




Preview text:
Chuyển thể là gì? Đặc điểm của tác phẩm chuyển thể 1. Khái niệm chuyển thể
Chuyển thể là việc chuyển đổi một tác phẩm (thường là tác phẩm văn học,
nghệ thuật) sang loại hình nghệ thuật khác trên cơ sở đảm bảo nội dung của
tác phẩm gốc, ví dụ như chuyển thể truyện thành phim, kịch… hoặc cũng có
thể là tác phẩm kịch (sân khấu) được chuyển thành kịch bản điện ảnh, nhạc kịch…
Tác phẩm chuyển thể có thể hiểu là tác phẩm dựa trên tác phẩm gốc nhưng
không làm thay đổi nội dung của tác phẩm gốc. Khác với tác phẩm chuyển
thể, tác phẩm cải biên là tác phẩm dựa trên nội dung tác phẩm gốc và có thể
sáng tạo để thành một tác phẩm mới, hoàn toàn khác với nội dung của tác phẩm gốc.
Ví dụ: Một tác phẩm điện ảnh mang tính chất chuyển thể có thể kể đến là tác
phẩm phim điện ảnh “Đảo của dân ngụ cư” chuyển thể từ tác phẩm văn học
cùng tên của nhà văn Đỗ Phước Tiến
Việc chuyển thể tác phẩm phải được tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm cho
phép và phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm gốc, phải ghi
tên tác phẩm và tác giả tác phẩm gốc. Nếu chuyển thể mà có sự thay đổi nội
dung tác phẩm gốc thì phải được tác giả tác phẩm gốc cho phép.
Tác phẩm chuyển thể là một trong các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.
Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ đã liệt kê tác phẩm phái sinh bao gồm:
tác phẩm dịch, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải,
tuyển chọn. Theo đó, tác phẩm chuyển thể có thể hiểu là: tác phẩm được
hình thành từ tác phẩm văn học sang một loại hình khác ví dụ chuyển thể từ
tác phẩm văn học thành kịch bản sân khấu hoặc điện ảnh. Tác phẩm gốc có
thể là tiểu thuyết, trường ca, truyện dài… hoặc cũng có thể là tác phẩm kịch
(sân khấu) được chuyển thành kịch bản điện ảnh, nhạc kịch… Một ví dụ cụ
thể để bạn hiểu thêm về khái niệm này: Một số tác phẩm văn học của nhà
văn Nguyễn Nhật Ánh đã được chuyển thể vào điện ảnh như Kính vạn hoa
(phim): 2004 TFS, dựa trên Kính vạn hoa; Phim cô gái đến từ hôm qua được
chuyển thể từ tác phẩm cùng tên… Các bộ phim này đều được xem là một
hình thức tác phẩm phái sinh dưới dạng chuyển thể.
2. Đặc điểm của tác phẩm chuyển thể (tác phẩm phái sinh)
Đặc điểm của tác phẩm phái sinh
– Thứ nhất, phải được hình thành dựa trên một hoặc nhiều tác phẩm gốc đã
tồn tại và phải còn dấu ấn của tác phẩm gốc.
Quyền cho làm tác phẩm phái sinh thuộc nhóm quyền tài sản
Tác phẩm phái sinh hình thành trên cơ sở thay đổi tác phẩm gốc, có dấu ấn
của tác phẩm gốc. Khi tiếp xúc với tác phẩm phái sinh, công chúng phải liên
tưởng đến tác phẩm gốc, sự liên tưởng này được thể hiện qua nội dung của tác phẩm gốc.
Người sáng tạo tác phẩm phái sinh phải tôn trọng quyền nhân thân không thể
chuyển giao của tác giả tác phẩm gốc. Thuật ngữ tác phẩm gốc vừa nêu là
tác phẩm mà người sáng tạo tác phẩm phái sinh dựa trên nền của nó để
sáng tạo tác phẩm (phái sinh) của mình.
– Thứ hai, trong tác phẩm phái sinh phải mang dấu ấn cá nhân của tác giả tác phẩm phái sinh
Dấu ấn cá nhân có thể hiểu là sáng tạo về nội dung, hình thức thể hiện tác phẩm
– Thứ ba, hình thức thể hiện của tác phẩm phái sinh khác biệt từng phần
hoặc hoàn toàn so với tác phẩm gốc
Quyền tác giả không bảo hộ nội dung, ý tưởng mà chỉ bảo hộ hình thức thể
hiện của ý tưởng. Do đó, tác phẩm phái sinh không phải là bản sao của tác
phẩm gốc. Hình thức thể hiện của tác phẩm phái sinh phải khác biệt hoàn
toàn hoặc khác biệt từng phần với hình thức thể hiện của tác phẩm gốc.
3. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền tác giả
Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm phái sinh được tạo ra. Giống như
tác phẩm gốc, quyền tác giả của tác phẩm phái sinh là quyền tự động, phát
sinh ngay khi tạo ra tác phẩm, được pháp luật bảo hộ mà không cần phải đăng ký.
Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền
tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.
Tác phẩm chuyển thể là hình thức thể hiện của tác phẩm phái sinh và vẫn
được bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005
(sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019) với một số lưu ý cụ thể như sau:
Thứ nhất, về hình thức thể hiện của tác phẩm phái sinh, pháp luật quyền tác
giả không bảo hộ nội dung ý tưởng mà chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng.
Thứ hai, về tính nguyên gốc, tác phẩm phái sinh phải do tác giả tự mình sáng
tạo nên mà không sao chép từ tác phẩm/những tác phẩm khác, kể cả tác
phẩm của chính tác giả đó. Để một tác phẩm phái sinh được bảo hộ thì nó
phải mang dấu ấn sáng tạo của tác giả và đồng thời không gây phương hại
đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.
Cả hai lưu ý này thực tế đã được pháp luật đề cập đến tại Khoản 2 và khoản
3 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019).
4. Nội dung, giới hạn quyền, thời gian bảo hộ quyền tác giả
Nội dung, giới hạn quyền, thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm cải biên, chuyển thể
Theo Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009 quy định: “Quyền tài sản
1. Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:
a) Làm tác phẩm phái sinh;
b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng; c) Sao chép tác phẩm;
d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu
tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
2. Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở
hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người
khác thực hiện theo quy định của Luật này.
3. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc
toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3
Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù
lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.
Như vậy, quyền tài sản được phát sinh và được bảo hộ khi tác phẩm cải biên,
chuyển thể ra đời. Tuy nhiên, quyền tài sản của các tác phẩm cải biên,
chuyển thể do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc
cho phép người khác thực hiện theo quy định của pjasp luật.
Quy định về các trường hợp sử dụng tác phẩm cải biên, chuyển thể đã
công bố mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao
” Điều 25. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép,
không phải trả tiền nhuận bút, thù lao
1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không
phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:
a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;
b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc
minh họa trong tác phẩm của mình;
c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn
phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;
d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác
giả, không nhằm mục đích thương mại;
đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;
e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các
buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;
h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật
ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;
i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.
2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không
được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây
phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông
tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.
3. Việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính.”
Trong trường hợp sử dụng các tác phẩm cải biên, chuyển thể với mục đích
được quy định tại Khoản 1 Điều 25 Luật sở hữu trí tuệ thì không phải xin
phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao.
Các hành vi xâm phạm quyền tác giả
Theo Khoản 7 Điều 28 Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định về các hành vi xâm
phạm quyền tác giả, theo đó:
” 7. Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả,
chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm
tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1
Điều 25 của Luật này.”
Trong trường hợp làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả,
chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm để làm tác phẩm phái sinh thì đấy
là hành vi xâm phạm quyền tác giả, trừ trường hợp tác phẩm cải biên ,
chuyển thể được chuyển sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm
thị. Đây là một quy định hợp lý và có tính nhân văn cao, bởi lẽ những người
khiếm thị là những người yếu thế cần được giúp đỡ và bảo vệ trong xã hội
nên việc chuyển thể, cải biên tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác
cho người khiếm thị không là hành vi xâm phạm quyền tác giả.
5. Ý nghĩa nhân văn của việc sáng tác và bảo hộ tác phẩm phái sinh
Có thể nói, việc kế thừa các tác phẩm đã tồn tại trong lĩnh vực văn học, nghệ
thuật và khoa học là một trong các yếu tố thúc đẩy sự phát triển của tài sản trí
tuệ. Sự “va đập, bổ sung, tương hỗ” giữa cái mới và cái cũ tạo nên một sức
hấp dẫn đặc biệt của tác phẩm phái sinh, đồng thời khiến tác phẩm gốc được biết đến nhiều hơn.
Nền văn hóa hiện tại đang hướng đến việc kế thừa các giá trị văn hóa truyền
thống, đồng thời tiếp thu những giá trị mới, hướng tới tương lai. Tác phẩm
phái sinh cũng chính là một trong các dạng tác phẩm thực hiện việc kế thừa
những giá trị về nội dung, ý nghĩa của tác phẩm gốc, đồng thời mang những
giá trị sáng tạo nhất định về hình thức thể hiện nội dung so với tác phẩm gốc.
Tuy nhiên, tác phẩm phái sinh cần phải đảm bảo không xâm phạm tới quyền
tài sản của tác giả tạo ra tác phẩm gốc và không trái với thuần phong mỹ tục.
Vì vậy, việc bảo hộ quyền tác giả cho tác phẩm phái sinh mang ý nghĩa khoa
học và thực tiễn cao, nó không chỉ bảo vệ các tác phẩm phái sinh, nó còn
mang tính bảo tồn, phát huy những ý nghĩa nhân văn của tác phẩm gốc. Từ
đó, tác phẩm phái sinh mới có thể đem tới những giá trị tinh thần mới mẻ và
được công chúng đón nhận.
Document Outline
- Chuyển thể là gì? Đặc điểm của tác phẩm chuyển thể
- 1. Khái niệm chuyển thể
- 2. Đặc điểm của tác phẩm chuyển thể (tác phẩm phái
- 3. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền tác giả
- 4. Nội dung, giới hạn quyền, thời gian bảo hộ quyề
- 5. Ý nghĩa nhân văn của việc sáng tác và bảo hộ tá