


Preview text:
Trong văn học Việt Nam từ xưa đến nay, không có nhiều bài thơ được tô điểm bởi
sự hòa hợp giữa bút pháp cổ điển và hiện đại mà không những thế bài thơ còn được
sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt thì lại hiếm có vô cùng, nhưng từ ấy ta lại
tìm ra được nhà thơ với hoàn cảnh và phong cách sáng tác đầy khác biệt này chính
là Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta. Nhắc đến của ông, không ai là
không nghĩ ngay đến sự nghiệp chính trị đầy vẻ vang của mình, một doanh nhân
văn hóa thế giới và bên cạnh đó còn là nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam. Và
khi nói đến thơ của Bác, ta lại nghĩ ngay đến Chiều tối hay (Mộ), một bài thơ miêu
tả bức tranh thiên nhiên vào đêm tối cước cũng như nói lên bức tranh sinh hoạt của
con người khi màn đêm buông xuống. Những điều đó được thể hiện rõ qua các câu thơ. “”
Bài thơ Chiều tối là bài thơ thứ 31 của tập thơ Nhật kí trong tù và là một trong
những tác phẩm tiêu biểu của Người trong cả sự nghiệp thơ ca và cả lúc hoạt động
cách mạng khi bị bắt giam 13 tháng vô cớ tại Trung Quốc. Tác phẩm lấy cảm hứng
từ cuộc chuyển lao của Hồ Chí Minh từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo và thuộc thể thơ
thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Nhan đề Mộ là tiếng Hán chỉ đến sự chuyển giao
giữa ngày và đêm lúc ngày sắp, đây là lúc mà mọi người và vạn vật thường dừng
mọi hoạt động và trở về sum họp bên tổ ấm. Vì vậy, khoảng thời gian này thường
gợi cho những người xa nhà, xa quê cảm giác cô đơn, buồn bã cũng như vẻ đẹp tâm
hồn khi luôn hướng về sự sống và ánh sáng của Bác. Qua 4 câu thơ ta sẽ thấy rõ
được cảm giác ấy của Bác.
Hai câu đầu miêu tả nên một bức tranh thiên nhiên ở miền sơn thôn và ẩn sau ấy
chính là vẻ đẹp sâu thẳm tâm hồn Bác với tình yêu thiên nhiên vô tận. “”
Từ những chữ đầu tiên, một khung cảnh chiều tối với không gian mênh mông, bao
la đã được mở ra với hai hình ảnh cổ điển đầy chất thơ với cánh chim mỏi mệt sau
một ngày vất vả đang phải bay về rừng, về tổ để nghỉ ngơi cùng với đó là những
đám mây lờ lững trôi về cuối trời đã gợi nên sự mênh mông, bát ngát của thiên
nhiên, cảnh vật được miêu tả từ xa, gợi nên tầm nhìn bao quát rộng lớn. Với bút
pháp tả cảnh ngụ tình, Bác đã dùng cái hữu hạn của cánh chim để cho độc giả thấy
được được sự vô hạn của bầu trời, cánh chim còn là đại diện cho sự tự do khi cả hai
đều mệt mỏi nhưng chim vẫn tự bay về được nhà còn bản thân thì phải chịu cảnh
kìm kẹp, khốn khổ, trong khi chim có động lực thúc đẩy thì người tù chẳng có động
lực nào cả đã đồng thời thể hiện ý nghĩa liên tưởng đầy ẩn ý của nhà thơ và thứ bắt
nguồn cho sự đồng điệu ấy chính là tình yêu vô bờ bến mà Bác đã dành cho sự
sống của vạn vật. Và sự hiện đại của cánh chim ấy chính là hồn sống, làm chủ
không gian, vạn vật và còn được cảm nhận rất sâu ở trạng thái bên trong khi cánh
chim mỏi mệt cũng như sự tự do ấy còn nói lên bản lĩnh kiên cường của Hồ Chủ
tịch. Không chỉ vậy, hình ảnh những áng mây còn là chất liệu đầy quen thuộc trong
các bài thơ từ xưa đến nay đều gợi sự vô định, lẻ loi không biết đi về đâu của thi
nhân cùng với đó là từ láy “Mạn mạn” gợi hình ảnh mây trôi lững lờ, nhẹ nhàng
càng thể hiện sự mệt mỏi, cô độc, lênh đênh và trôi nổi của Người. Ngoài ra,
“Thiên không” hay “tầng không” còn cho ta thấy được tầm vóc rộng lớn của không
gian và ở cũng là sự đối lập tiếp theo khi giữa sự bao la của trời cao chính là trạng
thái cô đơn, một mình của “chòm mây” hay cũng chính là tác giả, càng cho thấy
Người tù nơi đất khách lẻ loi, cô độc, băn khoăn về tương lai. Thế nhưng Bác lại
chẳng kêu ca, oán trách mà lại thả hồn vào thiên nhiên cảnh vật để cảm nhận và
chấm phá nên những nét tuyệt mĩ của bức tranh cuối ngày qua đó càng thể hiện tình
yêu thiên nhiên rạo rực trong trái tim người chiến sĩ cách mạng và hơn thế nữa là
nỗi nhớ về quê hương, đất nước và cái hiện đại ở đây là nhà thơ đã không để lộ cái
cô đơn, mệt mỏi của mình và dù cô đơn, mệt mỏi nhưng thiên nhiên vẫn được
người tù cảm nhận khung cảnh bằng ánh mắt lưu luyến, trìu mến chứ không phải
cái nhìn buồn chán. Như vậy, hai câu thơ đã vừa mang nét cổ điển, hiện đại kết hợp
với bút pháp tả cảnh ngụ tình đã nói lên tâm hồn yêu thiên nhiên và ý chí phi thường của Bác.
Hai câu thơ cuối miêu tả bức tranh đời sống con người vào đêm khuya và thể hiện
sức sống mãnh liệt và khát khao lớn lao của người thi nhân. “”
Trái ngược hoàn toàn với hai câu trên, ở hai câu sau vẫn là bức tranh chiều tối
nhưng là về con người thay vì thiên nhiên như hai câu thơ đầu. Câu thơ đầu tiên mở
ra không gian của một xóm núi ấm áp, một bức tranh sinh hoạt của con người nơi
xóm núi khi bóng tối buông xuống phủ lấp không gian với những hình ảnh chân
thực của đời sống điển hình là hai từ “Sơn thôn” trong hình ảnh “Sơn thôn thiếu
nữ” hay “cô em xóm núi” với hành động “xay ngô tối” tạo cho ta cảm giác đầy đời
thường và vô cùng giản dị cũng như chuyển trung tâm của bài thơ từ hình ảnh
“chim” và “mây” sang chủ thể là con người, đẩy lùi cảnh vật ra xa làm nền cho
nhân vật chính. Ngoải ra, hình ảnh “Sơn thôn thiếu nữ” ấy còn cho ta thấy được sự
hăng say, uyển chuyển với công việc thường nhật của mình là “xay ngô”, điệp ngữ
liên hoàn và đảo từ “ma bao túc” và “bao túc ma” như khắc họa vòng quay liên tục,
nhịp nhàng của cối xay và cũng là những nỗi nhọc nhằn, vất vả trong lao động, ẩn
dụ về vòng quay không ngừng của thời gian từ đó thể hiện vẻ đẹp khỏe khoắn, trẻ
trung, tràn đầy sức sống của con người hay trong bài chính là cô thiếu nữ miền sơn
cước cũng như vẻ đẹp đáng quý, đáng trân trọng của những người lao động trái
ngược hoàn toàn với sự mệt mỏi của “cánh chim” cho thấy sự lạc quan, có lẽ Bác
đã quên đi cảnh ngộ đau khổ của mình để chia sẻ với cuộc sống của người lao động
càng nói lên tấm lòng nhân đạo sâu sắc của Bác. Hơn thế nữa, câu thơ đầu còn đem
đến một hơi ấm của sự sống và niềm vui trước cuộc sống bình dị, dù có vất vả
nhưng có được tự do càng nói lên nét đẹp lao động hay “lao động là vinh quang”
của chính Người đã nói. Không những thế, hình tượng thơ gần gũi, mộc mạc thông
qua cụm từ “lô dĩ hồng” hay nhãn tự “hồng” như đã làm bừng lên ánh sáng, xua tan
bóng tối, sưởi ấm không gian hiu quạnh, màn đêm, cảnh vật được thu vào trong lò
than và toả ra theo hơi ấm nồng đượm đã diễn tả chân thực nhịp sống cuối ngày tại
nơi núi rừng hay qua đó mang lại thần sắc cho khung cảnh, tiếp thêm ý chí và sức
mạnh cho người tù cất bước trên con đường mà không biết điểm dừng ở đâu. Ngọn
lửa ấy như thổi bùng lên bao khát vọng, ý chí và quyết tâm người chiến sĩ cách
mạng giữa cảnh ngục tù đọa đầy và đặc biệt cho thấy bài thơ đã vận động từ ánh
chiều âm u, tăm tối đến với ánh lửa hồng, từ nỗi buồn cho đến niềm vui từ đó độc
giả thấy được cái nhìn lạc quan, yêu đời và tình yêu thương nhân dân, niềm vui về
cảnh sum họp, hi vọng về tương lai sáng lạng của Người.
Bằng cách sử dụng các từ hán ngữ và bút pháp tả cảnh ngụ tình xen lẫn nét cổ điển
ở thể thơ tứ tuyệt và hiện đại với sự hiện đại thể hiện ở việc nhân vật trữ tình chiếm
vị trí chủ thể trong bức tranh phong cảnh và khi lấy mây điểm trăng, lấy động tả
tĩnh, lấy cảnh vật để chạm khắc thời gian, bộc lộ nỗi niềm con đã thể hiện tình yêu
thiên nhiên, cuộc sống, ý chí vượt lên hoàn cảnh khó khăn của nhà thơ, chiến sĩ Hồ
Chí Minh. Từ đó, ta lại thấy được bức tranh thiên nhiên bao la, rộng lớn nhưng
vắng vẻ, cô quạnh cùng với sức sống mãnh liệt, ung dung, tự tại trong cảnh xiềng xích của Bác.
Tóm lại, bốn câu thơ đã thành công cả về mặt nghệ thuật lẫn nội dung khi cho độc
giả thấy được hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, con người và vạn vật xung quanh khi
màn đêm buông xuống cũng như sự hòa hợp với thiên nhiên của Bác. Ngoài ra, bài
thơ đã nói lên vẻ đẹp tấm lòng của Người khi dù khó khăn vẫn hướng về cuộc sống
của nhân dân lao động với một trái tim ấm áp nhưng vẫn có chất thép đầy mạnh
mẽ, vững vàng và niềm tin với lý tưởng cách mạng sáng ngời. Từ đó, thế hệ trẻ
chúng ta cần cố gắng, noi gương Bác giữ vựng độc lập dân tộc và phát triển đất
nước để không phụ lòng cha ông đã một đời quên thân mình cứu nước để ta có
được cuộc sống như hôm nay.