Đề cương Kinh tế chính trị | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Hàng hóa là gì? Phân tích 2 thuộc tính của hàng hóa? Ý nghĩa của việc nghiên cứu  vấn đề này đối với việc phát triển kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay? Trình bày nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ. Phân tích nội dung, yêu cầu và tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Thông tin:
35 trang 1 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Đề cương Kinh tế chính trị | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Hàng hóa là gì? Phân tích 2 thuộc tính của hàng hóa? Ý nghĩa của việc nghiên cứu  vấn đề này đối với việc phát triển kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay? Trình bày nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ. Phân tích nội dung, yêu cầu và tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

27 14 lượt tải Tải xuống
ĐỀ CƯƠNG KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Câu 1: Hàng hóa gì? Phân tích 2 thuộc tính của hàng hóa? Ý nghĩa
của việc nghiên cứu vấn đề này đối với việc phát triển kinh tế hàng hóa
ở nước ta hiện nay?
Hàng hóa
- Hàng hóa sản phẩm của lao động, thể thỏa mãn những nhu
cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
- Hàng hóa đây bao gồm cả hàng hóa hữu hình hàng hóa hình,
nghĩa bao gồm tất cả các sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất
phi vật chất
- Để trở thành hàng hóa các sản phẩm phải có những tiêu chí sau:
+ Phải sản phẩm của lao động, nếu sản phẩm không do lao động tạo ra
mặc rất cần thiết cho con người như nước, tự nhiên, không khí
cũng không phải là hàng hóa
+ Phải thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, một vật sản phẩm
của lao động nhưng nếu không được tiêu dùng thì không phải là hàng hóa
+ Phải thông qua trao đổi, mua bán, nếu sản phẩm sản xuất ra để tự tiêu
dùng như người nông dân sản xuất ra thóc để ăn thì đó không phải là hàng
hóa
2 thuộc tính của hàng hóa
Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị.
a) Giá trị sử dụng của hàng hóa
- KN: Giá trị sử dụng của hàng hóa công dụng của hàng hóa thoả
mãn nhu cầu nào đó của con người.
Ví dụ: gạo để ăn, áo để mặc
- Đặc điểm:
+ Bất cứ hàng hóa nào cũng một hay một số công dụng nhất định.
Chính công dụng đó (tính ích đó) làm cho hàng hóa giá trị sử dụng.
Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát
triển của khoa học - kỹ thuật của lực lượng sản xuất nói chung. Chẳng
hạn, than đá ngày a chỉ được dùng làm chất đốt (đun, sưởi ấm), khi
khoa học - kỹ thuật phát triển hơn còn được dùng làm nguyên liệu cho
một số ngành công nghệ hoá chất.hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất
càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại
giá trị sử dụng càng phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngày càng cao.
1
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa do những (lý,thuộc tính tự nhiên
hoá học) của thực thể hàng hóa đó quyết định giá trị sử dụng phạm
trù vĩnh viễn tồn tại trong mọi phương thức hay kiểu tổ chức sản
xuất.
+ Giá trị sử dụng thuộc tính của hàng hóa, nhằm thỏa mãn nhu
cầu của người khác, cho hội chứ không phải cho người sản xuất ra nó.
 Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi.
b) Giá trị của hàng hóa
- Muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi.
- Giá trị trao đổi trước hết một quan hệ về số lượng, tỷ lệ theo đó
một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại
khác.
Thí dụ: 1m vải = 5 kg thóc.
- Hai hàng hóa khác nhau (vải thóc) thể trao đổi được với nhau
thì giữa chúng phải một sở chung nào đó. Cái chung đó không phải
là giá trị sử dụng của chúng, bởi vì, giá trị sử dụng của vải là để mặc, hoàn
toàn khác với giá trị sử dụng của thóc để ăn. Cái chung đó là: cả vải
thóc .đều sản phẩm của lao động, đều lao động kết tinh trong đó
Nhờ có cơ sở chung đó mà các hàng hóa có thể trao đổi được với nhau.
vậy, người ta trao đổi hàng hóa cho nhau chẳng qua trao đổi lao động
của mình ẩn giấu trong những hàng hóa ấy.
- Chính lao động hao phí để tạo ra hàng hóa sở chung của việc
trao đổi và nó tạo thành giá trị của hàng hóa.
Như vậy, giá trị của hàng hóa lao động hội của người sản xuất
hàng hóa kết tinh trong hàng hóa.
Còn giá trị trao đổi chúng ta đề cập trên, chẳng qua chỉ hình thức
biểu hiện ra bên ngoài của giá trị, giá trị nội dung, sở của giá trị
trao đổi. Đồng thời, giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản
xuất hàng hóa. Cũng chính vậy, giá trị một phạm trù lịch sử, chỉ tồn
tại trong kinh tế hàng hóa.
- Giá trị biểu hiện 1 quan hệ xã hội, quan hệ giữa người sản xuất và người
trao đổi hàng hóa
- Giá trị 1 phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại khi còn hàng hóa sản xuất
hàng hóa
GTSD GT 2 thuộc tính của hàng hóa, quan hệ chặt chẽ với
nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau.
2
Mặt thống nhất thể hiện chỗ: hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn
tại trong một hàng hóa, một vật phải đầy đủ hai thuộc tính này mới
hàng hóa. Nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó vật phẩm sẽ không phải
hàng hóa. Chẳng hạn, một vật ích (tức giá trị sử dụng), nhưng
không do lao động tạo ra (tức không kết tinh lao động) như không khí
tự nhiên thì sẽ không phải là hàng hóa.
Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hóa thể hiện ở chỗ:
- Thứ nhất, với cách giá trị sử dụng thì các hàng hóa không đồng
nhất về chất. Nhưng ngược lại, với cách giá trị thì các hàng hóa lại
đồng nhất về chất, đều "những cục kết tinh đồng nhất của lao động
thôi", tức đều là sự kết tinh của lao động, hay là lao động đã được vật hoá.
- Thứ hai, tuy giá trị sử dụng giá trị cùng tồn tại trong một hàng
hóa, nhưng quá trình thực hiện chúng lại tách rời nhau về cả mặt không
gian thời gian: giá trị được thực hiện trước trong lĩnh vực lưu thông,
còn giá trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng. Do đó
nếu giá trị của hàng hoá không được thực hiện thì sẽ dẫn đến khủng hoảng
sản xuất.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với việc phát triển kinh tế hàng
hóa ở nước ta hiện nay
Nước ta1 nướcnền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tứcnền
kinh tế nhiều thành phần, sản xuất đa dạng các loại hàng hóa nhằm đáp
ứng nhu cầu trog nước trao đổi, mua bán trên thị trường thế giới. Do
đó, sản xuất hàng hóa nước ta phải đảm bảo 2 thuộc tính giá trị sản sử
dụng và giá trị.
Kinh tế hàng hoá tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế hội. nước ta,
những điều kiện chung của kinh tế hàng hoá vẫn còn, nền kinh tế hàng
hoá tồn tại là một tất yếu khách quan.
Ở nước ta, Đảng và nhà nước đã xác định phương hướng phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng hội chủ nghĩa vận động
theo chế thị trường sự quản của nhà nước. Hiện nay ớc ta còn
thiếu vốn, khoa học thuật chưa được cải tiến đồng bộ, do đó chất lượng
hàng hoá chưa cao, giá thành chưa rẻ, mặc được hưởng những ưu
đãi về thuế. vậy hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần tăng thu hút
đầu nước ngoài, viện trợ phát triển chính thức giải quyết vấn đề nợ
quốc tế, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế hội để thị trường nước ta
3
được mở rộng, điều này sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư. Họ sẽ mang vốn
công nghệ vào nước ta sử dụng lao động tài nguyên sẵn của nước ta
làm ra sản phẩm tiêu thụ trên thị trường khu vực và thế giới với các ưu đãi
nước ta hội mở rộng thị trường, kéo theo hội thu hút vốn đầu
tư nước ngoài.
Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH còn mang
nặng tính tự túc tự cấp, vậy sản xuất hàng hóa phát triển sẽ phá vỡ dần
nền kinh tế tự nhiên chuyển thành nền kinh tế hàng hóa thúc đẩy sự xã hội
hóa sản xuất, kinh tế hàng hóa tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển, do cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa buộc mỗi
chủ thể cải tiến kỹ thuật đưa cộng nghệ mới vào sản xuất để giảm chi
phí sản xuất đến mức tối thiểu thể cạnh tranh về giá cả trong cạnh
tranh, quá trình đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng
lực lao động hội. Trong nền kinh tế hàng hóa, người sản xuất căn cứ
vào nhu cầu của người tiêu dùng, thị trường để quyết định sản xuất sản
phẩm gì, khối lượng bao nhiêu, chất lượng thế nào, do đó kinh tế hàng hóa
kích thích năng động, sáng tạo của chủ thể kinh tế kích thích sự việc nâng
cao chất lượng cải tiến mẫu mã cũng như tăng khối lượng và dịch vụ
Nói tóm lại, đẩy mạnh phân công lao động để phát triển kinh tế hàng
hóa, đáp ứng nhu cầu đa dạng phong phú của hội; phải coi trọng cả
2 thuộc tính của hàng hóa để không ngừng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất
lượng, hạ giá thành. Trong nền kinh tế hiện nay, kinh tế hàng hóa không
thể thiếu được góp phần thúc đẩy kinh tế nếu phát triển, góp
phần giải quyết việc làm và sự phân công lao động trong xã hội
Câu 2: Trình bày nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ
Nguồn gốc của tiền tệ
Tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất
trao đổi hàng hóa hay quá trình phát triển của của các hình thái giá trị của
hàng hóa.
Có bốn hình thái biểu hiện của giá trị:
Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị
- Là hình thái mà giá trị của hàng hóa này biểu hiện ở khác1 hàng hóa
Thí dụ: 1 cái rìu = 20kg thóc
- đây, giá trị của rìu được biểu hiện thóc, còn thóc dùng làm hình
thái biểu hiện giá trị của rìu
4
- Do vậy, rìu mang hình thái tương đối còn thóc mang hình thái ngang
giá
- Hình thái này mầm mống phôi thai của hình thái tiền tệ. Hàng hóa
thứ hai (cái áo) đóng vai trò vật ngang giá, hình thái phôi thai của tiền
tệ.
Mặc dù, lúc đầu quan hệ trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, nhưng dần
dần nó trở thành quá trình xã hội đều đặn, thường xuyên thúc đẩy sản xuất
hàng hóa ra đời và phát triển. Khi đó, xuất hiện hình thái thứ hai:
Hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị
- hình thái giá trị của hàng hóa này được biểu hiện nhiều
hàng hóa khác
20 vuông vải = 1 cái áo
= 10 đấu chè
= 40 đấu cà phê
= 0, 2 gam vàng
- Mỗi vật đem trao đổi đóng vai trò làm vật ngang giá. Do vậy vật
ngang giá cứ được mở rộng ra.
- Đồng thời tỷ lệ trao đổi không còn mang tính chất ngẫu nhiên nữa mà
dần dần do lao động quy định, bởi ngay từ đầu người ta đã sản xuất ra
những vật phẩm trên với mục đích để mang trao đổi. Do đó, trong trao
đổi họ phải tính toán đến mức lao động đã hao phí.
- Tuy nhiên, hình thái này cũng những nhược điểm của như: giá
trị hàng hóa được biểu hiện còn chưa hoàn tất, thống nhất bằng một
chuỗi vô tận của các hàng hóa khác; đồng thời vẫn là trao đổi trực tiếp
- Do đó, khi sản xuất trao đổi hàng hóa phát triển hơn đòi hỏi phải
có một vật ngang giá chung, khi đó xuất hiện hình thái thứ ba.
Hình thái chung của giá trị
- hình thái tất cả các hàng hóa đều được biểu hiện giá trị một
hàng hóa có vai trò làm vật ngang giá chung
1 cái áo =
10 đấu chè =
40 đấu cà phê = 20 vuông vải
0, 2 gam vàng =
- Ở đây, 20 vuông vải làm vật mang giá chung. Các hàng hóa đều được
đổi lấy vải, sau đó mới mang đổi lấy hàng hóa cần dùng, do đó khắc phục
được nhược điểm của hình thái trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng vật
5
ngang giá chung trở thành môi giới, thành phương tiện trong trao đổi hàng
hóa.
- Tuy nhiên, hình thái này vật ngang giá chung chưa cố định một
hàng hóa nào cả, khi thì hàng hóa này, khi thì hàng hóa khác, "bất
kỳ hàng hóa nào cũng thể được hình thái đó", miễn được tách
ra làm vật ngang giá chung.
- Khi sản xuất trao đổi hàng hóa phát triển hơn nữa, đặc biệt khi
được mở rộng giữa các vùng đòi hỏi phải một vật ngang giá chung
thống nhất, thì vật ngang giá chung được "gắn một cách vững chắc với
một số loại hàng hóa đặc thù", khi đó xuất hiện hình thái thứ tư:
Hình thái tiền
- hình thái khi vật ngang giá chung được cố định 1 hàng hóa độc
tôn và phổ biến
20 vuông vải =
1 cái áo = 0, 2 gam vàng
10 đấu chè =
40 đấu cà phê =
- Ở đây, giá trị của tất cả mọi hàng hóa đều được biểu hiện ở một hàng
hóa đóng vai trò tiền tệ. Lúc đầu, nhiều loại hàng hóa đóng vai trò tiền
tệ như lông cừu, vỏ sò…và "những dân du mục những người đầu tiên
phát triển hình thái tiền". Nhưng dần dần vai trò tiền tệ được chuyển sang
các kim loại quý (tiền kim loại) như đồng rồi bạc và cuối cùng là ở vàng.
- Khi hai vật ngang giá, dụ, bạc vàng, đồng thời làm chức năng
vật ngang giá thì chế độ tiền tệ được gọi chế độ song bản vị. Khi chỉ
còn một vật ngang giá vàng độc chiếm vai trò tiền tệ thì chế độ tiền tệ
được gọi là chế độ bản vị vàng.
Như vậy, tiền ra đời kết quả của sự phát triển lâu dài của sản xuất
trao đổi hàng hóa. Đồng thời quá trình phát triển của các hình thái giá
trị
Tại sao vàng bạc, đặc biệt vàng, lại được vai trò tiền tệ như
vậy?
Thứ nhất, nó cũng là một hàng hóa, cũng có giá trị sử dụng và giá trị.
Giá trị sử dụng của vàng như dùng làm đồ trang sức, hàn răng thủng... Giá
trị của vàng cũng được đo bằng lượng lao động hội cần thiết để sản
xuất ra (để tìm kiếm, khai thác chế tác vàng. Do đó thể mang
6
trao đổi với các hàng hóa khác, với cách hàng hóa, vàng cũng đã
từng đóng vai trò vật ngang giá như các hàng hóa khác trong hình thái thứ
nhất và thứ hai.
Thứ hai, những ưu thế (từ thuộc tính tự nhiên) đặc biệt thích
hợp với vai trò tiền tệ như: thuần nhất, dễ chia nhỏ, bền, dễ bảo quản, hơn
nữa với một lượng thể tích nhỏ nhưng giá trị cao (vì vàng kim
loại hiếm phải tốn nhiều công sức mới được). Do đó, thể đo
lường giá trị của mọi loại hàng hóa. Chính vậy vàng được hội
trao cho một giá trị sử dụng hội đặc biệt: đóng vai trò vật ngang giá
chung cho tất cả các hàng hóa khác.
Bản chất của tiền tệ
- Tiền tệ 1 hình thái giá trị của hàng hóa, sản phẩm của quá trình
phát triển sx và trao đổi hàng hóa
- Tiền tệ hàng hóa đặc biệt được tách ra từ thế giới hàng hóa làm
vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, thể hiện lao
động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa
- Khi tiền tệ ra đời thì thế giới hàng hóa phân làm 2 cực: một cực
những hàng hóa thông thường đại diện cho giá trị sử dụng, một cực
những hàng hóa đóng vai trò tiền tệ đại diện cho giá trị
- Bản chất của tiền tệ còn được thể hiện qua các chức năng của nó
Chức năng của tiền tệ
a) Thước đo giá trị
- Tiền dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hoá khác.
- Khi tiền thực hiện chức năng thước đo giá trị, thì giá trị của hàng hóa
được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hóa.
- Giá cả hàng hóa hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng
hóa.
- Như vậy, giá trị nội dung, sở của giá cả. Trong các điều kiện
khác không đổi, giá trị của hàng hóa càng cao thì giá cả của cũng càng
cao ngược lại. Giá cả của hàng hoá thể lên xuống xoay xung quanh
giá trị nhưng tổng số giá cả vẫn bằng tổng số giá trị.
- Khi tiền thực hiện chức năng thước đo giá trị không đòi hỏi phải
tiền mặt trên thực tế mà chỉ cần một lượng tiền tưởng tượng.
b) Phương tiện lưu thông
- Chức năng phương tiện lưu thông của tiền thể hiện chỗ tiền làm
trung gian trong trao đổi hàng hóa. Khi tiền làm phương tiện lưu thông đòi
7
hỏi phải tiền mặt trên thực tế (vàng thoi, bạc nén, tiền đúc, tiền giấy,
tiền tín dụng...) khi đó trao đổi hàng hóa vận động theo công thức: H -
T - H. Đây chính là công thức lưu thông hàng hóa giản đơn.
- Tiền làm chức năng lưu thông phải tiền vàng thật chứ không phải
tiền trong ý niệm. Tiền làm phương tiện lưu thông phải có một khối lượng
nhất định. Khối lượng này bằng tổng số giá cả hàng hóa chia cho số vòng
quay của những đồng tiền cùng loại
Công thức
M = P.Q/V
M: Khối lượng tiền cần cho lưu thông
P: Giá cả của hàng hóa
Q: Khối lượng hàng hóa lưu thông
V: Số vòng quay của những đồng tiền cùng loại
- Đây là quy luật khối lượng tiền lưu thông đối với đồng tiền vàng thật.
Sau này tiền vàng thật được thay bằng tiền giấy, do vậy quy luật khối
lượng tiền giấy cần cho lưu thông được C.Mác nêu như sau: lượng tiền
giấy phải giới hạn trong số lượng vàng do tiền giấy tượng trưng lẽ ra phải
lưu thông thực sự
- Thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền làm cho quá trình
mua bán diễn ra được thuận lợi, nhưng đồng thời cũng làm cho việc
mua bán tách rời nhau cả về không gian và thời gian, do đó nó đã bao hàm
khả năng khủng hoảng (ví dụ, thể mua chưa bán, thể mua nơi
này, bán ở nơi kia... do đó, tạo ra nguy cơ không nhất trí giữa mua và bán,
tiềm ẩn khả năng khủng hoảng).
c) Phương tiện cất trữ
- Tiền là hiện thân của giá trị, đại biểu của của cải xã hội nên nó có thể
thực hiện được chức năng phương tiện cất trữ. Làm phương tiện cất giữ,
tiền tệ phải là tiền vàng thật
- Chức năng phương tiện cất trữ của tiền có nghĩatiền được rút khỏi
lưu thông và được cất trữ lại.
- Tiền làm phương tiện cất trữ vai trò to lớn, tự phát điều tiết
khối lượng tiền trong lưu thông hàng hóa. Nếu sản xuất hàng hóa giảm
sút, lượng hàng hóa u thông ít đi thì 1 phần tiền rút khỏi lưu thông
được cất trữ. Ngược lại, khi sản xuất hàng hóa phát triển, khối lượng hàng
hóa lưu thông tăng, thì những đồng tiền đó được quay trở lại lưu thông
d) Phương tiện thanh toán
8
- Kinh tế hàng hóa phát triển đến một trình độ nào đó tất yếu sẽ nảy
sinh việc mua bán chịu do đó, xuất hiện chức năng phương tiện thanh
toán của tiền. Thực hiện chức năng này tiền được dùng để chi trả sau khi
công việc giao dịch, mua bán đã hoàn thành, ví dụ: trả tiền mua hàng chịu,
trả nợ, nộp thuế...
- Trong quá trình thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, ngày
càng xuất hiện nhiều hơn các hình thức thanh toán mới không cần tiền mặt
(tiền vàng, bạc, đồng, tiền giấy…) như: ký sổ, séc, chuyển khoản, thẻ điện
tử (card)...
- Khi tiền làm phương tiện thanh toán thì quy luật khối lượng tiền cần
cho lưu thông được bổ sung như sau:
M = (A – B + C – D) / V
A: Tổng số giá cả hàng hóa
B: Tổng số giá cả hàng hóa bán chịu
C: Tổng số giá cả hàng hóa đến kỳ thanh toán
D: Tổng số giá cả hàng hóa khấu trừ nhau
e) Tiền thế giới
- Khi trao đổi hàng hóa mở rộng ra bên ngoài biên giới quốc gia
hình thành quan hệ buôn bán giữa các nước thì xuất hiện tiền thế giới.
Tiền thế giới cũng thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện
lưu thông, phương tiện thanh toán...
- Những đồng tiền được sử dụng làm phương tiện thanh toán quốc tế
phạm vi mức độ thông dụng nhất định gọi những đồng tiền khả
năng chuyển đổi.
- Việc chuyển đổi tiền của nước này ra tiền của nước khác được tiến
hành theo tỷ giá hối đoái. Đó giá cả một đồng tiền của nước này được
tính bằng đồng tiền của nước khác.
Năm chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hóa quan hệ mật thiết
với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của
sx và lưu thông hàng hóa
Câu 3: Phân tích nội dung, yêu cầu tác dụng của quy luật giá trị
trong nền kinh tế hàng hóa?
Nội dung
9
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa vì nó
quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, sở của tất cả các quy luật
khác của sản xuất hàng hóa.
- Nội dung của quy luật giá trị là:
Sản xuất trao đổi hàng hóa dựa trên sở giá trị của nó, tức dựa
trên hao phí lao động xã hội cần thiết.
- Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất
phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức
hao phí lao động xã hội cần thiết có như vậy họ mới có thể tồn tại được
người sx phải làm cho giá trị biệt bằng hoặc thấp hơn giá trị hội thì
mới có lãi.
- Trong trao đổi hayu thông, phải thực hiện theo nguyên tắc ngang
giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao
động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả
bằng giá trị.
- Giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá trị hàng hóa trở thành
cơ chế tác động của quy luật giá trị. Cơ chế này phát sinh tác dụng trên thị
trường thông qua cạnh tranh, cung – cầu, sức mua của đồng tiền…
- Chính sự tác động của cạnh tranh, cung cấp làm cho giá cả giá trị
không bao giờ trùng hợp nhau, chỉ trên phạm vi toàn hội trong
một thời gian nhất định thì: Tổng giá cả = tổng giá trị. Giá trị sở của
giá cả, còn giá cả biểu hiện bằng tiền của giá trị, nên giá cả phụ thuộc
vào giá trị
Yêu cầu
- Việc sản xuất hàng hóa phải dựa trên hao phí lao động hội cần
thiết
- Việc lưu thông hàng hóa phải dựa trên cơ sở ngang giá
Tác dụng
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có ba tác động sau:
Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.
- Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai
trường hợp sau:
+ , nếu như một mặt hàng nào đó giá cả cao hơn giá trị, hàngThứ nhất
hóa bán chạy lãi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy sản
xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động. , những ngườiMặt khác
sản xuất hàng hóa khác cũng thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này,
10
do đó, liệu sản xuất sức lao động ngành này tăng lên, quy sản
xuất càng được mở rộng.
+ , nếu như một mặt hàng nào đó giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bịThứ hai
lỗ vốn. Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt
hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho liệu sản
xuất sức lao động ngành này giảm đi, ngành khác lại thể tăng
lên.
- Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất
có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này.
- Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia liệu
sản xuất sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu
cầu của xã hội.
- Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy luật giá trị thể hiện
chỗ thu hút hàng hóa từ nơi giá cả thấp hơn đến nơi giá cả cao
hơn, do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng sự cân bằng
nhất định.
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp hoá sản xuất, tăng năng suất
lao động, hạ giá thành sản phẩm, thúc đẩy lực lượng sản xuất hội
phát triển
- Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do
đó, mức hao phí lao động biệt khác nhau, nhưng trên thị trường thì
các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần
thiết. Vậy người sản xuất hàng hóa nào mức hao phí lao động thấp
hơn mức hao phí lao động hội cần thiết, thì sẽ thu được nhiều lãi
càng thấp hơn càng lãi. Điều đó kích thích những người sản xuất hàng hóa
cải tiến kỹ thuật, hợp hoá sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện
tiết kiệm... nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất.
- Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh
mẽ hơn. Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn
đến toàn bộ năng suất lao động hội không ngừng tăng lên, chi phí sản
xuất xã hội không ngừng giảm xuống.
Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên phân hóa những người sản
xuất hàng hóa thành người giàu, người nghèo.
- Những người sản xuất hàng hóa nào mức hao phí lao động biệt
thấp hơn mức hao phí lao động hội cần thiết, khi bán hàng hóa theo
mức hao phí lao động hội cần thiết (theo giá trị) sẽ thu được nhiều lãi,
11
giàu lên, thể mua sắm thêm liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh
doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ.
- Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào mức hao phí lao
động biệt lớn hơn mức hao phí lao động hội cần thiết, khi bán hàng
hóa sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí thể phá sản, trở
thành lao động làm thuê.
- Đây cũng chính một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản.
Như vậy, quy luật giá trị vừa tác động tích cực, vừa tác động tiêu
cực. Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, nhà
nước cần những biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu
cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Câu 4: Trình bày khái niệm sức lao động và điệu kiện biến sức lao động
thành hàng hóa. Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Khái niệm SLĐ
- Để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của bản, cần tìm
trên thị trường một loại hàng hóa việc sử dụng thể tạo ra được
giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó. Hàng hóa đó hàng hóa sức lao
động.
- Sức lao động toàn bộ những năng lực (thể lực trí lực) tồn tại
trong một con người và được người đó sử dụng vào sản xuất.
SLĐ năng lực lao động trong thân thể con người còn lao động
hành động mục đích, ý thức của con người nhằm biến những vật tự
nhiên thành sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu. Muốn thì phải SLĐ.
Sức lao động cái trước, còn lao động chính quá trình sử dụng sức
lao động.
Điều kiện biến SLĐ
hàng hóa
Trong mọi xã hội, sức lao động là yếu tố của sản xuất, nhưng sức lao động
chỉ trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện sau đây:
- Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể, quyền sở
hữu sức lao động của mình và chỉ bán sức lao động ấy trong một thời gian
nhất định.
12
- Thứ hai, người lao động không liệu sản xuất cần thiết để tự
mình đứng ra tổ chức sản xuất nên muốn sống chỉ còn cách bán sức lao
động cho người khác sử dụng.
Việc sức lao động trở thành hàng hóa đánh dấu một bước ngoặt cách
mạng trong phương thức kết hợp người lao động với liệu sản xuất,
một bước tiến lịch sử so với chế độ lệ phong kiến. Sự bình đẳng về
hình thức giữa người sở hữu sức lao động với người sở hữu bản che
đậy bản chất của chủ nghĩa bản - chế độ được xây dựng trên sự đối
kháng lợi ích kinh tế giữa tư bản và lao động.
2 thuộc tính của hàng hóa SLĐ
Giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa SLĐ cũng có 2 thuộc tính: giá trị
và giá trị sử dụng.
Giá trị của hàng hóa sức lao động thời gian lao động hội cần
thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động đó.
- Sản xuất tái sản xuất sức lao động được thực hiện thông qua tiêu
dùng nhân của người lao động. Do đó, giá trị của hàng hóa SLĐ được
quyết định bởi toàn bộ giá trị các liệu sinh hoạt cần thiết duy trì đời
sống của công nhân làm thuê và gia đình họ cả về vật chất lẫn tinh thần
những chi phí đào tạo người công nhân.
- Giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường chỗ
nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử, phụ thuộc vào hoàn cảnh
lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã
đạt được, vào điều kiện lịch sử hình thành giai cấp công nhân cả điều
kiện địa lý, khí hậu.
- Giá trị hàng hóa SLĐ bao gồm:
+ Giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì sức lao động của công
nhân ở trạng thái sinh hoạt bình thường
+ Chi phí đào tạo tùy theo tính chất phức tạp của sức lao động
+ Giá trị các liệu sinh hoạt cho những người thay thế (con cái của
công nhân)
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được thể hiện ra quá
trình tiêu dùng sức lao động, tức quá trình lao động để sản xuất ra một
hàng hóa, một dịch vụ nào đó.
Quá trình tiêu dùng sức lao động quá trình người công nhân tiến hành
sản xuất ra hàng hóa tạo ra 1 lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản
thân nó, phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao động là giá trị thặng dư.
13
Khác nhau bản giữa giá trị sử dụng của hàng hóa SLĐ giá trị sử
dụng của hàng hóa khác: việc tiêu dùng giá trị sử dụng của hàng hóa khác
tiêu dùng hết, không sinh ra giá trị mới nào cả. Còn việc tiêu dùng
giá trị sử dụng hàng hóa SLĐ lại tạo ra giá trị lơn hơn giá trị của bản thân
nó.
Đó chính đặc điểm riêng của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao
động. Đặc điểm này chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức
chung của tư bản đã trình bày ở trên.
Câu 5: Trình bày 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư. Phân biệt sự
giống và khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạchgiá trị thặng
tương đối
2 phương pháp sx giá trị thặng dư
- Mục đích của nhà bản sản xuất ra giá trị thặng tối đa, vậy,
các nhà bản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất khối lượng giá
trị thặng dư. Khái quát 2 phương pháp để đạt được mục đích đó sản
xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
- Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi
kỹ thuật còn thấp, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá
trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của công nhân
- Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời
gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao
động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.
- Thí dụ, ngày lao động 8 giờ, thời gian lao động tất yếu 4 giờ,
thời gian lao động thặng 4 giờ, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị
mới là 10 đơn vị, thì giá trị thặng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng
dư là:
m' = 4040 x 100 % = 100%
- Nếu kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa, mọi điều kiện khác vẫn
như cũ, thì giá trị thặng tuyệt đối tăng lên 60 m' cũng tăng lên
thành:
m' = 6040 x 100 % = 150 %
- Việc kéo dài ngày lao động không thể vượt quá giới hạn sinh của
công nhân (vì họ còn phải thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục
14
hồi sức khoẻ) nên gặp phải sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân
đòi giảm giờ làm.
- lợi nhuận, khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, nhà
bản tìm cách tăng cường độ lao động của công nhân. Tăng cường độ
lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động. vậy,
kéo dài thời gian lao động tăng cường độ lao độngđể sản xuất giá trị
thặng dư tuyệt đối.
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối
- Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất tinh thần của
người lao động vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai
cấp công nhân.
- Mặc khác, khi sản xuất bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn
công nghiệp khí, kỹ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng
lên nhanh chóng thì các nhà bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa
trên tăng năng suất lao động, bóc lột giá trị thặng dư tương đối
- Giá trị thặng tương đối giá trị thặng thu được do rút ngắn
thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong
ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó
tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao
động, cường độ lao động vẫn như cũ.
- Thí dụ, ngày lao động 10 giờ, trong đó 5 giờ lao động tất yếu, 5
giờ lao động thặng dư. Nếu giá trị sức lao động giảm đi 1 giờ thì thời
gian lao động tất yếu xuống còn 4 giờ. Do đó, thời gian lao động thặng dư
tăng từ 5 giờ lên 6 giờ và m' tăng từ 100% lên 150%.
- Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các liệu sinh
hoạt dịch vụ cần thiết cho người công nhân. Muốn vậy phải tăng năng
suất lao động hội trong các ngành sản xuất liệu tiêu dùng các
ngành sản xuất liệu sản xuất để trang bị cho ngành sản xuất ra các
liệu tiêu dùng.
2 phương pháp sản xuất giá trị thặng nói trên được các nhà bản
sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê
trong quá trình phát triển của chủ nghĩa bản. Dưới chủ nghĩa bản,
việc áp dụng máy móc không phải để giảm nhẹ cường độ lao động của
công nhân tạo điều kiện để tăng cường độ lao động. Ngày nay việc
tự động hóa sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới
15
hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao
động cơ bắp
Sự giống khác nhau giữa giá trị thặng siêu ngạch tương
đối
Giá trị thặng tương đối giá trị thặng thu được do rút ngắn
thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong
ngành sản xuất ra liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó
tăng thời gian lao động thặng lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao
động, cường độ lao động vẫn như cũ.
Giá trị thặng siêu ngạch phần giá trị thặng thu được do áp
dụng công nghệ mới sớm hơn các nghiệp khác làm cho giá trị biệt
của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.
C.Mác gọi giá trị thặng siêu ngạch hình thức biến tướng của giá
trị thặng dư tương đối
- Giống: Đều phản ánh mức độ bóc lột giá trị thặng dư, trình độ khai thác
giá trị thặng dư của nhà tư bản và năng lực tạo ra giá trị thặng dư của công
nhân.
Có một cơ sở chung là chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động.
- Khác:
Giá trị thặng dư siêu ngạch Giá trị thặng dư tương đối
- Do tăng năng suất lao động
biệt.
- Do 1 số nhà bản kỹ thuật
tiên tiến thu được
- Không chỉ biểu hiện mối quan hệ
giữa bản lao động làm thuê
còn trực tiếp biểu hiện mối
quan hệ cạnh tranh giữa các nhà
bản
- Do tăng NSLĐ XH
- Toàn bộ các nhà TB thu được
- Thể hiện quan hệ bóc lột của
toàn bộ giai cấp bản đối với
đối toàn bộ giai cấp công nhân
làm thuê
Câu 6: Phân tích nội dung và vai trò, tác dụng của quy luật giá trị thặng
dư. Tại sao nói quy luật giá trị thặng quy luật tuyệt đối của chủ
nghĩa tư bản ?
Nội dung
16
- Quy luật giá trị thặng dư đã vạch rõ mục đích của nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa và phương tiện để đạt mục đích đó.
- Mục đích của nền sản xuất bản chủ nghĩa không phải giá trị sử
dụng, cũng không phải là giá trị mà là giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt.
- Phương tiện thủ đoạn để nhiều giá trị thặng là: Nhà bản
tăng cường bóc lột công nhân làm thuê trên sở mở rộng sản xuất,
phương tiện kỹ thuật, kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động
Như vậy, nội dung chủ yếu quy luật giá trị thặng tạo ra giá trị
thặng càng nhiều càng tốt cho giai cấp sản bằng cách mở rộng sx,
phương tiện kỹ thuật và bóc lột ngày càng nhiều lao động làm thuê.
Vai trò
Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, vai trò quy luật giá trị thặng dự được
thể hiện ở tác động hai mặt của nó.
- Một mặt với mục đích chạy theo giá trị thặng buộc các nhà bản
phải phát triển khoa học công nghệ, đổi mới cấu tổ chức quản
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
- Mặt khác, do chạy theo giá trị thặng chủ nghĩa bản không trừ
một thủ đoạn nào, đem lại nhiều đau khổ, chết chóc cho người lao
động. Đồng thời, làm cho các mẫu thuẫn của chủ nghĩa bản, nhất
mâu thuẫn cơ bản – mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của lực lượng sản
xuất với quan hệ tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất – ngày càng gay gắt.
Mâu thuẫn này đòi hỏi phải tiến hành cách mạng hội chủ nghĩa để xoá
bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn.
Tóm lại, quy luật giá trị thặng quy luật kinh tế bản của chủ
nghĩa bản, quy định quá trình phát sinh, phát triển diệt vong tất
yếu của chủ nghĩa tư bản
Tác dụng
Quy luật giá trị thặng dư có tác dụng mạnh mẽ trong đời sống và xã hội tư
bản, thể hiện ở 2 mặt:
- Thúc đẩy kỹ thuật sản xuất, phân công lao động hội làm cho lao
lượng sản xuất phát triển. Năng suất lao động hội càng tăng lên nhanh
chóng từ đó nền sản xuất được xã hội hoá cao.
- Làm cho mâu thuẫn bản của mâu thuẫn giữa tính chất hội
hoá ngày càng cao về liệu sản xuất sản phẩm sản xuất ra với sự
chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt. Từ đó nó quy định
17
xu hướng lịch sử tất yếu của chủ nghĩa bản sẽ nhường chỗ cho một
xã hội mới văn minh hơn tư bản chủ nghĩa đó là chủ nghĩa xã hội
Quy luật giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
- Trong mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng tồn tại một quy luật
kinh tế phản ánh mặt bản chất nhất định của phương thức sản xuất đó
đóng vai trò quyết định trong hệ thống các quy luật kinh tế gọi quy luật
kinh tế cơ bản.
- Trong phương thức sản xuất bản chủ nghĩa, sản xuất ra giá trị
thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản. C.Mác chỉ rõ: sản xuất giá trị thặng dư
là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
vì:
- Mục đích trực tiếp động của nền sản xuất bản chủ nghĩa theo
đuổi giá trị thặng dư. chính sự theo đuổi giá trị thặng đã kích thích
lực lượng sản xuất phát triển
Như vậy, giá trị thặng đã chi phối, quyết định mọi hoạt động của
hội tư bản chủ nghĩa
- Bóc lột giá trị thặng hiện tượng kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh
tế bản nhất trong hội bản đó quan hệ giữa giai cấp sản
giai cấp vô sản.
- Quy định toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển, suy thoái diệt vong
của chủ nghĩa tư bản
- Giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống quản lý của chủ nghĩa tư bản
Tóm lại, quy luật giá trị thặng quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ
nghĩa bản, quy định quá trình phát sinh, phát triển diệt vong tất
yếu của chủ nghĩa tư bản
Câu 7: Phân tích thực chất của tích lũy bản các nhân tố ảnh
hưởng đến quy tích lũy bản. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề
này đối với việc phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay?
Thực chất của tích lũy tư bản
- Để hiểu thực chất tích luỹ bản phải phân tích quá trình tái sản
xuất tư bản chủ nghĩa.
- Tái sản xuất là tất yếu khách quan củahội loài người. Tái sản xuất
có hai hình thức chủ yếu là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
18
- Dưới chủ nghĩa bản, muốn tái sản xuất mở rộng, nhà bản phải
sử dụng một phần giá trị thặng để tăng thêm bản ứng trước. Sự
chuyển hóa một phần giá trị thặngtrở lại thành tư bản gọi là tích luỹ
bản.
- Thực chất của tích luỹ tư bản là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng
dư thành tư bản. Nói một cách khác, tích luỹ tư bản là quá trình tư bản hoá
giá trị thặng dư.
- Tích luỹ tư bản phải gắn liền với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư
bản, gắn với quá trình bóc lột của chủ nghĩa bản đối với lao động làm
thuê, gắn với tái sản xuất mở rộng bản chủ nghĩa. Do đó, xét một cách
cụ thể, tích luỹ tư bản chính là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng
mở rộng.
- Nguồn gốc của tích lũy bản giá trị thặng dư, lao động không
công của người lao động làm thuê. bản tích lũy ngày càng lớn trog
toàn bộ bản còn bản ứng trước chỉ 1 giọt nước trong dòng sông
ngày càng lớn của tích lũy, cho nên toàn bộ sự giàu của giai cấp sản
đều kết quả của việc chiếm đoạt giá trị thặng do giai cấp công nhân
tạo ra.
Như vậy, về thực chất tích lũy bản sự tăng cường bóc lột giá trị
thặng dư do người công nhân tạo ra với quy mô ngày càng lớn hơn.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản
Với khối lượng giá trị thặng nhất định thì quy tích luỹ bản phụ
thuộc vào tỷ lệ phân chia giữa tích luỹ tiêu dùng. Nếu tỷ lệ giữa tích
luỹ tiêu dùng đã được xác định, thì quy tích luỹ bản phụ thuộc
vào khối lượng giá trị thặng dư. 4 nhân tố ảnh hưởng đến khối lượng
giá trị thặng dư:
Trình độ bóc lột giá trị thặng dư (m')
- Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách cắt xén vào tiền
công của người công nhân. Nghĩa là, nhà bản không chỉ chiếm đoạt lao
động thặng còn chiếm đoạt một phần lao động tất yếu của công
nhân, biến một phần quỹ tiêu dùng của công nhân thành quỹ tích luỹ
bản.
- Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách tăng cường độ lao
động và kéo dài ngày lao động.
19
+ Việc tăng cường độ lao động kéo dài ngày lao động ràng làm
tăng thêm giá trị thặng làm tăng thêm bộ phận giá trị thặng dư, tức
là làm tăng tích lũy tư bản.
+ Số lượng lao động tăng thêm do tăng cường độ lao động kéo dài
ngày lao động không đòi hỏi phải tăng thêm bản một cách tương ứng
(trang thiết bị, nhà xưởng, số lượng công nhân).
+ Hơn nữa, bản sẽ lợi, tránh được hao mòn hình, giảm được
chi phí bảo quản, sớm cải tiến kỹ thuật để mở rộng được quy bóc
lột, nhàbản có thể tăng thời gian sử dụng máy móc, thiết bị trong ngày,
tức nâng cao hệ số sản xuất không cần đầu thêm bản để tăng
thêm thiết bị, nhà xưởng chỉ cần tăng thêm nguyên, vật liệu một cách
tương ứng.
+ Mặt khác, nhà bản bắt công nhân đang việc phải tăng cường độ
lao động hoặc kéo dài thời gian lao động để tăng khối lượng giá trị thặng
dư. Trong công nghiệp khai khoáng trong nông nghiệp, nhà bản đã
sử dụng phổ biến phương pháp này để tăng quy mô tích luỹ tư bản.
Năng suất lao động
- Năng suất lao động hội tăng lên thì giá cả liệu sản xuất
liệu tiêu dùng giảm. Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ:
+ Với khối lượng giá trị thặng nhất định, phần dành cho tích luỹ
thể lấn sang phần tiêu dùng, trong khi sự tiêu dùng của nhà bản không
giảm mà vẫn có thể bằng hoặc cao hơn trước
+ Một lượng giá trị thặng nhất định dành cho tích luỹ cũng thể
chuyển hóa thành một khối lượng liệu sản xuất sức lao động phụ
thêm nhiều hơn trước.
- Sự tiến bộ của khoa học công nghệ đã tạo ra nhiều yếu tố phụ
thêm cho tích luỹ nhờ việc sử dụng vật liệu mới tạo ra công dụng mới
của vật liệu hiện như những phế thải trong tiêu dùng sản xuất tiêu
dùng cá nhân của xã hội, những vật vốn không có giá trị.
- Cuối cùng, năng suất lao động tăng sẽ làm cho giá trị của bản
tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh.
Chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
- bản sử dụng khối lượng giá trị những liệu lao động toàn
bộ quy hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản
phẩm
20
| 1/35

Preview text:

ĐỀ CƯƠNG KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Câu 1: Hàng hóa là gì? Phân tích 2 thuộc tính của hàng hóa? Ý nghĩa
của việc nghiên cứu vấn đề này đối với việc phát triển kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay? Hàng hóa -
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, nó có thể thỏa mãn những nhu
cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán -
Hàng hóa ở đây bao gồm cả hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình,
nghĩa là bao gồm tất cả các sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất và phi vật chất -
Để trở thành hàng hóa các sản phẩm phải có những tiêu chí sau:
+ Phải là sản phẩm của lao động, nếu sản phẩm không do lao động tạo ra
mặc dù nó rất cần thiết cho con người như nước, tự nhiên, không khí …
cũng không phải là hàng hóa
+ Phải thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, một vật dù là sản phẩm
của lao động nhưng nếu không được tiêu dùng thì không phải là hàng hóa
+ Phải thông qua trao đổi, mua bán, nếu sản phẩm sản xuất ra để tự tiêu
dùng như người nông dân sản xuất ra thóc để ăn thì đó không phải là hàng hóa
2 thuộc tính của hàng hóa
Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị.
a) Giá trị sử dụng của hàng hóa -
KN: Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa thoả
mãn nhu cầu nào đó của con người.
Ví dụ: gạo để ăn, áo để mặc - Đặc điểm: +
Bất cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định.
Chính công dụng đó (tính có ích đó) làm cho hàng hóa có giá trị sử dụng.
Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát
triển của khoa học - kỹ thuật và của lực lượng sản xuất nói chung. Chẳng
hạn, than đá ngày xưa chỉ được dùng làm chất đốt (đun, sưởi ấm), khi
khoa học - kỹ thuật phát triển hơn nó còn được dùng làm nguyên liệu cho
một số ngành công nghệ hoá chất. Xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất
càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại
giá trị sử dụng càng phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngày càng cao. 1 +
Giá trị sử dụng của hàng hóa là do những thuộc tính tự nhiên (lý,
hoá học) của thực thể hàng hóa đó quyết định giá trị sử dụng là phạm
trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọi phương thức hay kiểu tổ chức sản xuất. +
Giá trị sử dụng là thuộc tính của hàng hóa, nó nhằm thỏa mãn nhu
cầu của người khác, cho xã hội chứ không phải cho người sản xuất ra nó.
Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là cái mang giá trị trao đổi.
b) Giá trị của hàng hóa -
Muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi. -
Giá trị trao đổi trước hết là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ theo đó
một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác.
Thí dụ: 1m vải = 5 kg thóc. -
Hai hàng hóa khác nhau (vải và thóc) có thể trao đổi được với nhau
thì giữa chúng phải có một cơ sở chung nào đó. Cái chung đó không phải
là giá trị sử dụng của chúng, bởi vì, giá trị sử dụng của vải là để mặc, hoàn
toàn khác với giá trị sử dụng của thóc là để ăn. Cái chung đó là: cả vải và
thóc đều là sản phẩm của lao động, đều có lao động kết tinh trong đó.
Nhờ có cơ sở chung đó mà các hàng hóa có thể trao đổi được với nhau. Vì
vậy, người ta trao đổi hàng hóa cho nhau chẳng qua là trao đổi lao động
của mình ẩn giấu trong những hàng hóa ấy. -
Chính lao động hao phí để tạo ra hàng hóa là cơ sở chung của việc
trao đổi và nó tạo thành giá trị của hàng hóa.
Như vậy, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất
hàng hóa kết tinh trong hàng hóa.
Còn giá trị trao đổi mà chúng ta đề cập ở trên, chẳng qua chỉ là hình thức
biểu hiện ra bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị
trao đổi. Đồng thời, giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản
xuất hàng hóa. Cũng chính vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn
tại trong kinh tế hàng hóa.
- Giá trị biểu hiện 1 quan hệ xã hội, quan hệ giữa người sản xuất và người trao đổi hàng hóa
- Giá trị là 1 phạm trù lịch sử, nó chỉ tồn tại khi còn hàng hóa và sản xuất hàng hóa
GTSD và GT là 2 thuộc tính của hàng hóa, có quan hệ chặt chẽ với
nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau. 2
Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ: hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn
tại trong một hàng hóa, một vật phải có đầy đủ hai thuộc tính này mới là
hàng hóa. Nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó vật phẩm sẽ không phải
là hàng hóa. Chẳng hạn, một vật có ích (tức có giá trị sử dụng), nhưng
không do lao động tạo ra (tức không có kết tinh lao động) như không khí
tự nhiên thì sẽ không phải là hàng hóa.
Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hóa thể hiện ở chỗ: -
Thứ nhất, với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không đồng
nhất về chất. Nhưng ngược lại, với tư cách là giá trị thì các hàng hóa lại
đồng nhất về chất, đều là "những cục kết tinh đồng nhất của lao động mà
thôi", tức đều là sự kết tinh của lao động, hay là lao động đã được vật hoá. -
Thứ hai, tuy giá trị sử dụng và giá trị cùng tồn tại trong một hàng
hóa, nhưng quá trình thực hiện chúng lại tách rời nhau về cả mặt không
gian và thời gian: giá trị được thực hiện trước trong lĩnh vực lưu thông,
còn giá trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng. Do đó
nếu giá trị của hàng hoá không được thực hiện thì sẽ dẫn đến khủng hoảng sản xuất.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với việc phát triển kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay
Nước ta là 1 nước có nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tức là nền
kinh tế nhiều thành phần, sản xuất đa dạng các loại hàng hóa nhằm đáp
ứng nhu cầu trog nước và trao đổi, mua bán trên thị trường thế giới. Do
đó, sản xuất hàng hóa ở nước ta phải đảm bảo 2 thuộc tính giá trị sản sử dụng và giá trị.
Kinh tế hàng hoá tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế xã hội. Ở nước ta,
những điều kiện chung của kinh tế hàng hoá vẫn còn, nền kinh tế hàng
hoá tồn tại là một tất yếu khách quan.
Ở nước ta, Đảng và nhà nước đã xác định phương hướng phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa vận động
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Hiện nay nước ta còn
thiếu vốn, khoa học kĩ thuật chưa được cải tiến đồng bộ, do đó chất lượng
hàng hoá chưa cao, giá thành chưa rẻ, mặc dù có được hưởng những ưu
đãi về thuế. Vì vậy hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần tăng thu hút
đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ
quốc tế, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để thị trường nước ta 3
được mở rộng, điều này sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư. Họ sẽ mang vốn và
công nghệ vào nước ta sử dụng lao động và tài nguyên sẵn có của nước ta
làm ra sản phẩm tiêu thụ trên thị trường khu vực và thế giới với các ưu đãi
mà nước ta có cơ hội mở rộng thị trường, kéo theo cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH còn mang
nặng tính tự túc tự cấp, vì vậy sản xuất hàng hóa phát triển sẽ phá vỡ dần
nền kinh tế tự nhiên chuyển thành nền kinh tế hàng hóa thúc đẩy sự xã hội
hóa sản xuất, kinh tế hàng hóa tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển, do cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa buộc mỗi
chủ thể cải tiến kỹ thuật và đưa cộng nghệ mới vào sản xuất để giảm chi
phí sản xuất đến mức tối thiểu có thể cạnh tranh về giá cả trong cạnh
tranh, quá trình đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng
lực lao động xã hội. Trong nền kinh tế hàng hóa, người sản xuất căn cứ
vào nhu cầu của người tiêu dùng, thị trường để quyết định sản xuất sản
phẩm gì, khối lượng bao nhiêu, chất lượng thế nào, do đó kinh tế hàng hóa
kích thích năng động, sáng tạo của chủ thể kinh tế kích thích sự việc nâng
cao chất lượng cải tiến mẫu mã cũng như tăng khối lượng và dịch vụ
Nói tóm lại, … đẩy mạnh phân công lao động để phát triển kinh tế hàng
hóa, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của xã hội; phải coi trọng cả
2 thuộc tính của hàng hóa để không ngừng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất
lượng, hạ giá thành. Trong nền kinh tế hiện nay, kinh tế hàng hóa không
thể thiếu được vì nó góp phần thúc đẩy kinh tế và nếu phát triển, nó góp
phần giải quyết việc làm và sự phân công lao động trong xã hội
Câu 2: Trình bày nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ
Nguồn gốc của tiền tệ
Tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất và
trao đổi hàng hóa hay quá trình phát triển của của các hình thái giá trị của hàng hóa.
Có bốn hình thái biểu hiện của giá trị:
Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị -
Là hình thái mà giá trị của hàng hóa này biểu hiện ở 1 hàng hóa khác
Thí dụ: 1 cái rìu = 20kg thóc -
Ở đây, giá trị của rìu được biểu hiện ở thóc, còn thóc dùng làm hình
thái biểu hiện giá trị của rìu 4 -
Do vậy, rìu mang hình thái tương đối còn thóc mang hình thái ngang giá -
Hình thái này là mầm mống phôi thai của hình thái tiền tệ. Hàng hóa
thứ hai (cái áo) đóng vai trò vật ngang giá, là hình thái phôi thai của tiền tệ.
Mặc dù, lúc đầu quan hệ trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, nhưng dần
dần nó trở thành quá trình xã hội đều đặn, thường xuyên thúc đẩy sản xuất
hàng hóa ra đời và phát triển. Khi đó, xuất hiện hình thái thứ hai:
Hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị -
Là hình thái mà giá trị của hàng hóa này được biểu hiện ở nhiều hàng hóa khác 20 vuông vải = 1 cái áo = 10 đấu chè = 40 đấu cà phê = 0, 2 gam vàng -
Mỗi vật đem trao đổi đóng vai trò làm vật ngang giá. Do vậy vật
ngang giá cứ được mở rộng ra. -
Đồng thời tỷ lệ trao đổi không còn mang tính chất ngẫu nhiên nữa mà
dần dần do lao động quy định, bởi vì ngay từ đầu người ta đã sản xuất ra
những vật phẩm trên với mục đích là để mang trao đổi. Do đó, trong trao
đổi họ phải tính toán đến mức lao động đã hao phí. -
Tuy nhiên, hình thái này cũng có những nhược điểm của nó như: giá
trị hàng hóa được biểu hiện còn chưa hoàn tất, thống nhất mà bằng một
chuỗi vô tận của các hàng hóa khác; đồng thời vẫn là trao đổi trực tiếp -
Do đó, khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn đòi hỏi phải
có một vật ngang giá chung, khi đó xuất hiện hình thái thứ ba.
Hình thái chung của giá trị -
Là hình thái mà tất cả các hàng hóa đều được biểu hiện giá trị ở một
hàng hóa có vai trò làm vật ngang giá chung 1 cái áo = 10 đấu chè =
40 đấu cà phê = 20 vuông vải 0, 2 gam vàng = -
Ở đây, 20 vuông vải làm vật mang giá chung. Các hàng hóa đều được
đổi lấy vải, sau đó mới mang đổi lấy hàng hóa cần dùng, do đó khắc phục
được nhược điểm của hình thái trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng và vật 5
ngang giá chung trở thành môi giới, thành phương tiện trong trao đổi hàng hóa. -
Tuy nhiên, ở hình thái này vật ngang giá chung chưa cố định ở một
hàng hóa nào cả, khi thì là hàng hóa này, khi thì là hàng hóa khác, và "bất
kỳ hàng hóa nào cũng có thể có được hình thái đó", miễn là nó được tách
ra làm vật ngang giá chung. -
Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn nữa, đặc biệt là khi
nó được mở rộng giữa các vùng đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung
thống nhất, thì vật ngang giá chung được "gắn một cách vững chắc với
một số loại hàng hóa đặc thù", khi đó xuất hiện hình thái thứ tư: Hình thái tiền -
Là hình thái khi vật ngang giá chung được cố định ở 1 hàng hóa độc tôn và phổ biến 20 vuông vải = 1 cái áo = 0, 2 gam vàng 10 đấu chè = 40 đấu cà phê = -
Ở đây, giá trị của tất cả mọi hàng hóa đều được biểu hiện ở một hàng
hóa đóng vai trò tiền tệ. Lúc đầu, có nhiều loại hàng hóa đóng vai trò tiền
tệ như lông cừu, vỏ sò…và "những dân du mục là những người đầu tiên
phát triển hình thái tiền". Nhưng dần dần vai trò tiền tệ được chuyển sang
các kim loại quý (tiền kim loại) như đồng rồi bạc và cuối cùng là ở vàng. -
Khi hai vật ngang giá, ví dụ, bạc và vàng, đồng thời làm chức năng
vật ngang giá thì chế độ tiền tệ được gọi là chế độ song bản vị. Khi chỉ
còn một vật ngang giá là vàng độc chiếm vai trò tiền tệ thì chế độ tiền tệ
được gọi là chế độ bản vị vàng.
Như vậy, tiền ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của sản xuất và
trao đổi hàng hóa. Đồng thời là quá trình phát triển của các hình thái giá trị
Tại sao vàng và bạc, đặc biệt là vàng, lại có được vai trò tiền tệ như vậy?
Thứ nhất, nó cũng là một hàng hóa, cũng có giá trị sử dụng và giá trị.
Giá trị sử dụng của vàng như dùng làm đồ trang sức, hàn răng thủng... Giá
trị của vàng cũng được đo bằng lượng lao động xã hội cần thiết để sản
xuất ra nó (để tìm kiếm, khai thác và chế tác vàng. Do đó nó có thể mang 6
trao đổi với các hàng hóa khác, và với tư cách là hàng hóa, vàng cũng đã
từng đóng vai trò vật ngang giá như các hàng hóa khác trong hình thái thứ nhất và thứ hai.
Thứ hai, nó có những ưu thế (từ thuộc tính tự nhiên) đặc biệt thích
hợp với vai trò tiền tệ như: thuần nhất, dễ chia nhỏ, bền, dễ bảo quản, hơn
nữa với một lượng và thể tích nhỏ nhưng có giá trị cao (vì vàng là kim
loại hiếm phải tốn nhiều công sức mới có được). Do đó, nó có thể đo
lường giá trị của mọi loại hàng hóa. Chính vì vậy mà vàng được xã hội
trao cho một giá trị sử dụng xã hội đặc biệt: đóng vai trò là vật ngang giá
chung cho tất cả các hàng hóa khác.
Bản chất của tiền tệ -
Tiền tệ là 1 hình thái giá trị của hàng hóa, là sản phẩm của quá trình
phát triển sx và trao đổi hàng hóa -
Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt được tách ra từ thế giới hàng hóa làm
vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hiện lao
động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa -
Khi tiền tệ ra đời thì thế giới hàng hóa phân làm 2 cực: một cực là
những hàng hóa thông thường đại diện cho giá trị sử dụng, một cực là
những hàng hóa đóng vai trò tiền tệ đại diện cho giá trị -
Bản chất của tiền tệ còn được thể hiện qua các chức năng của nó
Chức năng của tiền tệ a) Thước đo giá trị -
Tiền dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hoá khác. -
Khi tiền thực hiện chức năng thước đo giá trị, thì giá trị của hàng hóa
được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hóa. -
Giá cả hàng hóa là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. -
Như vậy, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá cả. Trong các điều kiện
khác không đổi, giá trị của hàng hóa càng cao thì giá cả của nó cũng càng
cao và ngược lại. Giá cả của hàng hoá có thể lên xuống xoay xung quanh
giá trị nhưng tổng số giá cả vẫn bằng tổng số giá trị. -
Khi tiền thực hiện chức năng thước đo giá trị không đòi hỏi phải có
tiền mặt trên thực tế mà chỉ cần một lượng tiền tưởng tượng.
b) Phương tiện lưu thông -
Chức năng phương tiện lưu thông của tiền thể hiện ở chỗ tiền làm
trung gian trong trao đổi hàng hóa. Khi tiền làm phương tiện lưu thông đòi 7
hỏi phải có tiền mặt trên thực tế (vàng thoi, bạc nén, tiền đúc, tiền giấy,
tiền tín dụng...) và khi đó trao đổi hàng hóa vận động theo công thức: H -
T - H. Đây chính là công thức lưu thông hàng hóa giản đơn. -
Tiền làm chức năng lưu thông phải là tiền vàng thật chứ không phải
tiền trong ý niệm. Tiền làm phương tiện lưu thông phải có một khối lượng
nhất định. Khối lượng này bằng tổng số giá cả hàng hóa chia cho số vòng
quay của những đồng tiền cùng loại Công thức M = P.Q/V
M: Khối lượng tiền cần cho lưu thông P: Giá cả của hàng hóa
Q: Khối lượng hàng hóa lưu thông
V: Số vòng quay của những đồng tiền cùng loại -
Đây là quy luật khối lượng tiền lưu thông đối với đồng tiền vàng thật.
Sau này tiền vàng thật được thay bằng tiền giấy, do vậy quy luật khối
lượng tiền giấy cần cho lưu thông được C.Mác nêu như sau: lượng tiền
giấy phải giới hạn trong số lượng vàng do tiền giấy tượng trưng lẽ ra phải lưu thông thực sự -
Thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền làm cho quá trình
mua bán diễn ra được thuận lợi, nhưng đồng thời nó cũng làm cho việc
mua bán tách rời nhau cả về không gian và thời gian, do đó nó đã bao hàm
khả năng khủng hoảng (ví dụ, có thể mua mà chưa bán, có thể mua ở nơi
này, bán ở nơi kia... do đó, tạo ra nguy cơ không nhất trí giữa mua và bán,
tiềm ẩn khả năng khủng hoảng).
c) Phương tiện cất trữ -
Tiền là hiện thân của giá trị, đại biểu của của cải xã hội nên nó có thể
thực hiện được chức năng phương tiện cất trữ. Làm phương tiện cất giữ,
tiền tệ phải là tiền vàng thật -
Chức năng phương tiện cất trữ của tiền có nghĩa là tiền được rút khỏi
lưu thông và được cất trữ lại. -
Tiền làm phương tiện cất trữ có vai trò to lớn, nó tự phát điều tiết
khối lượng tiền trong lưu thông hàng hóa. Nếu sản xuất hàng hóa giảm
sút, lượng hàng hóa lưu thông ít đi thì 1 phần tiền rút khỏi lưu thông và
được cất trữ. Ngược lại, khi sản xuất hàng hóa phát triển, khối lượng hàng
hóa lưu thông tăng, thì những đồng tiền đó được quay trở lại lưu thông
d) Phương tiện thanh toán 8 -
Kinh tế hàng hóa phát triển đến một trình độ nào đó tất yếu sẽ nảy
sinh việc mua bán chịu và do đó, xuất hiện chức năng phương tiện thanh
toán của tiền. Thực hiện chức năng này tiền được dùng để chi trả sau khi
công việc giao dịch, mua bán đã hoàn thành, ví dụ: trả tiền mua hàng chịu, trả nợ, nộp thuế... -
Trong quá trình thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, ngày
càng xuất hiện nhiều hơn các hình thức thanh toán mới không cần tiền mặt
(tiền vàng, bạc, đồng, tiền giấy…) như: ký sổ, séc, chuyển khoản, thẻ điện tử (card)... -
Khi tiền làm phương tiện thanh toán thì quy luật khối lượng tiền cần
cho lưu thông được bổ sung như sau: M = (A – B + C – D) / V
A: Tổng số giá cả hàng hóa
B: Tổng số giá cả hàng hóa bán chịu
C: Tổng số giá cả hàng hóa đến kỳ thanh toán
D: Tổng số giá cả hàng hóa khấu trừ nhau e) Tiền thế giới -
Khi trao đổi hàng hóa mở rộng ra bên ngoài biên giới quốc gia và
hình thành quan hệ buôn bán giữa các nước thì xuất hiện tiền thế giới.
Tiền thế giới cũng thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện
lưu thông, phương tiện thanh toán... -
Những đồng tiền được sử dụng làm phương tiện thanh toán quốc tế ở
phạm vi và mức độ thông dụng nhất định gọi là những đồng tiền có khả năng chuyển đổi. -
Việc chuyển đổi tiền của nước này ra tiền của nước khác được tiến
hành theo tỷ giá hối đoái. Đó là giá cả một đồng tiền của nước này được
tính bằng đồng tiền của nước khác.
Năm chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hóa quan hệ mật thiết
với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sx và lưu thông hàng hóa
Câu 3: Phân tích nội dung, yêu cầu và tác dụng của quy luật giá trị
trong nền kinh tế hàng hóa? Nội dung 9 -
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa vì nó
quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật
khác của sản xuất hàng hóa. -
Nội dung của quy luật giá trị là:
Sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa
trên hao phí lao động xã hội cần thiết. -
Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất
phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức
hao phí lao động xã hội cần thiết có như vậy họ mới có thể tồn tại được
người sx phải làm cho giá trị cá biệt bằng hoặc thấp hơn giá trị xã hội thì mới có lãi. -
Trong trao đổi hay lưu thông, phải thực hiện theo nguyên tắc ngang
giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao
động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả bằng giá trị. -
Giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá trị hàng hóa và trở thành
cơ chế tác động của quy luật giá trị. Cơ chế này phát sinh tác dụng trên thị
trường thông qua cạnh tranh, cung – cầu, sức mua của đồng tiền… -
Chính sự tác động của cạnh tranh, cung cấp làm cho giá cả và giá trị
không bao giờ trùng hợp nhau, chỉ có trên phạm vi toàn xã hội và trong
một thời gian nhất định thì: Tổng giá cả = tổng giá trị. Giá trị là cơ sở của
giá cả, còn giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị, nên giá cả phụ thuộc vào giá trị Yêu cầu -
Việc sản xuất hàng hóa phải dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết -
Việc lưu thông hàng hóa phải dựa trên cơ sở ngang giá Tác dụng
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị có ba tác động sau:
Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa. -
Quy luật giá trị điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường hợp sau:
+ Thứ nhất, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng
hóa bán chạy và lãi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản
xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động. Mặt khác, những người
sản xuất hàng hóa khác cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này, 10
do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô sản
xuất càng được mở rộng.
+ Thứ hai, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bị
lỗ vốn. Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt
hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản
xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi, ở ngành khác lại có thể tăng lên. -
Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất
có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này. -
Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu
sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu của xã hội. -
Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy luật giá trị thể hiện ở
chỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp hơn đến nơi có giá cả cao
hơn, và do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định.
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất
lao động, hạ giá thành sản phẩm, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển -
Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do
đó, có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường thì
các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần
thiết. Vậy người sản xuất hàng hóa nào mà có mức hao phí lao động thấp
hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, thì sẽ thu được nhiều lãi và
càng thấp hơn càng lãi. Điều đó kích thích những người sản xuất hàng hóa
cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện
tiết kiệm... nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất. -
Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh
mẽ hơn. Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn
đến toàn bộ năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên, chi phí sản
xuất xã hội không ngừng giảm xuống.
Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa những người sản
xuất hàng hóa thành người giàu, người nghèo. -
Những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá biệt
thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa theo
mức hao phí lao động xã hội cần thiết (theo giá trị) sẽ thu được nhiều lãi, 11
giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh
doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ. -
Ngược lại, những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao
động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng
hóa sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, trở
thành lao động làm thuê. -
Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản.
Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu
cực. Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, nhà
nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu
cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Câu 4: Trình bày khái niệm sức lao động và điệu kiện biến sức lao động
thành hàng hóa. Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động Khái niệm SLĐ -
Để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản, cần tìm
trên thị trường một loại hàng hóa mà việc sử dụng nó có thể tạo ra được
giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó. Hàng hóa đó là hàng hóa sức lao động. -
Sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể lực và trí lực) tồn tại
trong một con người và được người đó sử dụng vào sản xuất.
SLĐ là năng lực lao động trong thân thể con người còn lao động là
hành động có mục đích, có ý thức của con người nhằm biến những vật tự
nhiên thành sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu. Muốn LĐ thì phải có SLĐ.
Sức lao động là cái có trước, còn lao động chính là quá trình sử dụng sức lao động. Điều kiện biến SLĐ hàng hóa
Trong mọi xã hội, sức lao động là yếu tố của sản xuất, nhưng sức lao động
chỉ trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện sau đây: -
Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể, có quyền sở
hữu sức lao động của mình và chỉ bán sức lao động ấy trong một thời gian nhất định. 12 -
Thứ hai, người lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết để tự
mình đứng ra tổ chức sản xuất nên muốn sống chỉ còn cách bán sức lao
động cho người khác sử dụng.
Việc sức lao động trở thành hàng hóa đánh dấu một bước ngoặt cách
mạng trong phương thức kết hợp người lao động với tư liệu sản xuất, là
một bước tiến lịch sử so với chế độ nô lệ và phong kiến. Sự bình đẳng về
hình thức giữa người sở hữu sức lao động với người sở hữu tư bản che
đậy bản chất của chủ nghĩa tư bản - chế độ được xây dựng trên sự đối
kháng lợi ích kinh tế giữa tư bản và lao động.
2 thuộc tính của hàng hóa SLĐ
Giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa SLĐ cũng có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị của hàng hóa sức lao động là thời gian lao động xã hội cần
thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động đó. -
Sản xuất và tái sản xuất sức lao động được thực hiện thông qua tiêu
dùng cá nhân của người lao động. Do đó, giá trị của hàng hóa SLĐ được
quyết định bởi toàn bộ giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết duy trì đời
sống của công nhân làm thuê và gia đình họ cả về vật chất lẫn tinh thần và
những chi phí đào tạo người công nhân. -
Giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ
nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử, phụ thuộc vào hoàn cảnh
lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã
đạt được, vào điều kiện lịch sử hình thành giai cấp công nhân và cả điều
kiện địa lý, khí hậu. -
Giá trị hàng hóa SLĐ bao gồm: +
Giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì sức lao động của công
nhân ở trạng thái sinh hoạt bình thường +
Chi phí đào tạo tùy theo tính chất phức tạp của sức lao động +
Giá trị các tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế (con cái của công nhân)
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được thể hiện ra ở quá
trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động để sản xuất ra một
hàng hóa, một dịch vụ nào đó.
Quá trình tiêu dùng sức lao động là quá trình người công nhân tiến hành
sản xuất ra hàng hóa và tạo ra 1 lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản
thân nó, phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao động là giá trị thặng dư. 13
Khác nhau cơ bản giữa giá trị sử dụng của hàng hóa SLĐ và giá trị sử
dụng của hàng hóa khác: việc tiêu dùng giá trị sử dụng của hàng hóa khác
là tiêu dùng hết, nó không sinh ra giá trị mới nào cả. Còn việc tiêu dùng
giá trị sử dụng hàng hóa SLĐ lại tạo ra giá trị lơn hơn giá trị của bản thân nó.
Đó chính là đặc điểm riêng có của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao
động. Đặc điểm này là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức
chung của tư bản đã trình bày ở trên.
Câu 5: Trình bày 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư. Phân biệt sự
giống và khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối
2 phương pháp sx giá trị thặng dư -
Mục đích của nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa, vì vậy,
các nhà tư bản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá
trị thặng dư. Khái quát có 2 phương pháp để đạt được mục đích đó là sản
xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối -
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi
kỹ thuật còn thấp, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá
trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của công nhân -
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời
gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao
động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi. -
Thí dụ, ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ,
thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị
mới là 10 đơn vị, thì giá trị thặng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng dư là: m' = 4040 x 100 % = 100% -
Nếu kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa, mọi điều kiện khác vẫn
như cũ, thì giá trị thặng dư tuyệt đối tăng lên 60 và m' cũng tăng lên thành: m' = 6040 x 100 % = 150 % -
Việc kéo dài ngày lao động không thể vượt quá giới hạn sinh lý của
công nhân (vì họ còn phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục 14
hồi sức khoẻ) nên gặp phải sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảm giờ làm. -
Vì lợi nhuận, khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, nhà
tư bản tìm cách tăng cường độ lao động của công nhân. Tăng cường độ
lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động. Vì vậy,
kéo dài thời gian lao động và tăng cường độ lao động là để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối -
Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của
người lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân. -
Mặc khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn
công nghiệp cơ khí, kỹ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng
lên nhanh chóng thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa
trên tăng năng suất lao động, bóc lột giá trị thặng dư tương đối -
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn
thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong
ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó
tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao
động, cường độ lao động vẫn như cũ. -
Thí dụ, ngày lao động là 10 giờ, trong đó 5 giờ là lao động tất yếu, 5
giờ là lao động thặng dư. Nếu giá trị sức lao động giảm đi 1 giờ thì thời
gian lao động tất yếu xuống còn 4 giờ. Do đó, thời gian lao động thặng dư
tăng từ 5 giờ lên 6 giờ và m' tăng từ 100% lên 150%. -
Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh
hoạt và dịch vụ cần thiết cho người công nhân. Muốn vậy phải tăng năng
suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các
ngành sản xuất tư liệu sản xuất để trang bị cho ngành sản xuất ra các tư liệu tiêu dùng.
2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà tư bản
sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê
trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản. Dưới chủ nghĩa tư bản,
việc áp dụng máy móc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của
công nhân mà là tạo điều kiện để tăng cường độ lao động. Ngày nay việc
tự động hóa sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới 15
hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp
Sự giống và khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và tương đối
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn
thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong
ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó
tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao
động, cường độ lao động vẫn như cũ.
Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do áp
dụng công nghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt
của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.
C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá
trị thặng dư tương đối
- Giống: Đều phản ánh mức độ bóc lột giá trị thặng dư, trình độ khai thác
giá trị thặng dư của nhà tư bản và năng lực tạo ra giá trị thặng dư của công nhân.
Có một cơ sở chung là chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động. - Khác:
Giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư tương đối
- Do tăng năng suất lao động cá - Do tăng NSLĐ XH biệt.
- Toàn bộ các nhà TB thu được
- Do 1 số nhà tư bản có kỹ thuật - Thể hiện quan hệ bóc lột của tiên tiến thu được
toàn bộ giai cấp tư bản đối với
- Không chỉ biểu hiện mối quan hệ đối toàn bộ giai cấp công nhân
giữa tư bản và lao động làm thuê làm thuê
mà còn trực tiếp biểu hiện mối
quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản
Câu 6: Phân tích nội dung và vai trò, tác dụng của quy luật giá trị thặng
dư. Tại sao nói quy luật giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản ? Nội dung 16 -
Quy luật giá trị thặng dư đã vạch rõ mục đích của nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa và phương tiện để đạt mục đích đó. -
Mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử
dụng, cũng không phải là giá trị mà là giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt. -
Phương tiện và thủ đoạn để có nhiều giá trị thặng dư là: Nhà tư bản
tăng cường bóc lột công nhân làm thuê trên cơ sở mở rộng sản xuất,
phương tiện kỹ thuật, kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động
Như vậy, nội dung chủ yếu là quy luật giá trị thặng dư là tạo ra giá trị
thặng dư càng nhiều càng tốt cho giai cấp tư sản bằng cách mở rộng sx,
phương tiện kỹ thuật và bóc lột ngày càng nhiều lao động làm thuê. V ai trò
Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, vai trò quy luật giá trị thặng dự được
thể hiện ở tác động hai mặt của nó. -
Một mặt với mục đích chạy theo giá trị thặng dư buộc các nhà tư bản
phải phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới cơ cấu tổ chức và quản lý
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. -
Mặt khác, do chạy theo giá trị thặng dư chủ nghĩa tư bản không trừ
một thủ đoạn nào, nó đem lại nhiều đau khổ, chết chóc cho người lao
động. Đồng thời, nó làm cho các mẫu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, nhất là
mâu thuẫn cơ bản – mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của lực lượng sản
xuất với quan hệ tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất – ngày càng gay gắt.
Mâu thuẫn này đòi hỏi phải tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa để xoá
bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn.
Tóm lại, quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ
nghĩa tư bản, có quy định quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong tất
yếu của chủ nghĩa tư bản Tác dụng
Quy luật giá trị thặng dư có tác dụng mạnh mẽ trong đời sống và xã hội tư
bản, thể hiện ở 2 mặt:
- Thúc đẩy kỹ thuật sản xuất, phân công lao động xã hội làm cho lao
lượng sản xuất phát triển. Năng suất lao động xã hội càng tăng lên nhanh
chóng từ đó nền sản xuất được xã hội hoá cao.
- Làm cho mâu thuẫn cơ bản của nó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội
hoá ngày càng cao về tư liệu sản xuất và sản phẩm sản xuất ra với sự
chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt. Từ đó nó quy định 17
xu hướng lịch sử tất yếu của chủ nghĩa tư bản là sẽ nhường chỗ cho một
xã hội mới văn minh hơn tư bản chủ nghĩa đó là chủ nghĩa xã hội
Quy luật giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản -
Trong mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng tồn tại một quy luật
kinh tế phản ánh mặt bản chất nhất định của phương thức sản xuất đó và
đóng vai trò quyết định trong hệ thống các quy luật kinh tế gọi là quy luật kinh tế cơ bản. -
Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sản xuất ra giá trị
thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản. C.Mác chỉ rõ: sản xuất giá trị thặng dư
là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản vì:
- Mục đích trực tiếp và động cơ của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là theo
đuổi giá trị thặng dư. Và chính sự theo đuổi giá trị thặng dư đã kích thích
lực lượng sản xuất phát triển
Như vậy, giá trị thặng dư đã chi phối, quyết định mọi hoạt động của xã hội tư bản chủ nghĩa
- Bóc lột giá trị thặng dư là hiện tượng kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh
tế cơ bản nhất trong xã hội tư bản đó là quan hệ giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.
- Quy định toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển, suy thoái và diệt vong của chủ nghĩa tư bản
- Giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống quản lý của chủ nghĩa tư bản
Tóm lại, quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ
nghĩa tư bản, nó quy định quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong tất
yếu của chủ nghĩa tư bản
Câu 7: Phân tích thực chất của tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh
hưởng đến quy mô tích lũy tư bản. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề
này đối với việc phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay?
Thực chất của tích lũy tư bản -
Để hiểu rõ thực chất tích luỹ tư bản phải phân tích quá trình tái sản
xuất tư bản chủ nghĩa. -
Tái sản xuất là tất yếu khách quan của xã hội loài người. Tái sản xuất
có hai hình thức chủ yếu là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. 18 -
Dưới chủ nghĩa tư bản, muốn tái sản xuất mở rộng, nhà tư bản phải
sử dụng một phần giá trị thặng dư để tăng thêm tư bản ứng trước. Sự
chuyển hóa một phần giá trị thặng dư trở lại thành tư bản gọi là tích luỹ tư bản. -
Thực chất của tích luỹ tư bản là sự chuyển hóa một phần giá trị thặng
dư thành tư bản. Nói một cách khác, tích luỹ tư bản là quá trình tư bản hoá giá trị thặng dư. -
Tích luỹ tư bản phải gắn liền với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư
bản, gắn với quá trình bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với lao động làm
thuê, gắn với tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa. Do đó, xét một cách
cụ thể, tích luỹ tư bản chính là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng. -
Nguồn gốc của tích lũy tư bản là giá trị thặng dư, lao động không
công của người lao động làm thuê. Tư bản tích lũy ngày càng lớn trog
toàn bộ tư bản còn tư bản ứng trước chỉ là 1 giọt nước trong dòng sông
ngày càng lớn của tích lũy, cho nên toàn bộ sự giàu có của giai cấp tư sản
đều là kết quả của việc chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân tạo ra.
Như vậy, về thực chất tích lũy tư bản là sự tăng cường bóc lột giá trị
thặng dư do người công nhân tạo ra với quy mô ngày càng lớn hơn.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản
Với khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích luỹ tư bản phụ
thuộc vào tỷ lệ phân chia giữa tích luỹ và tiêu dùng. Nếu tỷ lệ giữa tích
luỹ và tiêu dùng đã được xác định, thì quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc
vào khối lượng giá trị thặng dư. Có 4 nhân tố ảnh hưởng đến khối lượng giá trị thặng dư:
Trình độ bóc lột giá trị thặng dư (m') -
Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách cắt xén vào tiền
công của người công nhân. Nghĩa là, nhà tư bản không chỉ chiếm đoạt lao
động thặng dư mà còn chiếm đoạt một phần lao động tất yếu của công
nhân, biến một phần quỹ tiêu dùng của công nhân thành quỹ tích luỹ tư bản. -
Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách tăng cường độ lao
động và kéo dài ngày lao động. 19 +
Việc tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động rõ ràng làm
tăng thêm giá trị thặng dư làm tăng thêm bộ phận giá trị thặng dư, tức
là làm tăng tích lũy tư bản. +
Số lượng lao động tăng thêm do tăng cường độ lao động và kéo dài
ngày lao động không đòi hỏi phải tăng thêm tư bản một cách tương ứng
(trang thiết bị, nhà xưởng, số lượng công nhân). +
Hơn nữa, tư bản sẽ có lợi, tránh được hao mòn vô hình, giảm được
chi phí bảo quản, sớm cải tiến kỹ thuật để mở rộng được quy mô bóc
lột, nhà tư bản có thể tăng thời gian sử dụng máy móc, thiết bị trong ngày,
tức nâng cao hệ số sản xuất mà không cần đầu tư thêm tư bản để tăng
thêm thiết bị, nhà xưởng mà chỉ cần tăng thêm nguyên, vật liệu một cách tương ứng. +
Mặt khác, nhà tư bản bắt công nhân đang có việc phải tăng cường độ
lao động hoặc kéo dài thời gian lao động để tăng khối lượng giá trị thặng
dư. Trong công nghiệp khai khoáng và trong nông nghiệp, nhà tư bản đã
sử dụng phổ biến phương pháp này để tăng quy mô tích luỹ tư bản. Năng suất lao động -
Năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư
liệu tiêu dùng giảm. Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ: +
Với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có
thể lấn sang phần tiêu dùng, trong khi sự tiêu dùng của nhà tư bản không
giảm mà vẫn có thể bằng hoặc cao hơn trước +
Một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích luỹ cũng có thể
chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều hơn trước. -
Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều yếu tố phụ
thêm cho tích luỹ nhờ việc sử dụng vật liệu mới và tạo ra công dụng mới
của vật liệu hiện có như những phế thải trong tiêu dùng sản xuất và tiêu
dùng cá nhân của xã hội, những vật vốn không có giá trị. -
Cuối cùng, năng suất lao động tăng sẽ làm cho giá trị của tư bản cũ
tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh.
Chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng -
Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn
bộ quy mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm 20