Đề Chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm”(Pauxtopxki)
----------------------------------------------------------------------------------------------
Đặng Tiến từng bày t quan điểm rằng : “Nghệ thuật tạo vẻ đẹp cho những dòng nước mắt, biến nỗi
thống khổ của nhân loại thành tiếng hát biên”. Chẳng cần cao xa, chỉ đơn thuần những mảnh đời
thường dung dị, nhưng dưới ngòi bút của người nghệ sĩ, văn học lay động đến tận nơi sâu kín bên trong
con người. Để một tác phẩm tạo được sức hấp dẫn cũng như khơi sáng tâm hồn” của bạn đọc, người
sáng tạo ra chúng phải làm sao cho mỗi tác phẩm đều mang một chất riêng, không theo bất khuôn mẫu
nào. Một trong yếu t sáng tạo, làm nên nét độc đáo riêng biệt của văn chương đó chính chi tiết. Tìm
gặp ý kiến của Pauxtopxki., ta càng thấy được giá trị của chi tiết trong tác phẩm văn học “Chi tiết làm
nên bụi vàng của tác phẩm”
Tựa như một viên gạch xây nhà, để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật nguyên vẹn thì không thể thiếu
những chi tiết nhỏ nhất. Chi tiết nghệ thuật yếu tố tuy nhưng mang sức chứa lớn về mặt
tưởng, tình cảm. thể những điều nhỏ nhặt như một bát cháo trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam
Cao, ngọn đèn nơi phố huyện được Thạch Lam đưa vào “Hai đứa trẻ”,.. tuy chỉ nhỏ đến mức nếu chẳng
chú ý ta sẽ dễ dàng ớt qua, song chi tiết lại thể đóng vai trò làm tiền đề cho cốt truyện. Bởi lẽ, văn
học quá trình sáng tạo phản ánh đời sống nên chính chi tiết mang bản chất sáng tạo của người nghệ
giá trị tạo hình trong phản ánh tưởng. Vốn đã một giá trị cùng quan trọng, đây Pauxtopxki
còn dùng thêm cụm t “bụi vàng” khi đề cập đến chi tiết trong tác phẩm n học, đều dụng ý. Dẫu
nhỏ như bụi, nhưng lại quý như vàng, một thứ “bụi vàng” bao chứa trong đấy cả một đời người, sự
gửi gắm về vấn đề nhân sinh. Chung quy tất cả, câu nói của Pauxtopxki đã khẳng định rành mạch giá trị
cốt lõi của từng chi tiết nhỏ trong tác phẩm văn học. Chi tiết nghệ thuật tựa như linh hồn của một tác
phẩm, càng sức biểu đạt, khơi gợi được tâm tình ẩn sâu trong lòng độc giả, thì chi tiết ng được nâng
tầm giá trị, tạo nên “bụi vàng” lấp lánh
Nếu ví, nhân vật như “linh hồn” của tác phẩm,thì Heghen xem chi tiết như “những con mắt mở những
cửa sổ” để người ta nhìn vào linh hồn ấy. Âm điệu, tiết tấu, nốt nhạc tạo nên âm nhạc; Đường nét, bố cục,
màu sắc tạo thành hội họa thì chi tiết nghệ thuật dựng dậy sự sống động, làm nên một “bức chân dung”
khắc họa hình tượng nhân vật. Bởi “văn đời, chuyện văn chuyện đời” chi tiết phải làm sao cho hình
tượng nhân vật hiện ra càng nét cụ thể t tác phẩm cảng chạm đến được trái tim, tâm thức của bạn
đọc. chi tiết khắc họa một cách n ợng một gương mặt, một dáng hình đặc trưng của nhân vật.
chi tiết diễn tả nỗi buồn, nỗi dằn vặt, u sầu một ch sâu sắc giữa cảnh ngộ trớ trêu của nhân vật, t đó
khơi lên trong người đọc niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác. chi tiết lại nói về những ước mơ,
khao khát, một phẩm chất tài hoa để từ đó ta biết trân quý hơn cuộc đời này. Dẫu chi tiết nói về
đi chăng nữa thì chung quy lại vẫn hướng về con người, nhân sinh, đời tồn tại
Nếu M.Gorki từng y tỏ quan điểm Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” thì lẽ Nam Cao một trong
những “cây bút lão luyện” của nền văn học Việt Nam làm sáng tỏ ý kiến trên . Vốn người tấm lòng
đôn hậu, chan chứa tình yêu, ông gắn sâu đậm với quê hương xứ sở, với những số phận lao động
nghèo bị hội hắt hủi, áp bức. Là một nhà văn đi theo chủ nghĩa hiện thực, “một nhà nhân đạo từ trong
cốt tủy”, không thể không nhắc đến tác phẩm “Chí Phèo” được ra đời o những năm 1941, khắc họa
nét hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng. Với sự tài tình, khéo léo, lối hành văn sắc sảo, đào
sâu vào tâm của nhân vật, những chi tiết “bát cháo hành”, “giọt ớc mắt của Chí Phèo”,.. càng khiến ta
hiểu thế nào “bụi vàng” của một tác phẩm văn học
Tác phẩm nói chung nhân vật Chí Phèo” nói riêng đã khắc họa thành công hình ảnh người nông dân
nghèo, bị bần cùng bởi đói kém bám riết mãi, bị chèn ép không thương xót của hội phong kiến cũ.
Người nông dân vốn mang trong mình bản chất lương thiện ấy thế biết làm sao được khi thân phận
thấp cổ họng giữa dòng đời còn lắm sự bất công bỗng chốc hóa thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại.
Ai sinh ra Chí, cả làng này không biết, bản thân hắn cũng chẳng rõ, dường như đó bi kịch đầu tiên của
truyện, cả cuộc đời Chí chỉ con số 0 tròn trĩnh. Nhờ vào s cưu mang của dân làng, Chí lớn lên, năm ấy
18 tuổi Chí làm canh điền cho nhà kiến. Một anh nông dân hiền lành, chăm chỉ, ước bấy giờ của
hắn “ao ước một gia đình nho nhỏ” “Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”. Chỉ điều ước giản đơn
nhưng lại bị sự dâm dục của ba kiến làm nổi lên cơn ghen của lão chồng khiến cuộc đời Chí bắt đầu
chuỗi bi kịch kéo dài. Hắn về từ cõi ngục tù, không ai nhận ra “Cái đầu cạo trọc lốc, cái răng t trắng
hớn, cái mặt thì đen trông rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết !” . Không chỉ thay đổi về
ngoại hình còn cả nhân tính. “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong hắn chửi.”Cuộc
đời Chí bây giờ chỉ nhuốm màu u tối, bởi chẳng ai coi hắn con người nh thường nữa, cái mác quỷ dữ
khiến người làng xa nh, còn hắn thì mãi chìm trong hố đen của đời.
Nam Cao thật tài tình khi “rọi vào” cuộc đời Chí Phèo một ánh sáng của niềm tin, hy vọng, một ánh sáng
đủ thể khiến hắn thức tỉnh giữa chuỗi n say mèm. Len lỏi giữa làng Đại,vẫn còn một người
không sợ Chí. Hướng ngòi bút theo chủ nghĩa hiện thực, Nam Cao dùng lời văn lạnh lùng mỉa mai người
đàn ấy “xấu ma chê quỷ hờn” còn lại “ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích”. Ấy thế mà, Thị
Nở lại thật khác biệt. Chi tiết “bát cháo hành” sau đêm say, không chỉ mang tính trách nhiệm còn cả
một tấm lòng. Thị thấy thương Chí cái thằng liều lĩnh ấy kể ra thì đáng thương, còn đáng thương
bằng đau ốm nằm cong queo một mình”. Trong thâm tâm của Thị, Thị lo cho Chí, một nỗi lo thực sự
những người thân yêu dành cho nhau. Làm ai trong cái làng ấy, sớm ra chạy đi tìm gạo để nấu
cháo, ai suy nghĩ đến chuyện Đang ốm thế thì chỉ ăn cháo hành. Ra được mồ hôi thì nhẹ nhõm người
ngay đó mà”. Một chi tiết nhỏ thế thôi, bát cháo hành của Thị Nở đã trở thành “bụi vàng” quý giá, là
“điểm sáng” giữa chuỗi bi kịch đời Chí Phèo, tính nhân đạo Nam Cao đã khéo léo thêm vào.
Lóe lên giữa cuộc đời âm u kia, Chí cảm nhận được tình người hiếm hoi, cảm nhận sự chăm sóc ân cần
xuất phát từ trái tim Thị Nở, dường như cảm hóa Chí Phèo. Hắn khao khát tìm lại cái bản tính ngày
xưa, thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”. Bát
cháo hành của tình yêu, bát cháo hành làm thức tỉnh con người. Hắn nuôi lại ước thời trai trẻ, một ước
giản dị thiêng liêng biết bao. Song cứ ngỡ đời sẽ dịu dàng với Chí, nhưng không, tấn bi kịch lại kéo
đến bên hắn khi của Thị Nở xuất hiện. Chỉ bằng một câu nói của khiến mọi hi vọng bị dập
tắt : “Đàn ông chết hết cả rồi sao, lại đâm đầu đi lấy một thằng không cha. Ai lại đi lấy một thằng chỉ
một nghề đi rạch mặt ra ăn vạ.” Chút tình thương của Thị Nở sao thể cứu được Chí, bởi ngoài
Thị ra chẳng ai chìa tay ra giúp hắn quay đầu. Đó cũng lúc, Chí cũng biết rằng cái hội khắc nghiệt
kia đã cướp đi quyền làm người của Chí, mãi mãi. Lần này tìm đến rượu càng uống hắn càng tỉnh, thấm
thía cội nguồn của tất cả. Hắn vác dao đến nhà Kiến đòi lương thiện, sự phẫn uất thể hiện trong từng
câu chữ hắn thốt ra “Tao muốn làm người lương thiện” “Ai cho tao lương thiện?”.Chỉ với chi tiết câu nói
cuối đời của Chí Phèo, Nam Cao đã lên án cái hội tàn bạo kia, phá đi thể xác lẫn tâm hồn người nông
dân, đồng thời cũng ca ngợi bản chất lương thiện ẩn sâu trong con người dẫu họ bị tha hóa hay dị dạng
ra sao.
“Truyện thể cốt truyện, thể không cốt truyện, nhưng không thể nghèo chi tiết. Nếu thế truyện
sẽ như nước lã”(Nguyên Ngọc). Mỗi chi tiết là tiêu điểm, sự khởi đầu cho sự vật sự việc phát sinh,
thế nếu trong tác phẩm truyện nghèo nàn, ít ỏi, xây dựng hời hợt thì tác phẩm s trở nên vị, không bộc
phát đủ tưởng, ý nghĩa nhân văn. Trải i khắp quá trình văn học Việt Nam, biết bao nhiêu tác phẩm
thành công vang dội bởi những chi tiết nhỏ nhưng đầy sức hút, nổi bật, tạo nên ấn tượng sâu sắc trong
lòng bạn đọc. đây, Hoài cùng tác phẩm “V chồng A Phủ” đã làm được điều ấy. Hoài tên
khai sinh Nguyễn Sen, quê Hà Nội. Xuyên suốt hơn sáu mươi năm hoạt động nghệ thuật, ông sở hữu
cho mình lượng tác phẩm lớn. Với vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về nhiều vùng miền kết hợp lối trần
thuật hóm hỉnh nên tác phẩm của ông rất lôi cuốn người đọc. truyện ngắn “VCAP” (1952) viết về số
phận người lao động vùng cao Tây Bắc, không cam chịu sự đày đọa, áp bức vùng lên phản kháng tìm tự
do, điển hình chi tiết giọt nước mắt của A phủ” “tiếng sáo của Mị”
Nhân vật Mị xuất hiện đầu câu chuyện đã mang trên mình số phận nghiệt ngã, lẻ loi. Vốn “con dâu
gạt nợ” bị cũng rình ma” nhà Thống lí. l chính tập tục ám ảnh này khiến Mị quan niệm rằng
linh hồn của bản thân bị giam giữ đến hết đời, không bao giờ được tự do. Cảm xúc của Mị chỉ cứng đờ,
gương mặt hồn, “dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, ấy
cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Nghe đến hai chữ “làm dâu” nhà Thống lí, cứ ngỡ cuộc đời Mị sẽ
sung túc, nhưng mấy ai ngờ muộn phiền, uẩn khúc, muộn phiền bi kịch cứ thế kéo đến.
“Tiếng sáo trong đêm tình xuân” nét đẹp văn hóa của đời sống sinh hoạt đời sống tinh thần của
người dân nơi đây. Hòa theo mạch truyện, tiếng sáo xuất hiện lúc thì văng vẳng từ xa khi vọng lại tha
thiết bồi hồi, lúc thì rập rờn trong đầu Mị. Tiếng sáo tựa như một miền không gian êm dịu nên thơ thuộc
về tâm hồn Mị. Bởi Mị cũng từng là người con gái mang trong mình tình yêu dành cho đời cùng đẹp
đẽ, hơn thế nữa còn biệt tài thổi sáo.”Mị uốn chiếc trên môi, thổi cũng hay như thổi sáo”.
Nhưng cuộc đời trớ trêu, khát khao tự do bị đè nén kể từ ngày bước chân vào nhà Thống Tra, cuộc
sống khổ cực thê thảm bội phần “ở lâu trong cái khổ Mị quen khổ rồi”. Cho đến khi mùa xuân Hồng Ngài
kia mang màu sắc, âm thanh, sự rộn đã đánh thức đã đánh thức sự tiềm tàng tưởng chừng đã chết của
gái này. Qúa trình thức tỉnh của Mị gắn liền với tiếng o,đó chất xúc tác mạnh mẽ lay tỉnh một tâm
hồn đang ngủ yên,Lần đầu tiên tiếng sáo xuất hiện trong tác phẩm cũng lần đầu tiên sau bao ngày dài
câm nín nhà thống “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát người
đang thổi”. Trong không khí đón tết, nhìn cảnh người người nhà nhà đi chơi, thêm cái nồng nàn của
rượu, tiếng sáo đã đưa Mị về quá khứ, lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo
gọi bạn đầu làng. Từ đây, tiếng sáo thức dậy khát vọng sống, sức sống trong Mị, Mị thấy phơi phới trở
lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước. “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn
đi chơi.”Trong đầu rập rờn tiếng sáo. Tiếng sáo vẫy gọi Mị, thôi thúc Mị. Chính chi tiết tiếng sáo giàu sức
gợi này giúp nhà văn Hoài khám phá ra vẻ đẹp tâm hồn Mị, đồng thời cũng khẳng định sức sống của
con người.
Từ nửa sau của truyện ngắn, nhân vật A Phủ xuất hiện. Vốn mồ côi cả cha lẫn mẹ dịch bệnh, suốt
đời A Phủ làm thuê làm mướn, cái nghèo đeo bám khiến cho chàng không lấy được vợ. Dẫu hoàn cảnh
khắc nghiệt đến thế song A Phủ một chàng trai khỏe mạnh chạy nhanh như ngựa”, lao động giỏi thế
A Phủ trở thành niềm ước của bao gái Đứa nào lấy được A Phủ cũng bằng được con trâu
tốt trong nhà”. Không những thế chàng trai này còn tính cách gan góc, táo bạo, một sức sống mạnh mẽ,
nghĩa hiệp. Song, cũng như Mị đắc tội với nhà Thống nên anh cũng bị “cũng rình ma” trở thành
lệ của nhà này mãi mãi, khi nào trả hết nợ mới thôi. Cứ tưởng mọi chuyện đã đi vào ngõ cụt bế tắc, may
mắn thay chi tiết đêm đông ấy đã lật ngược tình thế.
Sau mọi nỗ lực tự giải cứu không thành, trong nỗi bất lực tuyệt vọng kia, A Phủ đã khóc. May mắn thay,
đúng lúc ấy Mị thức dậy thổi lửa tay chứng kiến “Mị mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng
vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh xuống hai hõm xám đen lại”. dường như giọt nước mắt ấy
làm Mị thức tỉnh. Làm thế nào chỉ với một giọt nước mắt lại sức mạnh diệu kỳ thế kia ? Liệu đây
phải sự đồng cảm nghịch cảnh của A Phủ cũng chẳng khác Mị. Nam Cao đã từng viết rằng nếu
người trong đau khổ không biết thương lấy nhau thì còn ai thương mình nữa” vậy nên chi tiết giọt nước
mắt A Phủ làm gợi dậy sức sống, khát khao phản kháng cái ác trong Mị, dẫn đến hành động Mị cởi trói
cho A Phủ. Giotj nước mắt, cũng như tiếng sáo chính nhân tố làm sáng ngời lên sức sống tiềm tàng
mãnh liệt, lòng thương người ngấm trong cốt tủy trải qua hoàn cảnh như thế nào đi chăng nữa. Những
chi tiết ấy thể hiện giá tr nhân đạo cùng sâu sắc.
Hai tác phẩm ra đời hai thời điểm khác nhau, không cùng tác giả nhưng tất cả đều ớng về nhân sinh,
về những điều tốt đẹp dẫu hội ngoài kia bất công ra sao. Bởi “xét đến cùng ý nghĩa thật sự của văn
học nhân đạo hóa con người” nên cốt truyện, tình huống truyện, chi tiết truyện ra sao đi chăng
nữa, tác giả vẫn luôn muốn gửi gắm đến bạn đọc những “cuộc đối thoại” về đời. Chi tiết nhỏ thế thôi,
nhưng lại mang trong mình không chỉ giá trị nghệ thuật độc đáo còn cả một “vùng trời”
tưởng của người cầm bút, bước ngoặt thay đổi cả số phận của một nhân vật. Qủa không sai khi chi
tiết nhỏ như “bụi vàng” của tác phẩm, chúng không quan trọng mặt kích thước, cốt yếu quý giá của
chúng nằm nội dung chi tiết đó mang theo
Lê-ô-nốp Lê-ô-nít từng viết Nếu tình huống tạo ra bước ngoặt của tác phẩm thì chi tiết nghệ thuật
bánh bẻ lái trên đường cua tuyệt diệu ấy” Muốn tác phẩm một đời sống thực thụ, chi tiết nghệ thuật
phải giàu tính nghệ thuật, phải được xuất hiện đúng lúc, đúng chỗ, một cách hợp tình hợp lí. Để rồi khi
gấp lại tác phẩm, bạn đọc chúng ta vẫn thấy đâu đó một tiếng nức nở tuyệt vọng, sự chua chát của số
phận, hay niềm vui hân hoan.Mỗi chi tiết nghệ thuật một sáng tạo riêng của nhà văn nhưng đồng thời
cũng kết tinh từ những thu lượm được trong đời sống sâu rộng của người viết. Như giọt nước kết
tinh cái mặn mòi của biển, chi tiết đồng thời cho thấy vốn sống của người cầm bút. Cũng như Nam Cao
quan niệm “Sống đã rồi hãy viết, hãy hòa mình vào cuộc sống đại của nhân dân”

Preview text:

Đề “ Chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm”(Pauxtopxki)
----------------------------------------------------------------------------------------------
Đặng Tiến từng bày tỏ quan điểm rằng : “Nghệ thuật tạo vẻ đẹp cho những dòng nước mắt, biến nỗi
thống khổ của nhân loại thành tiếng hát vô biên”. Chẳng cần gì cao xa, chỉ đơn thuần là những mảnh đời
thường dung dị, nhưng dưới ngòi bút của người nghệ sĩ, văn học lay động đến tận nơi sâu kín bên trong
con người. Để một tác phẩm tạo được sức hấp dẫn cũng như “khơi sáng tâm hồn” của bạn đọc, người
sáng tạo ra chúng phải làm sao cho mỗi tác phẩm đều mang một chất riêng, không theo bất kì khuôn mẫu
nào. Một trong yếu tố sáng tạo, làm nên nét độc đáo riêng biệt của văn chương đó chính là chi tiết. Tìm
gặp ý kiến của Pauxtopxki., ta càng thấy rõ được giá trị của chi tiết trong tác phẩm văn học “Chi tiết làm
nên bụi vàng của tác phẩm”
Tựa như một viên gạch xây nhà, để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật nguyên vẹn thì không thể thiếu
những chi tiết dù là nhỏ nhất. Chi tiết nghệ thuật là yếu tố tuy bé nhưng mang sức chứa lớn về mặt tư
tưởng, tình cảm. Nó có thể là những điều nhỏ nhặt như một bát cháo trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam
Cao, ngọn đèn nơi phố huyện được Thạch Lam đưa vào “Hai đứa trẻ”,. tuy chỉ nhỏ đến mức nếu chẳng
chú ý ta sẽ dễ dàng lướt qua, song chi tiết lại có thể đóng vai trò làm tiền đề cho cốt truyện. Bởi lẽ, văn
học là quá trình sáng tạo và phản ánh đời sống nên chính chi tiết mang bản chất sáng tạo của người nghệ
sĩ và giá trị tạo hình trong phản ánh tư tưởng. Vốn đã có một giá trị vô cùng quan trọng, ở đây Pauxtopxki
còn dùng thêm cụm từ “bụi vàng” khi đề cập đến chi tiết trong tác phẩm văn học, là đều có dụng ý. Dẫu
nhỏ bé như bụi, nhưng lại quý như vàng, một thứ “bụi vàng” bao chứa trong đấy là cả một đời người, sự
gửi gắm về vấn đề nhân sinh. Chung quy tất cả, câu nói của Pauxtopxki đã khẳng định rành mạch giá trị
cốt lõi của từng chi tiết nhỏ trong tác phẩm văn học. Chi tiết nghệ thuật tựa như linh hồn của một tác
phẩm, càng có sức biểu đạt, khơi gợi được tâm tình ẩn sâu trong lòng độc giả, thì chi tiết càng được nâng
tầm giá trị, tạo nên “bụi vàng” lấp lánh
Nếu ví, nhân vật như “linh hồn” của tác phẩm,thì Heghen xem chi tiết như “những con mắt mở những
cửa sổ” để người ta nhìn vào linh hồn ấy. Âm điệu, tiết tấu, nốt nhạc tạo nên âm nhạc; Đường nét, bố cục,
màu sắc tạo thành hội họa thì chi tiết nghệ thuật dựng dậy sự sống động, làm nên một “bức chân dung”
khắc họa hình tượng nhân vật. Bởi “văn là đời, chuyện văn là chuyện đời” chi tiết phải làm sao cho hình
tượng nhân vật hiện ra càng rõ nét cụ thể thì tác phẩm cảng chạm đến được trái tim, tâm thức của bạn
đọc. Có chi tiết khắc họa một cách ấn tượng một gương mặt, một dáng hình đặc trưng của nhân vật. Có
chi tiết diễn tả nỗi buồn, nỗi dằn vặt, u sầu một cách sâu sắc giữa cảnh ngộ trớ trêu của nhân vật, từ đó mà
khơi lên trong người đọc niềm trắc ẩn, ý thức phản kháng cái ác. Có chi tiết lại nói về những ước mơ,
khao khát, một phẩm chất tài hoa để từ đó mà ta biết trân quý hơn cuộc đời này. Dẫu chi tiết có nói về gì
đi chăng nữa thì chung quy lại vẫn hướng về con người, vì nhân sinh, và vì đời mà tồn tại
Nếu M.Gorki từng bày tỏ quan điểm “ Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn” thì có lẽ Nam Cao là một trong
những “cây bút lão luyện” của nền văn học Việt Nam làm sáng tỏ ý kiến trên . Vốn là người có tấm lòng
đôn hậu, chan chứa tình yêu, ông gắn bó sâu đậm với quê hương xứ sở, với những số phận lao động
nghèo bị xã hội hắt hủi, áp bức. Là một nhà văn đi theo chủ nghĩa hiện thực, “một nhà nhân đạo từ trong
cốt tủy”, không thể không nhắc đến tác phẩm “Chí Phèo” được ra đời vào những năm 1941, khắc họa rõ
nét xã hội ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng. Với sự tài tình, khéo léo, lối hành văn sắc sảo, đào
sâu vào tâm lí của nhân vật, những chi tiết “bát cháo hành”, “giọt nước mắt của Chí Phèo”,. càng khiến ta
hiểu rõ thế nào là “bụi vàng” của một tác phẩm văn học
Tác phẩm nói chung và nhân vật “Chí Phèo” nói riêng đã khắc họa thành công hình ảnh người nông dân
nghèo, bị bần cùng bởi đói kém bám riết mãi, bị chèn ép không thương xót của xã hội phong kiến cũ.
Người nông dân vốn mang trong mình bản chất lương thiện ấy thế mà biết làm sao được khi thân phận
thấp cổ bé họng giữa dòng đời còn lắm sự bất công bỗng chốc hóa thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại.
Ai sinh ra Chí, cả làng này không biết, bản thân hắn cũng chẳng rõ, dường như đó là bi kịch đầu tiên của
truyện, cả cuộc đời Chí chỉ là con số 0 tròn trĩnh. Nhờ vào sự cưu mang của dân làng, Chí lớn lên, năm ấy
18 tuổi Chí làm canh điền cho nhà lý kiến. Một anh nông dân hiền lành, chăm chỉ, ước mơ bấy giờ của
hắn “ao ước có một gia đình nho nhỏ” “Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”. Chỉ là điều ước giản đơn
nhưng lại bị sự dâm dục của bà ba bá kiến làm nổi lên cơn ghen của lão chồng khiến cuộc đời Chí bắt đầu
chuỗi bi kịch kéo dài. Hắn về từ cõi ngục tù, không ai nhận ra “Cái đầu cạo trọc lốc, cái răng thì trắng
hớn, cái mặt thì đen trông rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết !” . Không chỉ thay đổi về
ngoại hình mà còn cả nhân tính. “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi.”Cuộc
đời Chí bây giờ chỉ nhuốm màu u tối, bởi chẳng ai coi hắn là con người bình thường nữa, cái mác quỷ dữ
khiến người làng xa lánh, còn hắn thì mãi chìm trong hố đen của đời.
Nam Cao thật tài tình khi “rọi vào” cuộc đời Chí Phèo một ánh sáng của niềm tin, hy vọng, một ánh sáng
đủ có thể khiến hắn thức tỉnh giữa chuỗi cơn say mèm. Len lỏi giữa làng Vũ Đại,vẫn còn một người
không sợ Chí. Hướng ngòi bút theo chủ nghĩa hiện thực, Nam Cao dùng lời văn lạnh lùng mỉa mai người
đàn bà ấy “xấu ma chê quỷ hờn” còn lại “ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích”. Ấy thế mà, Thị
Nở lại thật khác biệt. Chi tiết “bát cháo hành” sau đêm say, không chỉ mang tính trách nhiệm mà còn cả
một tấm lòng. Thị thấy thương Chí “ cái thằng liều lĩnh ấy kể ra thì đáng thương, còn gì đáng thương
bằng đau ốm mà nằm cong queo một mình”. Trong thâm tâm của Thị, Thị lo cho Chí, một nỗi lo thực sự
mà những người thân yêu dành cho nhau. Làm gì có ai trong cái làng ấy, sớm ra chạy đi tìm gạo để nấu
cháo, có ai suy nghĩ đến chuyện “ Đang ốm thế thì chỉ ăn cháo hành. Ra được mồ hôi thì nhẹ nhõm người
ngay đó mà”. Một chi tiết nhỏ thế thôi, bát cháo hành của Thị Nở đã trở thành “bụi vàng” quý giá, là
“điểm sáng” giữa chuỗi bi kịch đời Chí Phèo, là tính nhân đạo mà Nam Cao đã khéo léo thêm vào.
Lóe lên giữa cuộc đời âm u kia, Chí cảm nhận được tình người hiếm hoi, cảm nhận sự chăm sóc ân cần
xuất phát từ trái tim Thị Nở, và nó dường như cảm hóa Chí Phèo. Hắn khao khát tìm lại cái bản tính ngày
xưa, “ thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”. Bát
cháo hành của tình yêu, bát cháo hành làm thức tỉnh con người. Hắn nuôi lại ước mơ thời trai trẻ, một ước
mơ giản dị thiêng liêng biết bao. Song cứ ngỡ đời sẽ dịu dàng với Chí, nhưng không, tấn bi kịch lại kéo
đến bên hắn khi bà cô của Thị Nở xuất hiện. Chỉ bằng một câu nói của bà cô khiến mọi hi vọng bị dập
tắt : “Đàn ông chết hết cả rồi sao, mà lại đâm đầu đi lấy một thằng không cha. Ai lại đi lấy một thằng chỉ
có một nghề là đi rạch mặt ra ăn vạ.” Chút tình thương của Thị Nở sao có thể cứu được Chí, bởi ngoài
Thị ra chẳng ai chìa tay ra giúp hắn quay đầu. Đó cũng là lúc, Chí cũng biết rằng cái xã hội khắc nghiệt
kia đã cướp đi quyền làm người của Chí, mãi mãi. Lần này tìm đến rượu càng uống hắn càng tỉnh, thấm
thía cội nguồn của tất cả. Hắn vác dao đến nhà Bá Kiến đòi lương thiện, sự phẫn uất thể hiện trong từng
câu chữ hắn thốt ra “Tao muốn làm người lương thiện” “Ai cho tao lương thiện?”.Chỉ với chi tiết câu nói
cuối đời của Chí Phèo, Nam Cao đã lên án cái xã hội tàn bạo kia, phá đi thể xác lẫn tâm hồn người nông
dân, đồng thời cũng ca ngợi bản chất lương thiện ẩn sâu trong con người dẫu họ có bị tha hóa hay dị dạng ra sao.
“Truyện có thể có cốt truyện, có thể không có cốt truyện, nhưng không thể nghèo chi tiết. Nếu thế truyện
sẽ như nước lã”(Nguyên Ngọc). Mỗi chi tiết là tiêu điểm, là sự khởi đầu cho sự vật sự việc phát sinh, vì
thế nếu trong tác phẩm truyện nghèo nàn, ít ỏi, xây dựng hời hợt thì tác phẩm sẽ trở nên vô vị, không bộc
phát đủ tư tưởng, ý nghĩa nhân văn. Trải dài khắp quá trình văn học Việt Nam, có biết bao nhiêu tác phẩm
thành công vang dội bởi những chi tiết nhỏ nhưng đầy sức hút, nổi bật, tạo nên ấn tượng sâu sắc trong
lòng bạn đọc. Và ở đây, Tô Hoài cùng tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” đã làm được điều ấy. Tô Hoài tên
khai sinh là Nguyễn Sen, quê ở Hà Nội. Xuyên suốt hơn sáu mươi năm hoạt động nghệ thuật, ông sở hữu
cho mình lượng tác phẩm lớn. Với vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về nhiều vùng miền kết hợp lối trần
thuật hóm hỉnh nên tác phẩm của ông rất lôi cuốn người đọc. Và truyện ngắn “VCAP” (1952) viết về số
phận người lao động vùng cao Tây Bắc, không cam chịu sự đày đọa, áp bức vùng lên phản kháng tìm tự
do, điển hình là chi tiết “giọt nước mắt của A phủ” và “tiếng sáo của Mị”
Nhân vật Mị xuất hiện ở đầu câu chuyện đã mang trên mình số phận nghiệt ngã, lẻ loi. Vốn là “con dâu
gạt nợ” “bị cũng rình ma” ở nhà Thống lí. Và có lẽ chính vì tập tục ám ảnh này khiến Mị quan niệm rằng
linh hồn của bản thân bị giam giữ đến hết đời, không bao giờ được tự do. Cảm xúc của Mị chỉ cứng đờ,
gương mặt vô hồn, “dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy
cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Nghe đến hai chữ “làm dâu” nhà Thống lí, cứ ngỡ cuộc đời Mị sẽ
sung túc, nhưng có mấy ai ngờ muộn phiền, uẩn khúc, muộn phiền và bi kịch cứ thế mà kéo đến.
“Tiếng sáo trong đêm tình xuân” là nét đẹp văn hóa của đời sống sinh hoạt và đời sống tinh thần của
người dân nơi đây. Hòa theo mạch truyện, tiếng sáo xuất hiện lúc thì văng vẳng từ xa có khi vọng lại tha
thiết bồi hồi, lúc thì rập rờn trong đầu Mị. Tiếng sáo tựa như một miền không gian êm dịu nên thơ thuộc
về tâm hồn Mị. Bởi Mị cũng từng là người con gái mang trong mình tình yêu dành cho đời vô cùng đẹp
đẽ, hơn thế nữa cô còn có biệt tài thổi sáo.”Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo”.
Nhưng cuộc đời trớ trêu, khát khao tự do bị đè nén kể từ ngày bước chân vào nhà Thống lí Pá Tra, cuộc
sống khổ cực thê thảm bội phần “ở lâu trong cái khổ Mị quen khổ rồi”. Cho đến khi mùa xuân Hồng Ngài
kia mang màu sắc, âm thanh, sự rộn rã đã đánh thức đã đánh thức sự tiềm tàng tưởng chừng đã chết của
cô gái này. Qúa trình thức tỉnh của Mị gắn liền với tiếng sáo,đó là chất xúc tác mạnh mẽ lay tỉnh một tâm
hồn đang ngủ yên,Lần đầu tiên tiếng sáo xuất hiện trong tác phẩm cũng là lần đầu tiên sau bao ngày dài
câm nín ở nhà thống lí “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát người
đang thổi”. Trong không khí đón tết, nhìn cảnh người người nhà nhà đi chơi, có thêm cái nồng nàn của
rượu, tiếng sáo đã đưa Mị về quá khứ, lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo
gọi bạn đầu làng. Từ đây, tiếng sáo thức dậy khát vọng sống, sức sống trong Mị, Mị thấy phơi phới trở
lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước. “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn
đi chơi.”Trong đầu rập rờn tiếng sáo. Tiếng sáo vẫy gọi Mị, thôi thúc Mị. Chính chi tiết tiếng sáo giàu sức
gợi này giúp nhà văn Tô Hoài khám phá ra vẻ đẹp tâm hồn Mị, đồng thời cũng khẳng định sức sống của con người.
Từ nửa sau của truyện ngắn, nhân vật A Phủ xuất hiện. Vốn dĩ mồ côi cả cha lẫn mẹ vì dịch bệnh, suốt
đời A Phủ làm thuê làm mướn, cái nghèo đeo bám khiến cho chàng không lấy được vợ. Dẫu hoàn cảnh
khắc nghiệt đến thế song A Phủ là một chàng trai khỏe mạnh “chạy nhanh như ngựa”, lao động giỏi vì thế
mà A Phủ trở thành niềm mơ ước của bao cô gái “ Đứa nào lấy được A Phủ cũng bằng có được con trâu
tốt trong nhà”. Không những thế chàng trai này còn có tính cách gan góc, táo bạo, một sức sống mạnh mẽ,
nghĩa hiệp. Song, cũng như Mị vì đắc tội với nhà Thống Lí nên anh cũng bị “cũng rình ma” trở thành nô
lệ của nhà này mãi mãi, khi nào trả hết nợ mới thôi. Cứ tưởng mọi chuyện đã đi vào ngõ cụt bế tắc, may
mắn thay chi tiết đêm đông ấy đã lật ngược tình thế.
Sau mọi nỗ lực tự giải cứu không thành, trong nỗi bất lực tuyệt vọng kia, A Phủ đã khóc. May mắn thay,
đúng lúc ấy Mị thức dậy thổi lửa hơ tay và chứng kiến “Mị hé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng
vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm mã xám đen lại”. Và dường như giọt nước mắt ấy
làm Mị thức tỉnh. Làm thế nào mà chỉ với một giọt nước mắt lại có sức mạnh diệu kỳ thế kia ? Liệu đây
có phải sự đồng cảm vì nghịch cảnh của A Phủ cũng chẳng khác gì Mị. Nam Cao đã từng viết rằng “ nếu
người trong đau khổ không biết thương lấy nhau thì còn ai thương mình nữa” vậy nên chi tiết giọt nước
mắt A Phủ làm gợi dậy sức sống, khát khao phản kháng cái ác trong Mị, dẫn đến hành động Mị cởi trói
cho A Phủ. Giotj nước mắt, cũng như tiếng sáo chính là nhân tố làm sáng ngời lên sức sống tiềm tàng
mãnh liệt, lòng thương người ngấm trong cốt tủy dù trải qua hoàn cảnh như thế nào đi chăng nữa. Những
chi tiết ấy thể hiện giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc.
Hai tác phẩm ra đời ở hai thời điểm khác nhau, không cùng tác giả nhưng tất cả đều hướng về nhân sinh,
về những điều tốt đẹp dẫu xã hội ngoài kia có bất công ra sao. Bởi “xét đến cùng ý nghĩa thật sự của văn
học là nhân đạo hóa con người” nên dù cốt truyện, tình huống truyện, chi tiết truyện có ra sao đi chăng
nữa, tác giả vẫn luôn muốn gửi gắm đến bạn đọc những “cuộc đối thoại” về đời. Chi tiết nhỏ thế thôi,
nhưng nó lại mang trong mình không chỉ là giá trị nghệ thuật độc đáo mà còn là cả một “vùng trời” tư
tưởng của người cầm bút, là bước ngoặt thay đổi cả số phận của một nhân vật. Qủa không sai khi ví chi
tiết nhỏ như “bụi vàng” của tác phẩm, vì chúng không quan trọng ở mặt kích thước, cốt yếu quý giá của
chúng nằm ở nội dung mà chi tiết đó mang theo
Lê-ô-nốp Lê-ô-nít từng viết “ Nếu tình huống tạo ra bước ngoặt của tác phẩm thì chi tiết nghệ thuật là
bánh bẻ lái trên đường cua tuyệt diệu ấy” Muốn tác phẩm có một đời sống thực thụ, chi tiết nghệ thuật
phải giàu tính nghệ thuật, phải được xuất hiện đúng lúc, đúng chỗ, một cách hợp tình hợp lí. Để rồi khi
gấp lại tác phẩm, bạn đọc chúng ta vẫn thấy đâu đó một tiếng nức nở tuyệt vọng, sự chua chát của số
phận, hay niềm vui hân hoan.Mỗi chi tiết nghệ thuật là một sáng tạo riêng của nhà văn nhưng đồng thời
cũng kết tinh từ những gì thu lượm được trong đời sống sâu và rộng của người viết. Như giọt nước kết
tinh cái mặn mòi của biển, chi tiết đồng thời cho thấy vốn sống của người cầm bút. Cũng như Nam Cao
quan niệm “Sống đã rồi hãy viết, hãy hòa mình vào cuộc sống vĩ đại của nhân dân”