



















Preview text:
Chương 3
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Mục tiêu cầu đạt.
- TRÌNH BÀY lại được các luận điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề
dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc, về CNXH và về thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
- THUYẾT TRÌNH được một số luận điểm của Hồ Chí Minh về
vấn đề dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc và về quan hệ giữa độc lập dân tộc với CNXH
- PHÂN TÍCH được các vấn đề: sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn
đề dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc và về các động lực cơ bản của
CNXH Việt Nam, bước đi, biện pháp tiến hành xây dựng CNXH trong
thời kỳ quá độ ở Việt Nam.
- Có khả năng VẬN DỤNG một số quan điểm của Hồ Chí Minh về
CNXH và thời kỳ quá độ trong thực tiễn học tập và công tác.
Tài liệu tham khảo.
1. V.I. Lênin: Toàn tập, tập 41, Nhà xuất bản Tiến bộ, Matxcơva,
1977. (Các bài: Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa, Điều kiện kết nạp vào Quốc tế Cộng sản, Báo cáo
của tiểu ban về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa.
2. Nguyễn Duy Quý: Những vấn đề lý luận về CNXH và con đường
đi lên CNXH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998. NỘI DUNG
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
1. Cơ sở hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc
- Tư tưởng và văn hoá truyền thống của dân tộc. (Hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước…)
- Cách mạng tháng Mười Nga và Luận cương của Lênin về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa. Nội dung Luận cương Lênin: cách mạng vô
sản là con đường duy nhất giải phóng các dân tộc thuộc địa.
- V.I. Lênin chủ trương giải phóng toàn thể các dân tộc thuộc địa
thoát khỏi ách áp bức của Chủ nghĩa đế quốc và Chủ nghĩa thực dân.
(giúp Hồ Chí Minh nhận ra sự gắn bó giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới)
- Con đường cứu nước duy nhất của dân tộc Việt Nam là cứu nước
theo con đường cách mạng vô sản; đồng minh của cách mạng vô sản
Việt Nam là giai cấp vô sản toàn thế giới. “Luận cương của Lênin làm
cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui
mừng đến phát khóc …”)
- Trách nhiệm của các Đảng Cộng sản ở các nước chính quốc là
phải giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc và làm cho các phong trào
này phát triển theo con đường cách mạng vô sản.
- Các cuộc cách mạng và các phong trào giải phóng dân tộc và con
đường cứu nước của các nhà yêu nước nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.
- Hồ Chí Minh đã khảo sát rất kĩ các phong trào đấu tranh trong
nước, Người nhận định:
+ Phan Bội Châu – “Đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.
+ Phan Chu Trinh – “Xin sỏ thực dân pháp rủ lòng thương
cũng không đòi được độc lập”.
+ Hoàng Hoa Thám – “Thực tế hơn hai cụ Phan, nhưng Cụ còn
nặng cốt cách phong kiến”.
- Khảo sát các phong trào đấu tranh cứu nước của các dân tộc phương Đông:
+ Thổ Nhĩ Kỳ - “Thành công không đến nơi”.
+ Ấn Độ (Gandi) – “Không thể thực hiện độc lập hoàn toàn cho
Ấn Độ” và “Ganđi không phải là một nhà cách mạng, Ganđi chỉ là một nhà cải cách”.
+ Trung Quốc (Tôn Trung Sơn) – cách mạng Trung Quốc “Gần
gũi” với Việt Nam và đường lối của Tôn Trung Sơn đã “tiếp cận” đến
con đường cách mạng vô sản.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc
a. Khái quát quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc
- Quan điểm của C.Mác và Ph.Anghen:
+ Làm rõ nguồn gốc, bản chất, đặc trưng của dân tộc và sự hình
thành dân tộc trong lịch sử gắn liền với Chủ nghĩa tư bản.
+ Vấn đề dân tộc phụ thuộc vào vấn đề giai cấp và luôn được xem
xét giải quyết theo lập trường giai cấp
+ Áp bức giai cấp là nguồn gốc của áp bức dân tộc, muốn xóa bỏ
tình trạng dân tộc này áp bức nô dịch dân tộc khác trước hết phải xóa bỏ
chế độ xã hội có áp bức và đối kháng giai cấp
+ Giải phóng giai cấp là tiền đề giải phóng dân tộc
+ Chưa có điều kiện bàn đến vấn đề dân tộc thuộc địa
- Quan điểm của Lênin:
+ Khi Chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa,
vấn đề dân tộc thuộc địa trở thành vấn đề lớn của thời đại cần phải được giải quyết.
+ Chỉ rõ hai xu hướng phát triển của vấn đề dân tộc trong chủ nghĩa tư bản:
Thứ nhất: Sự thức tỉnh của ý thức dân tộc, của phong trào đấu
tranh chống áp bức dân tộc sẽ dẫn tới việc thành lập các quốc gia dân tộc độc lập;
Thứ hai: Sự phá hủy hàng rào ngăn cách dân tộc, thiết lập sự thống
nhất quốc tế của chủ nghĩa tư bản.
Chủ nghĩa tư bản không thể giải quyết được mâu thuẫn giữa hai xu
hướng này. Chỉ có cách mạng vô sản và Chủ nghĩa xã hội mới khắc
phục đươc mâu thuẫn đó.
+ Bước đầu giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc thuộc địa với
đường lối kết hợp cách mạng vô sản chính quốc với cách mạng giải
phóng dân tộc thuộc địa.
+ Hạn chế: chưa thấy hết tính chủ động sáng tạo và tiềm năng
cách mạng to lớn của các dân tộc thuộc địa, đặt cách mạng giải phóng
dân tộc phụ thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc, chủ trương ưu tiên
cho cách mạng vô sản chính quốc
b. Nội dung Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc.
* Thực chất vấn đề dân tộc thuộc địa
- Mác, Ăngghen, Lênin bàn nhiều về đấu tranh giai cấp chống chủ
nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc.
- Hồ Chí Minh tập trung nghiên cứu về cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc ở các thuộc địa và có nhiều sáng tạo lý luận độc đáo về vấn đề này
- Thực chất vấn đề dân tộc thuộc địa gồm:
+ Đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, thực hiện quyền
dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập
+ Lựa chọn con đường phát triển đúng đắn cho dân tộc:
Giải phóng dân tộc gắn liền với việc lựa chọn con đường phát triển của dân tộc.
Phương hướng phát triển dân tộc quy định nội dung và yêu cầu
của cuộc đấu tranh giành độc lập, gắn liền với một hệ tư tưởng và một
giai cấp lãnh đạo nhất định
Từ thực tiễn của phong trào cách mạng thế giới và xu thế vận
động của thời đại, Hồ Chí Minh khẳng định: độc lập dân tộc phải gắn
liền với chủ nghĩa xã hội.
Phương hướng phát triển đúng đắn của các dân tộc trong thời đại
mới là chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường phát triển tiến bộ nhất của thời đại.
* Nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc;
- Thứ nhất: Độc lập tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm
của tất cả các dân tộc. Các dân tộc muốn được tự do, bình đẳng thì
không còn con đường nào khác là phải tự đứng lên giành lấy độc lập tự
do, phải “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Người nói “Tất cả các
dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền
sống, quyền tự do, quyền hạnh phúc”.
Quyền dân tộc thực chất là quyền con người mở rộng – quyền của
cộng động người. Quyền con người phải thống nhất với quyền dân tộc,
không được tách rời hoặc đi ngược với quyền dân tộc.
- Thứ hai: độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn.
Các dân tộc có quyền lựa chọn chế độ xã hội và con đường phát triển
thích hợp với dân tộc mình. “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả
dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!”; "Nước
Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một
nước tự do và độc lập”
Hồ Chí Minh nêu lên 2 tiêu chí của độc lập thật sự:
Một là, dân tộc đó phải có quyền quyết định trên tất cả các mặt kinh tế, chính
trị, quân sự, ngoại giao, toàn vẹn lãnh thổ. Trong đó, trước hết và quan trọng nhất là
độc lập về chính trị. Năm 1948, Pháp lập chính phủ bù nhìn; năm 1949, Pháp đưa Bảo
Đại về làm Quốc trưởng và tuyên bố Việt Nam đã có độc lập, Hồ Chí Minh đã kịch
liệt phản đối thứ độc lập giả hiệu đó.
Hai là, dân tộc đó phải được bình đẳng với các dân tộc khác. Quốc tế không thể
can thiệp vào công việc nội bộ của một nước nếu không có đại diện chân chính của
nước đó tham gia. Người khẳng định nhân dân Việt Nam hoan nghênh mọi sự giúp đỡ
của các nước khác, đồng thời phản đối mọi sự can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam.
- Thứ ba, Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do hạnh phúc của nhân dân.
Độc lập thực sự phải là nền độc lập mà mọi phần tử quốc dân đều được
hưởng thành quả của nó. Trong thư gửi ủy ban hành chính các cấp, Hồ Chí Minh
viết:“Nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc thì độc lập
cũng không có nghĩa lý gì”.
Độc lập dân tộc thực sự, hoàn toàn là khát vọng cháy bỏng của Hồ Chí
Minh. Với tinh thần ấy, trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Hồ
Chí Minh kêu gọi: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ.”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.. .
- Thứ tư, độc lập dân tộc phải là nền độc lập mà người dân được sống trong
một đất nước hòa bình, thống nhất, được hưởng các quyền tự do chân chính.
Hồ Chí Minh luôn giương cao ngọn cờ đấu tranh giành và bảo vệ nền độc
lập, chủ quyền quốc gia; đồng thời Người cũng là hiện thân của khát vọng hòa bình
trong độc lập tự do. Trên cơ sở kiên quyết giữ vững độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh
luôn là người đi đầu, chủ động tích cực bày tỏ ước vọng về những giải pháp hòa
bình tránh xung đột, tránh chiến tranh.
Với mong muốn giải quyết cuộc tranh chấp Việt - Pháp bằng con đường hòa
bình, Hồ Chí Minh cùng Đảng ta chủ động ký Hiệp định sơ bộ 6-3, rồi Người trực
tiếp ký Tạm ước 14- 9 với Chính phủ Pháp.
Trong thư gửi Chính phủ, Quốc hội, nhân dân Pháp ngày 7-1-1947, Hồ Chí
Minh khẳng định nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam là muốn có hòa
bình để kiến thiết quốc gia với sự cộng tác của những người Pháp chân chính.
Người nói, chính phủ và nhân dân Pháp chỉ cần có một cử chỉ công nhận độc lập
và thống nhất của Việt Nam thì ngay lập tức chiến tranh sẽ chấm dứt, hòa bình sẽ trở lại.
Cũng với tinh thần như vậy, trong thư trả lời Tổng thống Mỹ Giônxơn ngày
15-2-1967, Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất thiết tha với độc
lập, tự do và hòa bình... Chính phủ Mỹ đã gây ra chiến tranh xâm lược Việt Nam
thì con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược... Phải
rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam ... phải để nhân dân
Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình”.
* Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của chủ nghĩa dân tộc
- Chủ nghĩ Mác – Lênin không có điều kiện nghiên cứu đầy đủ về
sức mạnh và vai trò của chủ nghĩa dân tộc.
- Quốc tế cộng sản do lập trường tả khuynh nên có những quan
điểm sai lầm về chủ nghĩa dân tộc: Coi chủ nghĩa dân tộc là sự xa rời
chủ nghĩa Mác – Lê Nin, đối lập với chủ nghĩa quốc tế, là biểu hiện của
chủ nghĩa quốc gia tư sản
- Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của chủ nghĩa yêu nước,
chủ nghĩa dân tộc chân chính, coi đó là động lực to lớn mà nếu không
dựa vào nó thì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc không thể thành công.
Năm 1924, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa dân tộc là một động
lực lớn, một động lực vĩ đại, duy nhất của người Việt Nam, nước Việt
Nam”. Người cộng sản cần phải nắm lấy ngọn cờ dân tộc, giương cao
ngọn cờ dân tộc trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột thực hiện
Chủ nghĩa cộng sản. “Chủ nghĩa dân tộc chân chính, khác với chủ nghĩa
dân tộc tư sản, nó không xa rời, không đối lập với chủ nghĩa Mác – Lê
Nin mà “chủ nghĩa dân tộc sẽ biến thành chủ nghĩa Quốc tế vô sản”.
Vì sao Chủ nghĩa dân tộc có sức mạnh như vậy? Ở các nước tư
bản chủ nghĩa mâu thuần chủ yếu của xã hội là mâu thuẫn đối kháng
giai cấp giữa tư sản và vô sản…nên động lực của cách mạng là đấu
tranh giai cấp. Ở các nước thuộc địa, mâu thuẫn giữa dân tộc và đế quốc
thực dân là mâu thuẫn chủ yếu vì vậy chỉ có chủ nghĩa dân tộc mới quy
tụ được mọi giai cấp và tầng lớp xã hội
vào một mặt trận chung chống đế quốc thực dân… Đó là nguồn gốc
sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc.
c. Quan điểm của Hồ Chí Minh về quan hệ giữa vấn đề dân
tộc và vấn đề giai cấp
- Trong quan hệ dân tộc và giai cấp, cả C.Mác và Ph.Anghen đều
nhấn mạnh tới vấn đề giai cấp, coi giải phóng giai cấp là tiền đề giải phóng dân tộc.
- V.I. Lênin: Đề cao cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trên phạm
vi toàn thế giới, đặt Cách mạng giải phóng dân tộc phụ thuộc vào cách
mạng vô sản, chủ trương ưu tiên cho cách mạng vô sản chính quốc.
- Quốc tế cộng sản tuyệt đối hóa vấn đề giai cấp, coi nhẹ vấn đề
dân tộc, coi chủ nghĩa dân tộc là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia hẹp
hòi, trái với chủ nghĩa quốc tế vô sản.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh:
+ Cần phải kết hợp hài hòa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trên
cả bình diện quốc tế cũng như từng quốc gia,
Tùy theo điều kiện từng nước kết hợp nhuần nhuyễn giai cấp với
dân tộc, song phải dựa trên lập trường quan điểm của giai cấp công nhân.
+ Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm mới là thống nhất lập trường giai
cấp với lập trường dân tộc, thống nhất lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc.
+ Với các nước thuộc địa thì phải ưu tiên cho giải phóng dân tộc
trước, đặt lợi ích dt lên trên hết, trước hết, lợi ích giai cấp phải
phục tùng lợi ích dân tộc. đấu tranh giai cấp phục tùng đấu tranh giải phóng dân tộc.
+ Chỉ có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp… và là
tiền đề giải phóng giai cấp.
Cơ sở của vấn đề này là:
Thứ nhất, trước những kẻ áp bức, quyền lợi của những người lao
động là thống nhất, gắn bó với nhau: đó là tự do bình đẳng, hòa bình ấm no hạnh phúc.
Thứ hai, đặt vấn đề dân tộc hay lợi ích dân tộc lên trên hết, theo Hồ
Chí Minh là không mâu thuẫn với việc kết hợp hài hòa giữa hai lợi ích
này và cũng hoàn toàn đúng tinh thần các quan điểm của C. Mác và Ph.Anghen
Thứ ba, ở Việt Nam, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với chủ
nghĩa đế quốc và tay sai, nổi trội hơn cả, do đó không thể giải quyết vấn
đề giai cấp trước rồi mới giải quyết vấn đề dân tộc như ở các nước
phương Tây. Trái lại, chỉ có giải phóng dân tộc, mới giải phóng được
giai cấp, giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần của việc giải phóng
giai cấp, và là tiền đề của giải phóng giai cấp. Như vậy, với Hồ Chí
Minh quyền lợi dân tộc với quyền lợi giai cấp là thống nhất, quỳền lợi
dân tộc không còn, thì quyền lợi mỗi giai cấp, mỗi bộ phận trong dân
tộc cũng không thực hiện được.
+ Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chỉ có chủ
nghĩa xã hội mới củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chỉ có giữ vững
độc lập dân tộc mới có điều kiện xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
+ Chủ trương đấu tranh giành độc lập cho dân tộc mình và độc lập
cho các dân tộc khác. Kiên quyết giữ vững độc lập của dân tộc mình,
đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khác
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
1. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi triệt để
phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
a. Quá trình khảo nghiệm, lựa chọn đường lối giải phóng dân tộc
- Thời kỳ trước 1911, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu kỹ về các phong
trào đấu tranh cứu nước giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh rất khâm
phục tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh đòi độc lập của các nhà yêu nước
tiền bối. Song, theo Hồ Chí Minh, bằng những con đường đó, không
thể đi đến thành công được. Hồ Chí Minh nhận xét: Phan Bội Châu hy
vọng vào sự giúp đỡ của đế quốc Nhật để đánh Pháp là “đuổi hổ cửa
trước rước beo cửa sau”; Phan Chu Trinh “xin sỏ thực dân Pháp rủ lòng
thương” cũng không đòi được độc lập dân tộc; cụ Hoàng Hoa Thám,
thực tế hơn hai cụ Phan, song cụ còn “nặng cốt cách phong kiến” vì vậy
cũng không đòi độc lập được.
- Trong thời gian tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu
khá kỹ các cuộc cách mạng tư sản ở Mỹ, Pháp và đi đến kết luận cách
mạng tư sản không triệt để, không giải phóng được nhân dân lao động,
cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường cách mạng tư sản.
(Về Cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Bắc Mỹ, Hồ Chí
Minh: người An Nam cần phải học tập
nhân dân Bắc Mỹ đứng lên giành độc lập. Song, Hồ Chí Minh cũng chỉ
ra rằng, cách mạng Bắc Mỹ thành công đã 150 năm, mà đời sống nhân
dân lao động vẫn cực khổ, vẫn phải lo làm cách mạng lần thứ hai. Bởi
vì, theo Hồ Chí Minh, cách mạng Mỹ là cách mạng tư sản, đã là cách
mạng tư sản thì đó là cách mạng không triệt để, cách mạng không đến
nơi. Về cách mạng tư sản Pháp 1789, giống như cách mạng Mỹ, là cuộc
cách mạng không đến nơi, mang danh là cộng hòa, dân chủ kỳ thực thì
trong là bóc lột công nông, ngoài thì áp bức thuộc địa... cách mạng Việt
Nam nên nhớ lấy điều ấy.)
- Cuối 1920, Hồ Chí Minh bắt gặp chủ nghĩa Mác – Lênin tìm
được con đường cứu nước đúng đắn – con đường của cách mạng vô
sản. Người nhận thấy trong thế giới bây giờ chỉ cách mạng Nga là thành
công và thành công đến nơi, nghĩa là người dân được hưởng tự do, hạnh
phúc, bình đẳng thực sự. Cách mạng Nga đã xóa bỏ xã hội phong kiến,
bóc lột đồng thời giúp đỡ các dt thuộc địa giải phóng mình. Từ đó đi
đến kết luận: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường
nào khác con đường của cách mạng vô sản.
b. Quan điểm Hồ Chí Minh về con đường cách mạng giải
phóng dân tộc Việt Nam
- Chỉ có cách mạng vô sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp
bức. Cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng vô sản,
phải trở thành bộ phận của cách mạng thế giới.
- Tính chất của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là cuộc
đấu tranh tự giải phóng theo tinh thần “đem sức ta giải phóng cho ta”
- Mục tiêu của Cách mạng giải phóng dân tộc là đánh đổ chủ nghĩa
thực dân, giành độc lập dân tộc, thành lập chính quyền của nhân dân.
- Nhiệm vụ của cách mạng giải phóng dân tộc là phản đế và phản
phong trong đó phản đế là nhiệm vụ chủ yếu, phản phong phải phục
tùng nhiệm vụ phản đế.
- Cách mạng Việt Nam phải trải qua 2 giai đoạn: Cách mạng giải
phóng dân tộc có tính dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa
đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
2. Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải
do Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân lãnh đạo.
- Theo Hồ Chí Minh muốn giải phóng dân tộc trước hết cần phải
có Đảng cách mạng, Đảng có vững, cách mạng mới thành công
- Sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam chứng tỏ
chúng ta vừa thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn vừa thiếu một
chính Đảng cách mạng chân chính
- Yêu cầu khách quan, cấp thiết của cách mạng Việt Nam là phải
thành lập được một đảng cách mạng chân chính của giai cấp cách mạng
tiên tiến có tổ chức chặt chẽ, có đường lối và phương pháp cách mạng
đúng đắn, có mối liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân.
- Chỉ có Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam mới có đủ điều
kiện lãnh đạo cách mạng đi đến thành công vì giai cấp công
nhân là giai cấp tiên tiến, cách mạng triệt để, đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ.
- Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng thuận lợi
cho quá trình lãnh đạo cách mạng. Thực tế đã chứng minh, Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời đã nắm giữa độc quyền lãnh đạo cách mạng và đã
dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
3. Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin: Quần chúng nhân dân
là người sáng tạo ra lịch sử
- Hồ Chí Minh: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân,
không có gì lớn mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân, có dân là có tất cả.
- Cách mạng là "việc chung của cả dân chúng”, vì vậy lực lượng
của cách mạng giải phóng dân tộc phải là toàn dân tộc.
- Để huy động sức mạnh của toàn dân, phải đánh giá đúng vị trí
của các giai cấp các tầng lớp xã hội:
+ Trong thời đại mới, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy
nhất lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh hoàn toàn đặt niềm tin vào giai cấp công nhân Việt Nam.
(Trước các ý kiến cho rằng giai cấp công nhân số lượng còn nhỏ bé,
trình độ còn thấp kém, không thể lãnh đạo được, Hồ Chí Minh khẳng định:
“lãnh đạo được cách mạng hay không là do đặc tính cách mạng, chứ
không phải do số lượng nhiều hay ít”, “Đặc tính của giai cấp công nhân
là kiên quyết, triệt để, tập thể và có
tính kỷ luật” và Người kết luận: về mọi mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức,
hành động giai cấp công nhân đều giữ vai trò lãnh đạo. Để giai cấp công
nhân đảm đương được sứ mệnh của mình, cần không ngừng giáo dục
chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tinh thần yêu nước cho họ)
+ Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của giai cấp nông dân
trong cách mạng Việt Nam, coi đó là lực lượng to lớn nhất. (họ là lực
lượng chiếm đa số, tiềm tàng nhiều khả năng cách mạng. Vì vậy, “Giải
phóng dân tộc thực chất là giải phóng giai cấp nông dân”, Nếu giai cấp
công nhân không “thu phục” được giai cấp nông dân thì không thể nắm
quyền lãnh đạo cách mạngvà không thể đưa sự nghiệp cách mạng đến
thắng lợi được. Nếu giai cấp công nhân thu phục, lôi kéo được nông dân
thì nông dân sẽ làm xoay chuyển trời đất, bao nhiêu thực dân cũng bị đánh bại.)
+ Giai cấp công nhân và giai cấp nông dân là “gốc”, là “quân chủ
lực của cách mạng” và sự liên minh của 2 giai cấp này là “nền”, là
“gốc”, là “cơ sở” chủ yếu của mặt trận dân tộc thống nhất.
+ Đối với giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản:
Theo Hồ Chí Minh, tính chất cách mạng nước ta là cách mạng dân
chủ tư sản kiểu mới. Vì vậy, tư sản dân tộc là lực lượng của cách mạng.
Với địa chủ vừa và nhỏ cũng phải lôi kéo hoặc trung lập họ Chỉ
tập trung đánh đại địa chủ phản động và tư sản mại bản
có lợi ích gắn bó với đế quốc thực dân. Chủ nghĩa xã hội
- Kết luận: Hồ Chí Minh chủ trương tập hợp mọi lực lượng có
thể tập hợp được nhằm mở rộng đến mức cao nhất trận tuyến cách
mạng, đồng thời phân hóa kẻ thù, cô lập và tập trung lực lượng đấu
tranh vào kẻ thù chủ yếu.
4. Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ
động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô
sản ở chính quốc
- C.Mác và Ph. Ăngghen chưa đề cập đến cách mạng giải phóng dân tộc
nhưng cho rằng giải phóng giai cấp là tiền đề giải phóng dân tộc.
- V.I Lênin phát triển các quan điểm của Mác trong điều kiện chủ
nghĩa đế quốc, đã nhận thức rõ hơn về vai trò của thuộc địa đối với sự
tồn tại của chủ nghĩa đế quốc, về quan hệ giữa cách mạng thuộc địa với
cách mạng chính quốc. Tuy nhiên, V.I.Lênin chưa thấy được tính chủ
động, sáng tạo của các dân tộc thuộc địa. Người cho rằng cách mạng
thuộc địa phụ thuộc hoàn toàn, trực tiếp vào cách mạng vô sản ở chính
quốc, cách mạng giải phóng dân tộc chỉ thắng lợi, khi cách mạng vô sản ở
chính quốc thắng lợi. (Thực ra, cả Mác, Ăngghen và Lênin đều không coi
thường vấn đề giải phóng dân tộc, song do các ông phải tập trung giải
quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của cuộc đấu tranh giai cấp ở châu
Âu nên chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu về các phong trào dân tộc thuộc địa.)
- Quốc tế cộng sản trong những năm 20 - 30, tiếp tục phát triển
các quan điểm của Lênin theo khuynh hướng “tả” khuynh, đặc biệt
chú trọng đến cách mạng chính quốc, đặt cách mạng giải
phóng dân tộc phụ thuộc vào cách mạng chính quốc, là hậu bị quân của
cách mạng chính quốc, đặt lợi ích của dấu tranh giải phóng dân tộc dưới
lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp. (Đại hội VI Quốc tế cộng sản -
1928: "Chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các thuộc
địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến”)
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về khả năng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc: + Nội dung
Thứ nhất, cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản chính quốc
quan hệ bình đẳng, phải được coi trọng ngang nhau và phối hợp nhịp
nhàng với nhau. Người viết:
"Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp
vô sản chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các
thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời
cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp
tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị
cắt đi lại sẽ mọc ra"
Thứ hai, cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ
động sáng tạo, vì xét về tính chất đây là cuộc đấu tranh tự giải phóng,
nên không thể phụ thuộc máy móc vào cách mạng vô sản chính quốc.
Thứ ba, cách mạng giải phóng dân tộc có thể giành thắng lợi trước
cách mạng vô sản chính quốc.
Thứ tư, luận điểm này của Hồ Chí Minh đã được cách mạng Việt
Nam chứng minh và làm bùng nổ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
+ Cơ sở khách quan của luận điểm Hồ Chí Minh:
Một là, cách mạng giải phóng dân tộc có sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc.
Hai là, cách mạng giải phóng dân tộc là bộ phận của cách mạng thế giới.
Ba là, sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản thuộc địa làm tăng thêm
tinh thần phản kháng và cách mạng của các dân tộc thuộc địa... Hồ Chí
Minh: “Người Đông Dương không được học, đúng thế, bằng sách vở và
bằng diễn văn, nhưng người Đông Dương nhận sự giáo dục bằng cách
khác. Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thày duy
nhất của họ... Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu
một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm,
khi thời cơ đến... Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi:
chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công
cuộc giải phóng nữa thôi” (T.1, tr.28)
Bốn là, thuộc địa là mắt khâu yếu trong hệ thống chủ nghĩa tư bản thế giới.
+ Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan điểm của Hồ Chí Minh:
Thứ nhất, luận điểm của Hồ Chí Minh là một sự sáng tạo to lớn,
bổ xung và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về cách mạng thế giới.
Thứ hai, có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn làm tăng thêm tính chủ động,
sáng tạo của cách mạng Việt Nam, dẫn đến thắng lợi của cách mạng giải
phóng dt ở Việt Nam và ở nhiều nước trên thế giới.
5. Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành bằng
con đường cách mạng bạo lực
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: việc giành chính quyền
bằng bạo lực cách mạng là tất yếu và phổ biến. Trong tư tưởng của chủ
nghĩa Mác – Lênin, bạo lực được coi là “bà đỡ” cho một xã hội cũ đang
thai nghén một xã hội mới trong lòng. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác chỉ rõ
vai trò của bạo lực chỉ là phương tiện chứ không phải nguyên nhân hay
mục đích của cách mạng.
- Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng ở các nước thuộc địa, phụ
thuộc không thể thành công triệt để nếu không sử dụng tới bạo lực. Bởi
vì ở đây sự tàn bạo của Chủ nghĩa đế quốc đã đạt tới mức cao nhất,
chúng không từ bỏ một thủ đoạn nào, kể cả việc dìm các phong trào đấu
tranh tay không của nhân dân thuộc địa trong biển máu. Tư tưởng cách
mạng bạo lực của Hồ Chí Minh là bạo lực cách mạng của quần chúng
nhân dân cũng khác với tư tưởng khủng bố cá nhân, tư tưởng say mê bạo lực vũ trang...
- Quan điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh cho rằng bạo lực cách
mạng là sức mạnh tổng hợp của hai yếu tố là lực lượng chính trị của
quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân
- Tư tưởng bạo lực cách mạng gắn bó và thống nhất với tư tưởng
nhân đạo và hòa bình. Cơ sở của sự thống nhất này là lòng yêu thương
con người, coi con người là vốn quý nhất và phải ra sức bảo vệ con người.
- Hồ Chí Minh coi chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc cuối cùng
và khi phải tiến hành chiến tranh chính nghĩa, một mặt phải kiên quyết
dùng bạo lực cách mạng với mọi phương tiên có thể có “… Bất kể đàn
ông, đàn bà, bất kể người già người trẻ, không chia đảng phái, tôn giáo,
dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đồng lòng đánh thực dân Pháp
để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không
có súng có gươm thì dùng cuốc, thuỗng, gậy, gộc. Ai cũng phải ra sức
chống thực dân Pháp cứu nước”
- Mặt khác phải tranh thủ mọi khả năng hòa bình đề giải quyết
xung đột, kết thúc chiến tranh, nhằm giảm thiểu hy sinh xương máu cho con người.
III. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ
XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
a. Con đường hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội
- Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội trên cơ sở học thuyết
hình thái kinh tế - xã hội và quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác - Lênin . Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác đã chỉ rõ
lịch sử phát triển của loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên của
các phương thức sản xuất nối tiếp nhau, từ cộng sản nguyên thủy đến
chủ nghĩa cộng sản. C.Mác và Ph. Ăngghen viết: “Đối với chúng ta –
chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra,
không phải là một lý tưởng mà hiện