-
Thông tin
-
Quiz
Đề cương Kinh tế phát triển | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Đặc trưng kinh tế của các nước phát triển và của các nước kém phát triển. Đối tượng, mục tiêu nghiên cứu của môn học kinh tế. Tăng trưởng và phát triển kinh tế. Các chỉ tiêu đánh giá và liên quan đến tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế. Công bằng với sự phát triển kinh tế. Các nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế của tăng trưởng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Kinh tế phát triển (HV) 2 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Đề cương Kinh tế phát triển | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Đặc trưng kinh tế của các nước phát triển và của các nước kém phát triển. Đối tượng, mục tiêu nghiên cứu của môn học kinh tế. Tăng trưởng và phát triển kinh tế. Các chỉ tiêu đánh giá và liên quan đến tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế. Công bằng với sự phát triển kinh tế. Các nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế của tăng trưởng. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Kinh tế phát triển (HV) 2 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
1. Đặc trưng kinh tế của các nước phát triển và của các nước kém
phát triển. Đối tượng, mục tiêu nghiên cứu của môn học kinh tế (2)
2. Tăng trưởng và phát triển kinh tế. Các chỉ tiêu đánh giá và liên
quan đến tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế (4)
3. Công bằng với sự phát triển kinh tế. Các nhân tố kinh tế và
nhân tố phi kinh tế của tăng trưởng (7)
4. Các mô hình tăng trưởng kinh tế trong lịch sử (9)
5. Những vấn đề trọng yếu của sự phát triển kinh tế và quan điểm
về đổi mới kinh tế ở Việt Nam. (18)
6. Nguồn lực vốn, Nguồn lực khoa học công nghệ, nguồn lực tài
nguyên thiên nhiên, nguồn lực lao động đối với quá trình tăng
trưởng và phát triển kinh tế (19)
7. Cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng. (34)
8: Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển (40)
9. Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và sự chuyển dịch cơ cấu (41)
10. Phát triển kinh tế công nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.(42)
11: Phát triển kinh tế dịch vụ và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. (46)
12. Quan hệ kinh tế quốc tế và hội nhập kinh tế thế giới với sự phát triển kinh tế (49)
13. Khái quát về quan hệ kinh tế quốc tế và hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam (50)
14. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong
thực tế. Khả năng của xã hội trong việc gắn tăng trưởng kinh tế
với công bằng xã hội (52)
15. Các tiêu chí của bình đẳng và mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế với công bằng ở Việt Nam.X(54)
1. Đặc trưng kinh tế của các nước phát triển và của các
nước kém phát triển. Đối tượng, mục tiêu nghiên cứu của môn học kinh tế
Những nước phát triển có các đặc trưng cơ bản sau đây:
1. Công nghiệp hóa: Các nước phát triển có nền kinh tế có sự
chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, với sự gia tăng của
ngành công nghiệp chế biến và sản xuất trong kinh tế của họ.
2. Tăng trưởng kinh tế: Các nước phát triển có tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế cao hơn so với các nước đang phát triển và nghèo. Điều
này thường được đạt được thông qua tăng cường đầu tư, nâng
cao năng suất lao động và sử dụng công nghệ tiên tiến.
3. Đô thị hóa: Các nước phát triển có tỷ lệ dân số sống tại thành
phố cao hơn so với các nước đang phát triển và nghèo.
4. Giáo dục và đào tạo:Các nước phát triển đầu tư nhiều vào giáo
dục và đào tạo, với tỷ lệ người được học tập cao và sự phân bổ tài
nguyên cho giáo dục đồng đều hơn. 2
5. Công nghệ tiên tiến: Các nước phát triển có sử dụng công nghệ
tiên tiến và phát triển nghiên cứu khoa học và công nghệ để cải
tiến sản phẩm và quy trình sản xuất.
6. Thị trường tự do: Các nước phát triển có cơ chế thị trường tự do
và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển của các doanh nghiệp và đầu tư.
7. Đa dạng hóa kinh tế: Các nước phát triển có nền kinh tế đa
dạng hơn, không chỉ tập trung vào một ngành nghề hay một loại sản phẩm
Những nước kém phát triển có các đặc trưng cơ bản sau đây:
1. Chủ nghĩa tự đóng cửa: Các nước kém phát triển thường có
chính sách kinh tế bảo hộ, tự đóng cửa và hạn chế đầu tư nước ngoài.
2. Nông nghiệp chủ yếu: Các nước kém phát triển có nền kinh tế
chủ yếu dựa vào nông nghiệp và ngư nghiệp.
3. Sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng: Các nước kém phát triển thường
thiếu hụt cơ sở hạ tầng, bao gồm cả đường giao thông, điện lực,
nước sạch, các cơ sở y tế và giáo dục.
4. Tình trạng thất nghiệp: Các nước kém phát triển thường có tỷ
lệ thất nghiệp cao, đặc biệt là trong số thanh niên và phụ nữ.
5. Thiếu kinh nghiệm và quản lý: Các nước kém phát triển thường
thiếu kinh nghiệm và kỹ năng quản lý, đặc biệt là trong lĩnh vực
kinh doanh và quản lý công nghiệp.
6. Điều kiện sống kém: Các nước kém phát triển thường có điều
kiện sống kém, bao gồm cả vấn đề về sức khỏe và giáo dục. 3
7. Thiếu vốn đầu tư: Các nước kém phát triển thường thiếu vốn
đầu tư và tiền tệ, khiến cho họ khó có thể đầu tư vào các ngành
kinh tế mới và phát triển cơ sở hạ tầng.
* Đối tượng nghiên cứu: Môn học nghiên cứu xu hướng vận động
của nền kinh tế và cách thức phát triển lực lượng sản xuất nhằm
chuyển nền kinh tế đó từ trạng thái phát triển chuyển sang trạng thái bền vữngX
* Mục tiêu chính của môn học kinh tế phát triển là nghiên cứu
quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia và khu vực trên thế
giới. Môn học này tập trung vào các vấn đề liên quan đến sự phát
triển kinh tế, bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển
kinh tế, như chính sách kinh tế, đầu tư, thương mại, kinh tế học
học phát triển, và các công cụ phân tích kinh tế.XMục tiêu cụ thể
của môn học kinh tế phát triển bao gồm:
- Hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia hoặc khu vực.
- Nghiên cứu các chính sách kinh tế để tăng cường sự phát triển
kinh tế và giảm độ chênh lệch giữa các quốc gia.
- Đánh giá tác động của sự phát triển kinh tế đến môi trường và xã hội.
- Phân tích các vấn đề liên quan đến thương mại, đầu tư và hợp
tác kinh tế giữa các quốc gia.
- Nghiên cứu các chủ đề liên quan đến kinh tế học học phát triển,
bao gồm cách thức tăng cường năng lực cạnh tranh, sự đổi mới
kinh tế và tăng trưởng bền vững. 4
2. Tăng trưởng và phát triển kinh tế. Các chỉ tiêu đánh giá
và liên quan đến tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về sản lượng của nền kinh tế
trong một thời kỳ so với thời kỳ khác trước đó (thường là của năm
sau so với năm trước). Tăng trưởng kinh tế được xác định bằng
cách so sánh quy mô sản phẩm giữa các thời kỳ khác nhau. Có
hai cách so sánh: so sánh về số lượng tuyệt đối (mức tăng trưởng
tuyệt đối) và so sánh bằng số tương đối (mức tăng trưởng tương
đối, hay tốc độ tăng trưởng).X
Mức tăng trưởng tuyệt đối : 🔼Y= Yn-Yo
Trong đó: Уп là sản lượng năm n hay sản lượng kỳ n. y, là sản
lượng năm so sánh hay sản lượng kỳ so sánh.
Mức tăng trưởng tương đối hay tốc độ tăng trưởng G(y):X g(y) = (yn-y0)/y0 x 100%
y có thể là tổng sản phẩm quốc nội GDP (Gross Domestic Product)
hay tổng sản phẩm quốc gia GNP (Gross National Product). Trong
nền kinh tế thị trường, GDP và GNP được xác định thông qua giá
cả của sản phẩm, vì vậy khi tính toán phải loại trừ yếu tố lạm phát.
XXDo tăng trưởng trước hết biểu thị sự thay đổi về quy mô, nên
tăng trưởng kinh tế cao là dấu hiệu thường thấy ở những nước
đang phát triển. Bởi vì đối với các nước này, thị trường hàng hoá
và thị trường đầu tư còn bị hạn chế, cho nên có thể đạt tốc độ
tăng trưởng rất cao nếu chính phủ có được chính sách kinh tế
đúng. Còn những nước phát triển do thị trưởng hàng hoá và thị
trường đầu tư đã bão hòa cho nên phát triển nhanh về quy mô là 5
rất khó, bởi vậy tốc độ tăng trưởng hàng năm thường thấp hơn
các nước đang phát triển.
XKhái niệm phát triển kinh tế.
XPhát triển kinh tế là quá trình tăng trưởng kinh tế dài hạn gắn
liền với sự thay đổi về chất của nền kinh tế, tức gắn liền với quá
trình tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành, sự biến đổi
cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội, cũng như sự tiến bộ về xã hội và về môi trường.
XNhư vậy, một nền kinh tế được coi là phát triển phải bao gồm
những dấu hiệu sau đây:
Thứ nhất: các chỉ tiêu về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng
sản phẩm quốc gia (GNP) phải tăng, sau khi đã loại trừ yếu tố lạm phát.X
Thứ hai: phải có sự chuyển dịch rõ rệt về cơ cấu kinh tế, cơ cấu
lao động theo hướng tăng tỷ trong ngành công nghiệp và dịch vụ,
đồng thời giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp và tỷ trọng nông
nghiệp trong tổng lao động xã hội và tổng sản phẩm quốc dân.
Thứ ba: cơ cấu dân cư được chuyển dịch theo hướng đô thị hoá.X
Thứ tư: khả năng tích luỹ nội bộ nền kinh tế, sức mua của các
tầng lớp dân cư và chất lượng cuộc sống của họ về các mặt giáo
dục, y tế, môi trường có sự biến đổi rõ rệt theo hướng tiến bộ.
XCÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾX
1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).X
GDP phản ánh tổng sản phẩm do các đơn vị thường trú trong
nước tạo ra, không phân biệt đơn vị sản xuất thường trú đó là của 6
quốc gia hay của nước ngoài. Như vậy các nhân tố làm tăng tổng
sản phẩm quốc nội không chỉ do các đơn vị sản xuất của quốc gia
tạo ra ở trong nước mà còn do các đơn vị sản xuất của nước ngoài
thường trú tại nước đó tạo ra. GDP có thể được tính theo 3 cách sau: X
• GDP = Tổng giá trị sản xuất - Chi phí trung gian + Thuế nhập khẩu X
• GDP = Giá trị tăng thêm + Thuế nhập khẩu hàng hoá dịch vụ X
• GDP = Tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ cho tiêu dùng cuối
cùng - Tổng giá trị hàng hoá dịch vụ nhập khẩu
XHàng hoá, dịch vụ cho tiêu dùng cuối cùng bao gồm hàng hoá
dịch vụ cho tiêu dùng sinh hoạt của con người, của xã hội và tiêu
dùng cho sản xuất. Hàng hoá, dịch vụ cho tiêu dùng cuối cùng
phải là những thành phẩm; nguyên liệu, nhiên liệu không phải là
hàng hoá cho tiêu dùng cuối cùng.
2. Tổng sản phẩm quốc gia (GNP).
XGNP là kết quả sản xuất của một quốc gia, không phân biệt các
hoạt động sản xuất được thực hiện ở trong hay ngoài nước.X
GNP = GDP + Thu nhập nhân tố từ nước ngoài - Chi trả nhân tố ra nước ngoài.
XNói chung với các nước đang phát triển GNP sẽ nhỏ hơn GDP vì
sự chỉ trả ra nhân tố nước ngoài lớn hơn thu nhập nhân tố từ nước
ngoài. Còn với các nước phát triển, GNP lớn hơn GDP vì thu nhập
nhân tố từ nước ngoài lớn hơn chi trả nhân tố ra nước ngoài.X 7
XGDP và GNP được xác định thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ.
Vì vậy, để xác định đúng tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản
phẩm quốc gia, cũng như để đánh giá đúng tốc độ tăng trưởng và
phát triển, GDP và GNP phải tính theo giá cả ổn định, nếu có lạm
phát thì phải có sự điều chỉnh, tức phải khấu trừ lạm phát khi tỉnh toán. XCụ thể là:
Chỉ số khấu trừ lạm phát = (GDP danh nghĩa / GDP thực tế) x 100% Lúc đó:X
GNP thực tế = GNP danh nghĩa / chỉ số khấu trừ lạm phát
GNP phản ánh kết quả sản xuất của một quốc gia. Quy mô GNP
không chỉ phụ thuộc vào mức độ tăng trưởng kinh tế mà còn phụ
thuộc vào quy mô dân số của quốc gia. Vì thế, để đánh giá đúng
sự tăng trưởng và phát triển kinh tế phải so sánh kết quả sản xuất
với tổng số dân- tức phải tính thu nhập quốc dân bình quân đầu người.
GNP/Người = GDP/ tổng số dân
X3. Chỉ số giá cả và sự tăng trưởng, phát triển kinh tế.
XChỉ số giá cả là mức biến đổi bình quân của giá cả trong một thời
gian nhất định. Như vậy về bản chất, chỉ số giá cả trong một thời
kỳ phản ánh mức lạm phát hay thiểu phát của thời kỳ đó. Việc xác
định chỉ số giá cả liên quan đến việc tính GDP và GNP thực tế, liên
quan đến quá trình tính toán mức tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Trong thực tế, GDP và GNP được xác định theo giá
4. Tỷ giá hối đoái và sự tăng trưởng, phát triển kinh tế.X 8
XTỷ giá hối đoái là giá cả đồng tiền nước này (thường là đồng tiền
mạnh) được tính ra đồng tiền nước khác. Tại một thời kỳ nhất
định, nếu giá cả ngoại tệ tăng, tức sức mua của đồng tiền nội địa
giảm thì hàng hoá của nước đó trở nên rẻ hơn đối với nước ngoài.
Điều đó sẽ thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Ngược lại,
nếu giá cả ngoại tệ giảm, tức sức mua của đồng tiền nội địa tăng
thì hàng hoá của nước đó trở nên đắt hơn đối với nước ngoài, gây
khó khăn cho phát triển hàng xuất khẩu và thúc đẩy nhập khẩu
thay thế sản xuất trong nước. Điều đó bất lợi cho sự tăng trưởng,
phát triển kinh tế, vì vậy trong thực tiễn, đồng tiền nội địa lên giá,
tức sức mua tăng cũng là điều mà các nước không hề mong muốn.
3. Công bằng với sự phát triển kinh tế. Các nhân tố kinh tế
và nhân tố phi kinh tế của tăng trưởng
Công bằng với sự phát triển kinh tế là một khái niệm quan
trọng trong lĩnh vực kinh tế phát triển và xã hội học. Nó nhấn
mạnh rằng sự phát triển kinh tế chỉ có ý nghĩa khi nó được
thực hiện một cách công bằng và bình đẳng, đảm bảo cho
tất cả các thành viên trong xã hội có những cơ hội và lợi ích như nhau.
Công bằng với sự phát triển kinh tế có thể đạt được bằng
cách đảm bảo rằng các chính sách kinh tế, chính trị và xã
hội được thiết kế sao cho không ai bị bỏ lại phía sau. Điều
này có thể bao gồm việc đảm bảo truy cập đến giáo dục, y
tế và các dịch vụ cơ bản khác cho tất cả các thành viên
trong xã hội, đảm bảo rằng thu nhập và tài sản được phân 9
phối một cách bình đẳng và giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo.
Công bằng với sự phát triển kinh tế không chỉ là một mục
tiêu quốc gia mà còn là một mục tiêu toàn cầu. Các tổ chức
và chính phủ quốc tế đã đưa ra nhiều kế hoạch và chương
trình hành động để đảm bảo rằng các quốc gia đang phát
triển có thể đạt được sự phát triển kinh tế bền vững và công
bằng, và không bị bỏ lại phía sau trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng trưởng của sản xuất kinh tế, có thể
đo bằng tỷ lệ tăng trưởng của GDP (tổng sản phẩm quốc nội)
hoặc GDP mỗi người. Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhiều
yếu tố, bao gồm những yếu tố kinh tế và phi kinh tế.
Các yếu tố kinh tế bao gồm:
1. Đầu tư: Đầu tư là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Đầu tư tạo ra những việc làm mới, thúc đẩy sản
xuất và tăng năng suất lao động.
2. Sản xuất: Sản xuất là yếu tố cốt lõi của tăng trưởng kinh tế.
Năng suất sản xuất cao hơn sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao hơn.
3. Xuất khẩu: Xuất khẩu là một yếu tố quan trọng trong việc thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Nếu một quốc gia xuất khẩu nhiều hơn
so với nhập khẩu, nó sẽ tạo ra thu nhập cho quốc gia đó và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
4. Chính sách tài chính: Chính sách tài chính của chính phủ có thể
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Chính phủ có thể tăng chi tiêu
công cộng và giảm thuế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 10
Các yếu tố phi kinh tế bao gồm:
1. Dân số: Dân số là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế. Dân số đông sẽ tạo ra nhu cầu tiêu dùng và
lao động lớn, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng kinh tế.
2. Giáo dục: Giáo dục có thể tạo ra nhân lực có trình độ cao, giúp
nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
3. Công nghệ: Công nghệ mới có thể tạo ra những cải tiến sản
phẩm và quy trình sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
4. Chính sách xã hội: Chính sách xã hội của chính phủ có thể ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Chính phủ có thể đầu tư vào các
dự án xã hội như hạ tầng, giáo dục, chăm sóc sức khỏe để thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
94. Các mô hình tăng trưởng kinh tế trong lịch sử.
91. Mô hình phát triển kinh tế của Adam Smith
Dưới góc độ phát triển kinh tế, học thuyết của A.Smith có 4 vấn đề cơ bản:
- Sự giàu có của xã hội trước hết phụ thuộc vào số lượng và chất
lượng của lao động được sử dụng; số lượng và chất lượng lao động
lại phụ thuộc vào mức độ hợp lý của phân công lao động xã hội.
Và theo A. Smith thì thị trường là người thực hiện sự phân công
lao động hợp lý nhất thông qua bàn tay vô hình.
X- Do có bàn tay vô hình của thị trường mà bằng sự theo đuổi lợi
ích riêng của mình,mỗi người cũng thoả mãn cả lợi ích của xã hội;
và điều này cũng đạt được hiệu quả cao hơn khi mỗi người có ý định làm việc đó. 11
X- Lao động được hưởng tiền công, chủ đất được hưởng địa tô và
tư bản thì được hưởng lợi nhuận, ứng với 3 loại thu nhập là 3 giai
cấp cơ bản trong xã hội. Nền kinh tế phát triển được là do có sự
theo đuổi lợi ích riêng của các giai cấp đó, vì thế không nên cản
trở hoặc làm nhụt chí các giai cấp trong việc tìm kiếm lợi ích riêng của họ.
Từ những vấn đề trọng yếu trong học thuyết kinh tế của A.Smith,
có thể phát biểu mô hình phát triển kinh tế của ông qua một sơ
đồ hình tháp (sơ đồ 2). Thuyết minh mô hình:
- X X X X Sự gia tăng của cải trong xã hội phụ thuộc vào số lượng và
chất lượng lao động được sử dụng.
Đến lượt nó, số lượng và chất lượng lao động được sử dụng lại phụ
thuộc vào sự hợp lý của phân công lao động xã hội và mức đầu tư. 12
- X X X X Mức độ hợp lý của phân công lao động và mức độ đầu tư
tuỳ thuộc vào mức độ tự do của thị trường, mức độ tôn trọng lợi
ích cá nhân và lợi ích của các giai cấp trong xã hội, cũng như mức thuế đánh vào hàng hoá.
Như vậy, khâu đột phá cho một quá trình phát triển kinh tế trong
mô hình của A.Smith là thực hiện một thị trường tự do không có
sự can thiệp, tôn trọng lợi ích cá nhân cũng như lợi ích của các
giai cấp trong xã hội và thuế phải hợp lý.
2. Mô hình phát triển kinh tế của David Ricardo
David Ricardo đã kế thừa và phát triển những quan điểm của
A.Smith, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới giới hạn của phát triển kinh tế là đất đai.
XD.Ricardo đồng ý với A.Smith rằng số lượng của cải, tức sự phát
triển kinh tế phụ thuộc vào số lượng và chất lượng lao động được
sử dụng. Nhưng số lượng lao động được sử dụng cũng như năng
suất lao động lại bị giới hạn bởi đất đai do có quy luật năng suất lao động giảm dần
Như vậy với số lượng đất đai có hạn, nếu tăng thêm lao động thì
năng suất lao động và mức tăng sản phẩm giảm dần. Từ đó
Ricardo cho rằng có sự dư thừa lao động ở nông thôn, số dư thừa
này hoàn toàn có thể chuyển đi mà không làm giảm mức sản
lượng. Và nếu số lao động dư thừa đó không được chuyển đi, đồng
thời không giảm được mức tăng dân số thì lợi nhuận trong nông
nghiệp sẽ bị giảm sút, làm cho khả năng tích luỹ và đầu tư giảm,
dẫn đến kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế. Và giải pháp có thể là
phát triển công nghiệp, giảm tốc độ tăng dân số để giải quyết
những giới hạn về phát triển do đất đai có hạn. 13
Mô hình phát triển kinh tế của Ricardo được diễn tả qua sơ đồ
hình tháp (sơ đồ 3). Sơ đồ 3: Mô hình phát triển kinh tế của Ricardo
Thuyết minh mô hình Ricardo:
- Sự gia tăng của cải - tức sự phát triển kinh tế.phụ thuộc vào số
lượng lao động và năng suất lao động.
- Đến lượt nó, số lượng lao động và năng suất lao động lại bị giới
hạn bởi đất đai, làm cho tích luỹ và đầu tư giảm
- Phải phát triển công nghiệp và giảm sự gia tăngX dân số để rút
bớt lao động dư thừa trong nông nghiệp, làm tăng tích luỹ và đầu tư.
Như vậy, khâu đột phá làm khởi động quá trình phát triển kinh tế
trong mô hình kinh tế của Ricardo là phát triển công nghiệp, giảm sự gia tăng dân số.
3. Mô hình phát triển kinh tế của C. Mác 14
C. Mác đồng ý với A.Smith và Ricardo rằng của cải hay sự phát
triển kinh tế phụ thuộc vào năng suất lao động xã hội và số lượng
lao động được sử dụng. Nhưng ông lại nhấn mạnh một số quan điểm sau đây: -X
Trong điều kiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự tăng
lên của năng suất lao động làm hạn chế việc sử dụng lao động.
- X X X X Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa làm cho của cải ngày
càng tập trung vào một số ít người là các nhà tư bản, cho nên sức
sản xuất vượt xa sức mua của xã hội, làm hạn chế khả năng mở
rộng sản xuất để thu hút lao động.
- X X X X Do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa mà quá trình tái sản
xuất của các doanh nghiệp mẫu thuẫn với quá trình tái sản xuất
của xã hội, quy mô tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp không
hợp lý dẫn tới gây lãng phí lao động xã hội.
Mô hình phát triển kinh tế của C. Mác có thể được phát biểu qua
một sơ đồ hình tháp (sơ đồ 4). 15 XThuyết minh mô hình:
- Của cải, hay sự phát triển kinh tế có nền tảng là lao động.
- Nhưng quy mô lao động được sử dụng lại bị giới hạn bởi năng
suất lao động và mâu thuẫn giữa sức sản xuất với sức mua cũng
như bởi quy mô sản xuất không hợp lý.
- Những hạn chế trên là do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Vì
vậy, quá trình phát triển kinh tế đòi hỏi phải giải quyết vấn đề
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Như vậy, việc làm có tính chất đột phá cho một quá trình phát
triển kinh tế trong mô hình phát triển kinh tế của C.Mác là cải tạo
quan hệ sản xuất TBCN để giải phóng lực lượng sản xuất và sức mua của xã hội.
4. Mô hình phát triển kinh tế của J.M.Keynes. 16
Keynes đã phải thừa nhận có sự mất cân đối rất lớn giữa sản xuất
và tiêu dùng trong xã hội tư bản. Nhưng ông không giải thích sự
mất cân đối bằng lý do kinh tế như C. Mác mà giải thích bằng lý
do tâm lý xã hội. Keynes cho rằng số lượng hàng hoá bị ế thừa,
không mở rộng được quy mô sản xuất là do tâm lý thích gửi tiền
mặt trong xã hội. Tâm lý đó làm cho mức tiêu dùng có khuynh
hướng tăng chậm hơn mức tăng của thu nhập, khiến hiệu quả đầu
tư giảm, hạn chế quy mô thu nhập và quy mô đầu tư...
Để tăng thu nhập phải tăng cầu và tăng đầu tư. Nhưng thực tế
cho thấy việc tăng cầu bị giới hạn bởi tâm lý thích giữ tiền mặt
trong xã hội. Còn việc tăng đầu tư gặp phải trở ngại là tỷ suất lợi
nhuận (tức hiệu quả đầu tư) ngày càng giảm, trong khi chi phí
đầu tư (lãi suất cho vay) lại tương đối ổn định.
Mô hình phát triển kinh tế của Keynes có thể được phát biểu dưới
dạng sơ đồ hình tháp (sơ đồ 5). 17 Thuyết minh mô hình:
- Sự phát triển kinh tế hay quy mô thu nhập phụ thuộc vào tổng cầu và quy mô đầu tư.
- Tổng cầu và quy mô đầu tư lại bị giới hạn bởi quy mô tiêu dùng và lãi suất cho vay.
- Để khắc phục những giới hạn trên, Nhà nước phai giảm lãi suất
cho vay và đánh thuế cao nhằm hạn chế tiết kiệm tiền; tăng đầu
tư để kích cầu của xã hội.
Như vậy, khâu đột phá cho quá trình phát triển trong mô hình
phát triển kinh tế của Keynes là vai trò của Nhà nước trong việc
kích cầu với các biện pháp đầu tư, thuế và lãi suất cho vay.
X5. Mô hình phát triển kinh tế của trường phái Keynes mới
Trường phái Keynes mới mà đại biểu là Harod- Domar cho rằng sự
phát triển kinh tế trực tiếp phụ thuộc vào quy mô đầu tư. Tiết
kiệm là nguồn gốc của đầu tư cho nên vốn đầu tư bằng vốn tiết kiệm.
Nếu gọi I là tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế (tỷ số giữa vốn đầu tư
và GDP sản xuất), g(y) là tốc độ tăng trưởng kinh tế thì: g(y)=I/ICOR
ICOR được gọi là hệ số gia tăng vốn - đầu ra. Hệ số này nói lên
rằng vốn được tạo ra bằng đầu tư là yếu tố cơ bản của tăng
trưởng, tiết kiệm của nhân dân và các doanh nghiệp là nguồn gốc
của đầu tư. Hệ số ICOR con phản ánh trình độ kỹ thuật của sản
xuất và là số đo năng lực sản xuất của vốn đầu tư.
Trên thực tế hệ số ICOR ở các nước phát triển cao hơn các nước
đang phát triển do các yếu tố đầu vào đắt hơn. Vì thế, để tăng 18
trưởng kinh tế, các nước kinh tế phát triển phải xuất khẩu tư bản,
còn các nước đang phát triển phải nhập khẩu tư bản.
Mô hình phát triển kinh tế của trường phái Keynes mới có thể
phát biểu qua sơ đồ hình tháp (sơ đồ 6). Thuyết minh sơ đồ
- X X X X Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào quy mô đầu tư
- X X X X Đến lượt nó, quy mô đầu tư lại thuộc vào hệ số ICOR
- X X X X Ở các nước phát triển, hệ số ICOR cao, các nước đang phát
triển hệ số ICOR thấp nên xuất khẩu hay nhập khẩu tư bản là
cách để tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Như vậy, khâu đột phá cho quá trình phát triển kinh tế trong mô
hình phát triển kinh tế của trường phái Keynes mới là xuất khẩu hay nhập khẩu tư bản.
6. Mô hình kinh tế theo quan điểm phát triển của trường phái chính hiện đại. 19
Theo P.A Samuelson, đại biểu của trường phái chính hiện đại, để
phát triển kinh tế phải đảm bảo 4 nhân tố: Nhân lực, tài nguyên,
tư bản và kỹ thuật. Nhưng ở những nước nghèo thường rơi vào
vòng luẩn quẩn và tự mình khó có thể vươn lên được. Cụ thể là do
nghèo nên tiết kiệm thấp, đầu tư vốn thấp, dẫn đến tốc độ tích
luỹ chậm, năng suất lao động và thu nhập thấp; thu nhập thấp lại
làm cho tiết kiệm và đầu tư thấp... (sơ đồ 1). Và P.A Samuelson
cho rằng để phát triển kinh tế, đối với các nước nghèo phải có “cú hích” từ bên ngoài.
7. Mô hình phát triển kinh tế của trường phái tả, cấp tiến ở Mỹ
Mô hình phát triển kinh tế của trường phái tả, cấp tiến mà đại
biểu là Galbraith ở trường đại học Harvard Mỹ thể hiện ở 3 quan điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Phải trên cơ sở lý thuyết kinh tế của Các Mác để giải
quyết vấn đề phát triển. Trường phái này cho rằng trong chủ
nghĩa tư bản, phần thặng dư kinh tế tăng nhanh, nhưng phần
thặng dư kinh tế của các nhà tư bản không được tiêu dùng đã tạo
ra sự cách biệt ngày càng lớn giữa sức sản xuất và sức mua của
xã hội. Từ đó, họ không tin vào biện pháp kích cầu có hiệu quả của Keynes.
Thứ hai: Chỉ có con đường xuất khẩu tư bản ra các nước đang
phát triển mới có khả năng phát triển. Nhưng đó là vấn đề rất khó
và là nguy cơ thực sự của chủ nghĩa tư bản.
Thứ ba: Để có sự phát triển kinh tế bền vững, Nhà nước phải tạo
ra sự bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội, tăng khu vực
kinh tế nhà nước để tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển. 20