Đề cương Kinh tế chính trị | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin là các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện chứng với  trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của  phương thức sản xuất nhất định. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Thông tin:
10 trang 2 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Đề cương Kinh tế chính trị | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin là các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện chứng với  trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của  phương thức sản xuất nhất định. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

84 42 lượt tải Tải xuống
Câu 1
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin là các quan hệ xã hội của sản xuất và
trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất nhất định.
Phân biệt quy luật kinh tế và chính sách kinh tế:
- Quy luật kinh tế tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người, con người
không thể thủ tiêu quy luật kinh tế, nhưng có thể nhận thức và vận dụng quy luật kinh tế để
phục vụ lợi ích của mình. Khi vận dụng không phù hợp, con người phải thay đổi hành vi của
mình chứ không thay đổi được quy luật
- Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan của con người được hình thành trên cơ sở vận dụng
các quy luật kinh tế. Chính sách kinh tế vì thế có thể phù hợp, hoặc không phù hợp với quy luật
kinh tế khách quan. Khi chính sách khôngphù hợp, chủ thể ban hành chính sách có thể ban
hành chính sách khác để thay thế
Câu 2
Khái niệm: Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để
trao đổi hoặc mua bán trên thị trường
Điều kiện ra đời:
- Thứ nhất, phân công lao động xã hội.- Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã
hội một cách tự phát thành các ngành, nghề khác nhau.Phân công lao động xã hội tạo ra sự
chuyên môn hoá lao động, do đó dẫn đến chuyên môn hoá sản xuất. Do phân công lao động xã
hội nên mỗi người sản xuất sẽ làm một công việc cụ thể, vì vậy họ chỉ tạo ra một hoặc mộtvài
loại sản phẩm nhất định. Song cuộc sống của mỗi người lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm
khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu, đòi hỏi họ phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, phải trao
đổi sản phẩm cho nhau. phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hoá.
Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hoá càng mở rộng hơn,
đa dạng hơn
- Thứ hai, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất. Sự tách biệt này do
các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởi thuỷ là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu
sản xuất, đã xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động.Chính
quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập
với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc lẫn
nhau về sản xuất và tiêu dùng
Thuộc tính của sản xuất hàng hóa
Có 2 thuộc tính : Giá trị sử dụng & Giá trị trao đổi
Tính hai mặt của sản xuất hàng hóa
- Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính vì lao động của người sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt:
lao động cụ thể và lao động trừu tượng. C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt
này. Là cơ sở để phân tích sự sản xuất giá trị thặng dư
Lao động cụ thể: là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên
môn nhất định
- Mỗi lao động cụ thể có mục đích, đối tượng, tư liệu, phương pháp và kết quả lao động riêng.
- Phản ánh trình độ phân công lao động xã hội.
- Số lượng, chất lượng lao động cụ thể phụ thuộc vào trình độ phát triển xã hội (KHKT)
- Tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.
- Là một phạm trù vĩnh viễn.
- Phân công lao động càng phát triển -> nhiều giá trị sử dụng
Lao động trừu tượng: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa không kể đến hình thức
cụ thể của nó
- Đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hóa về cơ bắp, thần kinh, trí
óc nói chung, mà không kể đến hình thức cụ thể của nó
- Lao động trừu tượng là lao động đồng chất của người sản xuất hàng hóa. Nó tạo ra giá trị của
hàng hóa.
- Lao động trừu tượng là cơ sở để trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau.
- Lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa
Giá trị = lao động trừu tượng
- Là một phạm trù lịch sử riêng có của sản xuất hàng hóa.
Mâu thuẫn giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng:
- Lao động cụ thể => lao động tư nhân => sản xuất tư nhân không ăn khớp với nhu
cầu xã hội.
- Lao động trừu tượng => lao động xã hội => tiêu hao lao động cá biệt cao hơn tiêu hao lao
động xã hội
Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
a. Năng suất lao động
-Là năng lượng sản xuất lao động, được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời
gian hoặc số thời gian trên 1 sản phẩm.
-Có 2 loại năng suất lao động: NSLĐ cá biệt và NSLĐ xã hội. Chỉ có năng suất lao động xã hội mới
ảnh hưởng đến lượng giá trị.
–>Ảnh hưởng: Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản
xuất ra hàng hoá càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít. Ngược lại năng suất
lao động xã hội càng giảm, thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá càng
tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều. Lượng giá trị hàng hoá tỷ lệ thuận với
số lượng lao động kết tinh và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội.
b. Cường độ lao động
-Là mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian.
–>Ảnh hưởng: Cường độ lao động tăng lên thì số lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên nhưng
sức lao động hao phí cũng tăng lên, vậy lượng giá trị hàng hóa vẫn không đổi. Nhưng khi tăng
năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau thì làm cho lượng sản phẩm sản xuất
ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, mà đổi lại làm cho giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm
xuống.
c. Mức độ phức tạp của lao động
-Theo MĐPT của lao động thì có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức
tạp.
-Lao động giản đơn là lao động mà kể cả người chưa được đào tạo cũng có thể thực hiện được.
-Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên
môn lành nghề nhất định mới có thể tiến hành được.
–>Ảnh hưởng: Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn so
với lao động giản đơn. Cả lao động giản đơn và lao động phức tạp tỷ lệ thuận với tổng lượng giá
trị hàng hoá
Nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ
- Nguồn gốc: Là kết quả của sự phát triển các hình thái giá trị trong trao đổi
- Bản chất: Tiền là một loại hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả
các loại hàng hóa. Nó là sự thể hiện chung của giá trị, đồng thời nó biểu hiện quan hệ sản xuất
giữa những người sản xuất hàng hóa.
Khi giá trị của 1 hàng hóa được biểu hiện ở 1 số lượng tiền nhất định thì số lượng tiền đó
được gọi là giá cả của hàng hóa.
- Chức năng của tiền tệ:
- Thước đo giá trị
- Phương tiện lưu thông
- Tiền tệ thế giới
- Phương tiện thanh toán
- Phương tiện cất giữ
Câu 3
Thị trường:
Cơ chế thị trường là tổng thể các yếu tố cung, cầu, giá cả và thị trường cùng các mối quan hệ cơ
bản vận động dưới sự điều tiết của các quy luật thị trường trong môi trường cạnh tranh nhằm
mục tiêu duy nhất là lợi nhuận
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở giai đoạn cao, vận hành theo cơ chế
thị trường. Trong đó, mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thực hiện trên thị trường,
chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường.
Tất cả các yếu tố đầu vào và đầu ra của sx dc thực hiện thông qua thị trường và dc thực hiện
theo các quy luật khách quan vốn có của nó
Ưu thế của nền kinh tế thị trường
- Một là, kinh tế thị trường luôn tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự sáng tạo của các
chủ thể kinh tế.
- Hai là, nền kinh tế thị trường luôn phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ thể, các vùng
miền cũng như lợi thế quốc gia trong quan hệ với thế giới.
- Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối đa nhu cầu của con
người, từ đó thúc đẩy tiến bộ, văn minh xã hội.
Khuyết tật của nền kinh tế thị trường
- Một là, xét trên phạm vi toàn bộ nền sản xuất xã hội, nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn
những rủi ro khủng hoảng
- Hai là, nền kinh tế thị trường không thể khắc phục được xu hướng cạn kiệt tài nguyên không
thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội
- Ba là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa sâu sắc trong xã
hội.
Câu 4: Các quy luật trong nền kinh tế thị trường
- Quy luật giá trị
- Quy luật cung cầu
- Quy luật lưu thông tiền tệ
- Quy luật cạnh tranh
* Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa, nơi nào có sản xuất và trao đổi
hàng hóa thì nơi đó có sự hoạt động của quy luật giá trị
Nội dung:
- Sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết
Những tác động của quy luật giá trị:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động.
- Phân hóa những người sản xuất thành người giàu và người nghèo
Ý nghĩa
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động
- Phóa những người sản xuất thành người giàu và người nghèo
Câu 5
Khái niệm: Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người, nó được
vận dụng vào quá trình lao động sản xuất.
Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
1. Người có sức lao động phải được tự do vệ thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và
có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa.
2. Người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt. Họ trở
thành người “vô sản”.
Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
- Thứ nhất, sự khác biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với giá trị sử dụng của
các hàng hoá khác là ở chỗ, khi tiêu dùng hàng hoá sức lao động, nó tạo ra một giá trị mới lớn
hơn giá trị của thân giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư. Như vậy,
hàng hoá sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị.
Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng hoá
khác. Nó là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản. Như vậy, tiền
chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hoá.
- Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hoá sức lao động vì vậy, việc cung ứng sức lao động
phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao động. Đối với hầu hết
các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những đặc điểm của họ, nhưng đối với
thị trường lao động thì con người lại có ảnh hưởng quyết định tới cung
Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư và tiền công
Nguồn gốc của giá trị thặng dư:
- : Là phần giá trị mới lớn hơn giá trị ứng ra ban đầu.Giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư không xuất hiện trong lưu thông cũng không xuất hiện ngoài lưu thông. Nó phải
xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông
- là sức lao động, tư liệu sản xuất dù hiện đại cũng chỉ là Nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư
phương tiện để sản xuất ra giá trị thặng dư
Nguồn gốc của tiền công chính là do hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tự trả
cho mình thông qua sổ sách của người mua hàng hóa sức lao động.
Bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức
lao động, hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoải thành giá cả của lao động.
Nó được biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động vì:
+ Công nhân bán cho tư bản quyền sử dụng sức lao động ( không bán quyền sở hữu sức lao
động vì thế công nhân sau khi lao động cho nhà tư bản lại sử dụng sức lao động đó cho bản
thân mình, gia đình)
+ Công nhân phải lao động cho nhà tư bản thì mới có tiền công ( Lao động là phương tiện kiếm
sống của công nhân
+ Công nhân chỉ nhận được tiền công sau khi đã lao động cho nhà tư bản ( nếu chưa lao động
thì nhà tư bản chưa trả công cho công nhân)
Vì cứ sau một thời gian lao động nhất định, người làm thuê được trả một khoản tiền công nhất
định. Điều đó thậm chí làm người lao động cũng nhầm hiểu là người mua sức lao động đã trả
công cho mình. Nhưng thật ra đó là bộ phận của giá trị mới do chính hao phí sức lao động của
người lao động thuê làm ra.
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Thứ nhất: Về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. Đây là phương pháp sản xuất giá
trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi đó năng suất lao động, giá
trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.
Thứ hai: Về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Đây là phương pháp sản xuất giá
trị thặng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động do đó
tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động và cường độ lao động không
đổi
Câu 6
* Tích luỹ tư bản:
- Tích luỹ tư bản là tư bản hoá giá trị thặng dư, là biến một phần giá trị thặng dư quay trở lại
làm chức năng tư bản, thành tư bản phụ thêm để mở rộng sản xuất
-Nguồn gốc của tích luỹ tư bản là giá trị thặng dư, là lao động không công của công nhân làm
thuê
* Bản chất của tích luỹ tư bản:
- Xuất phát từ lợi ích tư bản mong muốn
- Tính liên tục và tái sản xuất
- Hướng đến tái sản xuất mở rộng
* Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ:
Thứ nhất: Về trình độ bóc lột giá trị thặng dư khi muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhà tư
bản phải tăng thêm máy móc, thiết bị và công nhân
Những nhà tư bản có thể không tăng thêm công nhân mà bắt số công nhân hiện có tăng thời
gian lao động và cường độ lao động; đồng thời, tận dụng một cách triệt để công suất của số
máy móc hiện có, chỉ tăng thêm nguyên liệu tương ứng.
Thứ hai: Năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng giảm.
Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ: Một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định,
phần dành cho tích luỹ có thể lấn sang phần tiêu dùng,trong khi sự tiêu dùng của nhà tư bản
không giảm mà vẫn có thể bằng hoặc cao hơn trước. Hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất
định dành cho tích luỹ cũng có thể chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao
động phụ thêm nhiều hơn trước.
Thứ ba: Về chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ quy mô hiện vật của
chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm. Còn tư bản tiêu dùng là phần giá trị
những tư liệu lao động ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng
khấu hao. Do đó, có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Sự chênh lệch này
là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất.
Thứ tư: Quy mô của tư bản ứng trước
Với trình độ bóc lột không thay đổi, thì khối lượng giá trị thặng dư do khối lượng tư bản khả
biến quyết định. Do đó quy mô của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản khả biến càng lớn,
thì khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được càng lớn, do đó tạo điều kiện tăng thêm quy mô của
tích luỹ tư bản.
Quy luật chung của tích luỹ tư bản:
- Lượng cầu về sức lao động tăng cùng với tích lũy tư bản trong điều kiện kết cấu của tư bản
không đổi.
- Sự giảm bớt tương đối bộ phận tư bản khả biến trong tiến trình tích lũy và tích tụ đi kèm theo
tiến trình đó
- Việc sản xuất ngày càng nhiều nhân khẩu thừa tương đối
Câu 8 :
Theo quan điểm của chủ nghĩa MácLê nin, các đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản
độc quyền như sau:
(1) Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền
Trong những năm 1900, các nghiệp Pháp, Mỹ, Anh chỉ chiếm khoảng 1% tổng số nghiệp
nhưng chiếm hơn ¾ tổng số máy bay hơi nước điện lực, số lượng công nhân tổng số sản
phẩm được làm ra chiếm gần một nửa so với toàn thế giới. Các doanh nghiệp lớn, trình độ k
thuật cao cạnh tranh gay gắt khó đánh bại nhau nên đã liên kết với nhau để nắm độc quyền.
Như vậy, thể hiểu tổ chức độc quyền sự liên minh giữa các nhà bản lớn để tập trung
vào tay mình phần lớn việc sản xuất hoặc tiêu thụ một số hàng hóa nào đó nhằm thu lại lợi
nhuận cao. Đây là một đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa độc quyền.
(2) Tư bản tài chính và đầu sỏ tài chính
Điều này được thể hiện thông qua quá trình phát triển của các tổ chức tín dụng. Sản xuất công
nghiệp ở mức độ tích tụ cao, các ngân hàng nhỏvừa không đủ tiềm lực và uy tín để phục vụ
yêu cầu của các nghiệp lớn; vậy, các tổ chức độc quyền công nghiệp đã tìm đến các ngân
hàng lớn hơn phù hợp với điều kiện của mình.
Trước sự khốc liệt của cạnh tranh, các ngân hàng nhỏ phải chấm dứt hoạt động hoặc sáp nhập
vào ngân hàng lớn. Điều này, đã dẫn đến sự ra đời của các tổ chức độc quyền ngân hàng.
Sự ra đời của tổ chức độc quyền ngân hàng dẫn đến hệ quả sau:
Làm thay đổi quan hệ giữa bản ngân hàng bản công nghiệp, ngân hàng nắm được
hầu hết tư bản tiền tệ của xã hội nên khống chế các hoạt động của nền kinh tế xã hội tư bản.
– Các tổ chức độc quyền tham gia vào ngân hàng bằng cách mua cổ phần để chi phối hoạt động
của ngân hàng làm nảy sinh ra tư bản tài chính.
Sự phát triển của tư bản tài chính đã dẫn đến sự hình thành một nhóm nhỏ độc quyền chi phối
toàn bộ đời sống kinh tế và chính trị của toàn xã hội gọi là bọn đầu sỏ tài chính.
(3) Xuất khẩu tư bản
Đây việc xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhằm chiếm đoạt giá trí thặng các nguồn lợi
nhuận khác ở các nước nhập khẩu tư bản.
| 1/10

Preview text:

Câu 1
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin là các quan hệ xã hội của sản xuất và
trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất nhất định.
Phân biệt quy luật kinh tế và chính sách kinh tế:
- Quy luật kinh tế tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người, con người
không thể thủ tiêu quy luật kinh tế, nhưng có thể nhận thức và vận dụng quy luật kinh tế để
phục vụ lợi ích của mình. Khi vận dụng không phù hợp, con người phải thay đổi hành vi của
mình chứ không thay đổi được quy luật
- Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan của con người được hình thành trên cơ sở vận dụng
các quy luật kinh tế. Chính sách kinh tế vì thế có thể phù hợp, hoặc không phù hợp với quy luật
kinh tế khách quan. Khi chính sách khôngphù hợp, chủ thể ban hành chính sách có thể ban
hành chính sách khác để thay thế Câu 2
Khái niệm: Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để
trao đổi hoặc mua bán trên thị trường
Điều kiện ra đời:
- Thứ nhất, phân công lao động xã hội.- Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã
hội một cách tự phát thành các ngành, nghề khác nhau.Phân công lao động xã hội tạo ra sự
chuyên môn hoá lao động, do đó dẫn đến chuyên môn hoá sản xuất. Do phân công lao động xã
hội nên mỗi người sản xuất sẽ làm một công việc cụ thể, vì vậy họ chỉ tạo ra một hoặc mộtvài
loại sản phẩm nhất định. Song cuộc sống của mỗi người lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm
khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu, đòi hỏi họ phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, phải trao
đổi sản phẩm cho nhau. phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hoá.
Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hoá càng mở rộng hơn, đa dạng hơn
- Thứ hai, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất. Sự tách biệt này do
các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởi thuỷ là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu
sản xuất, đã xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động.Chính
quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập
với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc lẫn
nhau về sản xuất và tiêu dùng
Thuộc tính của sản xuất hàng hóa
Có 2 thuộc tính : Giá trị sử dụng & Giá trị trao đổi
Tính hai mặt của sản xuất hàng hóa
- Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính vì lao động của người sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt:
lao động cụ thể và lao động trừu tượng. C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt
này. Là cơ sở để phân tích sự sản xuất giá trị thặng dư
Lao động cụ thể: là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định
- Mỗi lao động cụ thể có mục đích, đối tượng, tư liệu, phương pháp và kết quả lao động riêng.
- Phản ánh trình độ phân công lao động xã hội.
- Số lượng, chất lượng lao động cụ thể phụ thuộc vào trình độ phát triển xã hội (KHKT)
- Tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa.
- Là một phạm trù vĩnh viễn.
- Phân công lao động càng phát triển -> nhiều giá trị sử dụng
Lao động trừu tượng: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa không kể đến hình thức cụ thể của nó
- Đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hóa về cơ bắp, thần kinh, trí
óc nói chung, mà không kể đến hình thức cụ thể của nó
- Lao động trừu tượng là lao động đồng chất của người sản xuất hàng hóa. Nó tạo ra giá trị của hàng hóa.
- Lao động trừu tượng là cơ sở để trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau.
- Lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa
Giá trị = lao động trừu tượng
- Là một phạm trù lịch sử riêng có của sản xuất hàng hóa.
Mâu thuẫn giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng:
- Lao động cụ thể => lao động tư nhân => sản xuất tư nhân không ăn khớp với nhu cầu xã hội.
- Lao động trừu tượng => lao động xã hội => tiêu hao lao động cá biệt cao hơn tiêu hao lao động xã hội
Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
a. Năng suất lao động
-Là năng lượng sản xuất lao động, được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời
gian hoặc số thời gian trên 1 sản phẩm.
-Có 2 loại năng suất lao động: NSLĐ cá biệt và NSLĐ xã hội. Chỉ có năng suất lao động xã hội mới
ảnh hưởng đến lượng giá trị.
–>Ảnh hưởng: Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản
xuất ra hàng hoá càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít. Ngược lại năng suất
lao động xã hội càng giảm, thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá càng
tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều. Lượng giá trị hàng hoá tỷ lệ thuận với
số lượng lao động kết tinh và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội.
b. Cường độ lao động
-Là mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian.
–>Ảnh hưởng: Cường độ lao động tăng lên thì số lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên nhưng
sức lao động hao phí cũng tăng lên, vậy lượng giá trị hàng hóa vẫn không đổi. Nhưng khi tăng
năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau thì làm cho lượng sản phẩm sản xuất
ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, mà đổi lại làm cho giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm xuống.
c. Mức độ phức tạp của lao động
-Theo MĐPT của lao động thì có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp.
-Lao động giản đơn là lao động mà kể cả người chưa được đào tạo cũng có thể thực hiện được.
-Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên
môn lành nghề nhất định mới có thể tiến hành được.
–>Ảnh hưởng: Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn so
với lao động giản đơn. Cả lao động giản đơn và lao động phức tạp tỷ lệ thuận với tổng lượng giá trị hàng hoá
Nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ
- Nguồn gốc: Là kết quả của sự phát triển các hình thái giá trị trong trao đổi
- Bản chất: Tiền là một loại hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả
các loại hàng hóa. Nó là sự thể hiện chung của giá trị, đồng thời nó biểu hiện quan hệ sản xuất
giữa những người sản xuất hàng hóa.
Khi giá trị của 1 hàng hóa được biểu hiện ở 1 số lượng tiền nhất định thì số lượng tiền đó
được gọi là giá cả của hàng hóa.
- Chức năng của tiền tệ: - Thước đo giá trị - Phương tiện lưu thông - Tiền tệ thế giới - Phương tiện thanh toán - Phương tiện cất giữ Câu 3 Thị trường:
Cơ chế thị trường là tổng thể các yếu tố cung, cầu, giá cả và thị trường cùng các mối quan hệ cơ
bản vận động dưới sự điều tiết của các quy luật thị trường trong môi trường cạnh tranh nhằm
mục tiêu duy nhất là lợi nhuận
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở giai đoạn cao, vận hành theo cơ chế
thị trường. Trong đó, mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thực hiện trên thị trường,
chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường.
Tất cả các yếu tố đầu vào và đầu ra của sx dc thực hiện thông qua thị trường và dc thực hiện
theo các quy luật khách quan vốn có của nó
Ưu thế của nền kinh tế thị trường
- Một là, kinh tế thị trường luôn tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự sáng tạo của các chủ thể kinh tế.
- Hai là, nền kinh tế thị trường luôn phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ thể, các vùng
miền cũng như lợi thế quốc gia trong quan hệ với thế giới.
- Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối đa nhu cầu của con
người, từ đó thúc đẩy tiến bộ, văn minh xã hội.
Khuyết tật của nền kinh tế thị trường
- Một là, xét trên phạm vi toàn bộ nền sản xuất xã hội, nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn
những rủi ro khủng hoảng
- Hai là, nền kinh tế thị trường không thể khắc phục được xu hướng cạn kiệt tài nguyên không
thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội
- Ba là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa sâu sắc trong xã hội.
Câu 4: Các quy luật trong nền kinh tế thị trường - Quy luật giá trị - Quy luật cung cầu
- Quy luật lưu thông tiền tệ - Quy luật cạnh tranh * Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa, nơi nào có sản xuất và trao đổi
hàng hóa thì nơi đó có sự hoạt động của quy luật giá trị Nội dung:
- Sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết
Những tác động của quy luật giá trị:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động.
- Phân hóa những người sản xuất thành người giàu và người nghèo Ý nghĩa
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động
- Phóa những người sản xuất thành người giàu và người nghèo Câu 5
Khái niệm: Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người, nó được
vận dụng vào quá trình lao động sản xuất.
Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
1. Người có sức lao động phải được tự do vệ thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và
có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa.
2. Người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt. Họ trở
thành người “vô sản”.
Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
- Thứ nhất, sự khác biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với giá trị sử dụng của
các hàng hoá khác là ở chỗ, khi tiêu dùng hàng hoá sức lao động, nó tạo ra một giá trị mới lớn
hơn giá trị của thân giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư. Như vậy,
hàng hoá sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị.
Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng hoá
khác. Nó là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản. Như vậy, tiền
chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hoá.
- Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hoá sức lao động vì vậy, việc cung ứng sức lao động
phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao động. Đối với hầu hết
các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những đặc điểm của họ, nhưng đối với
thị trường lao động thì con người lại có ảnh hưởng quyết định tới cung
Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư và tiền công
Nguồn gốc của giá trị thặng dư:
- Giá trị thặng dư: Là phần giá trị mới lớn hơn giá trị ứng ra ban đầu.
Giá trị thặng dư không xuất hiện trong lưu thông cũng không xuất hiện ngoài lưu thông. Nó phải
xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông -
là sức lao động, tư liệu sản xuất dù hiện đại cũng chỉ là
Nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư
phương tiện để sản xuất ra giá trị thặng dư
Nguồn gốc của tiền công chính là do hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tự trả
cho mình thông qua sổ sách của người mua hàng hóa sức lao động.
Bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức
lao động, hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoải thành giá cả của lao động.
Nó được biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động vì:
+ Công nhân bán cho tư bản quyền sử dụng sức lao động ( không bán quyền sở hữu sức lao
động vì thế công nhân sau khi lao động cho nhà tư bản lại sử dụng sức lao động đó cho bản thân mình, gia đình)
+ Công nhân phải lao động cho nhà tư bản thì mới có tiền công ( Lao động là phương tiện kiếm sống của công nhân
+ Công nhân chỉ nhận được tiền công sau khi đã lao động cho nhà tư bản ( nếu chưa lao động
thì nhà tư bản chưa trả công cho công nhân)
Vì cứ sau một thời gian lao động nhất định, người làm thuê được trả một khoản tiền công nhất
định. Điều đó thậm chí làm người lao động cũng nhầm hiểu là người mua sức lao động đã trả
công cho mình. Nhưng thật ra đó là bộ phận của giá trị mới do chính hao phí sức lao động của
người lao động thuê làm ra.
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
Thứ nhất: Về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. Đây là phương pháp sản xuất giá
trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi đó năng suất lao động, giá
trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.
Thứ hai: Về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Đây là phương pháp sản xuất giá
trị thặng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động do đó
tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động và cường độ lao động không đổi Câu 6
* Tích luỹ tư bản:
- Tích luỹ tư bản là tư bản hoá giá trị thặng dư, là biến một phần giá trị thặng dư quay trở lại
làm chức năng tư bản, thành tư bản phụ thêm để mở rộng sản xuất
-Nguồn gốc của tích luỹ tư bản là giá trị thặng dư, là lao động không công của công nhân làm thuê
* Bản chất của tích luỹ tư bản:
- Xuất phát từ lợi ích tư bản mong muốn
- Tính liên tục và tái sản xuất
- Hướng đến tái sản xuất mở rộng
* Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ:
Thứ nhất: Về trình độ bóc lột giá trị thặng dư khi muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhà tư
bản phải tăng thêm máy móc, thiết bị và công nhân
Những nhà tư bản có thể không tăng thêm công nhân mà bắt số công nhân hiện có tăng thời
gian lao động và cường độ lao động; đồng thời, tận dụng một cách triệt để công suất của số
máy móc hiện có, chỉ tăng thêm nguyên liệu tương ứng.
Thứ hai: Năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng giảm.
Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ: Một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định,
phần dành cho tích luỹ có thể lấn sang phần tiêu dùng,trong khi sự tiêu dùng của nhà tư bản
không giảm mà vẫn có thể bằng hoặc cao hơn trước. Hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất
định dành cho tích luỹ cũng có thể chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao
động phụ thêm nhiều hơn trước.
Thứ ba: Về chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ quy mô hiện vật của
chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm. Còn tư bản tiêu dùng là phần giá trị
những tư liệu lao động ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng
khấu hao. Do đó, có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Sự chênh lệch này
là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất.
Thứ tư: Quy mô của tư bản ứng trước
Với trình độ bóc lột không thay đổi, thì khối lượng giá trị thặng dư do khối lượng tư bản khả
biến quyết định. Do đó quy mô của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản khả biến càng lớn,
thì khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được càng lớn, do đó tạo điều kiện tăng thêm quy mô của tích luỹ tư bản.
Quy luật chung của tích luỹ tư bản:
- Lượng cầu về sức lao động tăng cùng với tích lũy tư bản trong điều kiện kết cấu của tư bản không đổi.
- Sự giảm bớt tương đối bộ phận tư bản khả biến trong tiến trình tích lũy và tích tụ đi kèm theo tiến trình đó
- Việc sản xuất ngày càng nhiều nhân khẩu thừa tương đối Câu 8 :
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, các đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền như sau:
(1) Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền
Trong những năm 1900, các xí nghiệp ở Pháp, Mỹ, Anh chỉ chiếm khoảng 1% tổng số xí nghiệp
nhưng chiếm hơn ¾ tổng số máy bay hơi nước và điện lực, số lượng công nhân và tổng số sản
phẩm được làm ra chiếm gần một nửa so với toàn thế giới. Các doanh nghiệp lớn, trình độ kỹ
thuật cao cạnh tranh gay gắt khó đánh bại nhau nên đã liên kết với nhau để nắm độc quyền.
Như vậy, có thể hiểu tổ chức độc quyền là sự liên minh giữa các nhà tư bản lớn để tập trung
vào tay mình phần lớn việc sản xuất hoặc tiêu thụ một số hàng hóa nào đó nhằm thu lại lợi
nhuận cao. Đây là một đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa độc quyền.
(2) Tư bản tài chính và đầu sỏ tài chính
Điều này được thể hiện thông qua quá trình phát triển của các tổ chức tín dụng. Sản xuất công
nghiệp ở mức độ tích tụ cao, các ngân hàng nhỏ và vừa không đủ tiềm lực và uy tín để phục vụ
yêu cầu của các xí nghiệp lớn; vì vậy, các tổ chức độc quyền công nghiệp đã tìm đến các ngân
hàng lớn hơn phù hợp với điều kiện của mình.
Trước sự khốc liệt của cạnh tranh, các ngân hàng nhỏ phải chấm dứt hoạt động hoặc sáp nhập
vào ngân hàng lớn. Điều này, đã dẫn đến sự ra đời của các tổ chức độc quyền ngân hàng.
Sự ra đời của tổ chức độc quyền ngân hàng dẫn đến hệ quả sau:
– Làm thay đổi quan hệ giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp, ngân hàng nắm được
hầu hết tư bản tiền tệ của xã hội nên khống chế các hoạt động của nền kinh tế xã hội tư bản.
– Các tổ chức độc quyền tham gia vào ngân hàng bằng cách mua cổ phần để chi phối hoạt động
của ngân hàng làm nảy sinh ra tư bản tài chính.
Sự phát triển của tư bản tài chính đã dẫn đến sự hình thành một nhóm nhỏ độc quyền chi phối
toàn bộ đời sống kinh tế và chính trị của toàn xã hội gọi là bọn đầu sỏ tài chính.
(3) Xuất khẩu tư bản
Đây là việc xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhằm chiếm đoạt giá trí thặng dư và các nguồn lợi
nhuận khác ở các nước nhập khẩu tư bản.