hóa các nước khác, đặc biệt là hàng Trung Quốc giá rẻ đã tạo nên một áp lực lớn đối với các doanh nghiệp trong
nước.Áp lực này buộc họ phải đổi mới công nghệ nhằm tăng sức cạnh tranh để có thể tồn tại và đứng vững trong nền
kinh tế thị trường. Để tạo ra được nhiều giá trị thặng dư, các doanh nghiệp bắt đầu chuyên môn hóa trong việc sản
xuất sản phẩm, phân chia công đoạn chi tiết, đầu tư vào việc mua lại công nghệ và máy móc, áp dụng các phương
thức quản lí mới. Ban đầu, với lượng kinh phi còn hạn hẹp, họ mua lại những công nghệ và máy móc cũ đã lỗi thời ở
các nước phát triển với giá thành rẻ, rồi dần dẫn chuyển đổi sang những công nghệ mới hiện đại hơn. Đồng thời, khi
Việt Nam còn chưa có nguồn nhân lực tri thức cao, các chuyên gia nước ngoài cũng được mời về để chuyển giao công
nghệ. Sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với các đối thủ mới (các công ty xuyên quốc
gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh cao), phải cạnh tranh quyết liệt
trong điều kiện mới (thị trường toàn cầu với những nguyên tắc nghiêm ngặt của định chế thương mại và luật pháp
quốc tế). Vì vậy, việc đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực lại càng trở thành nhu cầu cấp bách khi cạnh
tranh để tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn. Điển hình là cuộc chạy đua về cung cấp công nghệ 3G giữa ba tập đoàn
Vinaphone, Mobiphone và Viettelcho thấy mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện nay. Ngày 12/10/2009
vinaphone chính thức ra mắt, thì đến 15/12/2009 Mobiphone cũng bắt đầu triển khai dịch vụ này. Chậm nhất là
Viettel với dịch vụ được bắt đầu từ ngày 25/3/2010, nhưng lại mở đầu bằng chiến dịch khuyến mãi lớn, mà theo đó,
Viettel cho phép khách hàng dùng 3G Mobile Intemet với mức khởi điểm thấp nhất là 10.000 đồng/tháng, khuyến mãi
50% cước đăng ký 3G và miễn cước hòa mạng cho các thuê bao trả sau D- Com 3G... Ngay lập tức, Mobi tái khẳng
định chiến lược “3G cho mọi người" với gói cước Mobile Internet cho người sử dụng có thu nhập thấp, khởi điểm chỉ
với 5.000 đồng/tháng (gói M5). Việc kéo người dùng sử dụng dịch vụ của các nhà mạng là nhằm mục đích tạo ra giá
trị thặng dư (lợi nhuận) cho doanh nghiệp. Không thể hiện rõ như chạy đua về công nghệ, việc đào tạo và tìm kiếm
những nhà quản lí, những nhà chiến lược tài ba cũng là mối quan tâm lớn của các doanh nghiệp. Không ít những
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay sẵn sàng trả cho nhân viên của mình hàng chục ngàn Euro mỗi năm để có được
những chiến lược mới giúp doanh nghiệp tạo ra được nhiều lợi nhuận hơn bởi ngày nay lao động trí tuệ, lao động
quản lý đã trở thành những hình thức lao động có vai trò lớn. Khu vực dịch vụ, các hàng hóa phi vật thể, vô hình
chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế.
2. Hạn chế: Tuy nhiên không thể không thấy rõ những mặt hạn chế khi công nghệ của Việt Nam dù đã được cải tiến
rất nhiều nhưng vẫn còn thua kém rất nhiều so với các nước phát triển, do phần lớn các công nghệ này vẫn còn là
công nghệ đã không còn được sử dụng ở nước ngoài mà được bán lại với giá thành rẻ. Và với những doanh nghiệp có
nguồn lực hạn hẹp, thì sau khi đổi mới công nghệ một lần thì họ phải chờ một quãng thời gian khá dài mới có thể huy
động tiền để tiếp tục đổi mới công nghệ trong khi khoa học kĩ thuật đang biến đổi từng ngày.Thêm nữa, tuy ngân sách
nhà nước và tiền của các doanh nghiệp đầu tư cho vấn đề con người là rất lớn nhưng hiện nay số người có khả năng
đáp ứng yêu cầu tuyển dụng vẫn còn thấp, bởi đầu tư vào giáo dục vẫn chưa đem lại hiệu quả. Điều này có thể thấy rõ
ở việc tuyển dụng của Intel tại Việt Nam năm 2008 với chỉ tiêu là 4000 nhân viên nhưng cuối cùng kết quả tuyển
dụng đã gây ra một sự thất vọng lớn. 3. Giải pháp: Các doanh nghiệp trong nước cần cố gắng hơn nữa trong việc thay
đổi công nghệ. Hiện nay có nhiều doanh nghiệp trong nước đã tiến hành hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài
trên cơ sở hai bên cùng có lợi, vừa giúp doanh nghiệp nước ngoài làm quen nhanh chóng hơn với nền kinh tế trong
nước, vừa tạo điều kiện giúp doanh nghiệp trong nước có được những công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất. Vấn
đề nguồn lực vẫn là vấn đề cần được trọng tâm trong thời gian tới. Việc nâng cao chất lượng dạy và học, giảm dần
khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế là vô cùng cần thiết để tránh hiện trạng có cầu mà không có cung như hiện nay.
VẤN ĐỀ 4
lOMoARcPSD| 40551442
Câu 1. Làm rõ được những nét khác biệt căn bản của CNTB độc quyền với CNTB tự do cạnh tranh.
Chủ nghĩa tư bản độc quyền giáo trinh cũ trang 93
+kn, nguyên nhân, bản chất
+đặc điểm: -sự tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính
Xuất khẩu tư bản
Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc quyền quốc tế.
Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa cường quốc đế quốc Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh
BƯỚC CHUYỂN GIAI ĐOẠN TỪ CNTB CẠNH TRANH TỰ DO SANG
Logic của sự phát triển:
Tự do cạnh tranh — Tích luỹ tư bản — Tích tụ, tập trung tư bản — Tích tụ sản xuất — Ra đời các tổ chức độc quyền.
Lịch sử diễn ra bước chuyển: .
Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
- Khoa học kỹ thuật phát triển nhanh.
- Khủng hoảng kinh tế.
- Cạnh tranh khốc liệt.
- Các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản.
- Sự phát triển mạnh mẽ của các công ty cổ phần và quan hệ tín dụng
Vấn đề 5
Câu 1. Làm rõ được những nét khác biệt căn bản giữa kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
*Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: giáo trình mới trang 107 (là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo
quy luật của kinh tế thị trưởng vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ
nghĩa xã hội)
Nét khác biệt giữa kinh tế thị trưởng định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Về mục tiêu:
Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế
Về quan hệ quản lí nền kinh tế
Về quan hệ phân phối
Về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội
* Kinh tế thị trưởng: Trong một nền kinh tế, khi các nguồn lực kinh tế phải được phân bổ bằng nguyên tắc thị trường
thì người ta gọi đó là kinh tế thị trường.
- Các chủ thể kinh tế độc lập, nghĩa là có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, lỗ, lai tự chủ.
- Giá cá cơ bản do cung cấu điều tiết, hệ thống thị trường hát triển đồng bộ và hoàn hảo.
- Nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo quy luật vốn có của kinh tế thị trưởng như quy luật, giá trị cung cầu,
cạnh tranh.
- Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Đặc trưng cơ bản nhất của kinh tế thị trường là
sựtồn tại của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, đa dạng các loại hình doanh nghiệp trong điều kiện
phân công lao động xã hội ngày càng phát triển. Những đặc trưng này tự nó không mang tính chất tư bản chủ nghĩa.
* Xã hội chủ nghĩa:
- Chế độ sở hữu: có 3 hình thức sở hữu:
+ Sở hữu toàn dân: Các nông trường quốc doanh quy mô lớn
+ Sở hữu tập thể
+ Sở hữu từ nhân
Trên cơ sở 3 chế độ sở hữu trên, hình thành nhiềunh thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước,
kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài. Trong đó sở hữu nhà nước (sở hữu toàn dân) đóng vai trò chủ đạo và quyết định đến nền kinh tế của đất nước.
Về lâu dài, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc
dân.) => Mục tiêu không vì lợi nhuận
- Hệ thống giá trị: Hệ thống giá cả không theo thị trường và được quyết định bởi ý muốn chủ quan của nhà nước.
Tồn tại 2 loại giá:
+ Giá trị sản xuất: được dùng để cá nhân sản xuất trao đổi với nhau, vào giữa các nhà sản xuất với các thương nghiệp.
Mức giả này được nhà nước đặt ra dựa theo một tiêu ổn định kinh tế, nên đôi khi không giá trị của hàng hóa.phản ánh
đúng
- Hệ thống kinh tế: Hệ thống kinh tế hoặc điều tiết các hoạt động KT – XH nên tập trung phân bốnguồn lực phát ra từ
mệnh lệnh tử trên xuống dưới. - Cơ sở điều tiết hoạt động kinh tế: Quyền làm chủ tập thể, mình vì mọi người và mọi
lOMoARcPSD| 40551442
người vì mìnhnên cơ chế này sẽ dễ dàng làm xã hội tiến lên hoặc lùi là phụ thuộc vào xã hội đó có tốt hay không. -
Chế độ quản lý. Có sự can thiệp một cách toàn diện của chính phủ vào hoạt động kinh tế.
Nhà nước nằm trong lòng xã hội chủ nghĩa. Chính phủ là chủ quán các hoạt động KTXH.
Chính phủ là chủ sở hữu các lĩnh vực ngân hàng – tài chính.
Vấn đề 6
Câu 1. Đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam hiện nay.
Thành tựu đạt được: Công nghiệp hóa trước đổi mới diễn ra theo mô hình của Liên Xô, chỉ đến khi, khởi đầu là đối
mới tư duy kinh tế và nhất là từ Đại hội VIII (1996), công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta mới được
xác định một cách đầy đủ. Trong 35 năm đổi mới, đặc biệt sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011, nhận thức của
Đảng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã có những bước phát triển mới về cả nội dung và phương thức
thực hiện. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã
xác định: “Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành công
nghiệp có lợi thế". Đại hội Đảng XI (năm 2011) đã bổ sung thêm Cơ cấu lại nền công nghiệp theo hướng phát triển
nhanh, hiệu quả, bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế, từng bước có khả năng tham gia sâu, có
hiệu quả vào mạng sản xuất và phân phối toàn cầu, Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn;
Phát triển hợp lý công nghiệp sử dụng nhiều lao động, góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động”.
Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, đưa nước ta từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình
thấp và ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới; đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, vị thế
và uy tin của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đóng góp vào những thành quả to lớn này của
phát triển đất nước có vai trò hết sức quan trọng của ngành Công Thương với việc Việt Nam đã và đang dần khẳng
định được vị thế là một trong những trung tâm sản xuất công nghiệp của khu vực và của thế giới.
Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia có nền công nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu
(CIP) ở mức khá cao, thuộc vào nhóm các quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp trung bình cao với vị trí thứ
44 trên thế giới vào năm 2018 theo đánh giá của UNIDO. Theo đó, trong giai đoạn 1990-2018 đã tăng 50 bậc và giai
đoạn 2010-2018 tăng 23 bậc, tăng nhanh nhất trong các nước thuộc khu vực ASEAN và đã tiệm cận vị trí thứ 5 của
Philipphin (chi thua 0.001 điểm), tiến gần hơn với nhóm 4 nước có năng lực cạnh tranh mạnh nhất trong khối.
Công nghiệp là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân với đóng góp xấp xỉ 30%
GDP và trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước, góp phần đưa Việt Nam lên vị trí thứ 22 quốc gia xuất khẩu
lớn nhất thế giới vào năm 2018. Một số ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn theo định hướng chiến
lược của ta đã trở thành các ngành công nghiệp lớn nhất đất nước, qua đó đưa nước ta cơ bản đã hội nhập thành công
vào chuỗi giá trị toàn cầu với sự dẫn dắt của một số doanh nghiệp công nghiệp lớn như điện tử, dệt may, da giầy...
Trong tổng số 32 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 1 tỷ USD vào năm 2019 hàng công nghiệp chiếm 29/32
mặt hàng và 5/5 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD (điện tử, dệt may, da giày, đồ gỗ, máy móc, thiết
bị). Một số ngành công nghiệp hiện có vị trí vững chắc trên thị trường thế giới hiện nay như dệt may (đứng thứ 7 về
xuất khẩu), da giảy (thứ 3 về sản xuất và thứ 2 về xuất khẩu), điện từ (đứng thử 12 về xuất khẩu, trong đó một thùng
điện thoại di động đứng thứ 2 về xuất khẩu), đỗ gỗ (đứng thứ 5 về xuất khẩu).
Theo xếp hạng doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2019, trong số 10 doanh nghiệp lớn nhất thì có tới 8/10 doanh
nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, trong đó 7/10 doanh nghiệp nội địa ; chiếm 5/10 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất cả
nước . Các doanh nghiệp công nghiệp lớn của Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực dầu khí, điện, khoảng sản, ô
tô, thép, sữa và thực phẩm.
Bên cạnh đó, quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao
động đã đi vào thực chất hơn, ngày càng hướng vào lỗi công nghiệp hóa. Theo đó, công nghiệp tiếp tục duy trì là
ngành có năng suất lao động cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân với tỷ trọng trong GDP tăng từ 26,63% năm
2011 lên 27,81% năm 2015 và 28,55% năm 2019.
Cơ cấu nội ngành công nghiệp đã chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai khoáng (từ 36,47%
năm 2011 xuống còn 25,61% năm 2019) và tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo (từ 49,82% năm 2011 lên
54,57% năm 2019) và trở thành động lực tăng trưởng chính của ngành công nghiệp (ước VA tăng 10,99% giai đoạn
2011-2020 và 12,64% giai đoạn 2016-2020).
Cơ cấu công nghệ trong ngành công nghiệp đã có nhiều thay đổi theo hướng tiếp cận công nghệ tiên tiến, hiện đại
hơn với sự dịch chuyển mạnh từ các ngành thâm dụng lao động như dệt may.da giày sang các ngành công nghiệp
công nghệ cao như máy vi tính, sản phẩm điện tử, điện thoại.
Đầu tư cho phát triển công nghiệp ngày càng được mở rộng, trong đó, đầu tư FDI trở thành động lực chính của phát
triển công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu phát triển các ngành công nghiệp nước ta theo hưởng hiện đại (chiếm tỷ
trọng xấp xỉ 70% tổng vốn đầu tư FDI vào các ngành kinh tế, trong đó, đầu tư vào công nghiệp chế biến, chế tạo
chiếm tỷ trọng lớn nhất với xấp xỉ 60%).Đầu tư FDI có vai trò to lớn trong việc hình thành một số ngành công nghiệp
chủ lực của nền kinh tế như viễn thông; khai thác, chế biến dầu khí; điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng, dệt
may, da giày... tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng dài hạn, cũng như thúc đẩy quá trình hiện đại hóa, công
lOMoARcPSD| 40551442
nghiệp hóa đất nước. Chẳng hạn, các dự án đầu tư quan trọng của một số công ty đa quốc gia hàng đầu bao gồm Tập
đoàn Samsung, Tập đoàn Intel, LG... đã chọn Việt Nam làm nơi sản xuất các sản phẩm điện tử như điện thoại đi động
và máy tính bảng để xuất khẩu trên toàn thế giới đã đưa ngành điện tử Việt Nam với xuất phát điểm gần như bằng 0
vào những năm trước 2010 lên thành ngành xuất khẩu lớn nhất của đất nước trong giai đoạn hiện nay (đứng thứ 2 thế
giới về xuất khẩu điện thoại di động). Trong vài năm trở lại đây, dòng vốn FDI đang dịch chuyển sang các ngành,
nghề có giá trị gia tăng cao hơntrong các ngành, lĩnh vực trụ tiên là công nghệ cao, công nghệ thông tin và truyền
thông (ICT), chế tạo. chế biến, công nghiệp hỗ trợ và nông nghiệp... và giảm dần trong một số ngành thẩm dụng lao
động. Để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công
nghiệp, trong đó một số ngành công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; tầm
nhìn đến năm 2045, Việt
Nam trở thành nước công nghiệp phát triển hiện đại, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày
22/3/2018 về đnh hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2045.
Trong đó, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng đối với chính sách công nghiệp quốc gia là phải gắn liền với chính
sách phát triển các ngành kinh tế khác, đặc biệt là chính sách thương mại quốc gia, tài chính – tiền tệ, khoa học, công
nghệ, đào tạo, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch phát
triển các ngành công nghiệp với chiến lược tổng thể phát triển công nghiệp, giữa chiến lược, quy hoạch phát triển các
ngành công nghiệp với chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành kinh tế khác để hình thành các vùng công nghiệp,
cụm liên kết ngành công nghiệp, khu công nghiệp, các mạng sản xuất, chuỗi giá trị công nghiệp, trong đó cụm liên
kết ngành công nghiệp là trọng tâm. Kết hợp hài hoà giữa phát triển công nghiệp theo cả chiều rộng và chiều sâu, chủ
trọng phát triển theo chiều sâu, tạo bước đột phá trong nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm
công nghiệp. Tận dụng tối đa lợi thế của nước đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng khai thác triệt để thành tựu của
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, lợi thế thương mại để phát triển nhanh, chuyên sâu một số ngành công nghiệp
nền tảng, chiến lược, có lợi thế cạnh tranh. Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp điện từ là con
đường chủ đạo; phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo là trung tâm; phát triển công nghiệp chế tạo thông minh là
bước đột phá; chứ trọng phát triển công nghiệp xanh.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, trong thời gian tới ngành Công Thương sẽ tiếp tục tích cực triển khai thực
hiện, cụ thể hóa các đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo môi trường pháp lý binh đẳng và minh bạch cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế cạnh tranh, phát triển, khơi thông các nguồn lực trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài, quyết tâm sớm
đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Hạn chế:
Tuy nhiên, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam còn chưa hoàn thiện. Mô hình tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chủ yếu theo chiều rộng, dựa nhiều vào khai thác từ nhiên và lao động phổ thông giá
rẻ, chuyển đổi chậm. Các nguồn lực vốn, lao động, đất đai, tài nguyên khoa học - công nghệ còn chưa được huy động,
phân bổ hợp lý, sử dụng có hiệu quả. Năng suất, chất lượng hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh
nghiệp và của nhiều sản phẩm của ViệtNam còn thấp. Nền công nghiệp có bước phát triển, nhưng quy mô còn nhỏ,
trình độ còn thấp. Sản xuất công nghiệp chủ yếu là gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; trình độ công nghệ còn lạc
hậu, phần lớn là của thời kỳ cách mạng công nghệ 2.0, chậm được đổi mới; năng suất lao động của Việt Nam chưa
bằng 1/5 của Xin-ga-po, 1/3 của Thái Lan, 12 của Phi-lip-pin; năng lực cạnh tranh, khả năng tham gia chuỗi giá trị
toàn cầu rất hạn chế. Nội lực của nền công nghiệp yếu, phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI); tỷ lệ nội địa hóa trong sản phẩm do doanh nghiệp FDI sản xuất thấp. Việc cơ cấu lại các ngành sản
xuất công nghiệp còn chậm. Công nghiệp hỗ trợ kém phát triển; chưa có những ngành công nghiệp mũi nhọn có vai
trò dẫn dắt nền kinh tế; nhiều ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển nhưng không đạt được mục tiêu đề ra. Các
sản phẩm công nghệ cao, như điện thoại di động, máy tính, các linh kiện, thiết bị điện tử phần lớn là do các doanh
nghiệp FDI sản xuất. Công nghệ thông tin, viễn thông phát triển nhanh nhưng chủ yếu là nhập khẩu thiết bị để kinh
doanh dịch vụ. Công nghiệp phần mềm khá phát triển cũng chỉ chủ yếu là gia công cho nước ngoài. Hệ thống kết cấu
hạ tầng chưa đồng bộ. Chất lượng nghiên cứu, đào tạo của các viện nghiên cứu khoa học, các trường đại học, dạy
nghề còn hạn chế; ít có công trình được công bố, ít sáng chế được bảo hộ quyền sở hữu, ít đại học được xếp hạng cao
trong khu vực; thiếu lao động có tay nghề cao, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, thiếu các chuyên gia lành nghề,
nhất là thiếu các tổng công trinh sự có khả năng thiết kế, chế tạo những sản phẩm công nghiệp lớn, trình độ cao,...
Câu 2. Đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam
hiện nay.
Thực hiện chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, những năm qua, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt
một tầm cao mới. Tiến trình hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng nâng tầm thế và lực cho Việt Nam trong phát
triển kinh tế - xã hội và nâng cao thu nhập cho người dân; tạo sức ép và điều kiện để tích cực hoàn thiện thể chế kinh
lOMoARcPSD| 40551442
tế; nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm... Tuy nhiên, tiến trinh hội nhập cũng
mang lại nhiều thách thức đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Thành tựu
Chủ động đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế toàndiện Trong hơn 30 năm đối mới, các chủ trương cơ bản về hội nhập
kinh tế quốc tế (HNKTQT) được đề cập tại nhiều nghị quyết, chỉ th quan trọng của Đảng và Nhà nước, cụ thể tại
Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế (trong đó xác định
HNKTQT là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế) và Nghị quyết số
06NQ/TW ngày 5/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về thực hiện có hiệu
quả tiến trình HNKTQT, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương
mại tự do (FTA) thế hệ mới.
Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và ban hành các chương trinh, hành động phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ và đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương và được triển khai rộng rãi với nhiều hình thức phong phủ;
Tăng cường thực thi hiệu quả các FTA mà Việt Nam đã ký kết, góp phần đưa kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và
bền vững.
Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, công tác HNKTQT của Việt Nam đang phải
đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nổi lên rõ nét hơn. Mất cân đối thương mại
toàn cầu vẫn chưa được cải thiện, làm gia tăng xung đột thương mại, cạnh tranh chiến lược và cọ sát kinh tế, đặc biệt
giữa các nền kinh tế chủ chốt... Mặc dù, tình hình kinh tế thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường,
nhưng Việt Nam vẫn kiên trì chủ trương HNKTQT toàn diện với trọng tâm là HNKTQT, coi HNKTOT và tự do hóa
thương mại là xu thế tất yếu khách quan. Một số thành tựu của tiến trình HNKTQT toàn diện của Việt Nam gồm.
Một là, HNKTQT đã góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nền kinh tế Việt Nam từng bước được cơ cấu
lại gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế được tăng cường, nguồn nhân lực để cung
ứng cho phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) ngày càng phát triển. Mỗi trưởng đầu tư kinh doanh được cải thiện, minh
bạch, bình đẳng hơn, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên.
Việt Nam được nhiều tổ chứcquốc tế đánh giá là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực
cũng như trên thế giới và có triển vọng tốt nhờ kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo
đảm, lạm phát được kiểm soát, tạo môi trường, động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Quy mô kinh tế Việt Nam năm
2019 dự báo đạt 5,5 triệu tỷ đồng, tương đương 240,5 tỷ USD, gấp trên 1,3 lần so với năm 2015, hiện đứng thứ 44
trên thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 theo sức mua tương đương.
Hai là, HNKTQT tác động mạnh đến tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH. GDP bình quân đầu người
tăng từ 2.109 USD (năm 2015) lên 2.587 USD (năm 2018), khoảng 7.650 USD theo sức mua tương đương. Đặc biệt,
sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong năm 2007,
tăng trưởng GDP đạt 8,46% (mức cao nhất trong vòng 11 năm trước đó). Tuy nhiên, 4 năm sau đó, do ảnh hưởng từ
những biến động của kinh tế thế giới, nên tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2011 - 2013 giảm xuống còn 5,6%. Đáng
chú ý những năm tiếp theo, kinh tế khởi sắc hơn. Cụ thể, năm 2014 đạt 5.98%, năm 2015đạt 6,68%; 2016 đạt 6,1%,
năm 2017 GDP đạt 6,81%, năm 2018 đạt 7%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 240 tỷ USD, bình quân đầu người đạt
2.540 USD, mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm qua (2008-2018).
Ba là, HNKTQT thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam phát triển mạnh giúp gia tăng kim ngạch
xuất nhập khẩu (XNK), mở rộng thị trường đa dụng các loại hàng hóa tham gia XNK. Việt Nam đã trở thành một bộ
phận của nền kinh tế toàn cầu với tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đạt gần 480 tỷ USD, gấp gần 2 lần GDP. Từ
chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cânbằng XNK, thậm chí là xuất siêu. Việt Nam hiện đã có
quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Là thành viên của WTO, Việt Nam đã được 71 đối tác
công nhận là nền kinh tế thị trường, nhiều sản phẩm dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có
yêu cầu về chất lượng như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Mỹ...
Bốn là, HNKTQT sâu rộng hơn góp phần đưa Việt Nam trở thành một “mắt xích” quan trọng trong mạng lưới các
liên kết kinh tế với các nền kinh tế hàng đầu thế giới (gồm 12 FTA đã ký và đang thực thị; 2 Hiệp định đã ký kết, 4
FTA đang đàm phán bảo đảm cho kết nối thương mại tự do, ưu đãi cao với 60 nền kinh tế, chiếm 90% kim ngạch
thương mại của Việt Nam); đồng thời, tạo động lực mới và cả “sức ép” mới để thúc đẩy mạnh mẽ hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Môi
trường pháp lý, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước được cải cách theo hướng ngày càng phủ hợp với các
cam kết tiêu chuẩn cao trong các FTA và ngày càng minh bạch hơn, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước
ngày cảng thông thoáng hơn, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế cao của khu vực và thế giới.
Năm là, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Hội nghị Liên Hợp quốc về
thương mại và phát triển đánh giá, Việt Nam nằm trong 12 quốc gia thành công nhất về thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI). Hiện nay, có gần 26.000 doanh nghiệp (DN) FDI đang hoạt động ở Việt Nam, với số vốn cam kết
đầu tư trên 330 tỷ USD đến từ gần 130 quốc gia và đối tác. Vốn FDI vào Việt Nam chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn
xã hội. Các đối tác đã cam kết viện trợ hơn 3 tỷ USD cho Việt Nam trong giai đoạn 2018-2020. Việt Nam từng bước
trở thành một trong những công xưởng của thế giới về cung ứng hàng điện tử, dệt may, da giầy, điện thoại di động..
Han ché
lOMoARcPSD| 40551442
- Chính sách, pháp luật về HNKTQT còn thiếu và chưa đồng bộ. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị
quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về HNKTQT chưa nghiêm và quyết liệt. Trình độ năng lực điều hành, quản
lý kinh tế của DN trong nước còn yếu kém. Hạn chế đỏ tác động tiêu cực tới việc làm tăng nguồn lực cho phát triển
KT-XH đất nước.
- Chiến lược HNKTQT chưa toàn diện, dẫn đến chưa tận dụng được hết lợi ích của HNKTQT trong thực hiện
các mụctiêu phát triển KT-XH đất nước. Trong một số trường hợp, HNKTQT còn bị động, chưa phù hợp với thực
trạng phát triển đất nước, chưa phát huy được đầy đủ các hiệu quả và lợi ích của hội nhập mang lại.
- Trong nền kinh tế còn tồn tại một số hạn chế nội tại như: Cân đối vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế
chưa vữngchắc; Môi trường đầu tư kinh doanh và năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện; Thủ tục hành chính còn
nhiều vướng mắc; Tinh hình sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn; Số lượng DN giải thể, ngừng hoạt động lớn;
Năng lực tài chính, quản trị của phần lớn DN trong nước còn han ché...
- Một bộ phận đầu mỗi về HNKTQT tại một số bộ, ban, ngành và địa phương còn chưa chú trọng đến khâu
phối hợp và tham vẫn với các chương trình hành động về HNKTQT. Chính vì vậy, việc triển khai công tác HNKTQT
chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Giải pháp thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế Thủ nhất, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và chỉ có thể thành
công khi có sự tham gia hưởng ứng của các DN và người dân. Do vậy, cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành cần
quyết liệt vào cuộc, để tiếp tục đẩy mạnh HNKTQT trên tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội
nhập quốc tế; Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 và các nghị quyết,
chương trinh hành động, kế hoạch công tác hội nhập của Chính phủ.
Thứ hai, cùng với đẩy mạnh các hoạt động thương mại, đầu tư, Việt Nam cần nâng cao năng lực phòng chống, giải
quyết, xử lý các tranh chấp, khiếu nại, khiểu kiện về thương mại, đầu tư quốc tế, trong đó chú trọng đào tạo, bồi
dưỡng, phát triển đội ngũ luật sư, cán bộ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đảng của người dân và
DN.
Thứ ba, nhận diện các động thái, xu hướng phát triển lớn của thế giới, từ đó có điều chỉnh đúng đắn, kịp thời trong
chiến lược phát triển, tận dụng triệt để những cơ hội mới mở ra. Tại phiên họp thứ nhất năm 2019 (tháng 6/2019), Ban
Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế đã đề nghị: Các bộ, ngành, địa phương cần coi trọng, tăng cường
nghiên cứu, đánh giá, dự báo các vấn đề mới của HNKTQT tác động tới Việt Nam...
Thứ tư, cần nắm bắt cơ hội và nhận diện rõ những thách thức của các FTA để có hội nhập phù hợp song không để bị
lệ thuộc và bị cuốn theo các trào lưu ngắn hạn, các xu hướng loại trừ và hình thành những liên kết khép kín trong làn
sóng FTA. thứ năm, thiết lập một nền kinh tế thị trường đầy đủ, minh bạch và hiện đại vừa là mục tiêu vừa là yêu cầu
của hội nhập. Để có được điều này cần có những chính sách cùng cổ quyền sở hữu nhằm thúc đẩy đầu tư dài hạn;
thực hiện hiệu quả cải cách hành chính công nhằm tăng tính minh bạch, giảm quan liêu và hạ chi phí giao dịch vốn có
ảnh hưởng không nhỏ đến các DN nhỏ và vừa.
Thứ sáu, tạo điều kiện thuận lợi, phát huy hơn nữa vai trò của địa phương, của DN trong công tác HNKIOT. Dư địa
phát triển lớn nhất nằm ngay trong sự nỗ lực không ngừng, sức sáng tạo của mỗi ĐN, mỗi người dân. Địa phương.
DN là chủ thể trung tâm của hội nhập, phải được thụ hưởng thành quà của hội nhập. DN, người dân phải chủ động
hơn, thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về hội nhập, không để nh trạng vi phạm
quy định pháp luật tiếp diễn, ảnh huing den ay tin và hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.
CÂU HỎI
1. Phân tích tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa của quy luât gị á trị? Vân  ụng vào
tình hình thực tiễn ở Viêt Nam?
Điều tiết sản xuất:
Nếu măt  àng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy, lãi cao thì những ng sản xuất hàng hóa đó sẽ
mở rông quy mô sản xuất, đ
ầu tư thêm tư liêu sản xuất  à sức lao đông. Mặ t k ác, những ng sản
xuất hàng hóa khác sẽ chuyển hướng sang sản xuất hàng hóa này để thu lãi cao. Do đó TLSX và sức lao đông 
ngành này tăng lên, quy mô sản xuất càng được mở rông.
Ngược lại, nếu măt  àng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, ng sản xuất xẽ bị lỗ vốn. Tinh hình đó buôc người ta p
ải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc chuyển sang sản xuất măt  àng khác có lãi hơn, làm cho tư liêu sản xuất  à
sức lao đông  ở ngành này giảm đi.
Trong TH măt  àng nào đó có giá cả bằng giá trị thì ng sản xuất có thể tiếp tục sản xuất măt  àng này.
Như vây, quy luậ t gị á trị đã tự đông đ ều tiết tỷ lê phân chia tư liệ u sản xuất à sức lao
đông  ào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Điều tiết lưu thông hàng hóa: Thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, nhờ đó, góp phần làm
cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định. Vân  ụng:
Thị trường gạo VN những năm gần đây là minh chứng cho tác đông đị ều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa của
quy luât gị á trị. Nhìn lại quá trình tham gai thị trường gạo TG, có thể thấy đến năm 2007, kinh tế VN mới chính
lOMoARcPSD| 40551442
thức hôi nhậ p  ào kinh tế toàn cầu, nhưng người nông dân sản xuất gạo VN đã tham gia thị trường lúa gạo
TG trước đó 2 thâp  ỉ. VN đã trở thành quốc gia cung cấp gạo quan trọng trên thị trường TG.
Trong giai đoạn 1989-2008 VN đã xuất khẩu gạo sang 128 nước trên TG, trên 3 triêu  ấn gạo. Trong năm 2009,
xuất khẩu gạo đã tăng vọt lên hơn 6 triêu  ấn. Đến năm 2010, xuất khẩu gạo tiếp tục đạt kỷ lục mới về cả số
lượng và trị giá với 6,75 triêu  ấn và thu được 3 tỷ USD.
Nhìn vào những thành công trong xuất khẩu gạo của nước ta, có thể thấy rõ sự tác đông c
ủa quy luât gị á
trị vào nền kinh tế. Xét riêng trong TH này là trong lưu thông hàng hóa. Do nguồn cung cấp gạo trên TG bị thiếu hụt,
nhiều nước muốn nhâp k ẩu gạo, giá gạo được đẩy lên cao, những nhà đầu tư sẽ chung chuyển gạo từ nơi có
giá thấp đến nới giá cao, làm cho lưu thông hàng hóa thông suốt, góp phần làm thị trường gạo trên TG có sự cân băng
nhất định.
2. Phân tích tác dụng thúc đy LLSX của quy luât gị á trị trong nền sản xuất hàng hóa? Vân 
ụng vào tình hình thực tiễn ở nước ta hiên nay?
Trong sản xuất hàng hóa, trao đổi hàng hóa theo giá trị xã hội vì thế ng nào sản xuất hàng hóa có giá trị cá biêt n
ỏ hơn giá trị xã hội thì sẽ thu lãi, những ng sản xuất hàng hóa có giá trị cá biêt  ớn hơn giá trị xã hội thì phải chịu lỗ.
Do vây, mụ ốn tồn tại thì ng sản xuất hàng hóa phải không ngừng tìm mọi cách để cải tiến kỹ thuât, nâng cao t
ình đô  chuyên môn, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghề mới vào sản xuất, cải tiến phương thức tổ chức
và quản lý sản xuất,…. nhằm hạ thấp giá trị cá biêt.
Xu hướng này diễn ra liên tục vì do tất cả mọi người đều cố gắng hạ giá trị cá biêt xụ ống thì kéo theo gái trị xã
hội cũng giảm theo và ng sản xuất lại phải hạ giá trị cá biêt xụ ống tiếp nữa, cứ như thế kỹ thuât được c
ải tiến
không ngừng, năng suất lao đông tăng lên, gị á thành sản phẩm hạ xuống,.. thông qua sự nỗ lực tối ưu hóa sản
xuất như vây  mà LLSX xã hội không ngừng phát triển.
Liên hê: Ví dụ điển hình về viêc c
ải tiến kỹ thuât, nâng cao năng sụ ất lao đông  à viêc t ồng cà phe
ở nước ta. Với chiến lược cải tiến kỹ thuât,  áp dụng giống mới, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao đông c
ủa
ngành cà phê, nước ta đã có những bước tiến mới, có chỗ đứng trên thị trường TG. Sự tiến bô  ày đã tạo ra thế cạnh
tranh giữa các nước đang sản xuất cà phê phải tuân theo quy luât g
ía trị. Rõ ràng, tác đông c
ủa quy luât
gị á trị đã khiến cho viêc sản xuất  mang tính cạnh tranh cao và tăng cường khả năng phát triển cũng như sự
thích ứng của các doanh nghiêp trong  ền kinh tế chung. Áp dụng tốt qu luât gị á trị, sáng tạo, đổi mới công nghê
sản xuất ng
ành cà phê không những tạo ra uy tín của mình trên thị trường mà còn thúc đẩy nền kinh tế nước nhà
phát triển.
3. Phân tích thuôc  ính giá trị của hàng hóa sức lao đông? Liên hệ  ới thực tiễn viêt
Nam?
Giá trị hàng hóa sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quy
định. Nó được xác định bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để duy trì đời sống
bình thường của công nhân và gia đình họ cộng với những phí tổn đào tạo để người công nhân có một trình độ nhất
định.
Giá trị hàng hóa sức lao động còn phụ thuộc vào ngành nghề và lĩnh vực làm việc của công nhân trong nền kinh tế
và phụ thuộc vào các yếu tố tinh thần, lịch sử, tức là ngoài yêu cầu về vật chất, người công nhân còn có những nhu
cầu về văn hóa, tinh thần,…những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, điều
kiện địa lý, khí hậu ở nước đó và mức độ thỏa mãn những nhu cầu đó phần lớn phụ thuộc vào trình độ văn minh đã
đạt được của mỗi nước.
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là thỏa mãn nhu cầu của người mua, tức là mua để tiêu dùng vào quá
trình lao động. nhưng khác với hàng hóa thông thường, quá trình sử dụng hàng hóa sức lao động co thể tạo ra một
lượng giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó. Đó chính là đặc điểm khác biệt của hàng hóa sức lao động, là chìa khóa
để giải quyết mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản.
Liên hê: Năm 1861 để phát triển công nghiêp, nước  ỹ đã chủ trương xóa bỏ chế đô nô lệ , gị ải phóng
sức lao đông  của con người bằng sự kiên cuộ c nộ i chị ến Nam-Bắc. Cuôc chị ến kết thúc vào năm 1865,
kể từ đó người lao đông  được bán sức lao động cho ai trả giá cao, lương cao. Hàng hóa sức lao đông dc coi như 1 bự
ớc tiến của nền kinh tế VN, chỉ mới được công nhân  ừ năm 1986. Hang hóa sức lao đông la điều kiện tiên qu ết
để phát triển tinh tế công nghiêp, kinh  ế thị trường. Về vât c ất của người lao đông  ại doanh nghiêp, đang ồn
tại vấn đề tiền lương và thu nhâp. N ững năm gần đây, giá cả nhiều măt hang th ết yếu tăng liên tục nhưng
tiền lương thực tế lại giảm sút. Tiền lương danh nghĩa được điều chỉnh quá châm. Như vậ y gị á trị hàng hóa sức
lao đông c
ủa công nhân ngày càng giảm sút, không có giá trị đáng kể.
4. Phân tích thực chất của tích ly tư bản? Liên hê  ới thực tiễn ở Viêt Nam?
Thực chất của tích lũy tư bản:
Tái sản xuất có 2 hình thức chủ yếu là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rông. Dự ới CNTB, muốn tái
sản xuất mở rông, n à TB phải sử dụng 1 phần giá trị thăng dư đ
ể tăng thêm TB ứng trước, quá trình đó gọi
lOMoARcPSD| 40551442
là tích lũy TB. Thực chất của tích lũy TB là sự chuyển hóa 1 phần giá trị thăng dư t ành tư bản, hay là quá trình
tư bản hóa giá trị thăng dư.
Quá trình chuyển hóa 1 phần giá trị thăng dư t ành TB phụ thêm gọi là tích lũy TB.
Kết luân út ra từ viêc nghiên c
ứu tích lũy và tái sản xuất mở rông:
Nguồn gốc duy nhất của tích lũy TB là giá trị thăng dư  à nguồn tích lũy TB chiếm tỉ lê ng
ày càng lớn
trong toàn bộ TB. Lao đông c
ủa công nhân trong quá khứ lại trở thành phương tiên đ
ể bóc lôt c ính người
công nhân.
Quá trình tích lũy làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hóa biến thành quyền chiếm đoạt TBCN.
Liên hê: Thực trạng tích lũy vốn của nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, quy mô vốn của các doanh
nghiêp t ấp. Vì vây, c
ác giải pháp huy đông  ốn hiêu qụ ả đóng vai trò hết sức quan trọng như: giải
quyết đúng đắn mối quan hê  ích lũy tiêu dùng, sử dụng hiêu qụ ả các nguồn vốn, tăng cường tích lũy vốn trong
nước và tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Sở dĩ, chúng ta thực hiên c
ác giải pháp như trên bởi vì trong
điều kiện của nước ta, từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH, chúng ta không còn cách nào khác là 1 măt p ải huy đông
tọ àn bô  ức lực của mọi người, mọi ngành, mọi cấp để tăng gia sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, măt k
ác phải triêt đ
ể tiết kiêm n ằm tích lũy vốn từ nôi bộ  ền kinh tế nước ta cho sự nghiêp xây dựng p át
triển nền kinh tế sản xuất lớn XHCN.
5. Phân tích tư bản thương nghiêp? Liên hệ t ực tiễn ở VN?
Về măt  ịch sử, TB thương nghiêp c
ó trước TB công nghiêp. Trong c
ác hình thức kinh tế- xã hội trước
CNTB, TB thương nghiêp  ồn tại trên cơ sở lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tê. C ức năng của nó là
phục vụ viêc trao đ
ổi hàng hóa giữa sản xuất và tiêu dùng.
Trong CNTB, TB thương nghiêp  à 1 bô phận TB công nghiệ p  ách ra và phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa của
TB công nghiêp.
Sản xuất ở Thương nghiêp: lưu thông  àng hóa/lưu thông tiền tê - tiêu
ùng TB thương nghiêp c
ũng vân đ ng theo công t ức T-H-T’.
TB thương nghiêp ừa phụ thuôc, ừa đôc lập với TB công nghiệ p.
Sự phụ thuôc: TB thương nghi p  à 1 bô phậ n c
ủa TB công nghiêp ách ra.
Tính đôc lậ p tương đ
ối của TB thương nghiêp t ể hiên: TB thương nghiệ p t ực hiên c ức
năng cuối cùng và chuyển hóa H’-T’. môt c ức năng biêt  ách khỏi TB công nghiêp (c ỉ hoạt đông c ức
năng lưu thông)
Vai trò của TB thương nghiêp:
Làm giảm lượng TB ứng trước vào lưu thông, giảm chi phí lưu thông.
Các nhà TBSX tâp trung  ào sản xuất làm tăng hiêu qụả của sản xuất.
Rút ngắn thời gian lưu thông, tăng tốc đô chu chu ển, từ đó làm tăng m’ và M.
Liên hê: Hôi nhậ p kinh  ế quốc tế là xu hướng khách quan và chỉu đạo củ thời đại chúng ta, đã, đang và sẽ
tiếp tục định hướng, chi phối sự phát triển kinh tế của toàn TG, VN cũng đang trên con đg hôi nhậ p đ
ó, điển hình
là viêc gia  nhâp WTO.  ề măt n à nước, chúng ta đã ban hành nhiều nghị quyết cũng như luât khu
ến khích sự phát triển các ngành kinh tế, đăc biệ t  à thương mại: Gia nhâp WTO mang  ại cho chúng ta nhiều cơ hôi
ới như thị trường được mở rông, công nghệ  àng hóa,… Được đối xử công bằng trên thị trường quốc
tế, cải thiên c
ác điều kiện cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.
6. Xuất khu TB là gì? Trình bày các hình thức xuất khu TB? Vân  ụng vào thực tiễn VN?
Xuất khẩu TB là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư TB ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thăng 
dư ở các nước nhâp k ẩu TB.
Đăc đị ểm:
CNTB tự do cạnh tranh xuất khẩu chủ yếu là xuất khẩu hàng hóa: mang hàng hóa ra nước ngoài nhằm thực hiên gị
á trị và giá trị thăng dư.
CNTB đôc qu ền xuất khẩu chủ yếu là xuất khẩu TB: đầu tư TB ra nước ngoài nhằm mục đích chiếm đoạt
giá trị thăng dư  ở các nước nhâp k ẩu TB đó.
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, xuất khẩu TB trở thành tất yếu kinh tế, vì các nước TB phát triển đã tích lũy được 1
khối lượng TB lớn và nảy sinh tình trạng “thừa TB”. Không phải thừa so với nhu cầu đầu tư mà thừa tương đối do ở
trong nước thiếu đầu tư có P’ cao. Trong khi đó các nước kém phát triển lại dồi dào về nguyên liêu, lao độ ng nhưng 
thiếu vốn đầu tư và kỹ thuât.  ì vây, TB độ c qu ền thực hiên xụ ất khẩu TB.
Các hình thức xuất khẩu TB:
Dựa vào hình thức đầu tư, có thẻ phân chia xuất khẩu TB:
Xuất khẩu TB trực tiếp: chủ TB trực tiếp kinh doanh nhằm thu lợi nhuân độ c qu ền
cao. Xuất khẩu TB gián tiếp: chủ TB mang 1 lượng TB ra nước ngoài cho vay để thu lợi
tức. Nếu xét theo chủ thể sở hữu:

Preview text:

lOMoAR cPSD| 40551442 MỤC LỤC VẤN ĐỀ
1....................................................................................................................................................................................2
Câu 1: Phân biệt được quy luật kinh tế với chính sách kinh
tế......................................................................................2
Câu 2: Phân biệt được đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin với các khoa học kinh tế khác.....2 VẤN ĐỀ
2:...................................................................................................................................................................................3
Câu 1: Liên hệ với thực tiễn để thấy được tại sao sản xuất hàng hoá lại tồn tại trong nền kinh tế ở nước ta...........3
Câu 2: Phân tích được mối quan hệ giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng để chỉ ra mâu thuẫn cơ bản của
nền sản xuất hàng hoá. Tr 57 giáo
trình...........................................................................................................................3
Câu 3: Liên hệ để đưa ra được các biện pháp cơ bản làm giảm lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá...................4
Câu 4. Liên hệ với thực tế để thấy được các yếu tố tác động tới giá cả thị
trường.......................................................4
Câu 5. Liên hệ với thực tế để thấy được tác động của lạm phát đối với sản xuất và đời sống....................................6
Câu 6. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để thấy được những tác động của quy luật giá trị......................................7
Câu 7. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để thấy được những tác động của quy luật cung
cầu..................................7
Câu 8. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để thấy được những tác động của quy luật cạnh tranh..............................8 VẤN ĐỀ
3:...................................................................................................................................................................................9
Câu 1. Chứng minh được hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc
biệt.........................................................................9
Câu 2 Tại sao nói hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc
biệt?.....................................................................................9
Câu 2. Liên hệ lí luận tiền công của C. Mác với chính sách tiền lương ở nước ta hiện
nay.........................................9
Câu 3. Đánh giá được tác dụng của việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản.............................................................11
Câu 4. Từ luận điểm về tư bản cố định, tư bản lưu động rút ra được ý nghĩa đối với việc quản lý và sử dụng tài sản của các doanh
nghiệp.................................................................................................................................................11
Câu 5. Liên hệ được các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường ởViệt Nam..........12 VẤN ĐỀ
4..................................................................................................................................................................................13
Câu 1. Làm rõ được những nét khác biệt căn bản của CNTB độc quyền với CNTB tự do cạnh tranh....................13 Vấn đề
5.....................................................................................................................................................................................13
Câu 1. Làm rõ được những nét khác biệt căn bản giữa kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt
Nam.......................................................................................................................................................13 Vấn đề
6
.....................................................................................................................................................................................14
Câu 1. Đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện
nay.....................................................................................................................................................................14
Câu 2. Đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam hiện
nay......................................................................................................................................................................................1 6 CÂU
HỎI...........................................................................................................................................................................................18
1. Phân tích tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa của quy luât gị á trị? Vân ḍ ụng vào tình hình thực tiễn ở Viêt Nam?̣
...............................................................................................................................................................................18
2. Phân tích tác dụng thúc đẩy LLSX của quy luât gị á trị trong nền sản xuất hàng hóa? Vân ḍ ụng vào tình hình thực lOMoAR cPSD| 40551442
tiễn ở nước ta hiên nay?̣
...........................................................................................................................................................18 3. Phân tích thuôc ṭ
ính giá trị của hàng hóa sức lao đông? Liên hệ ṿ ới thực tiễn viêt Nam?̣
............................................18
4. Phân tích thực chất của tích lũy tư bản? Liên hê ṿ ới thực tiễn ở Viêt Nam?̣
.................................................................19
5. Phân tích tư bản thương nghiêp? Liên hệ tḥ ực tiễn ở
VN?..............................................................................................19
6. Xuất khẩu TB là gì? Trình bày các hình thức xuất khẩu TB? Vân ḍ ụng vào thực tiễn
VN?.......................................20 7. Phân tích vai trò của Đảng công ṣ ản trong quá trình thực hiên ṣ ứ mênh ḷ
ịch sử của giai cấp công nhân? Liên hê ṿ ới
vai trò của Đảng Công ṣ ản
VN?...............................................................................................................................................20
8. Phân tích tính tất yếu của thời kỳ quá đô ṭ ừ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hôi? Liên hệ ṿ ới viêc qụ á đô lên ̣ CNXH ở
VN?.............................................................................................................................................................................21
9. Phân tích những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong viêc gị ải quyết vấn đề dân tôc? Liên hệ ṿ
ới viêc ̣ giải quyết vấn đề dân tôc c ̣
ủa Đảng và Nhà nước ta hiên nay?̣
............................................................................................22
10. Phân tích những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lenin trong viêc gị ải quyết vấn đề tôn giáo? Liên hê ṿ ới
viêc gịải quyết vấn đề tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiên nay?̣
....................................................................................22 NHẬN
ĐỊNH.....................................................................................................................................................................................23 CÂU HỎI CHƯƠNG
2
.............................................................................................................................................................25 lOMoAR cPSD| 40551442 VẤN ĐỀ 1
Câu 1: Phân biệt được quy luật kinh tế với chính sách kinh tế.
Quy luật kinh tế là những mối liên hệ phản ánh bản chất, khách quan, lập đi lập lại của các hiện tượng và quá trình
kinh tế trong nền sản xuất xã hội tương ứng với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội ấy.
Quy luật kinh tế có những tích chất sau:
Quy luật kinh tế tồn tại khách quan, nó xuất hiện và tồn tại trong điều kiện kinh tế nhất định, không phụ thuộc vào ý
chí con người, con người không thể thủ tiêu quy luật kinh tế, nhưng có thể nhận thức và vận dụng quy luật kinh tế để
phục vụ lợi ích của mình.
Quy luật kinh tế là quy luật xã hội, chỉ phát sinh thông qua hoạt động kinh tế của con người. Phần lớn các quy luật
kinh tế có tính lịch sử, chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh tế nhất định.
Quy luật kinh tế và chính sách kinh tế cả sự phân biệt:
+ Quy luật kinh tế tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chi con người, con người không thể thủ tiêu quy luật
kinh tế, nhưng có thể nhận thức và vận dụng quy luật kinh tế để phục vụ lợi ích của mình.
Khi vận dụng không phù hợp, con người phải thay đổi hành vi của mình chứ không thay đổi được quy luật.
+ Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan của con người được hình thành trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế.
Chính sách kinh tế có thể phù hợp hoặc không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan. Khi chỉnh sách không phù
hợp, chủ thể ban hành chính sách có thể ban hành chính sách khác để thay thế.
+ Quy luật kinh tế là cơ sở của chính sách kinh tế. Chính sách kinh tế là sự vận dụng các quy luật kinh tế và các quy
luật khác vào hoạt động kinh tế.
Câu 2: Phân biệt được đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin với các khoa học kinh tế khác.
- Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Leenin là các quan hệ sản xuất và trao đổi mà các quan hệ này
được đặt trong sự liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương
ứng của phương thức sản xuất nhất định
- Vi mô: Nghiên cứu hành vi của người sản xuất và người tiêu dùng. nghiên cứu các quyết định của các cá nhân và
doanh nghiệp và các tương tác giữa các quyết định này trên thị trường. Kinh tế học vi mô giải quyết các đơn vị cụ
thể của nền kinh tế và xem xét một cách chi tiết cách thức vận hành của các đơn vị kinh tế hay các phân đoạn của nền kinh tế.
Mục tiêu của kinh tế học vi mô nhằm giải thích giá và lượng của một hàng hóa cụ thể. Kinh tế học vi mỗ còn nghiên
cứu các quy định, thuế của chính phủ tác động đến giả và lương hàng hóa và dịch vụ cụ thế. Chẳng hạn, kinh tế học vĩ
mô nghiên cứu các yếu tố nhằm xác định giả và lượng xe hơi, đồng thời nghiên cứu các quy định và thuế của chính
phủ tác động đến giá cả và sản lượng xe hơi trên thị trưởng.
- Vĩ mô: tổng thể nền kinh tế của một quốc gia, nghiên cứu nền kinh tế quốc gia và kinh tế toàn cầu.xem xét xu hướng
phát triển và phân tích biển động một cách tổng thể, toàn diện về cấu trúc của nền kinh tế và mối
quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Mục tiêu phân tích của kinh tế học vĩ mô nhằm giải thích giá cả
bình quân, tổng việc làm, tổng thu nhập, tổng sản lượng sản xuất. Kinh tế học vĩ mô còn nghiên cứu các tác động của
chính phủ như thư ngân sách, chỉ tiêu chính phủ, thâm hụt ngân sách lên tổng việc làm và tổng thu nhập VẤN ĐỀ 2:
Câu 1: Liên hệ với thực tiễn để thấy được tại sao sản xuất hàng hoá lại tồn tại trong nền kinh tế ở nước ta. lOMoAR cPSD| 40551442
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn như cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phủ là để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác thông qua việc trao đổi, mua bán.
Sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện:
- Thứ nhất: Phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động
xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau. Do sự PCLĐXH nên việc trao đổi sản phẩm trở nên tất
yếu. Khi có PCLDDXH, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc
sống đòi hỏi phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó, họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi với
nhau. Như vậy, phản công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hóa, PCLĐXH càng phát triển thì sx
và trao đổi hàng hóa càng mở rộng đa dạng hơn.
- Thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất: Những người sản xuất trở thành chủ thể
có sự độc lập nhất định với nhau. Do đó sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của chủ thể kinh tế, người này muốn
tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hóa.
Liên hệ: Trong quá trình chuyển từ nền kinh tế hàng hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, nước ta đứng trước một
thực trạng: lực lượng sản xuất thấp kém, kết cấu hạ tầng, vật chất lạc hậu. Về lao động và trình độ cơ khi hóa trong
các doanh nghiệp trung ương có tới 54,3% ở trìnhg độ phổ thông. 41% ở trình độ cơ khí và có tới 47% là trình độ tự
động hóa. Trinh độ phân công lao động xã hội còn thấp. việc bố trí cơ cấu kinh tế còn thấp, khả năng sinh lời chưa
cao. Sự phân bố dân cư và lao động thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, mật độ dân số và lao động
chênh lệch nhau khá nhiều lần.
Nhưng từ đại hội VI của Đảng đến nay, cơ cấu kinh tế đã có chuyển biến tích cực. Hình thành một xu hưởng khách
quan diễn ra trong quá trình phân công lao động xã hội là tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng
còn tỷ trọng lao động nông nghiệp ngày cnagf giảm xuống . Kết quả là hình thành các khu công nghiệp, các vùng
kinh tế mới, nhiều vùng chuyên môn hóa.
Câu 2: Phân tích được mối quan hệ giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng để chỉ ra mâu thuẫn cơ
bản của nền sản xuất hàng hoá. Tr 57 giáo trình Mối quan hệ :
- sự thống nhất: lao động cụ thể và lao động trừu tượng là 2 mặt của quá trình sản xuất hàng hóa - sự đối lập:
+ Tính chất 2 mặt của ldsxhh phản ánh tính chất tư nhân và tinh chất xã hội của ng sản xuất hàng hóa
Lao động cụ thể phản ánh tính chất tư nhân của lao động sane xuất hàng hóa bởi việc sản xuất cái gì. như thế nào là
việc riêng của mỗi chủ thể sản xuất
Lao động trừu tượng phản ánh tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa, bởi lao động của mỗi người là một bộ
phận của lao động xã hội, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội.
+ sản phẩm do người sản xuất hàng hóa tạo ra có thể không ăn khớp hoặc không phù hợp nhu cầu xã hội
+ Hao phí lao động cả biệt của người sản xuất hàng hóa có thể cao hơn hoặc thấp hơn hao phí lao động mà xã hội có thể chấp nhận.
Do yêu cầu của mối quan hệ này, việc sản xuất và trao đổi phải được xem là thể thống nhất trong nền kinh tế hàng
hóa. Lợi ích của người sản xuất phải thống nhất với lợi ích của người tiêu dùng. Mẫu thuẫn giũa lao động cụ thể và
lao động trừu tượng xuất hiện khi sản phẩm do những người sản xuất hàng hóa riêng biệt tạo ra không phù hợp với
nhu cầu xã hội, hoặc khi mức hao phí lao động cá biệt cao hơn mức hao phí mà xã hội có thể chấp nhận được.
Khi đỏ, sẽ có một số hàng hóa không bán được. Nghĩa là có một số hao phí lao động cá biệt không được xã hội thừa
nhận. Mâu thuẫn này vừa tạo ra nguy cơ khủng hoảng tiềm ẩn vừa làm cho sản xuất hàng hóa vận động phát triển.
Tóm lại, giữa lao động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẫn với nhau. Đó là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa
Câu 3: Liên hệ để đưa ra được các biện pháp cơ bản làm giảm lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá
Gtr: Năng suất lao động, cường độ lao động, mức độ phức tạp của lao động.
Trước hết, sự thay đổi của năng suất lao động tác động đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa theo tỷ lệ nghịch, có
nghĩa là, muốn giảm lượng giá trị một đơn vị hàng hóa ta cần tăng năng suất lao động
- Tăng năng suất lao động: Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động được tính bằng số lượng sản phẩm
sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Năng
suất lao động cả biệt tăng thì số lượng hàng hoá được sản xuất ra trong cùng 1 đơn vị thời gian tăng, nghĩa là thời
gian lao động cá biệt để sản xuất ra 1 đơn vị hàng hoá giảm. Do đó, lượng giá trị cá biệt của một đơn vị hàng hoá
giảm. Tăng NSLĐ có ý nghĩa giống như tiết kiệm thời gian lao động.
Như vậy, sự thay đổi của năng suất lao động tác động theo tỷ lệ nghịch đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa
(nhưng không tác động đến tổng lượng giá trị của tổng số hàng hóa được sản xuất ra trong cùng một đơn vị thời gian).
+ Thứ nhất, cần nâng cao trình độ, tay nghề của người lao động sản xuất ra mặt hàng. Ta cần ưu tiên cho phương pháp lOMoAR cPSD| 40551442
đào tạo tay nghề tại nơi làm việc, kết hợp với các phương tiện hỗ trợ để đào tạo trong thời gian nghỉ và thời gian rảnh rỗi
+ Thứ hai, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật chúng ta phải đầu tư cho cơ sở vật chất, máy móc cho sản xuất.
+ Thứ ba, đó là việc tổ chức quản lý sản xuất. Xây dựng các mô hình quản lí sản xuất để thu được năng suất cao nhất
+ Thứ tư, đẩy là hiệu quả của tư liệu sản xuất. Hiệu quả càng cao thì năng suất lao động cũng tăng lên. Tư liệu sản
xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động. Tư liệu lao động của sản xuất quấn áo bao gồm nhà xưởng, máy
móc( máy may, máy dệt, máy cắt vải tự động,...), công cụ, vật liệu. Do đó, các doanh nghiệp cần phải không ngừng
đổi mới, cập nhật những máy móc hiện đại, vật liệu đang thịnh hành vào sản xuất cũng như giữ cho môi trường nhà xưởng luôn trong lãnh.
+ Thứ năm, Thứ năm, cần tận dụng một cách hiệu quả các yếu tố về tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên: nhằm
hạ thấp lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa của mặt hàng
+ Thứ sáu, đảm bảo các yếu tố điều kiện, nhu cầu cho người lao động: bảo đảm tiền lương, xây dựng chế độ phúc lợi,
chế độ bảo hiểm y tế phù hợp, khuyến khích tạo môi trường làm việc thân thiện, có như vậy mới đảm bảo điều kiện
tốt nhất cho người lao động tăng năng suất.
Câu 4. Liên hệ với thực tế để thấy được các yếu tố tác động tới giá cả thị trường
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả thị trường 1) Giá trị thị trưởng
Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật cầu kinh tế thị trường đều biểu hiện sự hoạt động của mình thông qua giá cả
thị trưởng, nhờ sợ vận động của giá cả thị trường mà diễn ra một sự thích ứng giữa cung và cầu về hàng hóa, tức là sự
hoạt động của các quy luật đó đã điều tiết nền sản xuất xã hội. ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có thị
trường và do đó có cơ chế thị trường hoạt động tín hiệu của cơ chế thị trưởng là giá cả thị trường. giá cả thị trường là
sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trưởng hàng hóa - tức là phụ thuộc rất lớn vào giá trị thị trường.
Giá trị thị trường nói ở đây, là giá trị xã hội – giá trị được xã hội thừa nhận và được đo bằng thời gian lao động xã hội
cần thiết vậy giá trị thị trưởng hình thành như thế nào? Như chúng ta đã biết trên thị trường hầu hết các loại hàng hóa
được sản xuất ra không chỉ một hoặc hai nhà sản xuất sản xuất ra mà có khi rất nhiều nhà sản xuất cùng sản xuất hàng
hóa đỏ. Ví dụ, để sản xuất lúa, gạo, không chỉ có tỉnh Hưng Yên sản xuất mà nhiều tinh như: Hải Dương, Thái Bình,
Nam Định, Hà Nam.. sản xuất. Mỗi địa phương để sản xuất một tấn gạo đều phải hao phí một lượng lao động nhất
định ( tức là một giá trị cá biệt nhất định), và như vậy trên thị trường về gạo sẽ có nhiều người cung cấp gạo, mỗi loại
ủng với một giá trị cá biệt nhất định. Nhưng khi đưa sản phẩm gạo ra thị trường thì xã hội chỉ chấp nhận một mức giá
( nếu không tính đến các yếu tố khác như: phẩm chất, tỷ lệ tẩm...) đó là giá trị thị trưởng. vậy giá trị thị trường là kết
quả của sự san bằng các giá trị cả biệt của hàng hóa trong cùng một ngành thông qua cạnh tranh. Cạnh trang trong nội
bộ ngành dẫn đến hình thành một giá trị xã hội trung bình. Tùy thuộc vào trình độ phát triển của sức sản xuất câu mỗi
ngành mà giá trị thị trường có thể ứng với một trong ba trường hợp sau đây: -
TH1: giá trị thị trưởng của hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong điều kiện
trung bình quyết định. Đây là trường hợp phổ biến nhất, ở hầu hết các loại hàng hóa Ví dụ: để sản xuất quần áo, thi có
nhiều doanh nghiệp cùng tham gia sản xuất, các doanh nghiệp này về cơ bản có điều kiện sản xuất như: máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công... là như nhau. Trên thị trưởng, giá trị thị trưởng của quần áo sẻ do giá trị cá biệt
trung bình của các doanh nghiệp quyết định. -
TH2: giá trị thị trường của hàng hóa do giá trị của bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong điều kiện xấu
quyết định.Ví dụ: trong ngành khai thác than, do chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, các doanh nghiệp khai thác
than ngày càng phải khai thác ở những điều kiện khó khăn hơn như: khai thác hầm lò phải đi sau vào lòng đất, điều
kiện vận chuyển than tự nơi khai thác đến nơi khai thác ra bến cảng xa hơn, năng xuất lao động có thể thấp hơn...
nhưng những doanh nghiệp này vẫn chiếm một tỷ trọng lớn sản lượng tiêu thụ của ngành khai thác than và xã hội vẫn
cần than để sản xuất và tiêu dùng. Cho nên, giá trị cá biệt của những doanh nghiệp này có ảnh hưởng quan trọng, đôi
khi quyết định giá trị thị trường của sản phẩm than. -
TH3: giá trị thị trưởng hàng hóa do giá trị của đại bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong điều kiện tốt
quyết định. Ví dụ: trong ngành trồng lúa nước ở nước ta. Đồng bằng sông hồng và đồng bằng sông Nam Bộ là 2 khu
vực trồng lúa chính, cung cấp đại bộ phận thóc, gạo cho cả nước và xuất khẩu. đay là vùng có điều kiện tự nhiên
thuận lớn hơn so với các vùng khác. Vì vậy giá trị cả biệt để sản xuất ra thóc (gạo) ở 2 vùng này có ảnh hưởng quyết
định đến giá thị trường của thóc ( gạo) trong nước. Trong thời đại hiện nay, xu thế toàn cầu hóa đã trở thành xu thế tất
yếu, sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời các nước khu vực và thế giới, thị trường trong nước và thị
trường thế giới có quan hệ mật thiết với nhau. Do đó, giá trị xã hội về một loại hàng hóa nào đó sản xuất trong nước
sẽ là giá trị cá biệt trên thị trường khu vực và thế giới. giá trị cá biệt ảnh hưởng ở mức độ nào đến giá trị thị trường
thế giới tùy thuộc vào mức sản lượng hàng hóa cung ứng ra thị trường và các điều kiện về thuế quan, chính sách xuất
nhập khẩu của mỗi nước. Từ những vấn đề trên, trong công tác định giá, quản lý giá hiện nay chúng ta không chỉ
quan tâm tới giá trị của từng loại hàng hóa sản xuất trong nước mà còn quan tâm tới thị trường thế giới, giá trị thị lOMoAR cPSD| 40551442
trường khu vực đối với hàng hóa đỏ. Để có những chính sách quản lý kinh tế vĩ mô phù hợp, giữ được ổn định và
phát triển sản xuất trong nước. 2) Giá trị của tiền
Trong nền sản xuất hàng hoá, tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa. Muốn đó lường giá trị
của hàng hóa, bản thân tiền phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo
lường giá trị hàng hóa không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sinh với lượng vàng nào đó một cách tưởng
tượng, sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã có một tỷ lệ
nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó. Có thể nói, sự
thay đổi trong mức cung tiền gây ra sự thay đổi về giá cả. Sự thay đổi về giá cả này phụ thuộc vào 2 yếu tố sau:
- Sự tăng lượng cung tiền gây ra sự tăng giá.
- Do tác động của một số nhân tố làm cho giá cả tăng lên và chính phủ điều tiết sự tăng lên của giá cả bằng cách in
thêm tiền thì cả khối lượng tiền và giá cả cũng tăng lên.Trên thực tế, nếu như sự tăng lượng cung tiền danh nghĩa
kéo theo sự thay đổi tương ứng của tiền lương và giá cả thì điều đó sẻ dẫn đến hậu quả nguy hiểm đối vvới nền kinh
tế, khi tiền lương doanh nghĩa tăng nhanh, về cơ bản nó sẽ làm cho giá tăng lên nhanh, để đảm bảo ổn định nền kinh
tế thì mức cung tiền thực tế chi thay đổi một cách chậm chạp tương ứng với những thay đổi về nhu cầu tiền tệ. Từ
sự phân tích trên cho thấy, giá cả thị trường tỷ lệ thuận với giá trị thị trường của hàng hóa và tỷ lệ nghịch với giá trị
của tiền - Sự tác động của yếu tố tiền tệ dẫn đến sự hình thành và vận động của giá cả thị trường là hết sức phức tạp,
do vậy, trong công tác quản lý không thể tách rời với quản lý tiền tệ 3) Cung và cầu hàng hóa.
Trong nền kinh tế thị trưởng, cung và cầu là những lực lượng hoạt động trên thị trường cung cầu không chỉ có mối
quan hệ với nhau mà còn ảnh hưởng tới giá cả thị trường. Trong thực tế, khi
+ cung = cầu thì giá cả thị trường ngang bằng với giá trị của hàng hóa. + Khi cung> cầu thì giá cả thị trường xuống
thấp hơn giá trị hàng hóa,
+ khi cung – cầu thì giá cả thị trường lên cao hơn giá trị. Như vậy, cung và cầu thay đổi dẫn đến làm thay đổi giá cả
thị trường của hàng hóa. Đồng thời, giá cả thị trường cũng có sự tác động ngược trở lạitới cung và cầu. 4) Cạnh tranh
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền kinh tế thị trường nhằm giành giật những điều kiện
thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Cạnh tranh có thể diễn ra giữa người sản xuất với người sản xuất, người
sản xuất với người tiêu dùng hoặc giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng. Do có mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, nên
những người sản xuất và người tiêu dùng cạnh tranh gay gắt với nhau. Sự cạnh tranh này dẫn đến sự thoả thuận trực
tiếpg iữa họ để hình thành nên mức giá thị trường mà 2 bên đều chấp nhận. Kết quả của cạnh tranh này, buộc những
người sản xuất, muốn chiếm lĩnh thị trường phải áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, đưa công nghệ mới vào sản xuất, cải
tiến công tác quản lý...để sản xuất ra những sản phẩm mới, chất lượng cao, giá thành thấp. Cạnh tranh giữa người tiêu
dùng với người tiêu dùng nhằm tối đa hoá lợi ích sử dụng người tiêu dùng (người mua) để đạt được nhu cầu tiêu dùng
của mình (trong điều kiện khả năng cung về hàng hoá có hạn) thường phải trả giá cao hơn những người khác để mua
được hàng hoá và trong sự cạnh tranh này, làm cho giá cả thị trường thay đổi theo xu hướng tăng lên.
Từ sự phân tích các nhân tố tác động đến sự hình thành và vận động củagiá cả thị trưởng, có thể rút ra một số nhận xét sau: -
Trong nền kinh tế thị trường, giá cả thị trường là một hiện tượng kinh tế phức tạp, tổng hợp, là bàn tay vô
hình điểu tiết sản xuất, là tấm gương phản ánh thực trạng nền kinh tế. - Nhà nước cần phải quản lý giá. Việc quản lý
giá phải được thực hiệnđồng bộ từ tài chính đến tiền tệ, từ cầu đến cung, từ giá thị trường trong nước đến giá thị
trường thế giới, từ cạnh tranh đến chống độc quyền và các biện pháphạn chế tự do kinh doanh. -
Để quản lý giả, Nhà nước cần có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh và đồng bộ về các lĩnh vực tài chính - tiễn tệ-
giá cả, củng cố hệ thống pháp luật đối với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh. Có như vậy, mới có thị trường
lành mạnh, cơ chế thị trường hoạt động theo đúng nghĩa của nó và giá cả thị trưởng đóng vai trò quan trọng trong
việc phân bố các nguồn lực kinh tế, thúc đẩy tiến bộ khoa học- kỹ thuật, làm cho sản xuất phát triển lành mạnh, hiệu quả
Câu 5. Liên hệ với thực tế để thấy được tác động của lạm phát đối với sản xuất và đời sống.
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đó là hiện tượng không để hoảng tiền tệ,
nhưng nó là sự phản ánh và thể hiện trạng thái chung của toàn bộ nền kinh tế.
Lạm phát là tình trạng mức giá chung của toàn bộ nền kinh tế tăng lên trong một thời gian nhất định.
Căn cứ vào mức giá tăng lên, có thể chia lạm phát ra thành; lạm phát vừa phải (chỉ số giá cả tăng dưới 10%/năm); lạm
phát phi mã (trên 10%/năm); siêu lạm phát (chỉ số giá cả tăng len hàng trăm, hàng nghìn lần và hơn nữa)
Lạm phát là hiện tượng gây nhiều tác động tiêu cực tới kinh tế và xã hội. Khi lạm phát xảy ra sẽ dẫn tới sự phân phối
lại các nguồn thu nhập giữa các tầng lớp dân cư: người nắm giữ hàng hóa, người đi vay được lời; khuyến khích đầu
cơ hàng hóa, cản trở sản xuất kinh doanh, các hoạt động kinh tế bị méo mô biến dạng, tâm lý người dân hoang mang lOMoAR cPSD| 40551442
LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN VIỆT NAM
Thứ nhất là điều hành của Chính phủ, liên quan đến việc điều chỉnh giá điện, giá dịch vụ y tế và thực hiện lộ trình
tăng học phi. giá các mặt hàng dịch vụ y tế tăng 37,3% so với cuối năm 2016 và bình quân cả năm 2017 tăng 57,91%
so với năm 2016 làm cho CPI năm 2017 tăng khoảng 1,35% so với tháng 12/2016 và CPI bình quân với năm 2017
tăng khoảng 2,04% so vs 2016.
Bên cạnh đó, thực hiện lộ trình tăng học phi theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, các
tỉnh đã tăng học phi các cấp học. Điều này đã làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục trong năm 2017 tăng 7,29% so với
tháng 12/2016 và bình quân cả năm 2017 tăng 9,1% so với bình quân năm 2016, tác động làm cho CPI năm 2017 tăng
khoảng 0,41% so với tháng 12/2016 và CPI binh quân năm 2017 tăng khoảng 0,5% so với năm 2016.
Đồng thời, mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động ở các doanh nghiệp cũng tăng từ ngày 01/01/2017.
Mức lương cơ sở áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ 2017 ngày 01/7/2017 tăng
90.000 đồng/tháng đã làm cho giá một số loại dịch vụ như: dịch vụ sửa chữa đổ dùng gia đình, dịch vụ bảo dưỡng nhà
ở, dịch vụ điện, nước; dịch vụ thuê người giúp việc gia đình tăng giá từ 3 – 8% so với năm 2016. Bên cạnh đó, giả các
mặt hàng đổ uống, thuốc là và giá các loại quần áo may sẵn tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán do nhu cầu tăng. Bình
quân năm 2017, chỉ số giá các nhóm này lần lượt tăng 1,52% và 1,07% so với năm 2016. Giá gas sinh hoạt cũng được
điều chỉnh theo giá gas thế giới. Cụ thể, năm 2017 giá gas tăng 15,91% so với năm 2016. Bình quân năm 2019 so với
năm trước, giả thực phẩm tăng 5,08%, giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng khoảng 1,99%; quần áo may sẵn các
loại tăng 1,70% giá dịch vụ giao thông công cộng tăng
3,02%; giả du lịch trọn gói tăng 3,04% trong đó mặt hàng thịt lợn bình quân năm 2019 tăng 11,79%... Đây là một
trong những nguyên nhân chính làm CPI các tháng cuối năm tăng cao.
Bên cạnh đó, giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới có xu hướng tăng, như: giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép... nên
năm 2019 ước tính chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa so cùng kỳ tăng 0,59%, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 3,01%,
chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 1,25%; chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,31%.
Thứ hai là yếu tố thị trưởng. Liên quan đến vấn đề này, Tổng cục Thống kê cho biết, nhu cầu tiêu dùng dịp Tết
Nguyên đản Kỷ Hợi tăng cao vào hai tháng đầu năm và các tháng cuối năm 2019, làm tăng giá một số mặt hàng tiêu
dùng thuộc nhóm thực phẩm, dịch vụ ăn uống, đồ uống, dịch vụ giao thông công cộng, dịch vụ du lịch.... giá nhiên
liệu trên thị trường thế giới trong năm 2017 tăng khá mạnh, bình quân giá dầu Brent từ thời điểm ngày 01/01/2017
đến thời điểm ngày 20/12/2017 ở mức 54,49 USD/thùng, cao hơn nhiều so với mức 45,13 USD/thùng của bình quân
năm 2016. Trong nước, giá xăng dầu tính đến ngày 10/12/2017 được điều chỉnh 10 đợt tăng và 8 đợt giảm, hai đợt
không đổi, tổng cộng giá xăng tăng 1.040 đồng/lít; dầu diezel tăng 1.260 đồng/lít, làm cho giá xăng dầu bình quân
năm 2017 tăng 15,49% so với năm 2016, góp phần tăng CP1 chung 0,64%.
Giá vật liệu xây dựng cũng tăng 5,23% do giá cát xây dựng tăng rất mạnh vào tháng 5, tháng 6 và tháng 7/2017 do
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương siết chặt việc quản lý khai thác cát và các cơ quan chức năng không cho
phép khai thác các mỏ mới. Chỉ sắt thép tăng do giá nguyên liệu đầu vào như phối thép, than điện tăng mạnh từ tháng
7 nên các nhà máy sản xuất thép đã tăng giá bán từ 5 - 10%. Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới có xu hướng tăng
trở lại như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép…nên chỉ số giá nhập khẩu năm 2017 so năm 2016 tăng 2,57%, chỉ số giá
xuất khẩu tăng 2,93%; chỉ số giá sản xuất công nghiệp (PPI) tăng 2,82%.
Năm 2017 cũng được đánh giá là năm kỷ lục về số lượng cơn bão, áp thấp nhiệt đới trên biển đông, có 16 cơn bão và
4 áp thấp nhiệt đới. Riêng cơn bão số 12 (Damrey) gây thiệt hại lớn nhất về người và vật chất cho các tỉnh miền
Trung làm cho chỉ số giá nhóm lương thực, thực phẩm tại các tỉnh này có mức tăng trong tháng 11/2017 cao hơn các tỉnh khác.
Câu 6. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để thấy được những tác động của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa vì nó quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ
sở gii trị của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hóa. * Nội dung của quy luật giá trị: Sản xuất và trao đổi hàng
hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phi lao động xã hội cần thiết. * Tác động của quy luật giá trị
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có ba tácđộng sau: Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. - Phân hóa những
người sản xuất hàng hóa thành giàu, nghèo.
LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM:
Hiện nay, nước ta đang trên con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đây là điều kiện cho các quy luật
kinh tế phát triển. Trong đó, quy luật giá trị đóng vai trò là quy luật kinh tế căn bản chi phối sự phát triển của nền kinh
tế và trên thực tế, ta thấy được sự tác động của quy luật giá trị ảnhhưởng mạnh mẽ tới sự phát triển của nước ta. - Quy
luật giá trị kích thích sản xuất phát triển: Mỗi doanh nghiệp đều phải cố gắng cải tiền máy móc mẫu mã, nâng cao tay
nghề lao động. Nếu không quy luật giá trị sẽ thực hiện vai trò đảo thái của nó: loại bỏ những cái kém hiệu quả, kích
thích các cá nhân, ngành, doanh nghiệp phát huy tính hiệu quả. Từ đó tất yếu dẫn tới sự phát triển của lực lượng sản
xuất mà trong đó đội ngũ lao động có tay nghề chuyên môn ngày càng cao, công cụ lao động luôn luôn được cải tiến
dẫn đến sự xã hội hóa, chuyên môn hỏa lực lượng sản xuất được phát triển, nền kinh tế sẽ luôn trên đà đổi mới, phát triển mạnh mẽ lOMoAR cPSD| 40551442
- Quy luật giá trị điều hòa lưu thông hàng hóa: Trong chế độ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước
ta hiện nay, tổng khối lượng và cơ cấu hàng tiêu dùng do kế hoạch lưu chuyển hàng hóa quyết định. Nhà nước có thể
can thiệp vào giá cả hàng hóa để gây ảnh hưởng tới lực lượng tiêu thụ loại hàng hóa đó nhằm làm cho nhu cầu và
mức tăng của sản xuất về một số loại hàng tiêu dùng phủ hợp với việc đổi mới phát triển kinh tế. Căn cứ vào yêu cầu
của quy luật giá trị, trên thị trường sức lao động, nếu ai cung cấp được chất lượnglao động tốt hơn, phù hợp với yêu
cầu của các nhà tuyển dụng sẽ có thu nhập cao. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nếu xét một cách tổng thể thì
sự ổn định việc làm chỉ mang tính tương đối. Mặc dù người lao động có nhiều cơ hội lựa chọn việc làm theo khả năng
của mình song họ cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, thậm chí thất nghiệp. Để sức lao động của mình được trả
giá cao, trở thành nhân sự khó có thể thay thế, người lao động cần được đào tạo có trình độ chuyên môn tay nghề giỏi,
có sức khoẻ, ngoại ngữ và tác phong làm việc công nghiệp. Quá trình đào tạo đó phải tính đến hiệu quả kinh tế, đào
tạo để rèn luyện kĩ năng làm việc chứ không phải vì bằng cấp. Đối với các cơ sở đào tạo, nếu chất lượng đào tạo tốt,
giá cả thấp hơn sẽ thu được số lượng khách hàng (người học và người sử dụng sản phẩm được đào tạo) nhiều hơn. Vì
vậy, quy luật giá trị đặt ra yêu cầu tiên quyết là vấn đề chất lượng lao động. Trong điều kiện khoa học công nghệ phát
triển mạnh mẽ, kinh tế tri thức được coi là chìa khóa cho sự phát triển thì ai có khả năng cung cấp chất lượng lao
động tốt dựa trên hao phi đào tạo thấp sẽ giành được lợi thế để phát triển và ngược lại. Điều đó được thể hiện ở năng
suất, sản phẩm cận biên của lao động cũng như sự thích ứng của con người sau khi được đào tạo trước đòi hỏi của
kinh tế thị trường. Song trên thực tế yêu cầu này vẫn đang là vấn đề nan giải khi đến nay ở nước ta lao động đã qua
đào tạo theo các loại hình và trình độ khác nhau mới đạt khoảng trên 31,5%. Năng suất lao động của nước ta đạt thấp
khi chỉ đứng thứ 77/125 nước và vùng lãnh thổ, sau cả Indonesia, Philipine vàThái Lan. Hệ thống các trường đại học,
cao đẳng tham gia đào tạo NNLCLC chưa đáp ứng được đổi hội của thị trường lao động trong và ngoài nước. Theo
Viện Quản lí nhà nước dân chủ và đổi mới (ASH) của Trường công Kennedy thuộc Đại học Harvard thì Việt Nam
không có trường đại học nào được ghi nhận trên bất kì bảng xếp hạng quen thuộc các đại học hàng đầu châu Á. Vì
vậy, quy luật giá trị đòi hỏi để phát triển NNLCLC, Việt Nam cần cải cách để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo.
thực hiện chủ trương nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đào tạo phải đạt hiệu quả kinh tế, đáp
ứng được nhu cầu của xã hội, của thị trường và doanh nghiệp. Cũng theo ASH thì qua các cuộc khảo sát cho thấy có
tới 50% sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại học đã không thể tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn của họ. Điều
này chứng tỏ có một khoảng cách rất lớn giữa giảng đường và thị trường sức lao động cũng như có sự lãng phí ghê
gớm trong giáo dục và đào tạo nhân lực ở nước ta.
Câu 7. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để thấy được những tác động của quy luật cung cầu.
Dầu mỏ cũng chịu chi phối bởi quy luật cung cầu. Thiếu đầu ra, thừa nguồn cung, khả năng cắt trừ bão hòa,... là
những nguyên nhân khiến thị trường dầu lửa không ngừng biến động. Viện Dầu khi Pháp ước tính, lượng dầu dư thừa
tích lũy trên toàn thế giới từ tháng 4 đến tháng 6/2020 có thể khoảng 1,4 tỉ thùng (gb). Trong khi đó, báo cáo mới nhất
của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) dự kiến nhu cầu đầu toàn cầu sẽ giảm 9,3 triệu thùng/ngày (mbd) trong năm
nay do sự tê liệt kinh tế bởi ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.
Để đẩy giá dầu tăng, theo quy luật cung cầu, OPEC+ đã chọn cách giảm cung. Từ tháng 5/2020, OPEC và các đối tác
bắt đầu thực hiện việc cắt giảm 9,7 mbd trong tháng 5 và tháng 6/2020, trong khi các nước G20 hứa sẽ tăng cường
hợp tác. Đó là lý thuyết, trong khi thực tế lại khác, vì việc đóng các giếng đầu cần thời gian. Việc đóng một giếng dầu
nhiều khi còn tổn nhiều chi phí hơn cả việc vẫn để giếng hoạt động và mặc dầu đổ đi.
Vì vậy, các cơ quan hữu quan 1 cẩn bám sát diễn biến cung cầu, giá dầu thô và sản phẩm để có giải pháp kịp thời; đa
dạng hóa kênh phân phối, tăng thị phần bản lẻ; xây dựng chính sách bán hàng linh động. mở rộng và tích hợp hệ
thống phân phối để chia sẻ, tiết giảm chi phí; tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp trong nước có ngành nghề
kinh doanh liên quan đến sản phẩm của đơn vị minh cung cấp; đồng thời kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành xem
xét có các chỉ đạo định hướng cân đối cung cầu, khuyến khích sản xuất trong nước, xử lý gian lận thương mại.
4. Kết luận: Quy luật cung cầu điều tiết quá trình lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường. Khi cung lớn hơn
cầu, giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống; khi cung nhỏ hơn cầu, giả cả hàng hóa sẽ tăng lên. Sự tăng lên hay giám xuống
của giá cả hàng hóa là tín hiệu của thị trường để những người kinh doanh thương mại chuyển hàng hóa từ nơi có giá
thấp đến nơi có giá cao, tử nơi thừa đến nơi thiếu; để các nhà sản xuất thu hẹp hay dừng sản xuất các hàng hóa thừa,
cũng lớn hơn cầu, tăng cường, mở rộng sản xuất cáchàng hóa thiếu, cung nhỏ hơn cầu. Đây chính là sự điều tiết sản
xuất và lưu thông một cách tự động. linh hoạt, nhanh nhạy của cơ chế thị trưởng, là mặt tích cực của quy luật cung - cầu.
Câu 8. Liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam để thấy được những tác động của quy luật cạnh tranh.
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều
kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
* Nội dung của quy luật cạnh tranh: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa,
giữa người sản xuất và người tiêu dùng là một tất yếu khách quan, là yêu cầu thường xuyên đối với những người sản xuất hàng hóa. lOMoAR cPSD| 40551442
- Tác động của quy luật cạnh tranh: Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ
thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó buộc người sản xuất phải thường xuyên năng động, nhạy bản, thường xuyên cải tiến
kỹ thuật áp dụng tiến bộ khoa học, nâng cao tay nghề, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng
và hiệu quả kinh tế ... Thực tế cho thấy, ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì ở đó thưởng trì trệ,
bảo thủ, kém phát triển.
LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM
Hiện nay, , ở nước ta sức lao động được thừa nhận là một loại hàng hoá và tất nhiên nó cũng bị chi phối * quy luật thị
trưởng. Người làm giỏi được lương cao, người làm dữ chịu lương thấp và có nguy cơ theo bị sa thải. Sự cạnh tranh
trong việc chào bán sức lao động là một yếu tố thúc đẩy từng cá nhân và toàn xã hội nỗ lực làm việc; tự đào tạo nâng
cao chất lượng lao động của mình. Nhiều chuyên gia trên các lĩnh vực đều thống nhất quan điểm: nếu muốn tồn tại và
phát triển trong một "thế giới phẳng" nhưng cạnh tranh khốc liệt hiện nay thì vượt lên trên lợi thế về tài nguyên, vị trí
địa lí chính là yếu tố chất lượng nguồn nhân lực và việc sử dụng nó hiệu quả nhất. Thực tế cho thấy, khi kinh tế tăng
trưởng thì cạnh tranh trên thị trường sức lao động biểu hiện rõ nhất ở vị trí, địa bản làm việc và thu nhập của các chủ
thể tham gia. Nhưng khi kinh tế suy thoái, khủng hoảng thì vấn đề cạnh tranh để không bị sa thái là điều người lao
động quan tâm nhất. Hiện nay năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta còn thấp, chủ yếu là
do sức cạnh tranh của lực lượng lao động chưa cao. Lao động giá rẻ chỉ là một lợi thế nhất định trong một thời gian
cụ thể, chúng ta phải hướng tới lao động có kỹ thuật cao nhưng giá rẻ hơn lao động cùng loại ở các nước khác. Trong
bối cảnh hội nhập, lực lượng lao động trình độ cao của nước ta không chỉ cạnh tranh khi tiến hành xuất khẩu lao động
mà còn có sự cạnh tranh gay gắt với lao động nước ngoài ngay trên thị trường trong nước.
Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hiện cả nước có hơn 75.000 lao động nước ngoài đang làm việc ở nhiều
trình độ khác nhau. Không ít doanh nghiệp cho biết họ phải sử dụng lao động nước. ngoài vì nhiều vị trí không thể
tìm được lao động Việt Nam thích hợp Theo đánh giá mới của Ngân hàng thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực
hiện nay của Việt Nam mới chỉ đạt 3,19 điểm (thangđiểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước châu Á tham gia xếp hạng.
Một nghiên cứu khác cho thấy tao động Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm. Trong khi đó những nền kinh tế có chất lượng
lao động dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trưởng toàn cầu. Ở một số lĩnh vực như: ngân hàng,
y tế, v.v... có tới 40% tổng số lao động có thu nhập từ 14.000 USD/năm trở lên thuộc người nước ngoài. Năm 2009,
Tập đoàn Intel tại TP. Hồ Chí Minh tiến hành một cuộc thi tuyển với 2000 sinh viên ngành công nghệ thông tin thì chỉ
90 ứng viên (5%) đạt tiêu chuẩn. Và trong nhóm này chỉ có 40 người vừa hội đủ trình độ ngoại ngữ và đáp ứng kĩ
năng, yêu cầu làm việc. Đối với các cơ sở đào tạo NNL, muốn đứng vững trong cạnh tranh phải để thị trường đánh
giá chất lượng đào tạo. Các nhà trường cần chuyển đổi theo tư duy đào tạo theo nhu cầu xã hội, tức là dạy những cái
người học và doanh nghiệp đang cần chứ không chỉ dạy những gì mà mình có. Tác động của quy luật cạnh tranh trên
thị trường sức lao động là “mệnh lệnh" để mỗi người, mỗi cơ sở đào tạo không ngừng đổi mới và phát triển theo yêu
cầu của thực tiễn. Ở nước ta thời gian gần đây đang xúc tiến việc xây dựng trưởng đại học đẳng cấp quốc tế, đây là
một chủ trương rất đúng đắn. Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng cần triển khai xây dựng trường cao đẳng nghề đạt
trình độ quốc tế. Bởi lẽ, các trường này là một kênh cung cấp lực lượng lao động kỹ thuật cao trên thị trường trong và
ngoài nước. Bên cạnh đó, cần xây dựng chiến lược cạnh tranh về nhân lực quốc gia với những tiêu chỉ cụ thể theo
từng lĩnh vực, lấy NNLCLC là lực lượng nòng cốt, trên cơ sở đó xây dựng được thương hiệu về chất lượng lao động
Việt Nam trên thị trường lao động khu vực và thế giới. VẤN ĐỀ 3:
Câu 1. Chứng minh được hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt.
Để hiểu thế nào là hàng hóa sức lao động, chúng ta sẽ đi phân tích sức lao động là gì và những điều kiện nào khiến
sức lao động trở thành một loại hàng hóa. Cụ thể: Sức lao động là khả năng lao động, sản xuất bao gồm cả thể lực và
trí lực. Nó đóng góp một phần không nhỏ, thậm chí là đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận hành, sản xuất ra
các loại sản phẩm, hàng hóa khác.
Và để sức lao động sẽ trở thành hàng hoá khi có những điều kiện sau:
-Thứ nhất, người lao động được tự do và có thể chỉ phối sức lao động của mình. Từ đó, họ dùng sức lao động của
mình để bán, để trao đổi lấy một giá trị khác, có thể là tiền hoặc một loại hàng hoá khác. Do đó, phải đảm bảo không
tồn tại mối quan hệ chiếm hữu nô lệ hay phong kiến để sức lao động có thể trở thành một loại hàng hoá.
- Thứ hai, bản thân người lao động không thể tự lao động sản xuất, nên phải bán sức lao động để phục vụ mục đích tồn tại và sinh sống.
Khi hai điều kiện trên tồn tại song hành, sức lao động sẽ trở thành hàng hoá như một điều tất yếu
Câu 2 Tại sao nói hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt?
Không giống với những loại hàng hoá thông thường, hàng hoá sức lao động là loại hàng hoá đặc biệt. Hàng hóa sức
lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. Nhưng so với hàng hóa thông thường thi hàng hóa sức lao
động có những điểm riêng, khác biệt so với các loại hàng hóa khác để có thể khẳng định rằng: Hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt.
- Trong thuộc tỉnh “ giá trị" - là hàng hóa đặc biệt lOMoAR cPSD| 40551442
+ Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người, nó được hình thành bởi con người với những nhu cầu
phức tạp và đa dạng theo quá tình phát triển của xã hội. Chủ thể của sức lao động là con người và sức lao động có
được phụ thuộc vào nhu cầu thực tế của mỗi con người và phải thỏa mãn những nhu cầu của họ. Nói cách khác, giá trị
hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công
nhân và cuộc sống, gia đình họ.
+ Giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó còn bao gồm cả yếu tố tỉnh thần và lịch sử.
Điều đó có nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còn có những nhu cầu về tinh thần, văn hóa...
Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, đồng thời nó còn phụ thuộc vào cả
điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó.
- Trong thuộc tỉnh “giá trị sử dụng" cũng giống như hàng hóa thông thường khác giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao
động, tức là quá trình lao động của người công nhân. Nhưng quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa sức lao động
khác với hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa thông thường sau quá trình tiên dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn
giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian. Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động, đó lại là
quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản
thân hàng hóa sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản đã chiếm đoạt. Như vậy, giá trị
sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị
mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. Nói cách khác, hàng hóa sức lao động tạo ra giá trị thặng dư khi được đem vào
sử dụng và chỉ có hàng hóa sức lao động mới có thể tạo ra giá trị thặng dư.
Tóm lại, hàng hoá sức lao động là hàng hoả đặc biệt khi tồn tại đủ hai điều kiện về sự tự do và nhu cầu bán sức lao
động. Để duy trì điều kiện cho hàng hoá sức lao động tạo ra những giá trị thặng dư, người sử dụng lao động phải đáp
ứng những nhu cầu đặc biệt về tâm lý, văn hoá và khu vực địa lý,...
Câu 2. Liên hệ lí luận tiền công của C. Mác với chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay.
a) Lý luận tiền công của C. Mác:
* Bản chất kinh tế của tiền công: Là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, hay giá cả của sức lao
động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động.
- Tiền công không phải là giá cả của lao động bởi vì:
+ Thứ nhất, nhà tư bản trả tiền công cho công nhân sau khi công nhân đã lao động để sản xuất ra hàng hóa cho nhà tư bản,
+ Thứ hai, tiền công được trả theo thời gian lao động ( giờ, ngày, tuần, tháng), hoặc theo số lượng hàng hóa đã sản
xuất được. Cái mà nhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động mà là sức lao động
. Tiền công không phải là giá cả hay giá trị của lao động, mà chỉ là giá cả hay giá trị của hàng hóa sức lao động.
* Hai hình thức cơ bản của tiền công. -
Tiền công tỉnh theo thời gian: là hình thức tiền công mà số lượng của nó ít hay nhiều tùy theo thời gian lao
động của người lao động. Muốn đánh giá chính xác mức tiền công không chỉ căn cứ vào tiền công ngày mà phải căn
cứ vào độ dài của ngày lao động và cương độ lao động. Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mức tiền công tinh theo thời gian. -
Tiền công tinh theo sản phẩm: là hình thức tiền công mà số lượng của nó phủ thuộc vào số lượng sản phẩm
hay số lượng những bộ phận sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc là số công việc đã hoàn thành. * Tiền công
danh nghĩavà tiền công thực tế: -
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư
bản.- Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua
được bằng tiền công danh nghĩa. Các loại tiền công luôn luôn vận động và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Tiền công danh nghĩa có thể tăng lên hay giảm xuống tùy theo sự biến động trong quan hệ cung - cầu về hàng hóa
sức lao động trên thị trường. Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả của
tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên thì tiền công thực tế sẽ giảm xuống và ngược lại. Mác đã vạch ra xu hướng
chung của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là nâng cao mức tiền công trung bình mà là hạ thấp mức tiền công
ấy. Tiền công là giả cả của sức lao động, nên sự vận động của nó gắn liền với sự biến đổi của giá trị sức lao động.
Lượng giá trị sức lao động chịu ảnh hưởng của các nhân tố tác động ngược chiều nhau: nhân tố tác động làm tăng giá
trị sức lao động và nhân tố tác động làm giảm giá trị sức lao động.
Tuy nhiên, C.Mác đã vạch ra rằng xu hướng chung của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là nâng cao mức tiền
công trung bình mà là hạ thấp mức tiền công ấy. Nhưng sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra như một xu
hướng, vì có những nhân tố chống lại sự hạ thấp tiền công. Một mặt, đỗ là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi
tăng tiền công. Mặt khác, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản ngày nay, do sự tác động của cuộc Cách mạng khoa
học – công nghệ nên nhu cầu về sức lao độngcó chất lượng cao ngày càng tăng đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ
chức lao động cũng như kích thích người lao động bằng lợi ích vật chất. Đó cũng là một nhân tố cản trở xu hướng hạ
thấp tiền công. b) Chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay. Trong các thời kỳ phát triển của đất nước, Việt Nam đã
nhiều lẫn cải cách chính sách tiền công để phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội lOMoAR cPSD| 40551442
nhập như hiện nay. Tính đến nay, chính sách tiền công ở nước ta đã đạt được một số thành công nhất định song bên
cạnh đó vẫn còn một số hạn chế. * Thành tựu: -
Thực hiện tốt việc xác định vị trí việc làm sẽ là cơ sở và căn cứ để tính toán được biên chế công chức phù
hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng quản lý trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị Chính sách tiền công
đều đã được cải thiện( đều cao hơn các năm trước) ở mức lương tối thiểu của các doanh nghiệp, các vùng, của Cơ quan nhà nước -
Mức lương tối thiểu của vùng cao nhất hiện nay là 2,7 triệu đồng (vùng I) và thấp nhất là 1,9 triệu đồng (vùng
IV), đến năm 2016, mức lương tối thiểu sẽ tăng lên tương ứng là 3,5 triệu đồng (vùng I) và 2,4 triệu đồng (vùng VI)
được quy định tại Nghị định 103/2014/NĐ-CP Nghị quyết 78/2014/QH13 còn quy định về việc điều chỉnh tăng 8%
lương đối với lương hưu, trợ cấp ưu đãi cho người có công và tiền lương đối với cán bộ công chức, viên chức, lực
lượng vũ trang có thu nhập thấp (hệ số lương từ 234 trở xuống). Nghị quyết 99/2015/QH2013 của Quốc hội sẽ tăng
lương cơ sở từ 1.150.000 đồng tháng lên 1.210.000 đồng /tháng đối với cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ
trang, bảo đảm thu nhập của đối tượng có hệ số lương từ 2,34 trở xuống không giảm so với mức đang hưởng Việc
tăng các mức lương như vậy góp phần cải thiện đời sống của người lao động, đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu cho
họ.Tách dẫn tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành chính nhà nước và khu vực sự nghiệp cung
cấp dịch vụ công; chính sách tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội. Đó
là bước ngoặt rất quan trọng trong cải cách tiền lương trong điều kiện mới định hướng thị trường. *Han ché: -
Tiền lương trả cho CBCCVC được quy định bằng hệ số được tính trên cơ sở tiền lương tối thiểu chung, thang
lương cứng nhắc, lỗi thời và xã rời thực tế; tiền lương chưa được trả đúng với vị trí làm việc, chức danh và hiệu quả
công tác, chất lượng cung cấp dịch vụ công. Theo Bộ Nội vụ, giai đoạn 2016-2020 thực hiện mở rộng quan hệ mức
lương tối thiểu - trung bình - tối đa từ mức 1 - 2,34 - 10 hiện nay lên mức 1 - 3,2 - 15. -
Mức lương tối thiểu: Mặc dù đã qua rất nhiều lần điều chỉnh tăng lương tối thiểu nhưng hiện nay mức lương
tối thiểunước ta vẫn quá thấp không đảm bảo tái sản xuất giản đơn sức lao động. Mức lương tốithiểu hiện nay chỉ
bằng 37,5% nhu cầu tối thiểu (gồm:ăn, ở, mặc, đi lại, học tập, văn hóa, giao tiếp xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm
thất nghiệp). - Thời gian và mức độ điều chỉnh tiền lương danh nghĩa: Lạm phát ở nước ta mặc dù đã có sự kiềm chế
những vẫn giữ mức khá cao qua các năm, để người lao động có điều kiện sống ổn định phải tăng mức lương danh
nghĩa ngang bằng với tốc độ lạm phát. Tuy nhiên, việc điều chỉnh lương vẫn chưa kịp thời và không theo kịp được tốc
độ lạm phát. - Các chế độ phụ cấp lương và chế độ nâng ngạch, bậc, bổ sung chắp vá, ngày càng vô lý, phá vỡ quan
hệ tiền lương chung. Chế độ nâng ngạch, bậc, xếp lương quá bất cập, không gắn với trình độ chuyển môn, nghiệp vụ
của công việc, chức vụ yêu cầu. Chức danh, tiêu chuẩn cán bộ, công chức, viên chức với công tác đào tạo, bồi dưỡng
thì nâng ngạch công chức, viên chức không gắn với yêu cầu trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công việc đảm nhận,
vừa hình thức vừa gây lãng phí lớn cho ngân sách và chi phí của doanh nghiệp nhà nước.
Chính sách tiền lương dù đã “cải cách" vẫn chưa tạo ra động lực đủ mạnh cho người hưởng lương phát huy tài năng
và cống hiến. Tiền lương thấp không kích thích được CBCCVC gắn bó với Nhà nước, không thu hút được nhân tài;
ngược lại, người làm việc giỏi, người có tài bỏ khu vực nhà nước ra làm việc cho khu vực ngoài nhà nước, nơi có tiền
lương và thu nhập cao, có xu hướng tăng...
* Nguyên nhân của những hạn chế:
Nói chung là có cải cách, có nâng tiền công lên theo thời gian, theo lộ trình... nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế là do:
nhận thức chưa đầy đủ về tinh chất hàng hóa sức lao động cũng như bản chất tiền công, cải cách hành chính còn
chậm, thiếu kiên quyết; tiền lương chưa thực sự là để đầu tư cho người lao động mà chỉ là một khoản chi tiêu cho
nhân công, các lần cải cách luôn bị chi phối bởi khả năng của ngân sách nhà nước... khiến cho tiến công thực tế của
người lao động thấp, đời sống khó khăn.
* Phương hướng giải quyết cơ bản các hạn chế:
Vận dụng linh hoạt, sáng tạo lý luận tiền công của C.Mác trong điều kiện nước ta: -
Tăng tiền công danh nghĩa trước tăng tiền công thực tế, bởi trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh
nghĩa giữnguyên nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên thì tiền công thực tế giảm xuống. -
Chống lạm phát bởi nếu xuất hiện lạm phát, giá cả tiêu dùng dịch vụ tăng lên trong khi mức công không tăng
thì họ không thể mua được tư liệu tiêu dùng, không đảm bảo được đời sống ổn định. - Điều hòa cung – cầu để ổn định
giá cả thị trường, giá cả ổn định để người tiêu dùng có thể chấp nhậndễ dàng và người sản xuất sẽ tái sản xuất nhanh.
- Thực hiện các chính sách thuế phù hợp với từng người lao động.
Câu 3. Đánh giá được tác dụng của việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản. Chu chuyển tư bản
Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nổ với tư cách là một quả trình định kì đổi mới và thường xuyên lặp đi lặp lại, thì gọi là chu chuyển tư bản.
Những tư bản khác nhau chu chuyển với vận tốc khác nhau tùy theo thời gian sản xuất và lưu thông của hàng hóa. lOMoAR cPSD| 40551442
Thời gian chu chuyển của tổ bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông.
+thời gian sx là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực 5x. Thời gian sx bao gồm: thời gian lao động, thời gian gián
đoạn lao động, thời gian dự trữ sx.
+Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Thời gian trong lĩnh vực lưu thông gồm thời
gian mua và thời gian bán. Thời gian chu chuyển càng rút ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng dư đc sx ra
nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn.
Tác dụng: Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản có nhiều tác dụng rất quan trọng đối với quá trình sản xuất, kinh doanh
của tư bản, Song chung quy lại là khi tăng tốc độ chu chuyển, thì một lượng tư bản nhất định sẽ được sản xuất ra
nhiều sản phẩm hơn với một lượng giá trị hàng hóa và giá trị thặng dư nhiều hơn. Như vậy nó làm tăng quy mô sản
xuất kinh doanh trên một lượng tư bản nhất định. Đặc biệt tăng tỉ suất giá trị thặng dư hàng năm của tư bản đồng thời
tăng hiệu quả hoạt động của tư bản. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản là một kết quả tổng hợp, là một biểu hiện tập
trung của toàn bộ quá trình nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản. Biện pháp:
Đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ kĩ thuật- công nghệ mới trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông. Hợp lí hóa và nâng cao
trình độ tổ chức và quản lí sản xuất
Nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động
Tăng thời gian sử dụng máy móc thiết bị trong ngày để nhanh chóng khấu hao, đổi mới công nghệ vàgiảm bớt hao mòn vô hình.
Hiện đại hóa các phương tiện vận chuyển. Đẩy mạnh hoạt động maketing để thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm, từ đó
góp phần thúc đẩy sản xuấtphát triển.
Câu 4. Từ luận điểm về tư bản cố định, tư bản lưu động rút ra được ý nghĩa đối với việc quản lý và sử dụng tài
sản của các doanh nghiệp.
Li thuyết tư bản cố định, tư bản lưu động
Tư bản cố định: là bộ phận tư bản tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó không chuyển hết một
lần vào sản phẩm mà chuyển dần từng phần theo mức độ hao mòn của nó trong thời gian sản xuất.
Đặc điểm của tư bản cố định là về hiện vật, nó luôn luôn cố định trong quá trình sản xuất, chỉ có giá trịcủa nó là tham
gia vào quá trình lưu thông cùng sản phẩm, hơn nữa nó cũng chỉ lưu thông từng phần, còn một phần vẫn bị cố định
trong tư liệu lao động, phần này không ngừng giảm xuống cho tới khi nóchuyển hết giá trị vào sản phẩm. Chính đặc
điểm của loại tư bản này đã làm cho thời gian mà tư bản cố định chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm bao giờ cũng
dài hơn thời gian một vòng tuần hoàn. Tư bản cố định biểu hiện dưới hình thức: tài sản cố định hữu hình( nhà xưởng,
máy móc...) tài sản cố định vô hình( thương hiệu, uy tín doanh nghiệp...). Tư bản cố định đc sử dụng lâu dài trong
nhiều chukì sx và nó bị hao mòn dần trong quá trình sx. Có hai loại hao mòn tư bản cố định là hao mòn hữu hìnhvào hao mòn vô hình.
Tư bản hai động: là bộ phận thsx tham gia vào quá trình sx mà giá trị của nó được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản
sau mỗi quá trình sản xuất, khi hàng hóa đc bán xong. Tư bản lưu động được biểu hiện dưới các hình thức, nguyên
nhiên vật liệu, sức lao động.
Trên thực tế, trong sản xuất vật chất, thời gian chu chuyển của tư bản cố định thường dài họ so với tư bản lưu động
nên tốc độ chu chuyển của nó cũng thường chậm hơn từ bản lưu động.
Ý nghĩa: Việc phân chia tư bản cố định với tư bản lưu động có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động củadoanh nghiệp
trong việc bảo tồn và tái sản xuất tài sản cố định và lưu động, xác định những chi phí hình thành sản phẩm hàng hóa.
Câu 5. Liên hệ được các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường ởViệt Nam.
Lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất 1, Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận a, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa b,
lợi nhuận tỉ suất lợi nhuận
2, sự hình thành tỷ suất lợi nhuận binh quân và giá cả sản xuất a,
cạnh tranh trong nội bộ ngành và sự hình thành giá cả thị trường
b, cạnh tranh giữa các ngành và sự hình thành tỷ suất lợi nhuận c,
sự hình thành giá cả sản xuất
II Hình thái tư bản và lợi nhuận của chúng
1, tư bản thương nghiệp và lợi nhuận thương
nghiệp a, nguồn gốc tư bản thương nghiệp b, lợi nhuận thương nghiệp
2, tư bản cho vay và lợi tức cho
vay a, sự hình thành tư bản cho
vay b, lợi tức và tỉ suất lợi tức
3, công ty cổ phần, tư bản giá và thị trường chứng khoán a, công ty cổ phần b, tư bản giả lOMoAR cPSD| 40551442
c, thị trường chứng khoản
4, tư bản kinh doanh nông nghiệp và địa tô tư bản chủ nghĩa
a, tư bản kinh doanh nông nghiệp
b, bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa c, các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa
Thực trạng. Trong học thuyết của C. Mác, có hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất giá trị thặng dư
tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Tuy nhiên, Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, nên phương
thức tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối (tạo ra do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu trong
khi năng suất lao động xã hội, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi) không được sử dụng,
thời gian lao động không bị kéo quá 8 tiếng một ngày hay 48 tiếng một tuần theo điều 68 của bộ luật Lao Động. Gạt
bỏ đi mục đích và tính chất của tư bản thì có thể áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối (tạo ra do
rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời gian lao động
thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ) và biển tẩu của nó – giá trị thặng dư siêu ngạch
(phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá
trị thị trường của nó) vào nền kinh tế Việt Nam. Trước đổi mới, các doanh nghiệp Việt Nam đều là doanh nghiệp nhà
nước được nhà nước bao cấp hoàn toàn. Sản phẩm làm ra theo định lượng của nhà nước, thậm chí là còn không cần
biết đến việc sản phẩm đó tạo ra có đúng theo nhu cầu của thị trường hay không. Vì thế mả nền kinh tế trì trệ. Sau đổi
mới năm 1986, các doanh nghiệp nhà nước không còn hoàn toàn được nhà nước bao cấp nữa mà bắt đầu phải tự chủ,
bước vào nền kinh tế thị trường đồng thời, các doanh nghiệp tư nhân đầu tiên cũng ra đời. Tiếp đến, sự tràn vào của
hàng hóa các nước khác, đặc biệt là hàng Trung Quốc giá rẻ đã tạo nên một áp lực lớn đối với các doanh nghiệp trong
nước.Áp lực này buộc họ phải đổi mới công nghệ nhằm tăng sức cạnh tranh để có thể tồn tại và đứng vững trong nền
kinh tế thị trường. Để tạo ra được nhiều giá trị thặng dư, các doanh nghiệp bắt đầu chuyên môn hóa trong việc sản
xuất sản phẩm, phân chia công đoạn chi tiết, đầu tư vào việc mua lại công nghệ và máy móc, áp dụng các phương
thức quản lí mới. Ban đầu, với lượng kinh phi còn hạn hẹp, họ mua lại những công nghệ và máy móc cũ đã lỗi thời ở
các nước phát triển với giá thành rẻ, rồi dần dẫn chuyển đổi sang những công nghệ mới hiện đại hơn. Đồng thời, khi
Việt Nam còn chưa có nguồn nhân lực tri thức cao, các chuyên gia nước ngoài cũng được mời về để chuyển giao công
nghệ. Sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với các đối thủ mới (các công ty xuyên quốc
gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh cao), phải cạnh tranh quyết liệt
trong điều kiện mới (thị trường toàn cầu với những nguyên tắc nghiêm ngặt của định chế thương mại và luật pháp
quốc tế). Vì vậy, việc đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực lại càng trở thành nhu cầu cấp bách khi cạnh
tranh để tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn. Điển hình là cuộc chạy đua về cung cấp công nghệ 3G giữa ba tập đoàn
Vinaphone, Mobiphone và Viettelcho thấy mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện nay. Ngày 12/10/2009
vinaphone chính thức ra mắt, thì đến 15/12/2009 Mobiphone cũng bắt đầu triển khai dịch vụ này. Chậm nhất là
Viettel với dịch vụ được bắt đầu từ ngày 25/3/2010, nhưng lại mở đầu bằng chiến dịch khuyến mãi lớn, mà theo đó,
Viettel cho phép khách hàng dùng 3G Mobile Intemet với mức khởi điểm thấp nhất là 10.000 đồng/tháng, khuyến mãi
50% cước đăng ký 3G và miễn cước hòa mạng cho các thuê bao trả sau D- Com 3G... Ngay lập tức, Mobi tái khẳng
định chiến lược “3G cho mọi người" với gói cước Mobile Internet cho người sử dụng có thu nhập thấp, khởi điểm chỉ
với 5.000 đồng/tháng (gói M5). Việc kéo người dùng sử dụng dịch vụ của các nhà mạng là nhằm mục đích tạo ra giá
trị thặng dư (lợi nhuận) cho doanh nghiệp. Không thể hiện rõ như chạy đua về công nghệ, việc đào tạo và tìm kiếm
những nhà quản lí, những nhà chiến lược tài ba cũng là mối quan tâm lớn của các doanh nghiệp. Không ít những
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay sẵn sàng trả cho nhân viên của mình hàng chục ngàn Euro mỗi năm để có được
những chiến lược mới giúp doanh nghiệp tạo ra được nhiều lợi nhuận hơn bởi ngày nay lao động trí tuệ, lao động
quản lý đã trở thành những hình thức lao động có vai trò lớn. Khu vực dịch vụ, các hàng hóa phi vật thể, vô hình
chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế.
2. Hạn chế: Tuy nhiên không thể không thấy rõ những mặt hạn chế khi công nghệ của Việt Nam dù đã được cải tiến
rất nhiều nhưng vẫn còn thua kém rất nhiều so với các nước phát triển, do phần lớn các công nghệ này vẫn còn là
công nghệ đã không còn được sử dụng ở nước ngoài mà được bán lại với giá thành rẻ. Và với những doanh nghiệp có
nguồn lực hạn hẹp, thì sau khi đổi mới công nghệ một lần thì họ phải chờ một quãng thời gian khá dài mới có thể huy
động tiền để tiếp tục đổi mới công nghệ trong khi khoa học kĩ thuật đang biến đổi từng ngày.Thêm nữa, tuy ngân sách
nhà nước và tiền của các doanh nghiệp đầu tư cho vấn đề con người là rất lớn nhưng hiện nay số người có khả năng
đáp ứng yêu cầu tuyển dụng vẫn còn thấp, bởi đầu tư vào giáo dục vẫn chưa đem lại hiệu quả. Điều này có thể thấy rõ
ở việc tuyển dụng của Intel tại Việt Nam năm 2008 với chỉ tiêu là 4000 nhân viên nhưng cuối cùng kết quả tuyển
dụng đã gây ra một sự thất vọng lớn. 3. Giải pháp: Các doanh nghiệp trong nước cần cố gắng hơn nữa trong việc thay
đổi công nghệ. Hiện nay có nhiều doanh nghiệp trong nước đã tiến hành hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài
trên cơ sở hai bên cùng có lợi, vừa giúp doanh nghiệp nước ngoài làm quen nhanh chóng hơn với nền kinh tế trong
nước, vừa tạo điều kiện giúp doanh nghiệp trong nước có được những công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất. Vấn
đề nguồn lực vẫn là vấn đề cần được trọng tâm trong thời gian tới. Việc nâng cao chất lượng dạy và học, giảm dần
khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế là vô cùng cần thiết để tránh hiện trạng có cầu mà không có cung như hiện nay. VẤN ĐỀ 4 lOMoAR cPSD| 40551442
Câu 1. Làm rõ được những nét khác biệt căn bản của CNTB độc quyền với CNTB tự do cạnh tranh.
Chủ nghĩa tư bản độc quyền giáo trinh cũ trang 93
+kn, nguyên nhân, bản chất
+đặc điểm: -sự tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính Xuất khẩu tư bản
Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc quyền quốc tế.
Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa cường quốc đế quốc Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh
BƯỚC CHUYỂN GIAI ĐOẠN TỪ CNTB CẠNH TRANH TỰ DO SANG
• Logic của sự phát triển:
Tự do cạnh tranh — Tích luỹ tư bản — Tích tụ, tập trung tư bản — Tích tụ sản xuất — Ra đời các tổ chức độc quyền.
• Lịch sử diễn ra bước chuyển: .
Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
- Khoa học kỹ thuật phát triển nhanh. - Khủng hoảng kinh tế. - Cạnh tranh khốc liệt.
- Các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản.
- Sự phát triển mạnh mẽ của các công ty cổ phần và quan hệ tín dụng Vấn đề 5
Câu 1. Làm rõ được những nét khác biệt căn bản giữa kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
*Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: giáo trình mới trang 107 (là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo
quy luật của kinh tế thị trưởng vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội)
Nét khác biệt giữa kinh tế thị trưởng định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Về mục tiêu:
Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế
Về quan hệ quản lí nền kinh tế Về quan hệ phân phối
Về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội
* Kinh tế thị trưởng: Trong một nền kinh tế, khi các nguồn lực kinh tế phải được phân bổ bằng nguyên tắc thị trường
thì người ta gọi đó là kinh tế thị trường.
- Các chủ thể kinh tế độc lập, nghĩa là có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, lỗ, lai tự chủ.
- Giá cá cơ bản do cung cấu điều tiết, hệ thống thị trường hát triển đồng bộ và hoàn hảo.
- Nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo quy luật vốn có của kinh tế thị trưởng như quy luật, giá trị cung cầu, cạnh tranh.
- Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Đặc trưng cơ bản nhất của kinh tế thị trường là
sựtồn tại của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, đa dạng các loại hình doanh nghiệp trong điều kiện
phân công lao động xã hội ngày càng phát triển. Những đặc trưng này tự nó không mang tính chất tư bản chủ nghĩa. * Xã hội chủ nghĩa:
- Chế độ sở hữu: có 3 hình thức sở hữu:
+ Sở hữu toàn dân: Các nông trường quốc doanh quy mô lớn + Sở hữu tập thể + Sở hữu từ nhân
Trên cơ sở 3 chế độ sở hữu trên, hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước,
kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài. Trong đó sở hữu nhà nước (sở hữu toàn dân) đóng vai trò chủ đạo và quyết định đến nền kinh tế của đất nước.
Về lâu dài, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc
dân.) => Mục tiêu không vì lợi nhuận
- Hệ thống giá trị: Hệ thống giá cả không theo thị trường và được quyết định bởi ý muốn chủ quan của nhà nước. Tồn tại 2 loại giá:
+ Giá trị sản xuất: được dùng để cá nhân sản xuất trao đổi với nhau, vào giữa các nhà sản xuất với các thương nghiệp.
Mức giả này được nhà nước đặt ra dựa theo một tiêu ổn định kinh tế, nên đôi khi không giá trị của hàng hóa.phản ánh đúng
- Hệ thống kinh tế: Hệ thống kinh tế hoặc điều tiết các hoạt động KT – XH nên tập trung phân bốnguồn lực phát ra từ
mệnh lệnh tử trên xuống dưới. - Cơ sở điều tiết hoạt động kinh tế: Quyền làm chủ tập thể, mình vì mọi người và mọi lOMoAR cPSD| 40551442
người vì mìnhnên cơ chế này sẽ dễ dàng làm xã hội tiến lên hoặc lùi là phụ thuộc vào xã hội đó có tốt hay không. -
Chế độ quản lý. Có sự can thiệp một cách toàn diện của chính phủ vào hoạt động kinh tế.
Nhà nước nằm trong lòng xã hội chủ nghĩa. Chính phủ là chủ quán các hoạt động KTXH.
Chính phủ là chủ sở hữu các lĩnh vực ngân hàng – tài chính. Vấn đề 6
Câu 1. Đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam hiện nay.
Thành tựu đạt được: Công nghiệp hóa trước đổi mới diễn ra theo mô hình của Liên Xô, chỉ đến khi, khởi đầu là đối
mới tư duy kinh tế và nhất là từ Đại hội VIII (1996), công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta mới được
xác định một cách đầy đủ. Trong 35 năm đổi mới, đặc biệt sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011, nhận thức của
Đảng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã có những bước phát triển mới về cả nội dung và phương thức
thực hiện. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã
xác định: “Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành công
nghiệp có lợi thế". Đại hội Đảng XI (năm 2011) đã bổ sung thêm Cơ cấu lại nền công nghiệp theo hướng phát triển
nhanh, hiệu quả, bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế, từng bước có khả năng tham gia sâu, có
hiệu quả vào mạng sản xuất và phân phối toàn cầu, Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn;
Phát triển hợp lý công nghiệp sử dụng nhiều lao động, góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động”.
Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, đưa nước ta từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình
thấp và ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới; đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, vị thế
và uy tin của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đóng góp vào những thành quả to lớn này của
phát triển đất nước có vai trò hết sức quan trọng của ngành Công Thương với việc Việt Nam đã và đang dần khẳng
định được vị thế là một trong những trung tâm sản xuất công nghiệp của khu vực và của thế giới.
Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia có nền công nghiệp có năng lực cạnh tranh toàn cầu
(CIP) ở mức khá cao, thuộc vào nhóm các quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp trung bình cao với vị trí thứ
44 trên thế giới vào năm 2018 theo đánh giá của UNIDO. Theo đó, trong giai đoạn 1990-2018 đã tăng 50 bậc và giai
đoạn 2010-2018 tăng 23 bậc, tăng nhanh nhất trong các nước thuộc khu vực ASEAN và đã tiệm cận vị trí thứ 5 của
Philipphin (chi thua 0.001 điểm), tiến gần hơn với nhóm 4 nước có năng lực cạnh tranh mạnh nhất trong khối.
Công nghiệp là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân với đóng góp xấp xỉ 30%
GDP và trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước, góp phần đưa Việt Nam lên vị trí thứ 22 quốc gia xuất khẩu
lớn nhất thế giới vào năm 2018. Một số ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn theo định hướng chiến
lược của ta đã trở thành các ngành công nghiệp lớn nhất đất nước, qua đó đưa nước ta cơ bản đã hội nhập thành công
vào chuỗi giá trị toàn cầu với sự dẫn dắt của một số doanh nghiệp công nghiệp lớn như điện tử, dệt may, da giầy...
Trong tổng số 32 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 1 tỷ USD vào năm 2019 hàng công nghiệp chiếm 29/32
mặt hàng và 5/5 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 10 tỷ USD (điện tử, dệt may, da giày, đồ gỗ, máy móc, thiết
bị). Một số ngành công nghiệp hiện có vị trí vững chắc trên thị trường thế giới hiện nay như dệt may (đứng thứ 7 về
xuất khẩu), da giảy (thứ 3 về sản xuất và thứ 2 về xuất khẩu), điện từ (đứng thử 12 về xuất khẩu, trong đó một thùng
điện thoại di động đứng thứ 2 về xuất khẩu), đỗ gỗ (đứng thứ 5 về xuất khẩu).
Theo xếp hạng doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2019, trong số 10 doanh nghiệp lớn nhất thì có tới 8/10 doanh
nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, trong đó 7/10 doanh nghiệp nội địa ; chiếm 5/10 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất cả
nước . Các doanh nghiệp công nghiệp lớn của Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực dầu khí, điện, khoảng sản, ô
tô, thép, sữa và thực phẩm.
Bên cạnh đó, quá trình tái cơ cấu ngành công nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao
động đã đi vào thực chất hơn, ngày càng hướng vào lỗi công nghiệp hóa. Theo đó, công nghiệp tiếp tục duy trì là
ngành có năng suất lao động cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân với tỷ trọng trong GDP tăng từ 26,63% năm
2011 lên 27,81% năm 2015 và 28,55% năm 2019.
Cơ cấu nội ngành công nghiệp đã chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai khoáng (từ 36,47%
năm 2011 xuống còn 25,61% năm 2019) và tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo (từ 49,82% năm 2011 lên
54,57% năm 2019) và trở thành động lực tăng trưởng chính của ngành công nghiệp (ước VA tăng 10,99% giai đoạn
2011-2020 và 12,64% giai đoạn 2016-2020).
Cơ cấu công nghệ trong ngành công nghiệp đã có nhiều thay đổi theo hướng tiếp cận công nghệ tiên tiến, hiện đại
hơn với sự dịch chuyển mạnh từ các ngành thâm dụng lao động như dệt may.da giày sang các ngành công nghiệp
công nghệ cao như máy vi tính, sản phẩm điện tử, điện thoại.
Đầu tư cho phát triển công nghiệp ngày càng được mở rộng, trong đó, đầu tư FDI trở thành động lực chính của phát
triển công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu phát triển các ngành công nghiệp nước ta theo hưởng hiện đại (chiếm tỷ
trọng xấp xỉ 70% tổng vốn đầu tư FDI vào các ngành kinh tế, trong đó, đầu tư vào công nghiệp chế biến, chế tạo
chiếm tỷ trọng lớn nhất với xấp xỉ 60%).Đầu tư FDI có vai trò to lớn trong việc hình thành một số ngành công nghiệp
chủ lực của nền kinh tế như viễn thông; khai thác, chế biến dầu khí; điện tử, công nghệ thông tin, thép, xi măng, dệt
may, da giày... tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng dài hạn, cũng như thúc đẩy quá trình hiện đại hóa, công lOMoAR cPSD| 40551442
nghiệp hóa đất nước. Chẳng hạn, các dự án đầu tư quan trọng của một số công ty đa quốc gia hàng đầu bao gồm Tập
đoàn Samsung, Tập đoàn Intel, LG... đã chọn Việt Nam làm nơi sản xuất các sản phẩm điện tử như điện thoại đi động
và máy tính bảng để xuất khẩu trên toàn thế giới đã đưa ngành điện tử Việt Nam với xuất phát điểm gần như bằng 0
vào những năm trước 2010 lên thành ngành xuất khẩu lớn nhất của đất nước trong giai đoạn hiện nay (đứng thứ 2 thế
giới về xuất khẩu điện thoại di động). Trong vài năm trở lại đây, dòng vốn FDI đang dịch chuyển sang các ngành,
nghề có giá trị gia tăng cao hơntrong các ngành, lĩnh vực trụ tiên là công nghệ cao, công nghệ thông tin và truyền
thông (ICT), chế tạo. chế biến, công nghiệp hỗ trợ và nông nghiệp... và giảm dần trong một số ngành thẩm dụng lao
động. Để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công
nghiệp, trong đó một số ngành công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; tầm
nhìn đến năm 2045, Việt
Nam trở thành nước công nghiệp phát triển hiện đại, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày
22/3/2018 về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Trong đó, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng đối với chính sách công nghiệp quốc gia là phải gắn liền với chính
sách phát triển các ngành kinh tế khác, đặc biệt là chính sách thương mại quốc gia, tài chính – tiền tệ, khoa học, công
nghệ, đào tạo, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch phát
triển các ngành công nghiệp với chiến lược tổng thể phát triển công nghiệp, giữa chiến lược, quy hoạch phát triển các
ngành công nghiệp với chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành kinh tế khác để hình thành các vùng công nghiệp,
cụm liên kết ngành công nghiệp, khu công nghiệp, các mạng sản xuất, chuỗi giá trị công nghiệp, trong đó cụm liên
kết ngành công nghiệp là trọng tâm. Kết hợp hài hoà giữa phát triển công nghiệp theo cả chiều rộng và chiều sâu, chủ
trọng phát triển theo chiều sâu, tạo bước đột phá trong nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm
công nghiệp. Tận dụng tối đa lợi thế của nước đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng khai thác triệt để thành tựu của
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, lợi thế thương mại để phát triển nhanh, chuyên sâu một số ngành công nghiệp
nền tảng, chiến lược, có lợi thế cạnh tranh. Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp điện từ là con
đường chủ đạo; phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo là trung tâm; phát triển công nghiệp chế tạo thông minh là
bước đột phá; chứ trọng phát triển công nghiệp xanh.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, trong thời gian tới ngành Công Thương sẽ tiếp tục tích cực triển khai thực
hiện, cụ thể hóa các đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo môi trường pháp lý binh đẳng và minh bạch cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế cạnh tranh, phát triển, khơi thông các nguồn lực trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài, quyết tâm sớm
đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Hạn chế:
Tuy nhiên, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam còn chưa hoàn thiện. Mô hình tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chủ yếu theo chiều rộng, dựa nhiều vào khai thác từ nhiên và lao động phổ thông giá
rẻ, chuyển đổi chậm. Các nguồn lực vốn, lao động, đất đai, tài nguyên khoa học - công nghệ còn chưa được huy động,
phân bổ hợp lý, sử dụng có hiệu quả. Năng suất, chất lượng hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh
nghiệp và của nhiều sản phẩm của ViệtNam còn thấp. Nền công nghiệp có bước phát triển, nhưng quy mô còn nhỏ,
trình độ còn thấp. Sản xuất công nghiệp chủ yếu là gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; trình độ công nghệ còn lạc
hậu, phần lớn là của thời kỳ cách mạng công nghệ 2.0, chậm được đổi mới; năng suất lao động của Việt Nam chưa
bằng 1/5 của Xin-ga-po, 1/3 của Thái Lan, 12 của Phi-lip-pin; năng lực cạnh tranh, khả năng tham gia chuỗi giá trị
toàn cầu rất hạn chế. Nội lực của nền công nghiệp yếu, phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI); tỷ lệ nội địa hóa trong sản phẩm do doanh nghiệp FDI sản xuất thấp. Việc cơ cấu lại các ngành sản
xuất công nghiệp còn chậm. Công nghiệp hỗ trợ kém phát triển; chưa có những ngành công nghiệp mũi nhọn có vai
trò dẫn dắt nền kinh tế; nhiều ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển nhưng không đạt được mục tiêu đề ra. Các
sản phẩm công nghệ cao, như điện thoại di động, máy tính, các linh kiện, thiết bị điện tử phần lớn là do các doanh
nghiệp FDI sản xuất. Công nghệ thông tin, viễn thông phát triển nhanh nhưng chủ yếu là nhập khẩu thiết bị để kinh
doanh dịch vụ. Công nghiệp phần mềm khá phát triển cũng chỉ chủ yếu là gia công cho nước ngoài. Hệ thống kết cấu
hạ tầng chưa đồng bộ. Chất lượng nghiên cứu, đào tạo của các viện nghiên cứu khoa học, các trường đại học, dạy
nghề còn hạn chế; ít có công trình được công bố, ít sáng chế được bảo hộ quyền sở hữu, ít đại học được xếp hạng cao
trong khu vực; thiếu lao động có tay nghề cao, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, thiếu các chuyên gia lành nghề,
nhất là thiếu các tổng công trinh sự có khả năng thiết kế, chế tạo những sản phẩm công nghiệp lớn, trình độ cao,...
Câu 2. Đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam hiện nay.
Thực hiện chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, những năm qua, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt
một tầm cao mới. Tiến trình hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng nâng tầm thế và lực cho Việt Nam trong phát
triển kinh tế - xã hội và nâng cao thu nhập cho người dân; tạo sức ép và điều kiện để tích cực hoàn thiện thể chế kinh lOMoAR cPSD| 40551442
tế; nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm... Tuy nhiên, tiến trinh hội nhập cũng
mang lại nhiều thách thức đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Thành tựu
Chủ động đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế toàndiện Trong hơn 30 năm đối mới, các chủ trương cơ bản về hội nhập
kinh tế quốc tế (HNKTQT) được đề cập tại nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng và Nhà nước, cụ thể tại
Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế (trong đó xác định
HNKTQT là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế) và Nghị quyết số
06NQ/TW ngày 5/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về thực hiện có hiệu
quả tiến trình HNKTQT, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương
mại tự do (FTA) thế hệ mới.
Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và ban hành các chương trinh, hành động phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ và đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương và được triển khai rộng rãi với nhiều hình thức phong phủ;
Tăng cường thực thi hiệu quả các FTA mà Việt Nam đã ký kết, góp phần đưa kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.
Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, công tác HNKTQT của Việt Nam đang phải
đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nổi lên rõ nét hơn. Mất cân đối thương mại
toàn cầu vẫn chưa được cải thiện, làm gia tăng xung đột thương mại, cạnh tranh chiến lược và cọ sát kinh tế, đặc biệt
giữa các nền kinh tế chủ chốt... Mặc dù, tình hình kinh tế thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường,
nhưng Việt Nam vẫn kiên trì chủ trương HNKTQT toàn diện với trọng tâm là HNKTQT, coi HNKTOT và tự do hóa
thương mại là xu thế tất yếu khách quan. Một số thành tựu của tiến trình HNKTQT toàn diện của Việt Nam gồm.
Một là, HNKTQT đã góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nền kinh tế Việt Nam từng bước được cơ cấu
lại gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế được tăng cường, nguồn nhân lực để cung
ứng cho phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) ngày càng phát triển. Mỗi trưởng đầu tư kinh doanh được cải thiện, minh
bạch, bình đẳng hơn, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên.
Việt Nam được nhiều tổ chứcquốc tế đánh giá là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực
cũng như trên thế giới và có triển vọng tốt nhờ kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo
đảm, lạm phát được kiểm soát, tạo môi trường, động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Quy mô kinh tế Việt Nam năm
2019 dự báo đạt 5,5 triệu tỷ đồng, tương đương 240,5 tỷ USD, gấp trên 1,3 lần so với năm 2015, hiện đứng thứ 44
trên thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 theo sức mua tương đương.
Hai là, HNKTQT tác động mạnh đến tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH. GDP bình quân đầu người
tăng từ 2.109 USD (năm 2015) lên 2.587 USD (năm 2018), khoảng 7.650 USD theo sức mua tương đương. Đặc biệt,
sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong năm 2007,
tăng trưởng GDP đạt 8,46% (mức cao nhất trong vòng 11 năm trước đó). Tuy nhiên, 4 năm sau đó, do ảnh hưởng từ
những biến động của kinh tế thế giới, nên tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2011 - 2013 giảm xuống còn 5,6%. Đáng
chú ý những năm tiếp theo, kinh tế khởi sắc hơn. Cụ thể, năm 2014 đạt 5.98%, năm 2015đạt 6,68%; 2016 đạt 6,1%,
năm 2017 GDP đạt 6,81%, năm 2018 đạt 7%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 240 tỷ USD, bình quân đầu người đạt
2.540 USD, mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm qua (2008-2018).
Ba là, HNKTQT thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam phát triển mạnh giúp gia tăng kim ngạch
xuất nhập khẩu (XNK), mở rộng thị trường đa dụng các loại hàng hóa tham gia XNK. Việt Nam đã trở thành một bộ
phận của nền kinh tế toàn cầu với tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đạt gần 480 tỷ USD, gấp gần 2 lần GDP. Từ
chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cânbằng XNK, thậm chí là xuất siêu. Việt Nam hiện đã có
quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Là thành viên của WTO, Việt Nam đã được 71 đối tác
công nhận là nền kinh tế thị trường, nhiều sản phẩm dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có
yêu cầu về chất lượng như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Mỹ...
Bốn là, HNKTQT sâu rộng hơn góp phần đưa Việt Nam trở thành một “mắt xích” quan trọng trong mạng lưới các
liên kết kinh tế với các nền kinh tế hàng đầu thế giới (gồm 12 FTA đã ký và đang thực thị; 2 Hiệp định đã ký kết, 4
FTA đang đàm phán bảo đảm cho kết nối thương mại tự do, ưu đãi cao với 60 nền kinh tế, chiếm 90% kim ngạch
thương mại của Việt Nam); đồng thời, tạo động lực mới và cả “sức ép” mới để thúc đẩy mạnh mẽ hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Môi
trường pháp lý, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước được cải cách theo hướng ngày càng phủ hợp với các
cam kết tiêu chuẩn cao trong các FTA và ngày càng minh bạch hơn, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước
ngày cảng thông thoáng hơn, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế cao của khu vực và thế giới.
Năm là, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Hội nghị Liên Hợp quốc về
thương mại và phát triển đánh giá, Việt Nam nằm trong 12 quốc gia thành công nhất về thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI). Hiện nay, có gần 26.000 doanh nghiệp (DN) FDI đang hoạt động ở Việt Nam, với số vốn cam kết
đầu tư trên 330 tỷ USD đến từ gần 130 quốc gia và đối tác. Vốn FDI vào Việt Nam chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn
xã hội. Các đối tác đã cam kết viện trợ hơn 3 tỷ USD cho Việt Nam trong giai đoạn 2018-2020. Việt Nam từng bước
trở thành một trong những công xưởng của thế giới về cung ứng hàng điện tử, dệt may, da giầy, điện thoại di động.. Han ché lOMoAR cPSD| 40551442 -
Chính sách, pháp luật về HNKTQT còn thiếu và chưa đồng bộ. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị
quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về HNKTQT chưa nghiêm và quyết liệt. Trình độ năng lực điều hành, quản
lý kinh tế của DN trong nước còn yếu kém. Hạn chế đỏ tác động tiêu cực tới việc làm tăng nguồn lực cho phát triển KT-XH đất nước. -
Chiến lược HNKTQT chưa toàn diện, dẫn đến chưa tận dụng được hết lợi ích của HNKTQT trong thực hiện
các mụctiêu phát triển KT-XH đất nước. Trong một số trường hợp, HNKTQT còn bị động, chưa phù hợp với thực
trạng phát triển đất nước, chưa phát huy được đầy đủ các hiệu quả và lợi ích của hội nhập mang lại. -
Trong nền kinh tế còn tồn tại một số hạn chế nội tại như: Cân đối vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế
chưa vữngchắc; Môi trường đầu tư kinh doanh và năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện; Thủ tục hành chính còn
nhiều vướng mắc; Tinh hình sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn; Số lượng DN giải thể, ngừng hoạt động lớn;
Năng lực tài chính, quản trị của phần lớn DN trong nước còn han ché... -
Một bộ phận đầu mỗi về HNKTQT tại một số bộ, ban, ngành và địa phương còn chưa chú trọng đến khâu
phối hợp và tham vẫn với các chương trình hành động về HNKTQT. Chính vì vậy, việc triển khai công tác HNKTQT
chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Giải pháp thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế Thủ nhất, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và chỉ có thể thành
công khi có sự tham gia hưởng ứng của các DN và người dân. Do vậy, cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành cần
quyết liệt vào cuộc, để tiếp tục đẩy mạnh HNKTQT trên tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội
nhập quốc tế; Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 và các nghị quyết,
chương trinh hành động, kế hoạch công tác hội nhập của Chính phủ.
Thứ hai, cùng với đẩy mạnh các hoạt động thương mại, đầu tư, Việt Nam cần nâng cao năng lực phòng chống, giải
quyết, xử lý các tranh chấp, khiếu nại, khiểu kiện về thương mại, đầu tư quốc tế, trong đó chú trọng đào tạo, bồi
dưỡng, phát triển đội ngũ luật sư, cán bộ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đảng của người dân và DN.
Thứ ba, nhận diện các động thái, xu hướng phát triển lớn của thế giới, từ đó có điều chỉnh đúng đắn, kịp thời trong
chiến lược phát triển, tận dụng triệt để những cơ hội mới mở ra. Tại phiên họp thứ nhất năm 2019 (tháng 6/2019), Ban
Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế đã đề nghị: Các bộ, ngành, địa phương cần coi trọng, tăng cường
nghiên cứu, đánh giá, dự báo các vấn đề mới của HNKTQT tác động tới Việt Nam...
Thứ tư, cần nắm bắt cơ hội và nhận diện rõ những thách thức của các FTA để có hội nhập phù hợp song không để bị
lệ thuộc và bị cuốn theo các trào lưu ngắn hạn, các xu hướng loại trừ và hình thành những liên kết khép kín trong làn
sóng FTA. thứ năm, thiết lập một nền kinh tế thị trường đầy đủ, minh bạch và hiện đại vừa là mục tiêu vừa là yêu cầu
của hội nhập. Để có được điều này cần có những chính sách cùng cổ quyền sở hữu nhằm thúc đẩy đầu tư dài hạn;
thực hiện hiệu quả cải cách hành chính công nhằm tăng tính minh bạch, giảm quan liêu và hạ chi phí giao dịch vốn có
ảnh hưởng không nhỏ đến các DN nhỏ và vừa.
Thứ sáu, tạo điều kiện thuận lợi, phát huy hơn nữa vai trò của địa phương, của DN trong công tác HNKIOT. Dư địa
phát triển lớn nhất nằm ngay trong sự nỗ lực không ngừng, sức sáng tạo của mỗi ĐN, mỗi người dân. Địa phương.
DN là chủ thể trung tâm của hội nhập, phải được thụ hưởng thành quà của hội nhập. DN, người dân phải chủ động
hơn, thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về hội nhập, không để tình trạng vi phạm
quy định pháp luật tiếp diễn, ảnh huing den ay tin và hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. CÂU HỎI
1. Phân tích tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa của quy luât gị á trị? Vân ḍ ụng vào
tình hình thực tiễn ở Viêt Nam?̣ Điều tiết sản xuất: Nếu măt ḥ
àng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy, lãi cao thì những ng sản xuất hàng hóa đó sẽ
mở rông quy mô sản xuất, đ ̣
ầu tư thêm tư liêu sản xuất ṿ à sức lao đông. Mặ t kḥ ác, những ng sản
xuất hàng hóa khác sẽ chuyển hướng sang sản xuất hàng hóa này để thu lãi cao. Do đó TLSX và sức lao đông ̣ ở
ngành này tăng lên, quy mô sản xuất càng được mở rông.̣
Ngược lại, nếu măt ḥ àng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, ng sản xuất xẽ bị lỗ vốn. Tinh hình đó buôc người ta pḥ
ải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc chuyển sang sản xuất măt ḥ
àng khác có lãi hơn, làm cho tư liêu sản xuất ṿ à
sức lao đông ̣ ở ngành này giảm đi.
Trong TH măt ḥ àng nào đó có giá cả bằng giá trị thì ng sản xuất có thể tiếp tục sản xuất măt ḥ àng này. Như vây, quy luậ t gị
á trị đã tự đông đị
ều tiết tỷ lê phân chia tư liệ u sản xuất ṿ à sức lao
đông ṿ ào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Điều tiết lưu thông hàng hóa: Thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, nhờ đó, góp phần làm
cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định. Vân ḍ ụng:
Thị trường gạo VN những năm gần đây là minh chứng cho tác đông đị ều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa của quy luât gị
á trị. Nhìn lại quá trình tham gai thị trường gạo TG, có thể thấy đến năm 2007, kinh tế VN mới chính lOMoAR cPSD| 40551442 thức hôi nhậ p ṿ
ào kinh tế toàn cầu, nhưng người nông dân sản xuất gạo VN đã tham gia thị trường lúa gạo TG trước đó 2 thâp ḳ
ỉ. VN đã trở thành quốc gia cung cấp gạo quan trọng trên thị trường TG.
Trong giai đoạn 1989-2008 VN đã xuất khẩu gạo sang 128 nước trên TG, trên 3 triêu ṭ ấn gạo. Trong năm 2009,
xuất khẩu gạo đã tăng vọt lên hơn 6 triêu ṭ
ấn. Đến năm 2010, xuất khẩu gạo tiếp tục đạt kỷ lục mới về cả số
lượng và trị giá với 6,75 triêu ṭ ấn và thu được 3 tỷ USD.
Nhìn vào những thành công trong xuất khẩu gạo của nước ta, có thể thấy rõ sự tác đông c ̣ ủa quy luât gị á
trị vào nền kinh tế. Xét riêng trong TH này là trong lưu thông hàng hóa. Do nguồn cung cấp gạo trên TG bị thiếu hụt,
nhiều nước muốn nhâp kḥ
ẩu gạo, giá gạo được đẩy lên cao, những nhà đầu tư sẽ chung chuyển gạo từ nơi có
giá thấp đến nới giá cao, làm cho lưu thông hàng hóa thông suốt, góp phần làm thị trường gạo trên TG có sự cân băng nhất định.
2. Phân tích tác dụng thúc đẩy LLSX của quy luât gị
á trị trong nền sản xuất hàng hóa? Vân ḍ
ụng vào tình hình thực tiễn ở nước ta hiên nay?̣
Trong sản xuất hàng hóa, trao đổi hàng hóa theo giá trị xã hội vì thế ng nào sản xuất hàng hóa có giá trị cá biêt nḥ
ỏ hơn giá trị xã hội thì sẽ thu lãi, những ng sản xuất hàng hóa có giá trị cá biêt ḷ ớn hơn giá trị xã hội thì phải chịu lỗ. Do vây, mụ
ốn tồn tại thì ng sản xuất hàng hóa phải không ngừng tìm mọi cách để cải tiến kỹ thuât, nâng cao tṛ
ình đô ̣ chuyên môn, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghề mới vào sản xuất, cải tiến phương thức tổ chức
và quản lý sản xuất,…. nhằm hạ thấp giá trị cá biêt.̣
Xu hướng này diễn ra liên tục vì do tất cả mọi người đều cố gắng hạ giá trị cá biêt xụ ống thì kéo theo gái trị xã
hội cũng giảm theo và ng sản xuất lại phải hạ giá trị cá biêt xụ
ống tiếp nữa, cứ như thế kỹ thuât được c ̣ ải tiến
không ngừng, năng suất lao đông tăng lên, gị
á thành sản phẩm hạ xuống,.. thông qua sự nỗ lực tối ưu hóa sản
xuất như vây ̣ mà LLSX xã hội không ngừng phát triển.
Liên hê:̣ Ví dụ điển hình về viêc c ̣
ải tiến kỹ thuât, nâng cao năng sụ ất lao đông ḷ à viêc tṛ ồng cà phe
ở nước ta. Với chiến lược cải tiến kỹ thuât, ̣ áp dụng giống mới, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao đông c ̣ ủa
ngành cà phê, nước ta đã có những bước tiến mới, có chỗ đứng trên thị trường TG. Sự tiến bô ṇ ày đã tạo ra thế cạnh
tranh giữa các nước đang sản xuất cà phê phải tuân theo quy luât g ̣
ía trị. Rõ ràng, tác đông c ̣ ủa quy luât gị
á trị đã khiến cho viêc sản xuất ̣ mang tính cạnh tranh cao và tăng cường khả năng phát triển cũng như sự
thích ứng của các doanh nghiêp trong ṇ ền kinh tế chung. Áp dụng tốt qu luât gị á trị, sáng tạo, đổi mới công nghê sản xuất ng ̣
ành cà phê không những tạo ra uy tín của mình trên thị trường mà còn thúc đẩy nền kinh tế nước nhà phát triển.
3. Phân tích thuôc ṭ
ính giá trị của hàng hóa sức lao đông? Liên hệ
ṿ ới thực tiễn viêt Nam?̣
Giá trị hàng hóa sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quy
định. Nó được xác định bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để duy trì đời sống
bình thường của công nhân và gia đình họ cộng với những phí tổn đào tạo để người công nhân có một trình độ nhất định.
Giá trị hàng hóa sức lao động còn phụ thuộc vào ngành nghề và lĩnh vực làm việc của công nhân trong nền kinh tế
và phụ thuộc vào các yếu tố tinh thần, lịch sử, tức là ngoài yêu cầu về vật chất, người công nhân còn có những nhu
cầu về văn hóa, tinh thần,…những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, điều
kiện địa lý, khí hậu ở nước đó và mức độ thỏa mãn những nhu cầu đó phần lớn phụ thuộc vào trình độ văn minh đã
đạt được của mỗi nước.
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là thỏa mãn nhu cầu của người mua, tức là mua để tiêu dùng vào quá
trình lao động. nhưng khác với hàng hóa thông thường, quá trình sử dụng hàng hóa sức lao động co thể tạo ra một
lượng giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó. Đó chính là đặc điểm khác biệt của hàng hóa sức lao động, là chìa khóa
để giải quyết mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản.
Liên hê:̣ Năm 1861 để phát triển công nghiêp, nước Ṃ ỹ đã chủ trương xóa bỏ chế đô nô lệ , gị ải phóng
sức lao đông ̣ của con người bằng sự kiên cuộ c nộ i chị
ến Nam-Bắc. Cuôc chị ến kết thúc vào năm 1865,
kể từ đó người lao đông ̣ được bán sức lao động cho ai trả giá cao, lương cao. Hàng hóa sức lao đông dc coi như 1 bự
ớc tiến của nền kinh tế VN, chỉ mới được công nhân ṭ
ừ năm 1986. Hang hóa sức lao đông la điều kiện tiên quỵ ết
để phát triển tinh tế công nghiêp, kinh ṭ ế thị trường. Về vât cḥ ất của người lao đông ṭ ại doanh nghiêp, đang ṭ ồn
tại vấn đề tiền lương và thu nhâp. Nḥ
ững năm gần đây, giá cả nhiều măt hang thị
ết yếu tăng liên tục nhưng
tiền lương thực tế lại giảm sút. Tiền lương danh nghĩa được điều chỉnh quá châm. Như vậ y gị á trị hàng hóa sức lao đông c ̣
ủa công nhân ngày càng giảm sút, không có giá trị đáng kể.
4. Phân tích thực chất của tích lũy tư bản? Liên hê ṿ ới thực tiễn ở Viêt Nam?̣
Thực chất của tích lũy tư bản:
Tái sản xuất có 2 hình thức chủ yếu là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rông. Dự ới CNTB, muốn tái sản xuất mở rông, nḥ
à TB phải sử dụng 1 phần giá trị thăng dư đ ̣
ể tăng thêm TB ứng trước, quá trình đó gọi lOMoAR cPSD| 40551442
là tích lũy TB. Thực chất của tích lũy TB là sự chuyển hóa 1 phần giá trị thăng dư tḥ
ành tư bản, hay là quá trình
tư bản hóa giá trị thăng dư.̣
Quá trình chuyển hóa 1 phần giá trị thăng dư tḥ ành TB phụ thêm gọi là tích lũy TB.
Kết luân ṛút ra từ viêc nghiên c ̣ứu tích lũy và tái sản xuất mở rông:̣
Nguồn gốc duy nhất của tích lũy TB là giá trị thăng dư ṿ
à nguồn tích lũy TB chiếm tỉ lê ng ̣ ày càng lớn
trong toàn bộ TB. Lao đông c ̣ ủa công nhân trong quá khứ lại trở thành phương tiên đ ̣ ể bóc lôt cḥ ính người công nhân.
Quá trình tích lũy làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hóa biến thành quyền chiếm đoạt TBCN.
Liên hê:̣ Thực trạng tích lũy vốn của nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, quy mô vốn của các doanh nghiêp tḥ ấp. Vì vây, c ̣
ác giải pháp huy đông ṿ ốn hiêu qụ
ả đóng vai trò hết sức quan trọng như: giải
quyết đúng đắn mối quan hê ṭ ích lũy tiêu dùng, sử dụng hiêu qụ ả các nguồn vốn, tăng cường tích lũy vốn trong
nước và tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Sở dĩ, chúng ta thực hiên c ̣ ác giải pháp như trên bởi vì trong
điều kiện của nước ta, từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH, chúng ta không còn cách nào khác là 1 măt pḥ ải huy đông tọ
àn bô ṣ ức lực của mọi người, mọi ngành, mọi cấp để tăng gia sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, măt kḥ
ác phải triêt đ ̣ ể tiết kiêm nḥ ằm tích lũy vốn từ nôi bộ
ṇ ền kinh tế nước ta cho sự nghiêp xây dựng pḥ át
triển nền kinh tế sản xuất lớn XHCN.
5. Phân tích tư bản thương nghiêp? Liên hệ tḥ ực tiễn ở VN?
Về măt ḷ ịch sử, TB thương nghiêp c ̣ ó trước TB công nghiêp. Trong c ̣
ác hình thức kinh tế- xã hội trước CNTB, TB thương nghiêp ṭ
ồn tại trên cơ sở lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tê. Cḥ ức năng của nó là phục vụ viêc trao đ ̣
ổi hàng hóa giữa sản xuất và tiêu dùng.
Trong CNTB, TB thương nghiêp ḷ à 1 bô phận TB công nghiệ p ṭ ách ra và phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa của TB công nghiêp.̣
Sản xuất ở Thương nghiêp: lưu thông ḥ
àng hóa/lưu thông tiền tê - tiêu ḍ
ùng TB thương nghiêp c ̣ ũng vân độ
ng theo công tḥ ức T-H-T’.
TB thương nghiêp ṿừa phụ thuôc, ṿừa đôc lập với TB công nghiệ p.̣
Sự phụ thuôc: TB thương nghiệ p ḷ à 1 bô phậ n c ̣ủa TB công nghiêp ṭách ra.
Tính đôc lậ p tương đ ̣
ối của TB thương nghiêp tḥ
ể hiên: TB thương nghiệ p tḥ ực hiên cḥ ức
năng cuối cùng và chuyển hóa H’-T’. môt cḥ
ức năng biêt ṭ ách khỏi TB công nghiêp (cḥ ỉ hoạt đông cḥ ức năng lưu thông)
Vai trò của TB thương nghiêp:̣
Làm giảm lượng TB ứng trước vào lưu thông, giảm chi phí lưu thông.
Các nhà TBSX tâp trung ṿ ào sản xuất làm tăng hiêu qụả của sản xuất.
Rút ngắn thời gian lưu thông, tăng tốc đô chu chuỵ ển, từ đó làm tăng m’ và M. Liên hê:̣ Hôi nhậ
p kinh ṭ ế quốc tế là xu hướng khách quan và chỉu đạo củ thời đại chúng ta, đã, đang và sẽ
tiếp tục định hướng, chi phối sự phát triển kinh tế của toàn TG, VN cũng đang trên con đg hôi nhậ p đ ̣ ó, điển hình
là viêc gia ̣ nhâp WTO. Ṿ ề măt nḥ
à nước, chúng ta đã ban hành nhiều nghị quyết cũng như luât khuỵ
ến khích sự phát triển các ngành kinh tế, đăc biệ t ḷ à thương mại: Gia nhâp WTO mang ḷ ại cho chúng ta nhiều cơ hôi ṃ
ới như thị trường được mở rông, công nghệ
ḥ àng hóa,… Được đối xử công bằng trên thị trường quốc
tế, cải thiên c ̣ ác điều kiện cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.
6. Xuất khẩu TB là gì? Trình bày các hình thức xuất khẩu TB? Vân ḍ ụng vào thực tiễn VN?
Xuất khẩu TB là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư TB ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thăng ̣
dư ở các nước nhâp kḥ ẩu TB. Đăc đị ểm:
CNTB tự do cạnh tranh xuất khẩu chủ yếu là xuất khẩu hàng hóa: mang hàng hóa ra nước ngoài nhằm thực hiên gị
á trị và giá trị thăng dư.̣ CNTB đôc quỵ
ền xuất khẩu chủ yếu là xuất khẩu TB: đầu tư TB ra nước ngoài nhằm mục đích chiếm đoạt
giá trị thăng dư ̣ ở các nước nhâp kḥ ẩu TB đó.
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, xuất khẩu TB trở thành tất yếu kinh tế, vì các nước TB phát triển đã tích lũy được 1
khối lượng TB lớn và nảy sinh tình trạng “thừa TB”. Không phải thừa so với nhu cầu đầu tư mà thừa tương đối do ở
trong nước thiếu đầu tư có P’ cao. Trong khi đó các nước kém phát triển lại dồi dào về nguyên liêu, lao độ ng nhưng ̣
thiếu vốn đầu tư và kỹ thuât. Ṿ ì vây, TB độ
c quỵ ền thực hiên xụ ất khẩu TB.
Các hình thức xuất khẩu TB:
Dựa vào hình thức đầu tư, có thẻ phân chia xuất khẩu TB:
Xuất khẩu TB trực tiếp: chủ TB trực tiếp kinh doanh nhằm thu lợi nhuân độ c quỵ ền
cao. Xuất khẩu TB gián tiếp: chủ TB mang 1 lượng TB ra nước ngoài cho vay để thu lợi
tức. Nếu xét theo chủ thể sở hữu: