



















Preview text:
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................
2. Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................
3. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................
4. Kết cấu của Tiểu luận....................................................................................
B. NỘI DUNG....................................................................................................
Chương 1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cách mạng xã hội.............
1.1. Khái niệm cách mạng xã hội......................................................................
1.2. Nguồn gốc của cách mạng xã hội..............................................................
1.3. Tính chất, động lực của cách mạng xã hội...............................................
1.4. Lực lượng, đối tượng, giai cấp lãnh đạo của cách mạng xã hội.............
1.5. Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của cách mạng xã hội.......
1.6. Vận dụng của cách mạng xã hội trong điều kiện hiện nay.....................
Tiểu kết Chương 1.............................................................................................
Chương 2. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cách mạng xã hội chủ
nghĩa....................................................................................................................
2.1. Khái niệm cách mạng xã hội chủ nghĩa....................................................
2.2. Nguồn gốc cách mạng xã hội chủ nghĩa....................................................
2.3. Mục tiêu, nội dung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ............................ 10
2.4. Tính chất, động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa ........................... 12
2.5. Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của cách mạng xã hội
chủ nghĩa .......................................................................................................... 13
2.6. Tiến trình của cách mạng xã hội chủ nghĩa ........................................... 15
2.7. Vận dụng của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hiện nay. 17
Tiểu kết Chương 2 ........................................................................................... 18
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 20 A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, những bước nhảy vọt về chất trong
tiến trình xã hội luôn gắn liền với các cuộc cách mạng xã hội. Trong đó, cách mạng
xã hội chủ nghĩa là hình thức cách mạng triệt để nhất, không chỉ thay đổi kiến trúc
thượng tầng mà còn cải biến toàn diện cơ sở hạ tầng kinh tế, xóa bỏ áp bức, bóc lột,
mở ra thời đại mới – thời đại giải phóng triệt để giai cấp và con người.
Đối với Việt Nam, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn bó hữu cơ với
con đường giải phóng dân tộc và phát triển đất nước. Từ Cách mạng Tháng Tám
năm 1945, đến hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và công cuộc đổi mới từ
năm 1986, lịch sử dân tộc đã khẳng định rằng lựa chọn đi lên chủ nghĩa xã hội dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là phù hợp với quy luật phát triển khách
quan, đồng thời đáp ứng khát vọng độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số hiện nay, việc nghiên cứu vấn
đề “Cách mạng xã hội và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Liên hệ thực tiễn” không
chỉ giúp củng cố nền tảng lý luận Mác – Lênin, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong
việc khẳng định niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây cũng là
cơ sở để thế hệ trẻ, đặc biệt là sinh viên có thể nâng cao nhận thức chính trị, ý thức
trách nhiệm công dân, đồng thời phát huy vai trò xung kích trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm làm rõ cơ sở lý luận về cách mạng xã hội và cách mạng xã hội
chủ nghĩa trong học thuyết Mác – Lênin, qua đó khẳng định tính tất yếu khách
quan, mục tiêu và đặc trưng của hình thức cách mạng này. Đồng thời, việc nghiên
cứu cũng hướng đến phân tích, lý giải thực tiễn cách mạng Việt Nam trong quá
trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là công
cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay. Trên cơ sở đó, đề tài giúp người nghiên
cứu củng cố niềm tin khoa học vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ
và nhân dân ta đã lựa chọn, đồng thời nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thế hệ
trẻ trong việc tiếp nối, phát huy thành quả cách mạng, góp phần xây dựng đất nước
Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
3. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở để phân tích tính tất yếu khách
quan của cách mạng xã hội và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, tiểu luận
còn vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phân tích –
tổng hợp, lịch sử – lôgic, so sánh – đối chiếu và liên hệ thực tiễn, nhằm làm sáng tỏ
cơ sở lý luận và rút ra giá trị thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.
4. Kết cấu của Tiểu luận
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Mục lục
thì Nội dung của Tiểu luận gồm 2 phần:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cách mạng xã hội.
Chương 2. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cách mạng xã hội chủ nghĩa. 2 B. NỘI DUNG Chương 1
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cách mạng xã hội
1.1. Khái niệm cách mạng xã hội
Cách mạng xã hội là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử,
được hiểu là bước chuyển biến mang tính nhảy vọt trong đời sống xã hội, làm thay
đổi căn bản, toàn diện từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, tư tưởng.
Theo nghĩa rộng, cách mạng xã hội là sự thay đổi có tính chất căn bản về
chất toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, dẫn đến sự thay thế hình thái kinh tế
- xã hội cũ bằng một hình thái kinh tế - xã hội mới tiến bộ hơn. Theo nghĩa hẹp,
cách mạng xã hội là đỉnh cao của đấu tranh giai cấp, là cuộc đấu tranh lật đổ chính
quyền, thiết lập một chính quyền mới tiến bộ hơn.
Ví dụ điển hình là Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhân dân ta đã lật đổ ách thống trị thực
dân – phong kiến, thiết lập chính quyền nhân dân, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là minh chứng sinh động cho sự thay đổi toàn
diện về chính trị và xã hội, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử.
1.2. Nguồn gốc của cách mạng xã hội
Nguồn gốc sâu xa của cách mạng xã hội là do mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất tiến bộ đòi hỏi được giải phóng, phát triển với quan hệ sản xuất đã lỗi thời, lạc
hậu đang cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mâu thuẫn giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện dưới dạng xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp
bị trị, đại diện cho lực lượng sản xuất mới, tiến bộ với giai cấp thống trị, đại diện
cho quan hệ sản xuất đã lạc hậu. Khi mâu thuẫn đó trở nên gay gắt, quyết liệt đòi
hỏi phải giải quyết thì cách mạng xã hội sẽ nổ ra.
Ví dụ, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 bùng nổ từ mâu thuẫn không
thể điều hòa trong lòng xã hội tư bản: giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa
cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Khi
mâu thuẫn này đến đỉnh điểm, giai cấp công nhân và nông dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng Bônsêvích đã làm nên cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa vĩ đại, thay đổi
vận mệnh nước Nga và mở ra thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Nguồn gốc trực tiếp nổ ra cách mạng xã hội là do trong xã hội có giai cấp,
đấu tranh giai cấp là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cách mạng xã hội. Lịch sử châu
Âu thế kỷ XVII–XVIII chứng kiến hàng loạt cách mạng tư sản (Anh 1640, Pháp
1789) – sản phẩm của mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp phong kiến lạc hậu và giai
cấp tư sản mới nổi, đại diện cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong lịch sử, có hai cuộc cách mạng xã hội điển hình, có qui mô rộng lớn
và tính chất triệt để đó là: cách mạng tư sản và cách mạng vô sản.
1.3. Tính chất, động lực của cách mạng xã hội
Tính chất của mỗi cuộc cách mạng xã hội chịu sự quy định bởi mâu thuẫn cơ
bản mà nó giải quyết, vào nhiệm vụ chính trị mà cuộc cách mạng đó phải giải
quyết. Mỗi cuộc cách mạng xã hội trả lời cho những câu hỏi lịch sử: lật đổ chế độ
nào, xóa bỏ quan hệ sản xuất nào, thiết lập chính quyền về tay giai cấp nào, xây
dựng trật tự xã hội dựa trên nguyên tắc nào. Ví dụ, cách mạng vô sản (cách mạng
xã hội chủ nghĩa) có tính chất triệt để nhất, bởi nó lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa,
xóa bỏ quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, đưa
chính quyền vào tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động, hướng tới thiết lập
một xã hội công bằng, bình đẳng, không còn áp bức, bóc lột.
Động lực của cách mạng xã hội là những giai cấp có lợi ích gắn bó chặt chẽ
và lâu dài đối với cách mạng, có tính tự giác, tích cực, chủ động, kiên quyết, triệt
để cách mạng, có khả năng lôi cuốn, tập hợp các giai cấp, tầng lớp khác tham gia
phong trào cách mạng. Ví dụ, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, động lực cơ bản là
giai cấp công nhân, lực lượng giữ vai trò lãnh đạo, cùng với nông dân – lực lượng
đông đảo và to lớn, kết hợp với đội ngũ trí thức. Trong Cách mạng Tháng Tám 4
1945, động lực là toàn thể dân tộc Việt Nam, trong đó liên minh công – nông – trí
thức giữ vai trò nòng cốt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
1.4. Lực lượng, đối tượng, giai cấp lãnh đạo của cách mạng xã hội
Lực lượng của cách mạng xã hội là những giai cấp, tầng lớp người có lợi ích
gắn bó với cách mạng, tham gia vào các phong trào cách mạng đang thực hiện mục
đích của cách mạng. Lực lượng của cách mạng xã hội chịu sự qui định của tính
chất, điều kiện lịch sử của cách mạng. Chẳng hạn, trong các cuộc cách mạng tư sản,
lực lượng chủ yếu là giai cấp tư sản và tầng lớp bình dân thành thị; trong cách
mạng vô sản, lực lượng là liên minh công – nông, trí thức và quần chúng lao động rộng rãi.
Đối tượng của cách mạng xã hội là những giai cấp và những lực lượng cần
phải đánh đổ của cách mạng. Ví dụ, đối tượng của cách mạng tư sản là chế độ
phong kiến; đối tượng của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giai cấp tư sản. Ở Việt
Nam trước Cách mạng Tháng Tám, đối tượng của cách mạng dân tộc dân chủ là
thực dân Pháp, phát xít Nhật và phong kiến tay sai.
Giai cấp lãnh đạo cách mạng xã hội là giai cấp có hệ tư tưởng tiến bộ, đại
diện cho xu hướng phát triển của xã hội, cho phương thức sản xuất tiến bộ. Trong
cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo, bởi
họ đại diện cho phương thức sản xuất mới – phương thức sản xuất cộng sản chủ
nghĩa. Thực tiễn chứng minh rằng không có sự lãnh đạo của giai cấp công nhân,
thông qua chính đảng của mình, thì cách mạng vô sản không thể thành công.
1.5. Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của cách mạng xã hội
Điều kiện khách quan là điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, chính trị bên
ngoài tác động đến, là tiền đề diễn ra các cuộc cách mạng xã hội. Ví dụ, sự suy yếu
của chế độ phong kiến châu Âu, sự phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa đã tạo điều kiện cho các cuộc cách mạng tư sản bùng nổ.
Nhân tố chủ quan trong cách mạng xã hội bao gồm ý chí, niềm tin, trình độ
giác ngộ và nhận thức của lực lượng cách mạng vào mục tiêu và nhiệm vụ cách
mạng, là năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ cách mạng, khả năng tập hợp lực
lượng cách mạng của giai cấp lãnh đạo cách mạng. Ví dụ, Cách mạng Tháng Tám
1945 thành công nhờ có đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng Cộng sản
Đông Dương, biết phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.
Thời cơ cách mạng là “khoảnh khắc vàng” khi điều kiện khách quan và nhân
tố chủ quan đã chín muồi, tạo nên tình thế cách mạng. Thời cơ có tính chất ngắn
ngủi, nếu bỏ lỡ sẽ dẫn đến thất bại. Điển hình là thời cơ của Cách mạng Tháng Tám
1945, khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, chính quyền thực dân phong kiến rệu
rã, tạo khoảng trống quyền lực; Đảng ta đã kịp thời nắm bắt, lãnh đạo nhân dân
vùng lên giành chính quyền trong cả nước.
1.6. Vận dụng của cách mạng xã hội trong điều kiện hiện nay
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc vận
dụng lý luận cách mạng xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc đổi mới đất nước.
Thứ nhất, lý luận cách mạng xã hội giúp chúng ta nhận thức và giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Ví dụ, Việt
Nam phát triển mạnh mẽ kinh tế số, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo, đòi hỏi hệ
thống pháp luật, chính sách quản lý cũng phải đổi mới để phù hợp. Việc ban hành
Chiến lược chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng 2030 cho thấy sự
vận dụng đúng đắn giữa đổi mới lực lượng sản xuất và điều chỉnh quan hệ sản xuất.
Thứ hai, lý luận cách mạng xã hội định hướng cho việc khắc phục mâu thuẫn
xã hội. Chẳng hạn, sự phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng vùng miền ở Việt
Nam được xử lý thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền
vững, xây dựng nông thôn mới, chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là
minh chứng cho việc giải quyết mâu thuẫn xã hội nhằm giữ vững ổn định chính trị – xã hội.
Thứ ba, trong điều kiện hội nhập quốc tế, cách mạng xã hội yêu cầu giữ vững
độc lập tự chủ. Ví dụ, trong hợp tác kinh tế với các tổ chức quốc tế (WTO, CPTPP, 6
RCEP), Việt Nam luôn khẳng định nguyên tắc độc lập, tự chủ trong hoạch định
chính sách, vừa hội nhập vừa bảo vệ lợi ích quốc gia.
Thứ tư, lý luận cách mạng xã hội được vận dụng trong công cuộc đổi mới
toàn diện đất nước. Điển hình là cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử,
phát triển giáo dục gắn với chuyển đổi số, chăm lo đời sống nhân dân. Những chính
sách như nâng mức lương cơ sở (2023–2024) hay mở rộng bảo hiểm y tế toàn dân
thể hiện mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, tiến bộ theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ những minh chứng trên có thể thấy, cách mạng xã hội trong điều kiện
hiện nay ở Việt Nam không phải là sự lật đổ chế độ như trong lịch sử, mà là cuộc
cách mạng đổi mới, cải cách, sáng tạo, nhằm phát triển đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
Tiểu kết Chương 1
Qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về cách mạng xã hội,
có thể thấy rằng cách mạng xã hội là một hiện tượng tất yếu trong tiến trình phát
triển lịch sử nhân loại. Nó không phải là những biến cố ngẫu nhiên hay bột phát,
mà là sản phẩm của những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội, trước hết là mâu thuẫn
giữa lực lượng sản xuất tiến bộ với quan hệ sản xuất lạc hậu, giữa giai cấp thống trị
bảo vệ trật tự cũ với giai cấp bị trị mang khát vọng đổi thay. Khi mâu thuẫn này
phát triển đến mức gay gắt, không thể điều hòa, cách mạng xã hội bùng nổ, mở
đường cho một hình thái kinh tế – xã hội mới tiến bộ hơn ra đời. Những cuộc cách
mạng điển hình trong lịch sử như Cách mạng tư sản Anh 1640, Cách mạng Pháp
1789, Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 hay Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Việt
Nam đã minh chứng rõ ràng quy luật khách quan này. Điểm chung của chúng là
đều xóa bỏ chế độ xã hội cũ, đồng thời thiết lập một thiết chế chính trị – xã hội mới
phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và nguyện vọng của nhân dân.
Từ góc độ lý luận, có thể khẳng định rằng tính chất, động lực, lực lượng, đối
tượng và giai cấp lãnh đạo của cách mạng xã hội đều chịu sự chi phối bởi mâu
thuẫn cơ bản mà cuộc cách mạng đó cần giải quyết. Trong đó, giai cấp lãnh đạo giữ
vai trò quyết định, bởi chỉ khi có một lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất
mới, có hệ tư tưởng tiến bộ và có khả năng tập hợp, tổ chức quần chúng thì cách
mạng mới có thể thành công. Bài học từ Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Việt Nam
là minh chứng thuyết phục: sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản đã
biến thời cơ ngắn ngủi thành thắng lợi lịch sử vĩ đại, đưa dân tộc ta từ thân phận nô
lệ trở thành người làm chủ đất nước.
Mặt khác, thực tiễn cũng chỉ ra rằng ngoài điều kiện khách quan, nhân tố chủ
quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thành công của cách mạng xã hội. Ý
chí, niềm tin, trình độ giác ngộ, sự tự giác và tinh thần đoàn kết của quần chúng
nhân dân, dưới sự dẫn dắt của một lực lượng chính trị tiên phong, chính là “chìa
khóa” quyết định. Cách mạng xã hội không thể thắng lợi nếu thiếu sự kết hợp hài
hòa giữa các yếu tố này với điều kiện khách quan đã chín muồi.
Trong điều kiện hiện nay, lý luận cách mạng xã hội tiếp tục phát huy giá trị
định hướng đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam. Đổi mới được coi là cuộc cách
mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực – từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội.
Đây là sự vận dụng sáng tạo quy luật của cách mạng xã hội vào thực tiễn: giải
phóng lực lượng sản xuất thông qua phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa; từng bước điều chỉnh quan hệ sản xuất bằng cải cách thể chế, chính
sách; đồng thời giải quyết mâu thuẫn xã hội phát sinh trong quá trình phát triển, giữ
vững ổn định chính trị, bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội. Các chương trình
chuyển đổi số, cải cách hành chính, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững
hay mở rộng an sinh xã hội đều là những biểu hiện sinh động cho sự vận dụng này.
Tóm lại, Cách mạng xã hội không chỉ là khái niệm trừu tượng trong học
thuyết Mác – Lênin, mà còn là kim chỉ nam để chúng ta định hướng cho công cuộc 8
xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu
của thời đại và khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân. Chương 2
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cách mạng xã hội chủ nghĩa
2.1. Khái niệm cách mạng xã hội chủ nghĩa
Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội chủ nghĩa được hiểu là một cuộc cách
mạng chính trị mà ở đó, giai cấp công nhân lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động
thông qua chính đảng của mình, đấu tranh lật đổ nhà nước của giai cấp tư sản, giành
chính quyền và thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản.
Theo nghĩa rộng, cách mạng xã hội chủ nghĩa bao gồm cả hai thời kỳ: cách
mạng về chính trị với nội dung chính là thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản và
tiếp theo đó là thời kỳ giai cấp công nhân và nhân dân lao động sử dụng nhà nước
của mình để cải tạo xã hội cũ về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,... xây
dựng xã hội mới về mọi mặt nhằm thực hiện thắng lợi chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản [11].
2.2. Nguồn gốc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, nguồn gốc sâu xa của cách mạng
xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quy luật vận
động của lịch sử cho thấy, khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất
định sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản xuất lỗi thời, kìm hãm sự phát triển ấy. Chính vì
vậy, quan hệ sản xuất cũ tất yếu phải bị thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới, tiến bộ hơn.
Dưới chủ nghĩa tư bản, đặc biệt từ khi máy hơi nước ra đời, lực lượng sản
xuất không ngừng phát triển, ngày càng mang tính chất xã hội hóa cao, nhưng lại
mâu thuẫn sâu sắc với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản
chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Mâu thuẫn này biểu hiện rõ trong thực tiễn trong khi
từng doanh nghiệp ngày càng mang tính tổ chức và kế hoạch, thì toàn bộ nền kinh tế
tư bản lại bị chi phối bởi tính vô chính phủ của sản xuất hàng hóa, dẫn đến những
cuộc khủng hoảng thừa, thất nghiệp hàng loạt, làm bùng phát các cuộc đấu tranh của
giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản. Mặt khác, để duy trì sự tồn tại, giai cấp 10
tư sản tìm cách thích nghi bằng cách lập ra các xanhđica, tờrớt, côngxoócxiom, và
để nhà nước tư bản can thiệp ngày càng sâu vào nền kinh tế. Tuy nhiên, những giải
pháp này chỉ mang tính tạm thời, không thể xóa bỏ được mâu thuẫn căn bản của chủ
nghĩa tư bản. Vì thế, cách mạng xã hội chủ nghĩa tất yếu phải ra đời để giải quyết
triệt để mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa lỗi thời.
Quy luật khách quan không tự nó biến thành hiện thực. Để cách mạng xã hội
chủ nghĩa nổ ra, cần có yếu tố chủ quan là sự giác ngộ của giai cấp công nhân về sứ
mệnh lịch sử của mình. Thông qua việc tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác –
Lênin, giai cấp công nhân không chỉ đấu tranh kinh tế mà còn đấu tranh chính trị,
tuyên truyền, tổ chức và lãnh đạo quần chúng nhân dân đứng lên lật đổ chính quyền
của giai cấp tư sản, giành lấy dân chủ, thiết lập chính quyền mới của nhân dân lao động.
2.3. Mục tiêu, nội dung của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Về mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa:
Trước hết, mục tiêu căn bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giành và giữ
vững chính quyền về tay nhân dân lao động, xây dựng một nhà nước thực sự của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Thứ hai, cách mạng xã hội chủ nghĩa hướng tới xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc
lột, bất công trong xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Dưới góc
độ kinh tế, đây là việc xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư
liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu và kinh tế nhiều thành phần vận hành theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thực tiễn Việt Nam, mục tiêu này được thể hiện
thông qua chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa
khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, vừa chú trọng bảo đảm công bằng xã hội.
Ví dụ, các chương trình xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới hay bảo hiểm
y tế toàn dân đã giúp cải thiện đáng kể đời sống nhân dân, đặc biệt ở vùng sâu vùng
xa, qua đó thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và thực hiện tiến bộ xã hội.
Thứ ba, một mục tiêu quan trọng khác là giải phóng con người, phát triển toàn
diện cá nhân, tạo điều kiện để mỗi người dân được sống ấm no, hạnh phúc và phát
huy năng lực sáng tạo. Cách mạng xã hội chủ nghĩa không chỉ giải phóng giai cấp
công nhân và nhân dân lao động, mà còn hướng tới giải phóng toàn nhân loại khỏi
mọi hình thức áp bức. Tại Việt Nam, mục tiêu này được hiện thực hóa bằng chính
sách coi giáo dục, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo là quốc sách hàng đầu.
Việt Nam cũng liên tục cải thiện thứ hạng trong bảng xếp hạng đổi mới sáng tạo
toàn cầu, minh chứng cho môi trường thuận lợi để người dân phát triển năng lực toàn diện.
Cuối cùng, cách mạng xã hội chủ nghĩa còn có mục tiêu tăng cường đoàn kết
dân tộc, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Đây vừa là trách nhiệm vừa là
biểu hiện bản chất quốc tế của giai cấp công nhân. Đối với Việt Nam, mục tiêu này
được thể hiện trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa
quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ vững bản sắc và lợi ích dân tộc.
Về nội dung của cách mạng xã hội chủ nghĩa:
Trước hết, trên lĩnh vực chính trị, nội dung cốt lõi của cách mạng xã hội chủ
nghĩa là biến quần chúng nhân dân lao động từ địa vị bị áp bức, bóc lột thành người
làm chủ xã hội, làm chủ nhà nước. Điều này được thực hiện bằng lao động sản xuất,
bằng đấu tranh xóa bỏ những tàn dư của xã hội cũ, đồng thời xây dựng một nhà
nước mới thực sự của dân, do dân và vì dân. Thực tiễn Việt Nam sau Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 là minh chứng sinh động khi lần đầu tiên trong lịch sử dân
tộc, nhân dân lao động đứng lên giành chính quyền, thành lập Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, khẳng định quyền làm chủ chính trị của nhân dân.
Tiếp theo, trong lĩnh vực kinh tế, cách mạng xã hội chủ nghĩa mang tính chất
kinh tế sâu sắc, khác với các cuộc cách mạng trước chỉ dừng lại ở thay thế quyền lực
chính trị giữa các giai cấp thống trị. Giành được chính quyền mới là bước đầu;
nhiệm vụ quyết định là cải biến quan hệ sản xuất, thay thế chế độ chiếm hữu tư nhân 12
tư bản chủ nghĩa bằng chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới những hình thức phù
hợp. Đồng thời, cách mạng phải phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất
lao động, cải thiện đời sống nhân dân. Thực tiễn ở Việt Nam từ sau công cuộc đổi
mới 1986 cho thấy, sự kết hợp giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đã góp phần nâng cao năng suất,
đưa đất nước từ tình trạng thiếu đói sang nhóm nước có thu nhập trung bình, từng
bước cải thiện đời sống nhân dân.
Trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa, cách mạng xã hội chủ nghĩa có nhiệm vụ
giải phóng con người về mặt tinh thần. Nếu trong các xã hội cũ, giai cấp bóc lột
chiếm giữ tư liệu sản xuất vật chất và cả công cụ thống trị tinh thần, thì dưới chủ
nghĩa xã hội, nhân dân lao động vừa là chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa, vừa là
người thụ hưởng các giá trị đó. Cách mạng xã hội chủ nghĩa phải kế thừa và phát
triển những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa nhân
loại để xây dựng hệ tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan mới. Ở Việt Nam, các
phong trào xây dựng “đời sống văn hóa mới” ở cơ sở, cùng với chính sách phát triển
giáo dục và đào tạo, chính là minh chứng cụ thể cho nội dung này.
Có thể thấy, cách mạng xã hội chủ nghĩa diễn ra đồng thời trên tất cả các lĩnh
vực và các lĩnh vực đó tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau. Công cuộc cải tạo xã hội
cũ phải gắn liền với xây dựng xã hội mới, trong đó xây dựng là nhiệm vụ trung tâm,
còn cải tạo đóng vai trò phương tiện. Ở Việt Nam, sự kết hợp này thể hiện rõ trong
quá trình vừa xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp, vừa xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa giữ vững ổn định chính trị để phát triển đất nước
theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
2.4. Tính chất, động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Thứ nhất, xét về tính chất, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách
mạng toàn diện, triệt để, mang tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.
Đây không chỉ là sự thay thế một chế độ chính trị cũ bằng một chế độ chính trị mới,
mà còn là sự biến đổi căn bản mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội và con người. Ở Việt Nam, tính chất triệt để thể hiện rõ trong sự
kiện Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – không chỉ lật đổ chế độ thực dân phong
kiến, mà còn mở ra kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, tính chất toàn diện được thể hiện ở
yêu cầu vừa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa giữ vững
bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc. Bên cạnh đó, tính chất xã hội chủ nghĩa còn được biểu hiện ở mục
tiêu vì con người, lấy nhân dân làm trung tâm. Nếu như trong xã hội tư bản, lợi ích
của giai cấp tư sản chi phối sự phát triển, thì trong xã hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích
chung của nhân dân lao động giữ vai trò quyết định. Ở Việt Nam, đường lối “lấy
dân làm gốc” luôn xuyên suốt, được cụ thể hóa trong việc chăm lo phát triển y tế,
giáo dục, phúc lợi xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới… nhằm
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đây là minh chứng sinh động
cho tính chất nhân dân rộng rãi của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, về động lực, cách mạng xã hội chủ nghĩa lấy liên minh công – nông
– trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong đó, giai cấp
công nhân giữ vai trò lãnh đạo; nông dân là lực lượng đông đảo, trực tiếp tham gia
sản xuất và bảo vệ thành quả cách mạng; trí thức góp phần cung cấp tri thức, khoa
học – công nghệ để thúc đẩy sự phát triển. Ở Việt Nam hiện nay, trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số, động lực không chỉ đến từ giai cấp
công nhân và nông dân mà còn được mở rộng ra toàn thể nhân dân, đội ngũ doanh
nhân, Việt kiều, thế hệ trẻ với tinh thần khởi nghiệp, sáng tạo. Động lực quan trọng
và bền vững của cách mạng xã hội chủ nghĩa còn là sức mạnh tổng hợp của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Thực tiễn Việt Nam cho thấy,
từ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đến xây dựng đất nước sau hòa bình, đoàn
kết dân tộc luôn là nhân tố quyết định. Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế
sâu rộng, sức mạnh thời đại – đặc biệt là thành tựu khoa học – công nghệ, trí tuệ 14
nhân loại – kết hợp với nội lực dân tộc đang tạo nên động lực mạnh mẽ thúc đẩy
Việt Nam phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa.
2.5. Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Cách mạng xã hội chủ nghĩa muốn nổ ra và giành thắng lợi phải có điều kiện
khách quan. Trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, sự phát triển của lực lượng sản
xuất, đặc biệt là sự hình thành những trung tâm công nghiệp, đô thị lớn, đã tạo ra đội
ngũ công nhân đông đảo về số lượng và ngày càng nâng cao về chất lượng. Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển ấy, mâu thuẫn cơ bản giữa giai cấp tư sản và giai cấp
công nhân cũng ngày càng gay gắt. Giai cấp tư sản, để đạt được lợi nhuận tối đa,
buộc công nhân lao động trong điều kiện khắc nghiệt, bóc lột giá trị thặng dư triệt
để. Điều này làm cho giai cấp công nhân sớm nhận thức được vị thế bị áp bức của
mình, từ đó nảy sinh nhu cầu đấu tranh giải phóng. Ở Việt Nam, sự xuất hiện của
các đô thị, khu công nghiệp dưới thời Pháp thuộc, đặc biệt là Hà Nội, Hải Phòng,
Nam Định, Sài Gòn – Chợ Lớn, đã hình thành đội ngũ công nhân công nghiệp – một
lực lượng xã hội mới, trở thành cơ sở hiện thực cho phong trào đấu tranh cách mạng.
Bên cạnh đó, điều kiện khách quan còn được thể hiện ở sự xung đột lợi ích
giữa các nước tư bản, đế quốc trong quá trình mở rộng thị trường, xâm chiếm thuộc
địa. Chính sự cạnh tranh khốc liệt này đã dẫn đến các cuộc chiến tranh, gây nên tình
trạng áp bức, bóc lột nặng nề đối với các dân tộc thuộc địa. Ở Việt Nam, thực dân
Pháp đã khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897–1914) và lần thứ hai (1919–1929),
làm cho mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp trở nên gay
gắt. Đây chính là cơ sở khách quan quan trọng thúc đẩy cách mạng Việt Nam đi
theo con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ngày nay, trong bối
cảnh toàn cầu hóa, mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất
và chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa vẫn tồn tại, tạo nên tiền đề hiện thực
cho cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nhiều quốc gia.
Tuy nhiên, chỉ có điều kiện khách quan thôi thì chưa đủ, cách mạng xã hội
chủ nghĩa muốn nổ ra và giành thắng lợi còn cần có điều kiện chủ quan. Nhân tố có
ý nghĩa quyết định nhất chính là sự trưởng thành của giai cấp công nhân, đặc biệt là
khi giai cấp này có chính đảng tiên phong lãnh đạo. Giai cấp công nhân, do không
sở hữu tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho giai cấp tư sản, từ đó mang
trong mình lợi ích căn bản đối lập với giai cấp tư sản. Nhưng để thực hiện được sứ
mệnh lịch sử – giải phóng giai cấp mình và giải phóng toàn xã hội – giai cấp công
nhân phải có sự giác ngộ, nhận thức được rằng con đường duy nhất để thoát khỏi
tình trạng áp bức là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản không
chỉ tập hợp, tổ chức giai cấp công nhân mà còn xây dựng khối liên minh công –
nông – trí thức và tập hợp các tầng lớp lao động khác vào phong trào cách mạng. Ở
Việt Nam, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 1930 chính là bước ngoặt lịch sử,
kết hợp được điều kiện khách quan (mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc gay gắt)
với điều kiện chủ quan (sự lãnh đạo của một chính đảng cách mạng).
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, điều kiện khách quan và chủ quan của
cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiếp tục phát triển. Cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ tư, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tạo ra những cơ hội vật chất, khoa học –
công nghệ mới cho sự phát triển xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, sự kiên định vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự trưởng thành của giai cấp công nhân và
khối đại đoàn kết toàn dân tộc chính là nhân tố chủ quan quyết định để bảo đảm cho
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đi đúng hướng, vượt qua những thách thức
và tiếp tục giành thắng lợi.
2.6. Tiến trình của cách mạng xã hội chủ nghĩa
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một quá trình lịch sử mang tính tất yếu, diễn
ra liên tục qua hai giai đoạn cơ bản:
Thứ nhất, giai đoạn giành chính quyền nhà nước.
Đây là bước khởi đầu và là nhiệm vụ trực tiếp của cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Như V.I. Lênin đã khẳng định, giành chính quyền là vấn đề trung tâm, quyết 16
định thành bại của mọi cuộc cách mạng. Để giành được chính quyền, giai cấp công
nhân và nhân dân lao động phải đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản, xây
dựng chính quyền mới của mình. Muốn vậy, phải có tình thế cách mạng – tức là khi
giai cấp thống trị không thể cai trị như cũ, còn quần chúng nhân dân thì không muốn
sống như trước, và lực lượng lãnh đạo cách mạng đủ năng lực để phát động đấu
tranh. Trong điều kiện đó, thời cơ cách mạng xuất hiện, khi giai cấp thống trị rơi vào
khủng hoảng nghiêm trọng, nội bộ phân hóa, còn phong trào đấu tranh quần chúng
phát triển đến cao trào.
Trong thực tiễn, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là minh chứng điển
hình cho giai đoạn này. Khi nước Nga hoang tàn vì chiến tranh, triều đại Nga hoàng
và Chính phủ lâm thời tư sản lâm vào khủng hoảng, Đảng Bônsêvích dưới sự lãnh
đạo của Lênin đã kịp thời phát động khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền về tay
giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Ở Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám năm
1945 cũng là ví dụ điển hình, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, toàn dân vùng
lên tổng khởi nghĩa, giành chính quyền, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
Con đường giành chính quyền có thể bằng bạo lực cách mạng – khởi nghĩa vũ
trang kết hợp đấu tranh chính trị quần chúng – hoặc trong điều kiện đặc biệt, bằng
đấu tranh chính trị hòa bình. Tuy nhiên, lịch sử đến nay cho thấy hầu hết các cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công đều phải sử dụng bạo lực cách mạng, bởi
giai cấp tư sản thường dùng bạo lực phản cách mạng để đàn áp phong trào đấu tranh.
Thứ hai, giai đoạn xây dựng và phát triển xã hội mới.
Khi chính quyền đã về tay nhân dân, nhiệm vụ trung tâm của giai cấp công
nhân và đảng tiên phong là sử dụng chính quyền ấy để cải tạo xã hội cũ và xây dựng
xã hội mới. Nội dung bao gồm cải tạo quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, thiết lập
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đồng thời xây dựng nền kinh tế mới, văn hóa
mới, con người mới và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Quá trình này không chỉ
là xóa bỏ những yếu tố lỗi thời, phản tiến bộ, mà còn là kế thừa, phát huy các giá trị
truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại.
Trong thực tiễn, Liên Xô sau năm 1917 đã tiến hành công cuộc cải tạo xã hội
sâu rộng: quốc hữu hóa các nhà máy, thực hiện kế hoạch hóa kinh tế, xóa bỏ chế độ
người bóc lột người, đồng thời phát triển mạnh mẽ giáo dục, y tế, khoa học – kỹ
thuật, đưa Liên Xô từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành cường quốc công
nghiệp. Tại Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, chính quyền non
trẻ đã vừa phải chống thù trong giặc ngoài, vừa tiến hành cải cách ruộng đất, phát
động phong trào bình dân học vụ, từng bước cải tạo xã hội cũ và đặt nền móng cho
sự phát triển xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986, cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: vừa xây dựng kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa giữ vững định hướng chính trị xã hội
chủ nghĩa, vừa mở rộng hội nhập quốc tế.
2.7. Vận dụng của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hiện nay
Trong bối cảnh hiện nay, vận dụng cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
vừa thể hiện tính kế thừa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, vừa
đòi hỏi sự sáng tạo, linh hoạt để phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Đây
không chỉ là quá trình hiện thực hóa mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,
mà còn là động lực phát triển quốc gia trong thời kỳ hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0.
Về kinh tế, cách mạng xã hội chủ nghĩa được vận dụng thông qua mô hình
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là sự sáng tạo của Việt Nam,
kết hợp giữa quy luật khách quan của kinh tế thị trường với vai trò định hướng và
quản lý của Nhà nước. Thực tiễn cho thấy, nhờ đổi mới từ năm 1986, GDP bình
quân đầu người của Việt Nam tăng mạnh, từ mức dưới 100 USD lên 4.700 USD vào
năm 2024 - theo Tổng cục Thống kê [4]. Sự phát triển của các tập đoàn tư nhân lớn
như Vingroup, FPT hay Thaco là minh chứng rõ nét cho việc phát huy động lực của 18
nhiều thành phần kinh tế, đồng thời vẫn giữ vai trò điều tiết của Nhà nước nhằm
đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội.
Về chính trị, vận dụng cách mạng xã hội chủ nghĩa thể hiện ở việc xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này không chỉ dừng lại ở lý
thuyết, mà còn được minh chứng qua các chương trình cải cách hành chính, tinh gọn
bộ máy và đấu tranh phòng chống tham nhũng. Ví dụ, chiến dịch “đốt lò” đã xử lý
nhiều cán bộ cấp cao vi phạm, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh
đạo của Đảng. Chỉ tính trong giai đoạn 2012-2022, đã có hơn 2.700 tổ chức Đảng,
gần 168.000 đảng viên bị thi hành kỷ luật, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng [6].
Về văn hóa – xã hội, vận dụng cách mạng xã hội chủ nghĩa đặt con người làm
trung tâm của phát triển. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong giáo dục và y tế, thể
hiện qua chương trình phổ cập giáo dục tiểu học, hay hệ thống bảo hiểm y tế bao
phủ hơn 94,2% dân số - tức 95,52 triệu người tính đến ngày 31/12/2024 [3]. Đặc
biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 giúp
người dân tiết kiệm thời gian, chi phí, đồng thời nâng cao tính minh bạch trong quản
lý nhà nước. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc lấy lợi ích nhân dân làm trung tâm của mọi chính sách.
Về quốc phòng – an ninh và đối ngoại, việc vận dụng thông qua quan điểm
giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia song song với hội nhập quốc tế sâu rộng. Việt
Nam hiện nay duy trì chính sách quốc phòng “bốn không”, vừa bảo vệ toàn vẹn lãnh
thổ, vừa tăng cường hợp tác quốc tế. Minh chứng là việc Việt Nam đảm nhiệm
thành công vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng
Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020–2021, khẳng định vị thế quốc tế ngày càng cao.
Như vậy, vận dụng cách mạng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hiện nay
không phải là sự sao chép máy móc lý luận, mà là quá trình kết hợp giữa kiên định