
116
THựCTIỄN-KINH
NGHIỆM
BÌNH
DƯƠNG
25
NĂM
TÁI
LẬP
-
NHỮNG
CHÍNH
SÁCH
VÀ
GIẢI
PHÁP
VƯỢT
TRÔI
★
PGS,
TS
NGUYỄN
VẢN
HIỆP
Chủ
tịch
Hội
đồng
Trường
Đại
học
Thủ
Dầu
Một
•
Tóm
tắt:
Trong
25
nănt
tái
lập
(1997-2021),
tỉnh
Bình
Dương
đã
có
nhiều
chính
sách
và
giải
pháp
phát
triển
kinh
tê'
-
xã
hội
vượt
trội,
giúp
tỉnh
khai
mở
lộ
trình
công
nghiệp
hóa
và
làm
nên
dấu
ấn
của
một
thời
kỳ
phát
triển
sôi
động
nhất
trong
lịch
sử
địa
phương.
Nhìn
từ
những
chính
sách
và
giải
pháp
này
cho
thấy,
Bình
Dương
đã
tới
ngưỡng
một
chu
kỳ
phát
triển
và
cần
có
nhận
thức
mới
trong
giai
đoạn
tiếp
theo
với
những
chính
sách
và
giải
pháp
vượt
trội
để
khai
mở
thời
kỳ
phát
triển
cao
hơn
trong
tất
cả
các
lĩnh
vực
kinh
tế,
xã
hội.
•
Từ
khóa:
Bình
Dương,
25
năm
tái
lập,
chính
sách,
giải
pháp.
Trung
tâm
hành
chính
tỉnh
Bình
Dương
_
Anh:IT
LÝ
LUẬN
CHÍNH
TRỊ
-
số
527
(1/2022)

117
S
au
25
năm
tái
lập
(1997-2021),
Bình
Dương
là
một
trong
những
địa
phương
điển
hình
trong
cả
nước
về
chuyển
đổi
từ
nền
kinh
tế
nông
nghiệp
sang
nền
kinh
tế
công
nghiệp,
chuyển
đổi
căn
bản
đòi
sống
xã
hội
nông
nghiệp
-
nông
thôn
sang
xã
hội
công
nghiệp
và
đô
thị.
Quá
trình
công
nghiệp
hóa,
hiện
đại
hóa
và
đô
thị
hóa
ở
Bình
Dương
có
được
những
thành
tựu
to
lớn
đó
xuất
phát
từ
nhiều
chủ
trương,
chính
sách
đúng
đán,
có
tính
chất
đột
phá
sáng
tạo,
vừa
là
động
lực
kích
hoạt
phát
triển
kinh
tế
-
xã
hội
của
tỉnh
và
cũng
là
tiền
đề
để
Đảng,
Nhà
nước
tổng
kết
những
vấn
đề
lý
luận
và
thực
tiễn
của
công
cuộc
đổi
mói.
1.
Từ
kích
hoạt
đầu
tư
đến
chuyển
dịch
CO'
cấu
kinh
tế
Từ
năm
1994,
khi
còn
là
tỉnh
Sông
Bé,
ngay
sau
khi
Quốc
hội
ban
hành
Luật
Khuyến
khích
đầu
tư
trong
nước
(số
35-L/CTN),
Đảng
bộ
và
chính
quyền
địa
phương
đã
nhanh
chóng
ban
hành
chính
sách
“
trải
chiếu
hoa"
mời
gọi
các
tổ
chức,
cá
nhân
trong
nước,
nước
ngoài
đâu
tư
sản
xuất,
kinh
doanh
vào
các
lĩnh
vực
then
chốt,
có
lọi
thế
của
tỉnh
gồm:
(i)
Xây
dựng
kết
cấu
hạ
tầng
kỹ
thuật
(chủ
yếu
là
đường
giao
thông
và
điện);
(ii)
Chế
biến
nông,
lâm,
thủy
sản;
các
dịch
vụ
kỹ
thuật
trực
tiếp
phục
vụ
sản
xuất
nông
nghiệp,
lâm
nghiệp,
ngư
nghiệp;
(iii)
Sản
xuất
hàng
xuất
khẩu
và
các
ngành,
nghề
truyền
thống;
cơ
sở
sản
xuất
sử
dụng
nhiều
lao
động.
Chính
sách
“
trải
chiếu
hoa
”
nhanh
chóng
tạo
tiếng
vang,
thu
hút
được
nhiều
tổ
chức,
cá
nhân
trong
và
ngoài
nước
đầu
tư
sản
xuất,
kinh
doanh
ửên
nhiều
lĩnh
vực;
sôi
động
nhất
là
thương
mại
-
xuất
nhập
khẩu,
công
nghiệp
-
tiểu
thủ
công
nghiệp.
Năm
1996,
Sông
Bé
đánh
dấu
sự
kiện
là
năm
thu
hút
đầu
tư
lớn
nhất
vói
136
dự
án
FDI
(chiếm
gần
50%
tổng
số
dự
án
của
cả
nước
-
136/325).
Chính
sách
“
trải
chiếu
hoa
”
là
một
động
lực
kích
hoạt
đầu
tư.
Hàng
nghìn
tỷ
đồng
của
các
tổ
chức,
cá
nhân
trong
nước
được
huy
động,
tạo
ra
tăng
trưởng
kinh
tế,
giải
quyết
việc
làm
và
nhiều
lĩnh
vực
kinh
tế
-
xã
hội
khác.
Đến
thời
điểm
tái
lập
tỉnh
(năm
1997),
cơ
cấu
kinh
tế
của
tỉnh
là
công
nghiệp
-
nông
nghiệp
-
dịch
vụ
theo
tỷ
lệ
tương
ứng
là
50,4%
-
22,8%
-
26,8%,
nông
nghiệp
còn
chiếm
tỷ
trọng
khá
cao
(1)
.
Căn
cứ
vào
tiềm
năng
và
các
điều
kiện
phát
triển,
Đảng
bộ
và
chính
quyền
tỉnh
Bình
Dương
đã
khẳng
định
cơ
cấu
kinh
tế
sẽ
chuyển
dịch
theo
hướng
công
nghiệp
-
dịch
vụ
-
nông
nghiệp.
Đảng
bộ
và
chính
quyền
tỉnh
coi
chuyển
dịch
cơ
cấu
kinh
tế
là
nhiệm
vụ
quan
trọng
để
thúc
đẩy
tăng
trưởng
tỷ
trọng
GDP
trong
các
ngành
công
nghiệp,
là
nhiệm
vụ
trọng
tâm
trong
lãnh
đạo,
điều
hành
các
nhiệm
vụ
kinh
tế,
xã
hội.
Sau
hơn
3
năm
chú
trọng
chuyển
dịch
cơ
cấu
kinh
tế,
đến
năm
2000,
Bình
Dương
đã
chuyển
biến
rõ
nét,
tỷ
ttọng
GDP
các
ngành
công
nghiệp
tăng
từ
50,5%
lên
58,1%,
nông
nghiệp
giảm
từ
22,8%
xuống
còn
16,7%.
Đại
hội
Đảng
bộ
tỉnh
Bình
Dương
lần
thứ
VII
(tháng
1-2001)
đề
ra
chỉ
tiêu
đến
năm
2010,
cơ
cấu
kinh
tế
của
tỉnh
là
công
nghiệp
-
dịch
vụ
-
nông
nghiệp
với
tỷ
trọng
tương
ứng
là
61-62%
-
27-28%
-10-1
1%
(2)
.
Vói
những
điều
kiện
thuận
lợi
của
đất
nước
trong
những
năm
đầu
thế
kỷ
XX,
Bình
Dương
đã
tăng
tốc
phát
triển
công
nghiệp.
Đến
năm
2010,
cơ
cấu
kinh
tế
công
nghiệp
-
dịch
vụ
-
nông
nghiệp
của
tỉnh
đã
định
hình
rõ
nét
vói
tỷ
trọng
là
63%
-
32,6%
-
4,4%,
vượt
xa
so
vói
nghị
quyết
đề
ra
(3)
.
Từ
năm
2010,
cơ
cấu
kinh
tế
của
tỉnh
tiếp
tục
chuyển
dịch
theo
hướng
giữ
vững
tỷ
trọng
GDP
các
ngành
công
nghiệp,
tăng
tỷ
trọng
GDP
các
ngành
dịch
vụ
và
tiếp
tục
giảm
dần
tỷ
trọng
GDP
các
ngành
nông
nghiệp.
Năm
2013,
cơ
cấu
kinh
tế
được
LÝ
LUẬN
CHÍNH
TRỊ
-
Sô
527
(1/2022)

118
THỰC
TIỄN-KINH
NGHIÊM
xác
định
là
công
nghiệp
-
dịch
vụ
-
nông
nghiệp
vói
tỷ
trọng
tương
ứng
là
61,4%
-
35,3%
-
3,3%
(4)
.
Năm
2020,
cơ
cấu
kinh
tế
ương
tổng
sản
phẩm
trên
địa
bàn
tỉnh
(GRDP)
xác
lập
tỷ
lệ
công
nghiệp
66,53%
-
dịch
vụ
22,78%
-
nông
nghiệp
2,51%
(5)
-
trừ
thuế
sản
phẩm
trừ
trợ
cấp
sản
phẩm
tương
ứng
8,18%.
Cùng
vói
việc
tăng
tỷ
trọng
GDP
các
ngành
công
nghiệp,
cơ
cấu
kinh
tế
của
Bình
Dương
ngày
càng
chuyển
dịch
theo
chiều
sâu
ttong
nội
bộ
từng
ngành.
Các
ngành
nông
nghiệp
chuyển
dịch
tích
cực
theo
hướng
công
nghiệp
hóa,
hiện
đại
hóa,
phát
triển
mạnh
theo
hướng
sản
xuất
hàng
hóa
phục
vụ
nhu
cầu
thị
trường.
Nhiều
loại
nông
sản
của
Bình
Dương
đã
trở
thành
hàng
hóa
có
giá
trị
kinh
tế
cao
(cao
su,
gia
súc,
gia
cầm).
Một
số
lĩnh
vực
kinh
tế
nông
nghiệp
sử
dụng
giống
mói,
công
nghệ
sinh
học,
phương
thức
canh
tác
tiên
tiến,
năng
suất
và
chất
lượng
sản
phẩm
được
nâng
cao.
Các
ngành
công
nghiệp
tích
cực
chuyển
dịch
theo
hướng
hội
nhập
quốc
tế.
Hiện
nay,
sản
phẩm
công
nghiệp
của
Bình
Dương
có
mặt
trên
thị
trường
hơn
100
quốc
gia
và
vùng
lãnh
thổ.
Chuyển
dịch
cơ
cấu
kinh
tế
là
chính
sách
xuyên
suốt
trong
tư
duy
lãnh
đạo,
điều
hành
của
tỉnh.
Đây
cũng
là
tiền
đề
quan
trọng
để
Bình
Dương
hướng
vào
thực
hiện
chuyển
đổi
cơ
cấu
ngành
công
nghiệp
dựa
trên
đổi
mới
thu
hút
đầu
tư,
ứng
dụng
tiến
bộ
kỹ
thuật
và
phát
triển
các
ngành
dịch
vụ
chất
lượng
cao
theo
hướng
xây
dựng
xã
hội
đô
thị
văn
minh,
hiện
đại.
2.
Tìm
cơ
chế
cho
khu
công
nghiệp
và
đột
phá
xây
dựng
kết
cấu
hạ
tầng
Bước
vào
thập
niên
1990,
Việt
Nam
tìm
“
hướng
ra
biển
lớn
”
.
Năm
1991,
Hội
đồng
Bộ
trưởng
(nay
là
Chính
phủ)
ban
hành
Quy
chế
khu
chế
xuất
(Nghị
định
số
332-
HĐBT
ngày
18-
10-1991).
Lãnh
đạo
tỉnh
Sông
Bé
vừa
tham
khảo
mô
hình
khu
chế
xuất
của
Thành
phố
Hồ
Chí
Minh,
vừa
chủ
động
nghiên
cứu
các
mô
hình
khu
công
nghiệp
của
nước
ngoài
và
nhận
thấy
điều
kiện
thực
tiễn
của
tỉnh
lúc
đó
phù
họp
để
phát
triển
khu
công
nghiệp,
nhưng
rào
cản
lớn
nhất
là
chưa
có
cơ
chế
pháp
lý
để
xây
dựng
khu
công
nghiệp.
Trước
thực
tế
đó,
lãnh
đạo
tỉnh
vẫn
quyết
định
vừa
tìm
tòi,
nghiên
cứu
thực
tiễn,
vừa
làm,
vừa
đi
“
xin
”
cơ
chế
cho
khu
công
nghiệp.
Năm
1993,
Khu
công
nghiệp
Bình
Dương
chính
thức
thành
lập.
Đây
là
khu
công
nghiệp
đầu
tiên
ở
Việt
Nam.
Với
những
nỗ
lực
tiên
phong
tìm
tòi,
“
xin
cơ
chế
”
của
tính,
năm
1994,
Chính
phủ
ban
hành
Quy
chế
khu
công
nghiệp
(Nghị
định
192-CP,
1994),
hoan
nghênh
và
khuyến
khích
các
tổ
chức,
cá
nhân
trong
và
ngoài
nước
đầu
tư
vào
khu
công
nghiệp
ưên
cơ
sở
Quy
chế
này
và
các
quy
định
của
pháp
luật
Việt
Nam.
Vói
cơ
sở
pháp
lý
của
Nghị
định
92-CP
và
những
kinh
nghiệm
sau
khi
xây
dựng
khu
công
nghiệp
Bình
Đường,
tỉnh
đã
lần
lượt
xây
dựng
nhiều
khu
công
nghiệp.
Đến
nay,
Bình
Dương
đã
có
29
khu
công
nghiệp
tập
trung
(tổng
diện
tích
trên
8.850ha)
và
8
cụm
công
nghiệp
(tổng
diện
tích
ttên
trên
650ha),
đáp
ứng
tốt
nhu
cầu
đầu
tư
phát
triển
các
ngành
công
nghiệp
cho
các
nhà
đầu
tư
trong
nước
và
nước
ngoài.
Bình
Dương
lựa
chọn
phương
hướng
phát
triển
khu
công
nghiệp
tập
trung
là
một
lựa
chọn
sáng
tạo
và
đúng
đán.
Vói
việc
xây
dựng
các
khu
công
nghiệp
tập
trung
quy
mô
lớn,
hạ
tầng
đầy
đủ,
Bình
Dương
đã
mở
ra
khả
năng
thu
hút
các
luồng
vốn
đầu
tư
đa
dạng
cho
phát
triển
kinh
tế,
xã
hội
của
tỉnh.
Nhìn
lại
những
ngày
đầu
lựa
chọn
và
xây
dựng
khu
công
nghiệp
mới
thấy
rõ
đây
là
một
trong
những
chủ
trương,
chính
sách
có
tính
đột
phá,
giúp
tỉnh
LÝ
LUẬN
CHÍNH
TRỊ
-
số
527
(1/2022)

119
mở
ra
lộ
trình
của
thời
kỳ
công
nghiệp
hóa,
hiện
đại
hóa.
Song
song
với
xây
dựng
khu
công
nghiệp,
tỉnh
Bình
Dưong
đã
nhận
thức
rõ
ràng,
kết
cấu
hạ
tầng
phát
triển
là
điều
kiện
tiên
quyết
để
mở
ra
khả
năng
thu
hút
vốn
đầu
tư;
là
điều
kiện
để
phát
triển
các
ngành
kinh
tế
chủ
chốt,
tạo
động
lực
thúc
đẩy
tăng
trưởng
kinh
tế,
nâng
cao
năng
suất,
hiệu
quả
của
nền
kinh
tế
và
góp
phần
giải
quyết
các
vấn
đề
xã
hội.
Xuất
phát
từ
điều
kiện
thực
tiễn
của
Bình
Dưong,
hai
lĩnh
vực
trong
xây
dựng
kết
cấu
hạ
tầng
được
Đảng
bộ,
chính
quyền
tỉnh
chú
trọng
đặc
biệt
là
xây
dựng
hệ
thống
giao
thông
và
các
khu
công
nghiệp
tập
trung.
Đối
vói
hệ
thống
giao
thông,
hàng
năm
tỉnh
đã
dành
lượng
vốn
chiếm
tỷ
lệ
cao
cho
các
công
trình
giao
thông
có
quy
mô
lớn
nhầm
đáp
ứng
yêu
cầu
phát
triển
kinh
tế,
xã
hội.
Nầm
trong
vùng
kinh
tế
trọng
điểm
phía
Nam,
tiếp
giáp
vói
Thành
phố
Hồ
Chí
Minh
nên
Bình
Dưong
rất
chú
trọng
đến
các
trục
giao
thông
hướng
tâm,
giao
thông
vành
đai,
nhầm
kết
nối
hạ
tầng
kỹ
thuật
của
tỉnh
vói
các
địa
phưong
trong
vùng
kinh
tế
trọng
điểm.
Cùng
với
các
trục
giao
thông
chính
kết
nối
với
Thành
phố
Hồ
Chí
Minh
và
các
tỉnh
miền
Đông,
miền
Tây
Nam
Bộ,
hệ
thống
đường
bộ
kết
nối
các
khu
công
nghiệp
cũng
được
đầu
tư
đổng
bộ,
hiện
đại.
Ở
khu
vực
đô
thị,
các
tuyến
đường
phố,
đường
hẻm
được
nhựa
hóa,
bê
tông
hóa.
Ở
khu
vực
nông
thôn,
đường
nhựa
đều
đến
Bình
Dương
lựa
chọn
phương
hướng
phát
triển
khu
công
nghiệp
tập
trung
là
một
lựa
chọn
sáng
tạo
và
đúng
đan.
Với
việc
xây
dựng
các
khu
công
nghiệp
tập
trung
quy
mồ
lớn,
hạ
tầng
đầy
đủ,
Bình
Dương
đã
mở
ra
khả
năng
thu
hút
các
luồng
vốn
đầu
tư
đa
dạng
cho
phát
triển
kinh
tế,
xã
hội
của
tỉnh.
Nhìn
lại
những
ngày
đầu
lựa
chọn
và
xây
dựng
khu
công
nghiệp
mói
thấy
rõ
đây
là
một
trong
những
chủ
trương,
chính
sách
có
tính
đột
phá,
giúp
tỉnh
mở
ra
lộ
trình
của
thời
kỳ
công
nghiệp
hóa,
hiện
đại
hóa.
trung
tâm
xã,
nhất
là
từ
khi
thực
hiện
chưong
trình
xây
dựng
nông
thôn
mới,
nhiều
xã
đã
hoàn
thành
nhựa
hóa
và
bê
tông
hóa
các
tuyến
đường
liên
ấp,
liên
xã.
Giao
thông
thuận
tiện
là
điều
kiện
cơ
bản
để
Bình
Dương
phát
triển
toàn
diện
kinh
tế
-
xã
hội.
3.
Khơi
thông
nguồn
lực
trong
nước
và
quốc
tế
Ngay
từ
khi
lựa
chọn
định
hướng
phát
triển
kinh
tế
công
nghiệp
làm
chủ
đạo,
Đảng
bộ
và
chính
quyền
tỉnh
thường
xuyên
quán
triệt
quan
điếm
phát
huy
nội
lực,
tranh
thủ
thu
hút,
tận
dụng
nguồn
lực
từ
bên
ngoài
cho
đầu
tư
phát
ttiến.
Trong
khơi
thông
nguồn
lực
đầu
tư
phát
triển,
tỉnh
nhận
thức
và
có
quyết
sách
rõ
ràng
những
khoản
đầu
tư
cho
hạ
tầng
(giao
thông,
khu
công
nghiệp,
thông
tin,
điện,
nước)
trước
hết
phải
phát
huy
cao
độ
nội
lực,
huy
động
nguồn
vốn
của
tỉnh,
các
doanh
nghiệp,
các
thành
phần
kinh
tế
trong
tỉnh
đồng
thời
huy
động
vốn
từ
bên
ngoài.
Quán
triệt
tư
tưởng
chỉ
đạo
này,
từ
cuối
thập
niên
1990,
khi
xây
dựng
các
khu
công
nghiệp
tập
trung,
tỉnh
đã
huy
động
nhiều
thành
phần
kinh
tế
tham
gia
đầu
tư,
đó
là
các
doanh
nghiệp
nhà
nước,
đơn
vị
kinh
tế
của
Đảng
bộ,
doanh
nghiệp
tư
nhân,
doanh
nghiệp
nước
ngoài...
Trong
những
năm
1997-2000,
vốn
đầu
tư
phát
triển
của
tỉnh
đạt
mức
trên
5.000
tỷ
đồng/năm.
Đến
giai
đoạn
2000-2005,
vốn
đầu
tư
LÝ
LUẬN
CHÍNH
TRỊ
-
số
527
(1/2022)

120
THựCTIỄN-KINH
NGHIỆM
phát
triển
của
tỉnh
đạt
mức
trung
bình
9.000
tỷ
đồng/năm;
giai
đoạn
2006-2010,
đạt
trung
bình
20.000
tỷ
đồng
(6)
.
Năm
2013,
vốn
đầu
tư
phát
triển
của
tỉnh
đạt
52.363
tỷ
đồng
(7ì
.
Bình
Dưong
nhiều
năm
giữ
vị
trí
số
1
trong
thu
hút
đầu
tư
trực
tiếp
nước
ngoài
(FDI).
Giai
đoạn
1997-2000,
Bình
Dưong
thu
hút
hon
300
dự
án
đầu
tư
nước
ngoài
vói
số
vốn
gần
2.400
triệu
USD.
Đến
năm
2013,
tổng
số
dự
án
FDI
đầu
tư
vào
Bình
Dưong
đạt
trên
2.000
dự
án,
tổng
số
vốn
là
17
tỷ
USD.
Các
nguồn
vốn
từ
dân
cư
được
huy
động
vào
sản
xuất,
kinh
doanh.
Điển
hình
là
việc
huy
động
vốn
trong
dân
cư
vào
phát
triển
cao
su
tiểu
điền
với
hàng
trăm
tỷ
đồng.
Tính
đến
năm
2010,
trên
địa
bàn
tỉnh
Bình
Dưong
có
hon
85.000
ha
cao
su
tiểu
điền.
Các
hộ
gia
đình
phát
triển
kinh
tế
theo
hình
thức
trang
trại
chăn
nuôi
gia
súc,
gia
cầm
quy
mô
lớn
rất
phổ
biến.
Việc
khoi
thông
nguồn
lực
trong
dân
cho
đầu
tư
phát
triển
đã
làm
chuyển
biến
căn
bản
đời
sống
xã
hội.
4.
Phát
triển
hệ
thống
đô
thị,
nông
thôn
theo
hướng
văn
minh,
hiện
đại
Với
sự
phát
triển
mạnh
theo
hướng
công
nghiệp
hóa,
hiện
đại
hóa,
việc
gia
tăng
dân
số
cơ
học
và
quá
trình
đô
thị
hóa
là
một
tất
yếu.
Từ
năm
1997
đến
2014,
dân
số
ở
Bình
Dương
tăng
hơn
hai
lần
(từ
700.000
lên
1.800.000
người)
và
đến
năm
2019
là
2.426.581
người
(theo
tổng
điều
ria
dân
số
nhà
ở
năm
2019).
Chính
vì
vậy,
trong
quy
hoạch
phát
triển
kinh
tế,
xã
hội
của
tỉnh
luôn
chú
trọng
vấn
đề
đô
thị
hóa
và
phát
triển
đô
thị.
Trong
quy
hoạch
phát
triển
đô
thị,
Bình
Dương
chú
trọng
phát
huy
tiềm
năng,
lọi
thế
của
địa
phương
và
phù
họp
vói
quy
hoạch
chung
của
vùng
kinh
tế
trọng
điểm
phía
Nam.
Năm
2010,
Tỉnh
ủy
Bình
Dương
đã
xây
dựng
chương
trình
đột
phá
về
phát
triển
đô
thị
Bình
Dương
đến
năm
2020.
Theo
đó
giai
đoạn
2010-2015,
Thủ
Dầu
Một
là
đô
thị
loại
II
và
trở
thành
thành
phố
trực
thuộc
tỉnh.
Thuận
An
và
Dĩ
An
là
đô
thị
loại
III.
Phát
triển
thị
xã
Bến
Cát
và
Tân
Uyên
thành
đô
thị
loại
IV.
Đến
nay,
tỷ
lệ
đô
thị
hóa
ở
Bình
Đương
đạt
trên
70%.
Trong
khi
hoàn
thiện
quy
hoạch
và
phát
triển
đô
thị,
Đảng
bộ
và
chính
quyền
tỉnh
cũng
chú
trọng
phát
triển
nông
thôn
và
phân
bố
các
điểm
dân
cư
theo
quy
hoạch,
bảo
đảm
mỹ
quan,
môi
trường,
an
toàn
giao
thông;
quy
hoạch
và
cải
tạo
các
làng
nghề,
các
trung
tâm
dịch
vụ
nông
thôn
theo
hướng
bển
vững.
Chương
trình
mục
tiêu
quốc
gia
xây
dựng
nông
thôn
mới
ở
Bình
Dương
khởi
động
từ
năm
2011
đã
thu
được
những
kết
quả
về
kết
cấu
hạ
tầng
ở
nông
thôn.
Các
sở,
ngành
và
địa
phương
đã
tích
cực
triển
khai
thực
hiện
đồng
bộ
gán
vói
thực
hiện
quy
hoạch,
kế
hoạch
của
ngành
và
địa
phương.
Chương
trình
nông
thôn
mới
đã
góp
phần
nâng
cao
đời
sống
vật
chất
và
tinh
thần
của
người
dân
nông
thôn.
5.
Sáng
tạo
trong
giải
quyết
các
vấn
đề
xã
hội
Trong
quá
trình
đổi
mới,
Đảng
bộ,
chính
quyền
tỉnh
Bình
Dương
đã
nỗ
lực
tìm
tòi,
thử
nghiệm
nhiều
cơ
chế,
giải
pháp
giải
quyết
những
vấn
đề
xã
hội
bức
xúc.
Hai
vấn
đề
then
chốt,
có
tính
đột
phá
trong
đổi
mới
tư
duy
của
Đảng
bộ,
chính
quyền
tỉnh
là
vấn
đề
cải
cách
thủ
tục
hành
chính
và
thực
hiện
các
chương
trình
mục
tiêu
quốc
gia.
Trong
công
tác
cải
cách
thủ
tục
hành
chính,
trên
cơ
sở
pháp
luật,
Đảng
bộ,
chính
quyền
tỉnh
đã
ban
hành
các
văn
bản
chỉ
đạo,
triển
khai
thực
hiện
cải
cách
thể
chế
phù
họp
với
điều
kiện,
đặc
điểm
tình
hình
cụ
thể
của
tỉnh.
Ngoài
việc
chú
trọng
cải
tiến
thủ
tục
hành
chính
ở
các
ngành,
các
cấp,
tỉnh
đã
chỉ
đạo
xây
LÝ
LUẬN
CHÍNH
TRỊ
-
số
527
(1/2022)

121
dựng
chức
năng,
nhiệm
vụ
cụ
thể
của
từng
ngành,
song
song
vófi
xây
dựng
các
quy
trình
thủ
tục
hành
chính
đon
giản,
cải
tiến
lề
lối
làm
việc,
coi
trọng
chất
lượng,
hiệu
quả
công
việc,
phát
huy
vai
trò
hiệu
quả
của
bộ
máy
hành
chính
các
cấp.
Bình
Dưong
là
một
trong
các
tỉnh
thực
hiện
thủ
tục
hành
chính
một
cửa
sớm
nhất
và
đã
phát
huy
hiệu
quả.
Để
xây
dựng
nền
hành
chính
dân
chủ,
trong
sạch,
vững
mạnh,
từng
bước
hiện
đại
hóa,
có
tính
chuyên
nghiệp
cao,
tỉnh
Bình
Dương
đề
ra
mục
tiêu
của
Chương
trình
cải
cách
hành
chính
nhà
nước
giai
đoạn
2011-2020
là
100%
các
thủ
tục
hành
chính
được
công
khai,
minh
bạch,
dễ
tiếp
cận,
dê
thực
hiện,
nhanh
chóng
và
thuận
lợi
cho
người
dân
và
doanh
nghiệp;
xây
dựng
đội
ngũ
cán
bộ,
công
chức
đủ
về
số
lượng,
đạt
chất
lượng
tương
ứng
với
yêu
cầu
chuyên
môn
và
nhiệm
vụ
chính
trị
của
địa
phương
theo
từng
thòi
kỳ,
có
tinh
thần,
thái
độ
phục
vụ
nhân
dân;
xây
dựng
nền
hành
chính
công
nghệ
cao
thay
cho
nền
hành
chính
thủ
công;
tổ
chức
các
chương
trình
đào
tạo
thiết
thực
và
phù
họp
với
từng
loại
đối
tượng
cán
bộ,
công
chức,
viên
chức;
nâng
cao
kỹ
năng
ứng
dụng
và
khai
thác
công
nghệ
thông
tin
cho
100%
cán
bộ,
công
chức,
viên
chức
theo
các
lĩnh
vực
chuyên
môn.
Sức
hấp
dẫn
của
Bình
Dương
được
tạo
thành
bởi
nhiều
yếu
tố,
trong
đó
một
yếu
tố
hết
sức
quan
trọng
là
thủ
tục
hành
chính
luôn
được
cải
tiến
theo
hướng
hỗ
trợ
ngày
càng
tốt
hơn
cho
nhà
đâu
tư.
Thực
hiện
các
chương
trình
mục
tiêu
quốc
gia,
Bình
Dương
đã
đạt
được
những
thành
tựu
quan
trọng
về
phát
triển
xã
hội.
Trong
25
năm
qua,
đầu
tư
của
tỉnh
cho
các
lĩnh
vực
xã
hội
ngày
càng
tăng,
luôn
chiếm
hơn
20%
vốn
ngân
sách
tỉnh.
Những
lĩnh
vực
ưu
tiên
trong
phát
triển
xã
hội
là
các
chương
trình
mục
tiêu
quốc
gia
về
xóa
đói
-
giảm
nghèo,
giải
quyết
việc
làm,
giáo
dục
-
đào
tạo,
chăm
sóc
sức
khỏe
nhân
dân,
phòng,
chống
tệ
nạn
xã
hội...
Các
chương
trình
và
mục
tiêu
quốc
gia
về
phát
triển
xã
hội
đã
được
các
cấp
ủy,
chính
quyền
triển
khai
thực
hiện
và
đạt
hiệu
quả
cao.
Công
tác
xóa
đói
-
giảm
nghèo
của
Bình
Dương
luôn
là
một
điểm
sáng
trong
cả
nước.
Tỷ
lệ
hộ
nghèo
theo
chuẩn
quốc
gia
trung
bình
hàng
năm
giảm
2,5%.
Bình
Dương
là
một
trong
các
địa
phương
sớm
nâng
mức
chuẩn
nghèo
cao
hơn
so
vói
chuẩn
nghèo
do
Chính
phủ
quy
định.
Trong
giai
đoạn
2001
-
2005,
Bình
Dương
đã
hai
lần
nâng
chuẩn
nghèo.
Đến
năm
2010,
tỉnh
không
còn
hộ
nghèo
theo
tiêu
chí
của
Trung
ương.
Đến
năm
2013,
chuẩn
nghèo
của
tỉnh
Bình
Dương
ở
khu
vực
thành
thị
là
hộ
có
mức
thu
nhập
1.100.000
đồng/ngưòi/tháng,
ở
khu
vực
nông
thôn
là
1.000.000
đồng/ngưòi/tháng,
tương
đương
vói
chuẩn
nghèo
của
thành
phố
Hồ
Chí
Minh
-
là
một
trong
các
tỉnh,
thành
có
đòi
sống
cao
trong
nước.
Từ
năm
1997,
Bình
Dương
đã
được
công
nhận
đạt
tiêu
chuẩn
quốc
gia
về
xóa
mù
chữ
và
phổ
cập
giáo
dục
tiểu
học.
Năm
2005,
tỉnh
đạt
chuẩn
quốc
gia
về
phổ
cập
trung
học
cơ
sở.
Năm
2020,
quy
mô
giáo
dục
của
Bình
Dương
có
369
đơn
vị
trường
học,
trên
215.000
học
sinh.
Toàn
bộ
hệ
thống
trường
học,
lóp
học
được
kiên
cố
hóa
(8)
.
Để
đáp
ứng
nhu
cầu
đào
tạo
nguồn
nhân
lực
có
trình
độ
cao,
các
cấp
ủy
Đảng,
chính
quyền
tỉnh
vừa
chú
trọng
đầu
tư
phát
triển
các
trường
đại
học
cao
đẳng
công
lập,
vừa
tạo
cơ
chế,
chính
sách
phát
triển
các
cơ
sở
đào
tạo
ngoài
công
lập.
6.
Nhận
thức
và
giải
pháp
trong
thời
kỳ
mới
Trải
qua
một
phần
tư
thế
kỷ
công
nghiệp
hóa,
hiện
đại
hóa,
Đảng
bộ
và
chính
quyền
tỉnh
Bình
Dương
đã
có
nhiều
chính
sách
đột
phá,
vượt
trội,
LÝ
LUẬN
CHÍNH
TRỊ
-
Sô
527
(1/2022)

122
THựCTIỄN-KINH
NGHIỆM
tạo
dựng
những
nhân
tố
mói,
trở
thành
động
lực
mạnh
mẽ
cho
quá
trình
phát
triển
kinh
tế,
xã
hội
của
tỉnh.
Tuy
nhiên,
thực
tiễn
phát
triển
kinh
tế,
xã
hội
của
tỉnh
25
năm
qua
cũng
đem
lại
những
nhận
thức
mói:
Việc
thu
hút
các
dự
án
đầu
tư
trên
lĩnh
công
nghiệp,
nhất
là
trong
giai
đoạn
đầu,
hầu
hết
thuộc
các
lĩnh
vực
thâm
dụng
lao
động;
sô'
lượng
công
nhân
và
nhân
viên
của
doanh
nghiệp
rất
lớn;
năng
suất
lao
động
thấp;
làm
gia
tăng
các
chi
phí
đào
tạo
nhân
lực
và
nhiều
chính
sách
xã
hội
khác.
Phần
lớn
các
dự
án
đầu
tư
trong
lĩnh
vực
công
nghiệp
đều
mang
dáng
dấp
của
nền
công
nghiệp
kiểu
cũ
vói
công
nghệ
và
thiết
bị
lạc
hậu,
năng
suất
thấp,
tính
năng
bảo
vệ
môi
trường
thấp.
Tính
đến
nay,
các
doanh
nghiệp
này
phần
lớn
mới
đầu
tư
trong
khoảng
15-30
năm,
trong
khi
chu
kỳ
đầu
tư
cần
50-70
năm.
Vì
vậy,
vấn
đề
đổi
mói
công
nghệ,
thiết
bị,
chuyển
đổi
từ
công
nghiệp
kiểu
cũ
sang
công
nghiệp
kiểu
mói;
giải
quyết
các
bài
toán
về
bảo
vệ
môi
trường
là
một
thách
thức
lớn.
Tiềm
năng
khai
thác
các
lợi
thế
về
đất
đai,
nguồn
nhân
lực,
cơ
sở
hạ
tâng
giao
thông...
đã
tói
ngưỡng.
Bình
Dương
hiện
không
còn
nhiều
lọi
thế
về
tài
nguyên
đất
đai
và
cơ
sở
hạ
tầng.
Trong
khi
đó,
vấn
đề
quy
hoạch
và
thực
hiện
quy
hoạch
chưa
thực
sự
khoa
học
và
thiếu
bền
vững.
Dân
số
tăng
nhanh
nhưng
chất
lượng
dân
cư
chuyển
biến
rất
chậm.
Bình
Dương
là
tỉnh
có
lực
lượng
công
nhân
đông
đảo
nhưng
cơ
cấu
nghề
nghiệp
thay
đổi
không
mấy
tích
cực.
Lực
lượng
lao
động
không
có
tay
nghề
và
chuyên
môn
kỹ
thuật
thấp
luôn
chiếm
tỷ
lệ
lớn;
trong
khi
đó,
tầng
lóp
trung
lưu
tăng
rất
chậm.
Việc
quản
lý
dân
cư
còn
nhiều
vấn
đề
thiếu
khoa
học
và
bền
vững
mà
đại
dịch
Covid-19
đã
làm
bộc
lộ
khá
rõ.
Quan
điểm
và
chính
sách
giải
quyết
các
vấn
đề
xã
hội
chưa
thấu
đáo.
Nhất
là
chính
sách
về
xã
hội
đối
với
người
nhập
cư
trong
việc
giải
quyết
các
vấn
đề
an
sinh
xã
hội,
giáo
dục
-
đào
tạo,
y
tế.
Cần
nhìn
nhận
lại,
khách
quan
hơn
theo
hướng
người
nhập
cư
là
lực
lượng
lao
động
quan
trọng,
góp
phần
giải
quyết
nhu
cầu
của
nền
kinh
tế,
xã
hội.
Việc
giải
quyết
các
chính
sách
an
sinh
xã
hội
đối
vói
người
nhập
cư
cần
được
coi
là
“
lợi
thế
”
bởi
không
có
lực
lượng
này,
Bình
Dương
sẽ
đối
mặt
với
tình
trạng
thiếu
hụt
lao
động
nghiêm
trọng
và
hậu
quả
là
không
thể
thu
hút
đầu
tư
nếu
doanh
nghiệp
khó
khăn
trong
tuyển
dụng
lao
động.
Các
chính
sách
và
giải
pháp
vượt
trội
của
Bình
Dương
đã
làm
nên
sức
sống
và
sự
vươn
lên
mạnh
mẽ
của
tỉnh
trong
25
qua
nhưng
cũng
đồng
thòi
bước
vào
ngưỡng
của
chu
kỳ
phát
triển.
Bình
Dương
đang
cần
một
chu
kỳ
phát
triển
mói,
vói
những
chính
sách
giải
pháp
vượt
trội
mói.
Thứ
nhất,
tỉnh
Bình
Dương
cần
xem
xét
mô
hình
tăng
trưởng
để
tìm
điểm
kích
hoạt
cho
giai
đoạn
mới.
Mô
hình
kinh
tế
lấy
công
nghiệp
làm
nền
tảng
đột
phá
từ
Bình
Dương
đã
lan
tỏa
ra
cả
nước;
một
số
tỉnh,
thành
dựa
theo
mô
hình
này
để
kiến
tạo
những
đột
phá
trong
phát
triển
kinh
tế,
xã
hội.
Trong
khi
đó,
Bình
Dương
không
còn
nhiều
dư
địa
cho
mô
hình
kinh
tế
này
bởi
lợi
thế
về
nguồn
lực
đất
đai,
nhân
lực,
cơ
sở
hạ
tầng
đã
tới
ngưỡng.
Thời
gian
tới,
Bình
Dương
cần
vượt
ra
khỏi
khuôn
khổ
mô
hình
phát
triển
kinh
tế
công
nghiệp
kiểu
cũ
để
xác
lập
mô
hình
phát
triển
kinh
tế
vói
đảng
cấp
cao
hơn.
Cần
khơi
thông
động
lực
sáng
tạo
để
đổi
mới
công
nghệ
của
các
ngành
công
nghiệp,
dịch
vụ
và
nông
nghiệp
gán
với
mục
tiêu
vươn
tới
trình
độ
cao
trong
tất
cả
các
lĩnh
vực
đời
sống,
kinh
tế,
xã
hội;
định
hướng
chiến
lược
và
LÝ
LUẬN
CHÍNH
TRỊ
-
số
527
(1/2022)

123
quy
hoạch
Bình
Dương
trở
thành
trung
tâm
phát
triển
vùng
đẳng
cấp
cao
với
các
chức
năng:
đô
thị
công
nghiệp
động
lực,
trung
tâm
giáo
dục
-
đào
tạo
và
khoa
học
-
công
nghệ,
trung
tâm
liên
kết
và
hội
nhập
quốc
tế
với
những
chính
sách
phù
họp.
Thứ
hai,
dân
số
tăng
nhanh
và
đô
thị
hóa
mạnh
mẽ,
Bình
Dưong
cần
hoạch
định
một
chiến
lược
đô
thị
hóa
kết
họp
giữa
quy
hoạch
vật
lý
và
quy
hoạch
xã
hội,
kiến
tạo
bản
sác
theo
không
gian
địa
hình
và
không
gian
văn
hóa
xã
hội
để
phát
huy
hết
xung
lực
vốn
có,
góp
phần
tạo
ra
sức
mạnh
kinh
tế,
làm
chuyển
đổi
cơ
cấu
kinh
tế,
đưa
Bình
Dương
tham
gia
sâu
vào
quá
trình
hội
nhập
quốc
tế.
Tỉnh
cần
hoạch
định
chiến
lược
đô
thị
hóa
vượt
trội,
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
nhất
để
cuốn
hút,
mời
gọi
những
doanh
nhân,
kỹ
thuật
gia,
nhà
khoa
học...;
trao
cho
họ
nơi
cư
trú
và
tác
nghiệp
thuận
lợi.
Bình
Dương
cần
có
những
khu
đô
thị
mới
sang
trọng
để
thu
hút
được
các
tổ
chức
tầm
cỡ
quốc
tế,
các
định
chế
thương
mại
và
văn
hóa,
tầng
lóp
có
thu
nhập
cao,
các
cơ
hội
việc
làm
trong
lĩnh
vực
sáng
tạo...
để
thu
hút
nguồn
tài
chính
lớn.
Bình
Dương
cũng
cần
có
những
khu
đô
thị
văn
minh,
hiện
đại,
phù
họp
thu
nhập
của
người
dân,
để
nhiều
tầng
lóp
dân
cư
được
thụ
hưởng
môi
trường
sống
và
làm
cho
nơi
này
sung
túc
hơn,
toàn
diện
hơn...
Thứ
ba,
sớm
xác
lập
quan
điểm
về
quy
hoạch
và
quản
lý
dân
cư
theo
hướng
tiên
tiến,
hiện
đại.
Điều
tra,
khảo
sát
thông
tin
dân
cư
một
cách
chính
xác,
toàn
diện.
Xác
lập
quan
điểm
dân
nhập
cư
có
vai
trò
thúc
đẩy
phát
triển
kinh
tế,
xã
hội
của
tỉnh
và
lồng
ghép
quan
điểm
này
ttong
các
chiến
lược
phát
triển
nòng
cốt,
khai
thác
một
cách
hiệu
quả
di
cư
lao
động
cả
trong
nước
và
nước
ngoài.
Thứ
tư,
xây
dựng
chiến
lược
phát
triển
lao
động
và
xã
hội
đạt
trình
độ
ASEAN,
các
tiêu
chuẩn
về
lao
động
và
xã
hội
theo
các
chuẩn
mực
phù
họp
với
tiêu
chuẩn
của
Tổ
chức
lao
động
quốc
tế
(ILO);
phát
triển
nguồn
nhân
lực
chất
lượng
cao,
phù
họp
vói
nhu
cầu
của
cuộc
Cách
mạng
công
nghiệp
lần
thứ
tư,
có
thể
tham
gia
vào
thị
trường
lao
động
khu
vực
và
toàn
cầu;
tăng
cơ
hội
việc
làm
có
chất
lượng
cao,
thu
nhập
cao;
đầu
tư
xây
dựng
các
cơ
sở
đào
tạo
đại
học,
cao
đẳng,
trường
nghề
được
các
nước
trong
khu
vực
và
quốc
tế
công
nhận
về
văn
bầng,
chứng
chỉ;
tiếp
cận
các
tiêu
chí
về
an
sinh
xã
hội
của
quốc
tế.
Nghiên
cứu
áp
dụng
các
tiêu
chuẩn
lao
động
xã
hội
quốc
tế
phù
họp
vói
điều
kiện
của
tỉnh,
tiếp
cận
áp
dụng
các
tiêu
chí
đánh
giá
vể
lao
động
theo
thông
lệ
quốc
tế;
dự
báo
tình
huống
và
xử
lý
các
vấn
đề
lao
động
và
xã
hội
phát
sinh
theo
nghiệp
vụ
quốc
tế;
thực
hiện
các
chương
trình
việc
làm
bền
vững,
chú
trọng
các
dự
báo
về
thị
trường
lao
động,
an
toàn
lao
động,
thanh
tra
lao
động;
xây
dựng
chương
trình
hội
nhập
về
giáo
dục
nghề
nghiệp
và
an
sinh
xã
hội
□
Ngày
nhận
bài:
25-12-2021;
Ngày
phản
biện:
30-12-
2021;
Ngày
duyệt
đăng:
17-1-2022.
(1),
(6)
Cục
Thống
kê
Bình
Dương:
Số
liệu
kinh
tế-
xã
hội
tỉnh
Bình
Dương
1997
-
2008,
2009.
(2)
Đảng
bộ
tỉnh
Bình
Dương:
Văn
kiện
Đại
hội
đại
biểu
Đảng
bộ
tỉnh
Bình
Dương
lần
thứ
VII,
2001.
(3),
(4),
(7)
Cục
Thống
kê
Bình
Dương:
Niên
giám
thống
kê
2013,
2014,
tt.41,
41,46.
(5),
(8)
Đảng
bộ
tỉnh
Bình
Dương:
Văn
kiện
đại
hội
đại
biếu
Đảng
bộ
tỉnh
Bình
Dương
lần
thứ
XI,
Bình
Dương.
LÝ
LUẬN
CHÍNH
TRỊ
-
Số
527
(1/2022)
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.