GIÁO DỤC HỌC 1
Câu 1: Các chức năng hội của giáo dục
Chức năng xã hội của giáo dục: Chức năng hội của giáo dục là những tác động tích cực
của giáo dục đến các mặt hay linh vực xã hội và tạo ra sự phát triển cho xã hội. Ở mọi thời
đại, giáo dục thực hiện 3 chức năng bản: chức năng kinh tế- sản xuất, chức năng chính
trị- xã hôi, chức năng tư tưởng-văn hóa.
a)
Chức năng kinh tế- sản xuất:
- Chức năng này khẳng định vai trò của giáo dục đối với lĩnh vực kinh tế
sản xuất của xã hội
+ Kinh tế - sản xuất điều kiện không thể thiếu, tính quyết định đến sự tồn tại, phát
triển của xã hội
+ Kinh tế - sản xuất tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển hội của một quốc gia
-Các nguồn lực để phát triển Kinh tế - sản xuất:
+ Nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng cao
+ Công nghệ hiện đại (máy móc, thuật, thông tin)
+ Thị trường rộng mở, ổn định
+ Nguồn vốn đủ mạnh
+ Tài nguyên phong phú (thiên nhiên, văn hóa)
-Giáo dục tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các nguồn lực kinh tế- sản xuất:
+ Thông qua các quá trình giáo dục dạy học, bằng nhiều hình thức khác nhau, giáo dục
trực tiếp đào tạo ra đội ngũ người lao động đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có trình độ
cao, một mặt để thay thế cho những lực lượng lao động đã mất hay hết tuổi lao động; mặt
khác, để bổ sung, nâng cao đáp ứng nguồn nhân lực cho yêu cầu mở rộng phát triển
sản xuất
+ Giáo dục góp phần làm thay đổi nhu cầu thị hiếu tiêu dùng của con người, làm tăng sức
mua tiêu thụ sản phẩm hội. Đặc biệt với sự gia tăng nhu cầu học tập, khả năng đầu
con em học tập do thu nhập ngày càng cao, và chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn, tạo
động lực thúc đẩy nền giáo dục phát triển ngày càng rộng mở, đa dạng hoá, hiện đại hoá.
+ Giáo dục cũng là một phương thức trực tiếp làm phát triển khoa học - công nghệ vì nó trực
tiếp đào tạo ra những chủ thể của khoa học công nghệ, trực tiếp tham gia vào quá trình
sáng tạo, chuyển giao, tiếp nhận ứng dụng khoa học - công nghệ. Nhgiáo dục làm
cho khoa học - công nghệ trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, trở thành yếu tố mang
tính quyết định đến sức sản xuất và sức cạnh tranh cho các quốc gia hay các tập đoàn kinh tế
+ Ngoài ra, giáo dục còn gián tiếp tác động tới làm phát triển các nguồn lực khác trên
những phương diện nào đó. Chẳng hạn, việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn, việc tìm
kiếm, khai thác phát triển thị trường, việc khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng
phát triển bền vững...
=> KẾT LUẬN: Trong toàn bộ sự phát triển của xã hội, thì xã hội nào cũng dựa vào giáo
dục, ưu tiên và đầu tư cho giáo dục, coi giáo dục là quốc sách đứng đầu
*
Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam:
Chính phủ đang đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng để đáp ứng nhu cầu
lao động chất lượng cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ công nghệ cao.
Các trường đại học, cao đẳng liên kết với doanh nghiệp để đào tạo theo nhu
cầu thị trường, như các chương trình "đào tạo theo đơn đặt hàng".
Nhiều địa phương phát triển mô hình giáo dục gắn với sản xuất nông nghiệp công
nghệ cao, phát triển kinh tế địa phương.
Các trung tâm giáo dục thường xuyên, đào tạo lại người lao động giúp thích ứng
với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và yêu cầu chuyển đổi số.
b)
Chức năng chính trị - hội:
Sự phát triển hội cũng được thể hiện sự ổn định của hệ thống chính trị của mỗi quốc
gia. Các giai cấp hay các Đảng cầm quyền phải tập trung mọi nỗ lực sử dụng mọi công
cụ cần thiết để thiết lập và củng cố hệ thống chính trị theo mục tiêu của mình, củng cố địa
vị chính trị của họ trong xã hội nhằm giữ vững địa vị pháp lý.
-Vai trò của giáo dục đối với lĩnh vực chính trị-xã hội
Một là, giáo dục góp phần tác động vào việc củng cố làm ổn định hệ thống chính trị
thông qua việc thực hiện chức năng tuyên truyền, làm cho những đường lối, quan điểm của
Đảng cầm quyền, những chính sách, chiến lược, hệ thống luật pháp của Nhà nước... đến
được với mọi tầng lớp dân chúng, làm thay đổi ý thức, hình thành niềm tin, tưởng, tạo
ra sự đồng tình, ủng hộ.
Đó những điều kiện bản để tạo ra được sức mạnh tinh thần to lớn đảm bảo cho sự
thành công của sự nghiệp cách mạng của giai cấp.
Hai là, giáo dục đào tạo ra những con người trung thành với giai cấp, đáp ứng yêu cầu của
công
cuộc cách mạng, đủ khả năng để thực hiện thành công sự nghiệp chính trị của giai cấp,
góp phần khẳng định, củng cố địa vị chính trị của giai cấp. Như vậy, giáo dục trong bất kỳ
một chế độ hội nào cũng phục vụ đặc lực cho chính trị, không thể một nền giáo dục
nào thoát ly chính trị, phi chính trị.
Ba là, trong lịch sử phát triển hội, giáo dục một yếu tố bản để tạo ra sự phân hóa
hội: phân hóa tầng lớp xã hội, phân hóa giai cấp, thành phần xã hội.
Trong các hội cũ, giáo dục bao giờ cũng phục vụ cho lợi ích của giai cấp cầm quyền, do đó
làm tăng khoảng cách hội giữa các giai cấp hay tầng lớp hội, làm cho sự bất bình đẳng
hội ngày càng trở nên sâu sắc (giàu - nghèo, giai cấp thống trị, giai cấp bị trị, nam giới -
nữ giới, chủng tộc da trắng - da màu...).
Bốn là, giáo dục tác động toàn diện đến các mặt, c lĩnh vực khác nhau của đời sống
hội, làm biến đổi sâu sắc cấu trúc hội, mối quan hệ hội, bình đẳng hội, hành vi
hội, phân công lao động xã hội, về xã hội (cả nhân văn và nhóm).
Năm , giáo dục góp phần rất tích cực để giải quyết các vấn đề của hội từ việc nâng cao
trình độ dân trí, xóa nạn chữ, tuyên truyền nâng cao hiểu biết của mọi tầng lớp
nhân dân về chủ trương, chính sách, pháp luật, phổ biến khoa học, kỹ thuật để góp phần xóa
đói giảm nghèo; phân công lao động hội; góp phần giải quyết các vấn nạn hội như an
toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, bạo lực học đường và bạo
lực gia đình; thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ môi trường; thực
hiện công bằng bình đẳng hội, thực hiện công tác hội, công tác đền ơn đáp
nghĩa, hoạt động nhân đạo…
=> Kết luận: Đầu vào giáo dục chất lượng toàn diện then chốt cho phát
triển chính trị ổn định, hội văn minh, giảm bất bình đẳng nâng cao chất lượng
cuộc sống.
*
Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam:
Giáo dục chính trị tư tưởng trong các nhà trường giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Các chương trình phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, xây dựng “xã hội học tập” góp phần
thu hẹp khoảng cách vùng miền, giảm bất bình đẳng xã hội.
Giáo dục giới tính, kỹ năng sống, phòng chống ma túy, bạo lực học đường... là những
nội dung cụ thể cho thấy vai trò của giáo dục trong giải quyết các vấn đề hội.
Phong trào xây dựng “nông thôn mới” có nhiều tiêu chí liên quan đến giáo dục như
phổ cập tiểu học, trung học cơ sở, nâng cao trình độ dân trí cho người dân.
c)
Chức năng tư tưởng - văn hóa: GD có vai trò to lớn trong việc:
-Một , giáo dục với cách công cụ đấu tranh của giai cấp, trở thành một phương tiện
bản để truyền hệ tưởng của giai cấp, ng cao trình độ dân trí, xây dựng niềm tin
và thế
giới quan giai cấp, cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Một mặt, nó sẽ
định hướng cho những hành động đúng đắn để góp phần xây dựng phát triển đất nước,
tạo nên sự thành công cho sự nghiệp của Đảng, của giai cấp. Mặt khác, giáo dục giúp cho
họ đủ khí, bản lĩnh để chống lại mọi âm mưu, luận điệu nhằm chống phá cách
mạng, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam cản trở con đường xây dựng CNXH, tuyên
truyền phản động trái ngược với tư tưởng của giai cấp.
-Hai là, giáo dục với tư cách là một phương tiện để truyền bá, bảo tồn và phát triển văn hóa,
tác dụng tích cực trong sự nghiệp xây dựng phát triển văn hóa cho mỗi dân tộc.
Thông qua các quá trình giáo dục dạy học hệ thống các giá trị văn hóa của nhân loại
của dân tộc được truyền bá, được tái tạo trong mỗi nhân; Một mặt làm cho văn hóa
được giữ gìn, bảo tồn, phát triển bền vững, bởi vì “nơi bảo tồn văn hoá tốt nhất là trong mỗi
con người”; mặt khác làm cho các cá nhân phát triển để trở thành những những chủ thể văn
hóa, khnăng sáng tạo
ra các giá trị văn hóa mới, góp phần làm phát triển văn hóa
cho mỗi dân tộc cho nhân loại.
-Ba là, giáo dục còn một phương tiện đấu tranh để xóa bỏ những thói tật xấu, những hủ
tục của xã hội; cổ vũ cho những giá trị, những hành vi văn hóa truyền thống tốt đẹp, giàu bản
sắc dân tộc những giá trị ch cực, hiện đại của thế giới, xây dựng những thói quen, lối
sống, nếp sống mới hiện đại, phù hợp. Giáo dục trở thành một phương tiện bản để phát
triển văn hóa, góp phần ch cực cho công cuộc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.
=> Kết luận: Với những chức năng XH trên đây đã cho thấy vai trò to lớn của giáo dục
đối với sự phát triển XH. Bất một XH nào phát triển đều dựa chủ yếu vào giáo dục
bởi những sức mạnh do giáo dục tạo ra. Bởi vậy, muốn phát triển XH thì phải đầu mọi
nguồn lực để phát triển GD. Đầu tư cho GD là đầu tư cho sự phát triển. GD phải trở thành
một quốc sách quan
trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển của mọi quốc gia
*
Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam:
Môn Giáo dục công dân, Ngữ văn, Lịch sử... trong nhà trường giúp học sinh hiểu biết
và hình thành tư tưởng sống tích cực, yêu nước, trung thực, đoàn kết.
Các hoạt động ngoại khóa như văn nghệ, thể thao, “Hành trình về nguồn”, “Tìm hiểu
di sản văn hóa”... góp phần giáo dục truyền thống và kỹ năng sống.
Giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống giúp giới trẻ định hướng đúng đắn lối
sống và nghề nghiệp.
Trong bối cảnh hội nhập, giáo dục giúp thế hệ trẻ tiếp cận tri thức toàn cầu mà vẫn giữ
gìn bản sắc văn hóa Việt Nam.
Câu 2: Vai trò của bẩm sinh di truyền đối với sự hình thành phát triển nhân cách
1.
Khái niệm nhân cách sự phát triển nhân cách
a.
Nhân cách: Nhân cách tổ hợp các phẩm chất năng lực của nhân, tạo nên
bản sắc và giá trị XH của họ. Nhân cách toàn bộ những thuộc tính đặc biệt một con
người
đc trong hệ thống các quan hệ XH, mức độ chiếm lĩnh các gtrị văn hóa vật
chất tỉnh thần. Những thuộc tỉnh đó bao hàm các thuộc tỉnh về trí tuệ, đạo đức, thẩm
mĩ, thể chất...
b.
Sự phát triển nhân cách: sự biến đổi tổng thể các yếu tố tự nhiên, tâm lí, hội
trong con người. Bao gồm cả những biến đổi về lượng những biến đổi về chất trong đó
chủ yếu là biến đổi về chất
2.
Vai trò của yếu tố BS-DT đối với sự hình thành phát triển nhân cách
a. Khái niệm
Di truyền sự tái tạo trẻ những thuộc tính sinh học nhất định, giống với cha mẹ; sự
truyền lại từ cha mẹ đến con những phẩm chất và đặc điểm nhất định đã được ghi lại trong
cấu trúc gen.
Bẩm sinh những thuộc tính sinh học từ khi sinh ra đã có. Trong mối quan hệ
giữa bẩm sinh di truyền thể bao gồm: bẩm sinh do di truyền, bẩm sinh không do
di truyền; di truyền nhưng không bẩm sinh
b. Vai trò của yếu tố BS-DT đối với sự hình thành phát triển nhân ch.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng coi di truyền, bẩm sinh, sinh học giữ vai trò
tiền đề đối với sự phát triển nhân cách, không quyết định trước kiểu nhân cách:
- Di truyền, bẩm sinh, sinh học đảm bảo cho loài người tiếp tục tồn tại (về mặt
sinh học), đồng thời giúp con người thích ứng với những biến đổi của các điều kiện
tồn tại của nó
- Nhân cách chỉ hình thành, phát triển tồn tại trên một thể người sống, trong
đó sự lành lặn về não bộ các quan thần kinh, các giác quan vai trò to lớn đối với sự
phát triển nhân cách. Yếu tố bẩm sinh, sinh học thuận lợi sẽ tiền đề thuận lợi cho sự hình
thành, phát triển nhân cách. Ngược lại, bất cứ sự khiếm khuyết hoặc tổn thương nào về
mặt sinh học, đặc biệt là khiếm khuyết, tổn thương về cơ quan thần kinh và các giác quan đều
tạo ra những bất lợi cho việc hình thành, phát triển nhân cách.
- Phản ánh tâm chức năng của một dạng vật chất tổ chức tiến hóa
cao, đó não bộ của con người. Nhờ khả năng phản ánh này các quá trình tâm
phức tạp, ý thức, nhân cách con người mới thể hình thành phát triển dưới tác
động của hoàn cảnh xung quanh.
- Nhưng di truyền không quyết định trước nhân cách, dù chất người mà không
sống trong hội loài người cũng không thể có nhân cách. Các trường hợp trẻ em ngay từ
nhỏ đã bị lạc và được thú rừng nuôi đã minh chứng điều đó
- chất một số đặc điểm sinh học của con người giúp cho họ thể thành công
trong một hoặc một số hoạt động nhất định. Những chất đó sẵn trong cấu tạo của não,
trong các quan như quan cảm giác, các quan vận động chất chỉ điều
kiện
để sau này thực hiện có kết quả, hình thành năng lực ở một hoặc một số hoạt động nào
đó. Song điều này không nghĩa chất quyết định sẵn nhân cách (cụ thể năng lực).
chất trở thành năng lực hay không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tiễn, hoạt động
học tập và lao động, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm của cá nhân đó
- Các thuộc tính về loại hình thần kinh không định trước những t tính cách sau
này của con người, mặc chúng ảnh hưởng đến sự hình thành phát triển các nét tính
cách.
những nét tính cách khác nhau được hình thành trên cùng một kiểu hình thần kinh, ngược
lại những nét tính cách giống nhau nhưng trên nhiều kiểu hình thần kinh.
- thể con người sbiến đổi qua các giai đoạn lứa tuổi, sự biến đổi này khá phức
tạp cũng ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý, nhân cách của giai đoạn đó. Đó chỉ là ảnh
hưởng của sinh lý đối với tâm lý, nó không quyết định trước nhân cách.
=> Kết luận: di truyền, bẩm sinh có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển
nhân cách, tuy nhiên chỉ yếu tố tiền đề cho sự hình thành phát triển nhân cách,
không quyết định trước nhân cách hay quy định xu hướng phát triển nhân cách của các
nhân, cũng như không giới hạn trình độ phát triển của nhân cách.
c. Quan điểm sai lầm:
Qua sự phân tích trên đã khẳng định yếu tố di truyền, bẩm sinh chỉ tạo tiền đề phát triên nói
chung, phát triển nhân cách nói riêng của con người. Nhận thức điều đó, cần phê phán các
quan điểm sai lầm khi đánh giá về vai trò của yếu tố di truyền, bẩm sinh:
Quan điểm duy tâm trong "Thuyết ưu sinh", thuyết "Định mệnh do di truyền" đã tuyệt
đối hóa vai trò của yếu tố di truyền. Những người theo trường phái này cho rằng, tư chất của
con người được qui định trước hành vi của người đó, qui định trước phẩm chất trình độ
hoạt động trí tuệ của con người. Theo họ, trẻ em sinh ra những yếu tố sinh học thuận lợi
hoặc bất lợi sẽ quyết định mặt "thiên tài" hoặc "đần độn" sau này của trẻ. Phái "Nhi
đồng học" (Lan truyền mạnh phương Tây vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) cho rằng,
nhân cách, đạo đức của con người cũng mang tính di truyền thế cha mẹ thuộc tầng lớp
nào sẽ quyết định vận mệnh của con cái họ như vậy. Theo họ, con cái của những nhà bác
học, những người giàu sẽ trở thành những người thông thái, thành đạt, giàu có, còn con
cái của những người lao động bình thường, những kẻ trộm cắp, rượu chè, cờ bạc... cũng chỉ
là những người như cha mẹ chúng.
Ngược lại với các quan điểm trên, thuyết "Giáo dục vạn năng" lại phủ nhận hoàn toàn vai
trò của di truyền. Những người theo trường phái này cho rằng, yếu tố di truyền không có vai
trò đối với sự phát triển nhân cách. Con người trở thành tốt hay xấu, thiện hay ác, tài giỏi
hay đần độn... hoàn toàn do giáo dục quyết định...
Những quan điểm trên hoặc là đề cao quá mức, hoặc phủ nhận hoàn toàn vai trò của yếu tố di
truyền, bẩm sinh đối với sự hình thành phát triển nhân cách, đều những quan niệm sai
lầm, phản khoa học.
d. Kết luận phạm
- Trong quá trình giáo dục cần chú ý đúng mực đến vai trò tiền đề, điều kiện
của yếu tố di truyền, bẩm sinh đối với sự phát triển nhân cách.
- Cần tổ chức các hoạt động giao tiếp, tạo điều kiện để tìm hiểu, sớm phát hiện
những HS năng khiếu đặc biệt, chất; những mặt hạn chế riêng để cách tác
động phù hợp
. - Phát huy tính tích cực của nhân trong quá trình giáo dục; quan tâm, động viên, khích lệ
học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh khó khăn...
Câu 3. Vai trò của yếu tố môi trường đối với sự hình thành phát triển nhân cách
Khái niệm môi trường:
Môi trường hệ thống các yếu tố, hoàn cảnh bên ngoài tác động đến cuộc sống hoạt
động của con người. Môi trường được chia thành hai loại chính:
-
Môi trường tự nhiên:
Bao gồm các yếu tố địa lý, sinh thái, ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển thể chất và đời sống con người.
-
Môi trường hội:
hệ thống các mối quan hệ hội con người sống trong đó. Cụ th
hơn:
+
phạm vi lớn, môi trường hội đặc trưng chủ yếu bởi tính chất của nhà
nước; bao gồm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, hệ thống các quan hệ sản xuất, quan hệ
hội…
+
phạm vi nhỏ, đó một bộ phận của môi trường lớn, trực tiếp bao quanh trẻ.
Môi trường hội các yếu tố trực tiếp tác động đến cuộc sống nhân, như: gia đình,
nhà trường, nhóm bạn, địa phương, phong tục, điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị tại nơi
sinh sống.
Môi trường nhỏ tác động trực tiếp đến trẻ, trong khi môi trường lớn ảnh hưởng gián tiếp qua
môi trường nhỏ. Tuy nhiên, môi trường nhỏ tính độc lập thay đổi nhanh chóng hơn
môi trường lớn.
Vai trò của yếu tố môi trường đối với sự hình thành phát triển nhân ch:
-
Môi trường hội
: hội đưa ra những yêu cầu khách quan, tạo ra hình nhân
cách mà con người phải phấn đấu, qua đó thúc đẩy sự phát triển hội nhân. Vai
trò đó được thể hiện cụ thể như sau:
+ Một là,
Đặt ra yêu cầu về phẩm chất, năng lực
: Môi trường hội đưa ra những
yêu cầu mẫu hình nhân cách, từ đó thúc đẩy sự phát triển của nhân hội.
+ Hai là,
Cung cấp phương tiện điều kiện
: Môi trường tạo ra các điều kiện thuận
lợi để con người tham gia hoạt động hội, giúp họ học hỏi phát triển nhân cách qua
các giá trị văn hóa và kinh nghiệm xã hội.
+ Ba là,
Khai thác sử dụng năng lực, phẩm chất nhân:
Môi trường giúp khai
thác phát triển những khả năng của con người, tạo hội để họ đóng góp vào sự phát
triển chung của xã hội.
+
Bốn là,
Quan hệ hội đa dạng
: Các mối quan hệ hội như gia đình,
công việc, các giá trị hội đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phát
triển nhân ch.
+
Năm là,
Tác động khác nhau đối với các nhân
: Môi trường ảnh
hưởng khác nhau đối với các nhân nhóm hội, tuỳ thuộc vào vị trí hội, điều
kiện sống, và quan điểm của mỗi người.
+
Sáu là,
Mối quan hệ hai mặt giữa MTXH phát triển nhân cách
: Môi
trường thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nhân cách con người. c yếu tố
tích cực giúp phát triển nhân cách, nhưng môi trường cũng thể mang lại những ảnh
hưởng xấu nếu không được kiểm soát.
-
Môi trường tự nhiên:
+
điều kiện cần thiết cho sự sống phát triển của con người.
Môi trường tự
nhiên cung cấp không khí, nước, thức ăn không gian sống, hỗ trợ sự tồn tạiphát
triển của con người. Một môi trường lành mạnh thúc đẩy pt triển th chất và tinh thần.
+
th ảnh hưởng tốt không tốt đến sức khỏe con người.
Môi trường trong
lành tài nguyên tự nhiên dồi dào cải thiện sức khỏe, giảm căng thẳng tăng
cường hệ miễn dịch. Ngược lại, ô nhiễm thiên tai thể gây bệnh tật ảnh hưởng tâm
lý.
+
Điều kiện tự nhiên khác nhau sở hình thành nên những nét tính ch, năng
lực, phẩm chất con người.
Các điều kiện tự nhiên khác nhau (vùng núi, đồng bằng, ven
biển) tạo ra đặc trưng tính cách phẩm chất riêng. dụ, người vùng núi thường kiên
cường, trong khi người ven biển phóng khoáng; môi trường cũng hình thành các phẩm
chất như tinh thần trách nhiệm, ý thức bảo vệ môi trường, lòng yêu thiên nhiên.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, MTTN chỉ
ảnh hưởng gián tiếp
đến sự hình thành phát triển
những phẩm chất năng lực riêng biệt con người thông qua cuộc sống của họ.
=> Môi trường hiện nay Việt Nam cả yếu tố tích cực tiêu cực, sự phát triển đi đôi với
những mối lo ngại tiềm ẩn. vậy, cần sự giáo dục định hướng từ gia đình hội
để phát triển nhân cách đúng đắn, đặc biệt cho thế hệ trẻ. Bản thân con người cũng thể cải
tạo môi trường, giữ lại những giá trị tốt đẹp loại bỏ cái xấu để tạo ra một môi trường
giáo dục phát triển tốt hơn.
Phê phán quan điểm sai lầm về vai tcủa môi trường đối với sự hình
thành và phát triển nhân cách bao gồm hai quan điểm cực đoan:
-
Tuyệt đối hóa vai trò của môi trường
: Quan điểm này cho rằng môi trường
hoàn toàn quyết định nhân cách con người, tiêu biểu thuyết "Định mệnh do hoàn cảnh"
cho rằng một đứa trẻ,khuyết tật, nếu sống trong môi trường tốt sẽ trở thành người
tốt. (“Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”; “Rau nào sâu ấy”)
-
Phủ nhận vai trò của môi trường
: Quan điểm này lại phủ nhận vai trò của môi
trường, cho rằng môi trường không ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách, tiêu biểu
thuyết "Giáo dục là vạn năng". (“Nhân chi sơ tính bản thiện.”)
=> Cả hai quan điểm này đều sai lầm phản khoa học ta không đề cao quá mức hoặc phủ
nhận hoàn toàn vai trò của i trường. Môi trường không quyết định hoàn toàn sự phát triển
nhân cách, nhưng đóng vai trò rất quan trọng. Con người không thể phát triển nhân cách
đúng nghĩa nếu không môi trường hội để giao lưu tham gia vào các hoạt động
hội.
Kết luận phạm về vai trò của môi trường đối với sự phát triển nhân cách:
-
Trong quá trình giáo dục, gia đình, nhà trường nhân cần khai thác triệt để
những yếu tố tích cực của môi trường, tính tích cực của nhân. Bản thân mỗi nhân
cũng phải tự ý thức.
-
Cần phòng ngừa, hạn chế loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong môi trường,
đặc biệt những yếu tố có hại đến sự phát triển nhân cách của học sinh.
-
Gia đình, nhà trường hội cần phối hợp tạo ra một môi trường trong
sạch lành mạnh để giúp phát triển nhân cách, đặc biệt là cho thế hệ trẻ.
-
Nhà trường gia đình cần giúp thế hệ trẻ nhận thức, trang bị cho thế hệ trẻ
những hiểu biết cần thiết về các tệ nạn hội, tác hại của chúng, đồng thời trang bị bản
lĩnh vững vàng để chống lại các cám dỗ tiêu cực từ môi trường xã hội.
Câu 4: Vai tcủa yếu tố Giáo dục đối với sự hình thành phát triển nhân cách
a)
Khái niệm:
Giáo dục hệ thống những tác động mục đích, kế hoạch, nội dung, phương pháp
được thực hiện trong hệ thống nhà trường nhằm hình thành phát triển nhân cách con
người phù hợp với yêu cầu xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định
b)
Vai trò của GD trong sự hình thành phát triển NC con người:
Trong tất cả các yếu tố tác động đến sự hình thành phát triển nhân cách của con người,
giáo dục được xem yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng mạnh mẽ sâu sắc nhất. Bởi
vì:
-
Thứ nhất,
giáo dục hoạt động mục đích,
chương trình, kế hoạch, nội
dung, phương pháp, phương tiện nhằm
định hướng cho toàn bộ quá trình giáo dục
cho sự hình thành phát triển nhân cách
. Giáo dục được diễn ra theo một quá trình
được tổ chức nghiêm ngặt với mục đích xác định, phản ánh yêu cầu hội kim chỉ
nam cho cả người giáo dục người được giáo dục; định hướng cho các hoạt động giáo
dục, giúp điều chỉnh các phương thức giảng dạy; sở để đánh giá tự đánh giá kết
quả của quá trình giáo dục; khuyến khích sự cố gắng nỗ lực của cả giáo viên học
sinh.
=> Mục đích giáo dục khả năng đi trước sự phát triển nhân cách, thúc đẩy hiện thực phát
triển.
-
Thứ hai,
giáo viên vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục
(
giáo dục được
thực hiện trong các quan chức năng chuyên biệt do đội ngũ GV - những người
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phạm, hiểu biết đặc điểm tâm, sinh lứa tuổi
khả năng tổ chức hoạt động phụ trách
). Trong cuộc sống hàng ngày các môi
trường phạm, nhà giáo dục đóng vai trò là những tấm gương sáng cho học sinh noi theo,
những người hiểu biết, luôn xử phù hợp trong mọinh huống. Nhà giáo dục quan
tâm, động viên giúp đỡ học sinh kịp thời, khơi gợi tạo điều kiện để học sinh phát
huy tiềm năng tối đa. Nhờ đó, quá trình phát triển nhân cách của học sinh đạt hiệu quả. Tác
động của giáo viên đối với học sinh trực tiếp liên tục trong một khoảng thời gian dài.
=> Thông qua giáo viên, giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự hình thành phát triển nhân
ch.
-
Thứ ba,
giáo dục tổ chức, dẫn dắt sự hình thành phát triển nhân cách theo
hình đã được xác định.
Giáo dục tổ chức các hoạt động hội, sinh hoạt tập thể...
Trong đó dưới sự hướng dẫn, tổ chức điều khiển của nhà giáo dục, người được giáo
dục tự giác, tích cực tham gia để hình thành phát triển nhân cách. Trong quá trình hoạt
động, nhà giáo dục cần theo dõi, điều chỉnh kịp thời quản quá trình tham gia của
học sinh sự tự điều chỉnh của người được giáo dục nhằm giúp cho quá trình phát triển
nhân cách của người được giáo dục không bị chệch hướng.
=> Những điều này giúp học sinh phát triển nhân cách theo đúng hướng.
-
Bốn là,
giáo dục còn tác động đến các yếu tố khác như: di truyền, bẩm sinh;
môi trường; hoạt động của nhân nhằm tạo sự thuận lợi cho quá trình phát triển
nhân cách
+
Đối với yếu tố di truyền, bẩm sinh:
giáo dục thể tạo ra những điều kiện thuận lợi để
các yếu tố di truyền được bộc lộ phát triển; phát hiện, những yếu tố di truyền, lợi cho
một số lĩnh vực hoạt động nào đó (thường gọi năng khiếu). Giáo dục còn khả năng,
cải tạo những yếu tố không thuận lợi do di truyền, bẩm sinh đem lại cho con người.
*Lưu ý: giáo dục chỉ thể khắc phục một số yếu tố di truyền xấu trong chừng mực nhất
định.
+ Đối với yếu tố môi trường:
giáo dục thể phát hiện những yếu tố thuận lợi của môi
trường sử dụng chúng phục vụ cho việc giáo dục con người. Giáo dục thể hạn chế,
khắc phục những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường đối với sự phát triển nhân
cách của con người. Đặc biệt giáo dục thể cải tạo chừng mực nhất định những yếu tố
không thuận lợi của môi trường, biến chúng
thành yếu tố thuận lợi đối với sự phát triển nhân cách cũng như ngăn ngừa những ảnh hưởng
xấu của môi trường xã hội đến sự phát triển nhân cách.
*Lưu ý: giáo dục ch th cải tạo chừng mực nhất định những yếu tố không thuận lợi của
môi trường, giáo dục khó thể cải tạo đc những bất lợi thuộc về bản chất của môi trường.
+ Đối với hoạt động nhân:
Giáo dục tổ chức nhiều loại hình hoạt động giao tiếp bổ
ích, lành mạnh nhằm phát huy những phẩm chất năng lực nhân. Đặc biệt công tác
giáo dục luôn xây dựng các mối quan hệ giao tiếp tích cực giữa thầy trò, giữa bạn với
nhau đồng thời tổ chức định hướng cho trẻ tham gia vào các hoạt động chủ đạo từng
giai đoạn lứa tuổi để thúc đẩy sự phát triển nhân cách.
*Lưu ý: Kết quả giáo dục mỗi nhân không đồng nhất còn phụ thuộc vào đặc điểm
riêng của từng người.
=> Kết luận:
Mặc giáo dục đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nhân cách,
nhưng không phải yếu tố duy nhất; đôi khi con người được giáo dục không tiếp nhận
hoặc phản ứng tiêu cực với tác động của nhà giáo dục. Giáo dục không phải yếu tố vạn
năng.
-
Phê phán quan điểm sai lầm:
+ Phủ nhận vai trò của giáo dục: Quan điểm cho rằng giáo dục không ảnh hưởng đến
sự hình thành phát triển nhân cách do bẩm sinh di truyền, hoặc môi trường, hoặc
do cả hai yếu tố trên quyết định.
+ Đề cao tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục: Quan điểm coi giáo dục yếu tố vạn năng,
quyết định chi phối sự hình thành nhân cách cá nhân.
-
Kết luận phạm:
+ Cần đánh giá đúng vai trò cả sự hình thành đối với sự hình thành phát triển nhân cách,
nhận thức rằng nhân cách không phải yếu tố bẩm sinh kết quả của quá trình giáo dục
rèn luyện lâu dài.
+ Cải tạo xây dựng môi trường xã hội theo những mục đích trùng hợp với những
mục đích giáo dục: xây dựng nhà trường như một trung tâm giáo dục của địa phương,
nhiệm vụ thống nhất, phối hợp tất cả các nhân tố của môi trường tác động đến sự
hình thành nhân cách.
+ Giáo dục phải dựa vào những chất vốn hoạt động tích cực của mỗi người trước
tác động bên ngoài: hiểu đặc điểm của người học; xây dựng theo nguyên tắc phát triển,
hướng vào vùng phát triển gần nhất; khiến người học ý thức, chấp nhận yêu cầu của nhà
giáo dục, biến chúng thành nhu cầu của bản thân, tự đề ra mục đích phấn đấu, rèn luyện, tự
thiết kế chương trình, kế hoạch tự học,...
+ Đảm bảo vai trò chủ đạo của nhà giáo trong quá trình giáo dục; thống nhất, phối hợp các
lực lượng giáo dục gia đình, nhà trường, hội. Gia đình, nhà trường hội cần hợp tác
chặt chẽ, phát huy vai tchủ đạo của nhà trường giáo viên để tránh mâu thuẫn trong
việc giáo dục, tạo ra môi trường nhất quán. Nhà trường cung cấp kiến thức kỹ năng
sống, đồng thời rèn luyện đạo đức kỷ luật. Giáo viên không chỉ người truyền đạt kiến
thức còn tấm gương đạo đức, hướng dẫn học sinh phát triển nhân cách một cách tích
cực.
+ Đánh giá đúng vai trò của giáo dục, cải tạo môi trường hội, thống nhất các lực
lượng giáo dục sẽ tạo ra một hệ thống giáo dục toàn diện, giúp nhân phát triển nhân
cách một cách bền vững và tích cực.
Câu 5: Quy luật bản của quá trình dạy học
a.
Khái niệm:
Quá trình dạy học là quá trình hoạt động thống nhất biện chứng giữa hoạt động Dạy của Thầy
hoạt động Học của Trò, trong đó, dưới vai trò chủ đạo (tổ chức, hướng dẫn, điều khiển) của
người dạy, người học chủ động (tự giác, tích cực, tự lực sáng tạo; tự tổ chức, tự điều khiển)
hoạt động học của bản thân hướng tới thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học, từ đó hình thành
phát triển nhân cách toàn diện của người học.
b)
Quy luật bản của quá trình dạy học
Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của gv hoạt động học của Hs:
quy luật cơ bản của QTDH, vì:
+ Quy luật phản ánh mối quan hệ giữa 2 thành tố bản & trung tâm đặc trưng cho tính chất 2
mặt của QTDH: hoạt động giảng dạy của Gv và hoạt động học tập của Hs.
+ Quy luật chi phối, ảnh hưởng tích cực tới các quy luật khác của QTDH
Sự mặt những yếu tố dạy học quy định sự tồn tại, phát triển của QTDH đầu nói tới sự
dạy thì ở đó có sự học.
Trong nhà trường chủ thể của hoạt động dạy người GV. Đây bộ phận người được đào
tạo chuyên biệt, năm vững hệ thống tri thức chuyên ngành và được trang bị một hệ thống kỹ
năng, kỹ xảo thực hành nghề dạy học.
Mỗi đối tượng giảng dạy luôn luôn một thế giới phong phú, đa dạng về sinh học, về tâm lý, về
trình độ nhận thức…. nhờ nắm vững nhu cầu, hứng thú, động những đặc điểm hoạt động
học tập của HS để từ đó có được cách thức, thủ thuật tác động hợp lý
Như vậy, sự chiếm lĩnh đối tượng trong hoạt động dạy của người giáo viên phải được hiểu sự
dẫn dắt, điều chỉnh hoạt động học của người học để họ đạt tới những mức độ phát triển khác
nhau của sự hoàn thiện nhân cách.
Trong QTDH trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phạm trình độ hoạt động hội của người
GV cũng không ngừng được phát triển, cùng với đó, nhân cách của người GV cũng không
ngừng được hoàn thiện. Cùng với sự thay đổi của nhu cầu hội, những yêu cầu đặt ra đối với
người giáo viên cũng thường xuyên biến động, dẫn tới sự cần thiết phải đối mới cả về phương
thức, nội dung và quy định đào tạo ở các trường sư phạm qua từng giai đoạn phát triển lịch sử
Đối tượng hoạt động của người GV nhân cách của một bộ phận người tronghội, chủ
yếu là thế hệ trẻ.
Dưới tác động của hoạt động dạy, bộ mặt nhân cách của HS được hình thành phát triển
định hướng. Một mặt HS tiếp nhận những kinh nghiệm sáng của nhân loại đã được gia công
chọn lọc để trở thành hệ thống tri thức khoa học nằm trong nội dung, chương trình học tập, mặt
khác, họ dần hình thành các phương pháp nhận thức để khả năng tiếp tục tìm kiếm phát
hiện tri thức mới
=> đóng góp vào quá trình duy trì phát triển đời sống hi.
Thông qua hoạt động học, trí tuệ của HS vận độngphát triển không ngừng từ chỗ chưa biết,
chưa ý thức được các nhiệm vụ dạy học đến:
+ Ý thức được nhiệm vụ & mục đích dạy học;
+ Nắm tri thức đến nắm năng, xảo và với mức độ ngày càng cao;
+ Vận dụng những điều đã học vào tình huống quen thuộc rồi đến sự vận dụng linh hoạt vào
những tình huống mới.
Như vậy, trong mối quan hệ với hoạt động dạy, HS đóng 2 vai trò:
+ Khách thể tiếp nhận (tác động từ hoạt động dạy)
+ Chủ thể tích cực, độc lập tự tổ chức, điều khiển hoạt động học của bản thân để chiếm nh
NDDH và phát triển trí tuệ, năng lực của bản thân.
Tóm lại, trong QTDH, thầy với hoạt động giữ vai trò tổ chức, điều chỉnh, chỉ đạo HS
với hoạt động học tập, giữ vai trò chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển quá trình nhận thức của
bản thân nhằm đạt tới mục đích dạy học.
Câu 6 : Động lực của quá trình dạy học? Động lực của quá trình dạy học :
a. Khái nim
Động lực của quá trình dạy học việc phát hiện giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn nảy
sinh trong quá trình dạy học
b. Các loại mâu thuẫn của quá trình dạy học
* Mâu thuẫn bên trong: những mâu thuẫn giữa các thành tố cấu trúc của QTDH hoặc
giữa các yếu tố trong trong thành tố với nhau.
+ Mâu thuẫn giữa các nhân tố cấu trúc của QTDH, dụ: mâu thuẫn giữa mục đích, nhiệm vụ
dạy học đã được nâng
cao với phương pháp, phương tiện trình độ thấp; hoặc giữa nội dung DH đã hiện đại hóa
nhưng phương pháp, hình thức DH còn lạc hậu; Mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ học tập mới
GV đặt ra ngày càng cao với trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS còn hạn chế;
+ Mâu thuẫn trong bản thân của từng nhân tố cấu trúc nên QTDH, dụ: Mâu thuẫn giữa yêu
cầu cao đối với việc
nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo yêu cầu chưa tương ứng về giáo dục v.v… xuất hiện trong
NDDH; Mâu thuẫn giữa trình độ chuyên môn với trình độ về tay nghề phạm của thầy
giáo; .
* Mâu thuẫn bên ngoài: những mâu thuẫn giữa các nhân tố của môi trường kinh tế- xã hội,
khoa học thuật với
những thành tố của QTDH. dụ: Mâu thuẫn giữa sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật với
NDDH còn lạc hậu; Mâu thuẫn giữa sở vật chất, phương tiện kỹ thuật của nhà trường còn
nghèo nàn với yêu cầu cao về dạy học; Mâu thuẫn giữa yêu cầu của nền kinh tế đặt ra ngày
càng cao với nguồn nhân lực với mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện
dạy học chưa đáp ứng;
Mâu thuẫn bản, động lực chủ yếu của quá trình dạy học
Mâu thuẫn bản mâu thuẫn tồn tại suốt từ đầu đến cuối quá trình. Việc giải quyết các
mâu thuẫn khác xét cho cùng để giải quyết mâu thuẫn này. Việc giải quyết mâu thuẫn
bản liên quan trực tiếp và sâu sắc đến sự phát triển của QTDH.
dụ: Trong tiết học Toán, giáo viên đưa ra một bài toán nâng cao yêu cầu phân tích và vận
dụng kiến thức đã học
nhiều bài trước. Học sinh ban đầu cảm thấy ng túng chưa biết cách giải. Tuy nhiên,
chính sự mâu thuẫn giữa năng lực hiện tại của học sinh (chưa giải được bài toán) với yêu cầu
mới của nhiệm vụ học tập (giải được bài toán khó) đã kích thích học sinh phải suy nghĩ, trao
đổi nhóm, tìm tòi kiến thức thử nhiều cách giải khác nhau. Quá trình này thúc đẩy
duy, hình thành kiến thức mới và phát triển năng lực giải quyết vấn đề
Mâu thuẫn chỉ trở thành động lực trong QTDH với những điều kiện sau:
-Học sinh phải ý thức được trình độ phát triển trí tuệ hiện của bản thân, cảm thấy những
khó khăn (vật cản) trong nhận thức điều đó dẫn tới sự xuất hiện nhu cầu vượt cản, giải
quyết những khó khăn này để thực hiện được các nhiệm vụ học tập.
-Mâu thuẫn phải vừa sức với học sinh (học sinh thể giải quyết được mâu thuẫn với sự nỗ lực
cao nhất về thể lực,
kinh nghiệm và trí tuệ). Biện pháp tốt nhất để làm cho mâu thuẫn trở thành động lực của sự
dạy học mâu thuẫn nội dung chứa đựng những khó khăn, đòi hỏi một sự tìm tòi căng
thẳng nhưng vừa sức với tiềm năng nhận thức của học sinh.
-Mâu thuẫn phải được xuất hiện một cách tự nhiên trong sự phát triển của hoạt động dạy học.
do chính logíc của quá trình này tạo ra, bởi thế, các mâu thuẫn phải chứa đựng những khó
khăn về nhận thức mức độ tăng dần để tạo ra những điều kiện tập luyện, thích ứng trong quá
trình giải quyết những nhiệm vụ dạy học.
c)
Kết luận phạm:
-Với cách sinh vn:
+ Cần phải nỗ lực học tập,n luyện, trau dồi năng phạm.
+ Hướng cho bản thân cách tạo ra những mâu thuẫn (động lực) đ thể ứng dụng vào thực
tiễn.
+ Nghiên cứu những mâu thuẫn để tìm cách làm cho mâu thuẫn trở thành động lực.
-Với cách giáo viên tương lai:
+ Giáo viên phải tạo ra được mâu thuẫn: đưa ra những bài tập, yêu cầu, nhiệm vụ học tập
ngày càng cao => học sinh phải cố gắng nghiên cứu, phần tích đtrả lời cho những bài tập
đó.
+ Luôn hỗ trợ, theo dõi, quan sát, khuyến khích, tạo ra những hứng thú cho học sinh bởi vì. nếu
bản thân giáo viên có đưa ra những yêu cầu, nhiệm vụ học tập cao bao nhiêu học sinh không
hứng thú học tập để giải quyết nhiệm vụ học tập đó thì cũng vô ích.
+ Hướng dẫn cho học sinh tự tạo ra mâu thuẫn cho chính bản thân học sinh, đồng thời giáo viên
phải luôn kích thích động viên các em cố gắng.
+ Giáo viên cần phát hiện những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình dạy học.
+ Thường xuyên đổi mới, cải tiến nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
+ Tạo nên các hệ thống, các động lựccác điều kiện thúc đẩy quá trình dạy học không ngừng
vận động phát triển.
Câu 7: Phương pháp thuyết trình
1. Khái niệm: Phương pháp dạy học tổ hợp các cách thức, biện pháp hoạt động của giáo
viên học sinh trong sự phối hợp, thống nhất dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực
hiện những nhiệm vụ giáo dục phù hợp với mục đích giáo dục. ba phương diện cần xét
trong vấn đề dạy học đó là: quan điểm, phương pháp dạy cụ thể, và kĩ thuật dạy.
+ Các phương pháp dạy học cụ thể: các phương pháp như: phương pháp thảo luận, nghiên
cứu, thuyết trình, vấn đáp, học nhóm,...
2. Phương pháp thuyết trình
Khái niệm : phương pháp GV dùng lời nói sinh động để trình bày, thông báo nội dung bài
học tới học sinh. Mục đích chính là để chuyển tải cho HS nội dung bài học giúp HS lĩnh hội tri
thức 1 cách hệ thống, trọn vẹn nhất
Các phương pháp thuyết trình bao gồm:
Giảng thuật: phương pháp giáo viên dùng lời nói để tả, tường thuật, kể lại, đặc điểm của
sự vật hiện tượng, trong đó có chứa nội dung tri thức.
Giảng giải: phương pháp GV dùng các luận cứ, dẫn chứng, sự kiện, số liệu để phân tích,
chứng minh, so sánh, phân
loại làm sáng tỏ các vấn đề, các quy tắc, định lí, định luật, công thức, khái niệm, thuật ngữ...
Giảng diễn: phương pháp GV dùng lời nói để trình bày một vấn đề tính trừu tượng cao,
hệ thống, trọn vẹn,hoàn chỉnh của nội dung dạy học tương đối phức tạp và khái quát.
c)
Đánh giá phương pháp thuyết trình Ưu điểm:
+Việc sử dụng ngôn ngữ diễn đạt rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, phù hợp với logic nhận thức và trình
độ người nghe, phương pháp thuyết
trình đã chuyển tải đến người học một khối lượng lớn thông tin cần thiết cho số lượng lớn học
sinh.
+Khi thuyết trình, GV thể thường xuyên thay đổi các biện pháp, các thủ thuật thuyết trình
và hiệu chỉnh lại nội dung tài liệu cho phù hợp với trình độ hiện tại của người nghe, cung cấp
cho người học những thông tin cập nhật, chưa kịp trình bày trong các tài liệu giáo khoa.
+ Các bài thuyết trình không chỉ cung cấp thông tin về đối tượng học tập cho người học còn
cung cấp cho phương pháp nhận thức, phương pháp tổng hợp, cấu trúc tài liệu học tập; giúp
người học phương pháp nhận thức.
+ Thái độ và sự nhiệt tình của GV khi thuyết trình có vai trò quan trọng trong việc tích cực hóa
hoạt động học tập và nghiên cứu
của người học, truyền cảm hứng sáng tạo cho họ. Tạo điều kiện thuận lợi cho GV tác động
mạnh mẽ tới tưởng, tình cảm của người học qua giọng nói và phong cách sư phạm của mình
Nhược điểm
+ Thu được rất ít thông tin phản hồi từ phía người học, do dạy học chủ yếu truyền thụ một
chiều, không kiểm tra, thu thông tin ngược về mức độ lĩnh hội của HS.
+ Mức độ lưu giữ thông tin của người học rất ít do trí nhớ ngắn hạn tnhớ làm việc của
người nghe thường xuyên bi ƒquá tải.
Chủ yếu sử dụng cơ chế ghi nhớ và tư duy tái tạo của người học.
+ Tính cá thể hóa trong dạy học thấp, do giảng viên phải dùng một số biện pháp chung cho cả
nhóm, lớp học sinh, không cho phép GV chú ý đến đầy đủ các trình độ nhận thức. + Ít sự
tham gia tích cực của người học. Mức độ khai thác liên kết giữa kinh nghiệm đã của
người học với nội dung mới thấp. Người học gần như thụ động tiếp nhận thông tin từ phía
người thuyết trình, ít có hội thể hiện và áp dụng các ý tưởng của mình đối với tài liệu học
tập, do đó, bài học dễ dẫn đến đơn điệu, nhàm chán.
+Thời gian thu hút duy trì sự chú ý của người học vào nội dung bài học thấp hơn các phương
pháp khác. HS dễ bi ƒthụ động, mệt mỏi (vì phải nghe là chủ yếu và nghe trong thời gian dài)
Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng PPDH thuyết trình
- Chuẩn bị bài thuyết trình: Để bài thuyết trình hiệu quả tốt, bước chuẩn bị không
kém phần quan trọng. GV cần xác định mục tiêu, nội dung cấu trúc bài giảng. Hiểu
nội dung cần truyền đạt. Lập đ cương cho bài giảng. Xác định các bước truyền đạt tài liệu
cho phù hợp với người nghe
- Thực hiện bài thuyết trình:
+ Thu hút và duy trì sự chú ý của học sinh, gây được hứng thú học tập, hướng dẫn duy học
sinh: GV phải thái độ tích cực, nhiệt tình và say sưa đối với nội dung bài dạy,
+ Trong khi giảng bài, GVphải phán đoán các phản ứng của học sinh, GV phải luôn luôn sẵn
sàng thể thay đổi thủ thuật trình bày khi cần
Đặt vấn đề: Đây là bước rất quan trọng, trong đó GV phải “Tạo được tâm thế học tập” cho HS
Giải quyết vấn đề (nội dung chính của bài thuyết trình): Thông thường GV trình bày vấn đề
theo các con đường logic của sự nhận thức
- Sử dụng ngôn từ và phi ngôn từ trong thuyết trình
+ Lời nói của GV phải có sức thuyết phục, rõ ràng, chính xác, sinh động, hấp dẫn người nghe.
+ Cường độ của giọng nói phải lớn hơn mức nghe cần thiết để mọi người trong lớp đều nghe rõ.
+ Tốc độ nói cũng ảnh hưởng đến sự tiếp thu của học sinh
+ Điệu bộ, phong cách, cử chỉ của GV: Yếu tố khách quan của phương pháp thuyết trình nội
dung bài giảng, yếu tố chủ quan là phong cách diễn đạt của GV.
- Hướng dẫn học sinh ghi chép: Cách ghi chép vào tập tài liệu phát tay bằng
cách kết hợp bảng phấn, học sinh nên ghi theo cách hiểu, tóm tắt, không ghi nguyên văn
trừ định nghĩa, công thức.
Câu 8: Phương pháp vấn đáp
Khái niệm
: Phương pháp vấn đáp phương pháp GV đặt ra một hệ thống câu hỏi cho
HS trả lời, đồng thời thể trao đổi qua lại dưới sự định hướng của thầy nhằm làm sáng
tỏ những vấn đề mới, rút ra những kết luận cần thiết từ những tài liệu đã học cũng như từ
những kinh ghiệm đã tích lũy được trong hoạt động thực tế, nhờ đó HS được củng cố,
mở rộng đào sâu những tri thức đã học, kiểm tra được việc nắm vững tri thức của HS,
thể nói trong phương pháp này, hệ thống hỏi - đáp nguồn kiến thức chủ yếu cung
cấp cho HS trong giờ học.
- 3 loại vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa vấn đáp tìm i.
+
Vấn đáp tái hiện
: Được thực hiện khi những câu hỏi do giáo viên đặt ra chỉ yêu cầu học
sinh nhắc lại kiến thức.
+
Vấn đáp giải thích- minh họa
được thực hiện khi những câu hỏi giáo viên đặt ra kèm
theo các VD minh họa (bằng lời hay bằng hình ảnh trực quan) giúp học sinh dễ hiểu, dễ ghi
nhớ.
+
Vấn đáp tìm tòi -phát hiện
loại vấn đáp giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến giữa
thầy với cả lớp, giữa trò với trò.
Ưu nhược điểm của phương pháp vấn đáp
-
Ưu điểm:
Vấn đáp ý nghĩa kích thích HS tích cực, độc lập duy tìm ra câu trả
lời chính c, đầy đủ. Lôi cuốn HS tham gia vào bài học, làm cho không khí lớp học sôi
nổi. Kích thích hứng thú học tập lòng tự tin của HS. Rèn luyện cho HS năng lực diễn
đạt sự hiểu biết của nh hiểu ý diễn đạt của người khác. GV thu nhận tức thời nhiều
thông tin phản hồi từ phía người học, duy trì sự chú ý của HS; Giúp GV thu nhận liên hệ
ngược GV điều kiện quan tâm đến từng HS. Kiểm soát hành vi của HS quản
lớp học.
-
Nhược điểm:
Nếu hệ thống câu hỏi không tốt dẫn đến tình trạng đặt câu hỏi
không mục đích, HS dễ dàng trả lời hoặc không. Nếu câu hỏi đặt ra chỉ đòi hỏi nhớ
lại tri thức một cách máy móc sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển duy logic, sáng tạo của
HS. Khó kiểm soát quá trình học tập của HS (có nhiều tình huống bất ngờ, thậm chí câu
hỏi từ phía người học, vậy giờ học dễ lệch hướng do câu hỏi vụn vặt, không nhất quán).
Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp, biến vấn đáp thành cuộc đối thoại
giữa giáo viên một vài HS, không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung. d)
Yêu cầu sử dụng phương pháp
-
Xác định mục đích,
yêu cầu, nội dung vấn đề để đặt câu hỏi chính, phụ; Đặt
câu hỏi với nội dung chính xác, ràng, dể hiểu sát với trình độ HS; Đặt câu hỏi tác
dụng kích thích tính tích cực, độc lập tư duy, phát triển hứng thú nhận thức của HS.
-
Nội dung câu hỏi
: chính xác, ràng, t với mục đích, yêu cầu của bài học
-
Tính chất câu hỏi
: mang tính vừa sức, phù hợp với từng đối tượng HS
-
Cách đặt câu hỏi:
Đặt câu hỏi cho toàn lớp rồi mới chỉ định HS trả lời. thể yêu
cầu những HS khác nhận xét, bổ sung câu tr lời nhằm thu hút sự chú ý lắng nghe câu trả
lời của HS trong toàn lớp.
-
Thái độ GV trong vấn đáp:
Lắng nghe HS trả lời một cách tôn trọng. thái độ bình
tĩnh khi HS trả lời sai hoặc thiếu chính xác, tránh thái độ nôn nóng, vội vàng cắt ngang khi
không thật cần thiết.
-
Chú ý uốn nắn
, bổ sung câu trả lời của HS giúp HS hệ thống hoá lại những
tri thức đã thu được trong quá trình vấn đáp.
Câu 9: Đặc điểm của quá trình giáo dục
a. Khái niệm
Quá trình giáo dục là quá trình tác động mục đích, tổ chức của nhà giáo dục đối
tượng giáo dục nhằm hình đối tượng giáo dục ý thức, thái độ, tình cảm, hành vi, thói
quen phù hợp với các chuẩn mực chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ văn hoá, làm
phát triển nhân cách học sinh theo mục đích của nhà trường và xã hội.
b.
Giáo dục một quá trình tính phức tạp:
Thứ nhất, Tính phức tạp trước hết thể hiện đối tượng giáo dục. Đối tượng của quá trình
giáo dục nhân cách người được giáo dục, yếu tố mang tính phong phú đa dạng
không dễ dàng trực tiếp quan sát, đo lường, đánh giá được. Quá trình giáo dục tạo ra s
chuyển biến trong tâm hồn học sinh cũng không thể đo lường ngay được, khó định tính
một cách ràng.
Thứ hai, tính phức tạp thể hiện chỗ đối tượng giáo dục chịu những tác động phức hợp từ
phía nhà trường, gia đình, hội. Trong nhà trường, những tác động đó thể của nhà
giáo dục, của tập thể lớp, của bạn bè, của nội quy nhà trường,…Trong gia đình, đó thể
là những tác động của người lớn, của anh chị em, của nền nếp, gia phong,…Trong xã hội, có
những tác động từ phía phương tiện thông tin đại chúng, của người lớn, của những hiện
tượng xảy ra trong cuộc sống hành ngày mà các em được chứng kiến.
Thứ ba, kết quả của quá trình giáo dục không nhìn thấy ngay được, không đánh giá ngay
được. Kết quả của quá trình giáo dục sự phát triển nhân cách của đối tượng giáo dục,
những cái rất khó để định tính, định lượng một cách hoàn toàn chính xác. Kết quả giáo
dục cần thời gian, điều kiện, hoàn cảnh mới bộc lộ ra ngoài.
vậy, trong quá trình giáo dục, cần lưu ý:
+ Xem xét những tác động thường gặp có thể ảnh hưởng đến học sinh của mình, từ đó xác định
những tác động tích cực và tiêu cực.
+ Khai thác tận dụng những tác động tích cực từ phía môi trường
+ Phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm tạo ra môi trường giáo dục thống nhất, lành mạnh,
góp phần loại trừ những tác động tiê cực.
+ Rèn luyện cho người học bản nh để chống lại những cám dỗ tiêu cực từ phía môi trường.
b.
Giáo dục một quá trình tính lâu i:
Trong quá trình giáo dục, muốn đạt được kết quả giáo dục như mong muốn cần phải trải qua
một thời gian dài nhất định. Kết quả mong muốn của quá trình giáo dục thể hiện qua việc học
sinh đồng thời hình thành được cả ý thức, thái độ, tình cảm, niềm tin và hành vi, thói quen liên
quan đến các mặt đạo đức, thể chất, thẩm mỹ,…
Trong quá trình giáo dục, tính lâu dài thường gắn liền với nh liên tục. Nếu trong một lúc hay
một giai đoạn nào đó người được giáo dục thiếu ý chí, nghị lực thì hiệu quả của quá trình giáo
dục sẽ mất đi, thậm chí học sinh thể tiêm nhiễm những thói hư, tật xấu, dẫn đến thoái hoá,
biến chất.
vậy, trong quá trình giáo dục cần:
- Giáo dục cho học sinh những chuẩn mực hành vi đã được quy định phải theo một quá
trình lâu dài, thường xuyên, liên tục, không được nóng vội cũng không được chậm chạp.
- Khởi dậy ý thức và năng lực tự đấu tranh bản thân một cách tự giác, ch cực, độc lập;
hình thành các em “sức đề kháng” trước những tác động xấu; hình thành các em năng lực,
ý thức và sự yêu mến cái hay, cái tốt.
- Giúp cho các em những hành vi, thói quen xấu tự giác, tích cực độc lập khắc
phục khó khăn, vươn lên vững chắc, không áp đặt, nóng vội đối với quá trình sửa chữa các
em.
- Xây dựng và thực hiện một cách có kế hoạch, tổ chức, phương pháp, hệ thống
những hoạt động giáo dục được thống nhất trong một quá trình giáo dục dài hạn ngắn hạn
phù hợp với mục đích và nhiệm giáo dục.
- Tạo sự thống nhất trong môi trường giáo dục để học sinh được rèn luyện ở mọi lúc, mọi
nơi, khép kín các tác động cả về không gian lẫn thời gian
c.
Quá trình giáo dục tính biệt hóa cao
Quá trình giáo dục được thực hiện trong cuộc sống, hoạt động và giao lưu của mỗi cá nhân học
sinh. Để đạt được hiệu quả, tác động giáo dục ngoài việc đảm bảo mang tính khái quát
chung cần đảm bảo chú ý đến những điểm riêng biệt, cụ thể của mỗi đối tượng giáo dục.
Tính cụ thể của quá trình giáo dục được thể hiện chỗ: Tác động giáo dục cần phù hợp với
từng cá nhân học sinh với những tình huống giáo dục cụ thể, riêng biệt.
Mỗi học sinh đều một nhân tính độc lập tương đối về trình độ giáo dục, về kinh
nghiệm sống,…nên quá trình tác động giáo dục cần phải phù hợp với cái riêng, cái cụ thể đó.
Kết quả giáo dục cũng mang tính cụ thể đối với từng đối tượng giáo dục, đối với từng mặt,
từng yêu cầu giáo dục của từng quá trình giáo dục cụ thể.
Trong quá trình giáo dục cần:
- Quan tâm, tính đến những đặc điểm riêng của đối tượng giáo dục: đặc điểm tâm lứa
tuổi, điều kiện hoàn cảnh sống,…để nhà giáo dục thể nhìn thấy hoặc dự đoán được
nguyên nhân của những thái độ, hành vi, thói quen…để cách thức tác động phù hợp.
- Đa dạng hoá các loại nh hoạt động giáo dục để phù hợp với nhịp điệu phát triển
của tất cả học sinh.
- Phát huy vai trò tự giác, chủ động của người được giáo dục.
- Nhà giáo dục cần phải thực sự yêu thương, quan tâm đến từng học sinh để hiểu tường
tận về các em. Có hiểu học sinh thì mới có thể cá biệt hoá tác động đến các em và đạt mục đích
giáo dục
d.
Quá trình giáo dục thống nhất biến chứng với quá trình dạy học
Quá trình giáo dục và quá trình dạy học là hai quá trình bộ phận của của một quá trình giáo dục
tổng thể. vậy, hai quá trình này không tách rời nhau thống nhất biện chứng với nhau.
Sự thống nhất này được thể hiện chỗ: cả hai đều hướng đến hình thành phát triển nhân
cách
toàn vẹn cho người được giáo dục đáp ứng yêu cầu của phát triển của cá nhân và xã hội. Đều
sự tham gia của cả giáo viên học sinh, trong đó vai trò của giáo viên học sinh
như nhau
Tính biện chứng của chúng được thể hiện qua sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn
nhau. Cụ thể
Dạy học một con đường bản để thực hiện quá trình giáo dục: trên sở tiếp thu được hệ
thống tri thức khoa học về tự nhiên, hội, duy hình thành học sinh thế giới
quan khoa học, quan điểm, tư tưởng chính trị, đạo đức, tình cảm, hành vi đúng đắn.
Quá trình dạy phải dẫn đến quá trình giáo dục, một trong những kết quả, mục đích
quan trọng nhất của các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Mục đích cuối cùng của
dạy học nhằm vào giáo dục nhân cach cho học sinh. Kết quả của quá trình thông qua “dạy
chữ” để “dạy người”.
Kết quả của quá trình giáo dục ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình dạy học. Đồng thời, việc tổ
chức các hoạt động giáo dục nhằm củng cố, khắc sâu, mở rộng kết quả dạy học nhiều môn
học. Mặc tồn tại độc lập tương đối với nhau nhưng hai quá trình dạy học giáo dục
thống nhất với nhau, tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau nhằm đạt được
mục đích chung của giáo dục.
Câu 10 : Phương pháp giảng giải , khuyên n.
-
Khái niệm:
Phương pháp giáo dục là một tổ hợp các cách thức hoạt động của nhà giáo dục và người được
giáo dục, được thực hiện trong sự phối hợp thống nhất với nhau, nhằm thực hiện các
nhiệm vụ giáo dục, hoàn thành mục đích giáo dục đã đề ra.
Phương pháp giảng giải , khuyên răn: phương pháp nhà giáo dục chủ yếu dùng
lời nói hoặc bằng các lập luận vững chắc để khuyên bảo, giải thích, chứng minh tính đúng đắn
của các chuẩn mực hội, giúp người được giáo dục nắm vững ý nghĩa, nội dung cách
thực hiện các nguyên tắc, chuẩn mực về văn hóa, đạo đức, lối sống, hình thành người được
giáo
dục niềm tin và mong muốn thực hiện.
-
Ý nghĩa sử dụng phương pháp giáo dục:
+ Giúp người được giáo dục phân biệt được tốt - xấu, đúng - sai, những việc nên làm,những
việc không nên làm.
+ Giúp người được giáo dục hình dung nét những việc cần thực hiện trong các tình huống
giáo dục cụ thể, cách thực hiện, lý do phải thực hiện.
+ Nhà giáo dục và người được giáo dục có cơ hội hiểu nhau nhiều hơn. Tạo ra sự thân mật, gắn
bó giữa nhà giáo dục và người được giáo dục.
+ Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các thành viên trong lớp, xây dựng mối quan hệ đoàn
kết, thân ái trong tập thể học sinh.
-
Yêu cầu sử dụng phương pháp giáo dục
+ Nhà giáo dục phải chuẩn bị trước nội dung vấn đề cần khuyên giải với các đối tượng cụ
thể để, cần chuẩn bị những lý lẽ thuyết phục, lập luận vững chắc cả về phương diện lý luận
thực tiễn. Nội dung giảng giải phải những nội dung chuẩn mực, những giá trị đạo đức,
thẩm mỹ
cần hình thành cho người được giáo dục, giúp các em hiểu được ý nghĩa của các
chuẩn mực và cách thực hiện đúng. Nội dung các chuẩn mực phải hấp dẫn, lôi cuốn được sự
chú ý của người nghe, gắn liền với thực tế, cuộc sống, hoạt động kinh nghiệm của các
em.
+ Nội dung giảng giải, khuyên răn cần làm rõ 3 vấn đề: Chuẩn mực đó gì? Tại sao phải thực
hiện các chuẩn mực đó? Thực hiện các chuẩn mực đó như thế nào?
+ Căn cứ vào đặc điểm tâm, sinh lứa tuổi kinh nghiệm của người được giáo dục để
xây dựng các nội dung giảng giải, khuyên răn cho phù hợp.
+ Trước khi giảng giải, khuyên răng, nhà giáo dục cần tìm hiểu kỹ đối tượng hiểu đối
tượng để tiếp cận đưa ra cách khuyên giải phù hợp. Cần sự thông cảm sâu sắc, dựa
trên sở tình thương và khoan dung kết hợp với sự nghiêm khắc cần thiết một cách có lý có
tình mới khuyên giải có hiệu quả.
+ Khi giảng giải, khuyên răn, nhà giáo dục phải dùng lời nói rõ ràng, mạch lạc, khúc triết,
không lan man, dài dòng. Lập luận chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, nên có các minh họa cụ thể
thực tế.Thái độ của nhà giáo dục phải chân thành, thiện chí, tôn trọng và đồng cảm với
người được giáo dục.
+ Kết thúc giảng giải, ngiáo dục phải đưa ra những kết luận ngắn gọn, súc tích về các
chuẩn mực để người được giáo dục dễ nhớ, dễ hiểu dễ vận dụng trong thực tiễn cuộc
sống.
+ Bản thân nhà giáo dục phải thực sự gương mẫu uy tín với học sinh

Preview text:

GIÁO DỤC HỌC 1
Câu 1: Các chức năng xã hội của giáo dục
Chức năng xã hội của giáo dục: Chức năng xã hội của giáo dục là những tác động tích cực
của giáo dục đến các mặt hay linh vực xã hội và tạo ra sự phát triển cho xã hội. Ở mọi thời
đại, giáo dục thực hiện 3 chức năng cơ bản: chức năng kinh tế- sản xuất, chức năng chính
trị- xã hôi, chức năng tư tưởng-văn hóa. a)
Chức năng kinh tế- sản xuất: -
Chức năng này khẳng định vai trò của giáo dục đối với lĩnh vực kinh tế
sản xuất của xã hội
+ Kinh tế - sản xuất là điều kiện không thể thiếu, có tính quyết định đến sự tồn tại, phát triển của xã hội
+ Kinh tế - sản xuất là tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển xã hội của một quốc gia
-Các nguồn lực để phát triển Kinh tế - sản xuất:
+ Nguồn nhân lực dồi dào, có chất lượng cao
+ Công nghệ hiện đại (máy móc, kĩ thuật, thông tin)
+ Thị trường rộng mở, ổn định + Nguồn vốn đủ mạnh
+ Tài nguyên phong phú (thiên nhiên, văn hóa)
-Giáo dục tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các nguồn lực kinh tế- sản xuất:
+ Thông qua các quá trình giáo dục và dạy học, bằng nhiều hình thức khác nhau, giáo dục
trực tiếp đào tạo ra đội ngũ người lao động đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có trình độ
cao, một mặt để thay thế cho những lực lượng lao động đã mất hay hết tuổi lao động; mặt
khác, để bổ sung, nâng cao và đáp ứng nguồn nhân lực cho yêu cầu mở rộng và phát triển sản xuất
+ Giáo dục góp phần làm thay đổi nhu cầu thị hiếu tiêu dùng của con người, làm tăng sức
mua tiêu thụ sản phẩm xã hội. Đặc biệt với sự gia tăng nhu cầu học tập, khả năng đầu tư
con em học tập do thu nhập ngày càng cao, và chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn, tạo
động lực thúc đẩy nền giáo dục phát triển ngày càng rộng mở, đa dạng hoá, hiện đại hoá.
+ Giáo dục cũng là một phương thức trực tiếp làm phát triển khoa học - công nghệ vì nó trực
tiếp đào tạo ra những chủ thể của khoa học và công nghệ, trực tiếp tham gia vào quá trình
sáng tạo, chuyển giao, tiếp nhận và ứng dụng khoa học - công nghệ. Nhờ giáo dục mà làm
cho khoa học - công nghệ trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, trở thành yếu tố mang
tính quyết định đến sức sản xuất và sức cạnh tranh cho các quốc gia hay các tập đoàn kinh tế
+ Ngoài ra, giáo dục còn gián tiếp tác động tới và làm phát triển các nguồn lực khác trên
những phương diện nào đó. Chẳng hạn, việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, việc tìm
kiếm, khai thác và phát triển thị trường, việc khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng phát triển bền vững...
=> KẾT LUẬN: Trong toàn bộ sự phát triển của xã hội, thì xã hội nào cũng dựa vào giáo
dục, ưu tiên và đầu tư cho giáo dục, coi giáo dục là quốc sách đứng đầu *
Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam:
● Chính phủ đang đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng để đáp ứng nhu cầu
lao động chất lượng cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ và công nghệ cao.
● Các trường đại học, cao đẳng liên kết với doanh nghiệp để đào tạo theo nhu
cầu thị trường, như các chương trình "đào tạo theo đơn đặt hàng".
● Nhiều địa phương phát triển mô hình giáo dục gắn với sản xuất nông nghiệp công
nghệ cao, phát triển kinh tế địa phương.
● Các trung tâm giáo dục thường xuyên, đào tạo lại người lao động giúp thích ứng
với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và yêu cầu chuyển đổi số. b)
Chức năng chính trị - xã hội:
Sự phát triển xã hội cũng được thể hiện ở sự ổn định của hệ thống chính trị của mỗi quốc
gia. Các giai cấp hay các Đảng cầm quyền phải tập trung mọi nỗ lực và sử dụng mọi công
cụ cần thiết để thiết lập và củng cố hệ thống chính trị theo mục tiêu của mình, củng cố địa
vị chính trị của họ trong xã hội nhằm giữ vững địa vị pháp lý.
-Vai trò của giáo dục đối với lĩnh vực chính trị-xã hội
Một là,
giáo dục góp phần tác động vào việc củng cố và làm ổn định hệ thống chính trị
thông qua việc thực hiện chức năng tuyên truyền, làm cho những đường lối, quan điểm của
Đảng cầm quyền, những chính sách, chiến lược, hệ thống luật pháp của Nhà nước... đến
được với mọi tầng lớp dân chúng, làm thay đổi ý thức, hình thành niềm tin, lý tưởng, tạo
ra sự đồng tình, ủng hộ.
Đó là những điều kiện cơ bản để tạo ra được sức mạnh tinh thần to lớn đảm bảo cho sự
thành công của sự nghiệp cách mạng của giai cấp.
Hai là, giáo dục đào tạo ra những con người trung thành với giai cấp, đáp ứng yêu cầu của công
cuộc cách mạng, có đủ khả năng để thực hiện thành công sự nghiệp chính trị của giai cấp,
góp phần khẳng định, củng cố địa vị chính trị của giai cấp. Như vậy, giáo dục ở trong bất kỳ
một chế độ xã hội nào cũng phục vụ đặc lực cho chính trị, không thể có một nền giáo dục
nào thoát ly chính trị, phi chính trị.
Ba là, trong lịch sử phát triển xã hội, giáo dục là một yếu tố cơ bản để tạo ra sự phân hóa xã
hội: phân hóa tầng lớp xã hội, phân hóa giai cấp, thành phần xã hội.
Trong các xã hội cũ, giáo dục bao giờ cũng phục vụ cho lợi ích của giai cấp cầm quyền, do đó
làm tăng khoảng cách xã hội giữa các giai cấp hay tầng lớp xã hội, làm cho sự bất bình đẳng
xã hội ngày càng trở nên sâu sắc (giàu - nghèo, giai cấp thống trị, giai cấp bị trị, nam giới -
nữ giới, chủng tộc da trắng - da màu...).
Bốn là, giáo dục tác động toàn diện đến các mặt, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã
hội, làm biến đổi sâu sắc cấu trúc xã hội, mối quan hệ xã hội, bình đẳng xã hội, hành vi xã
hội, phân công lao động xã hội, về xã hội (cả nhân văn và nhóm).
Năm là, giáo dục góp phần rất tích cực để giải quyết các vấn đề của xã hội từ việc nâng cao
trình độ dân trí, xóa nạn mù chữ, tuyên truyền và nâng cao hiểu biết của mọi tầng lớp
nhân dân về chủ trương, chính sách, pháp luật, phổ biến khoa học, kỹ thuật để góp phần xóa
đói giảm nghèo; phân công lao động xã hội; góp phần giải quyết các vấn nạn xã hội như an
toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, bạo lực học đường và bạo
lực gia đình; thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ môi trường; thực
hiện công bằng và bình đẳng xã hội, thực hiện công tác xã hội, công tác đền ơn đáp
nghĩa, hoạt động nhân đạo…
=> Kết luận: Đầu tư vào giáo dục chất lượng và toàn diện là then chốt cho phát
triển chính trị ổn định, xã hội văn minh, giảm bất bình đẳng và nâng cao chất lượng cuộc sống. *
Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam:
● Giáo dục chính trị tư tưởng trong các nhà trường giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
● Các chương trình phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, xây dựng “xã hội học tập” góp phần
thu hẹp khoảng cách vùng miền, giảm bất bình đẳng xã hội.
● Giáo dục giới tính, kỹ năng sống, phòng chống ma túy, bạo lực học đường... là những
nội dung cụ thể cho thấy vai trò của giáo dục trong giải quyết các vấn đề xã hội.
● Phong trào xây dựng “nông thôn mới” có nhiều tiêu chí liên quan đến giáo dục như
phổ cập tiểu học, trung học cơ sở, nâng cao trình độ dân trí cho người dân. c)
Chức năng tư tưởng - văn hóa: GD có vai trò to lớn trong việc:
-Một là, giáo dục với tư cách là công cụ đấu tranh của giai cấp, trở thành một phương tiện
cơ bản để truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp, nâng cao trình độ dân trí, xây dựng niềm tin
và thế giới quan giai cấp, cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Một mặt, nó sẽ
định hướng cho những hành động đúng đắn để góp phần xây dựng và phát triển đất nước,
tạo nên sự thành công cho sự nghiệp của Đảng, của giai cấp. Mặt khác, giáo dục giúp cho
họ có đủ vũ khí, bản lĩnh để chống lại mọi âm mưu, luận điệu nhằm chống phá cách
mạng, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam và cản trở con đường xây dựng CNXH, tuyên
truyền phản động trái ngược với tư tưởng của giai cấp.
-Hai là, giáo dục với tư cách là một phương tiện để truyền bá, bảo tồn và phát triển văn hóa,
có tác dụng tích cực trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa cho mỗi dân tộc.
Thông qua các quá trình giáo dục và dạy học mà hệ thống các giá trị văn hóa của nhân loại
và của dân tộc được truyền bá, được tái tạo trong mỗi cá nhân; Một mặt làm cho văn hóa
được giữ gìn, bảo tồn, phát triển bền vững, bởi vì “nơi bảo tồn văn hoá tốt nhất là trong mỗi
con người”; mặt khác làm cho các cá nhân phát triển để trở thành những những chủ thể văn
hóa, có khả năng sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới, góp phần làm phát triển văn hóa
cho mỗi dân tộc và cho nhân loại.
-Ba là, giáo dục còn là một phương tiện đấu tranh để xóa bỏ những thói hư tật xấu, những hủ
tục của xã hội; cổ vũ cho những giá trị, những hành vi văn hóa truyền thống tốt đẹp, giàu bản
sắc dân tộc và những giá trị tích cực, hiện đại của thế giới, xây dựng những thói quen, lối
sống, nếp sống mới hiện đại, phù hợp. Giáo dục trở thành một phương tiện cơ bản để phát
triển văn hóa, góp phần tích cực cho công cuộc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc.
=> Kết luận: Với những chức năng XH trên đây đã cho thấy vai trò to lớn của giáo dục
đối với sự phát triển XH. Bất kì một XH nào phát triển đều dựa chủ yếu vào giáo dục và
bởi những sức mạnh do giáo dục tạo ra. Bởi vậy, muốn phát triển XH thì phải đầu tư mọi
nguồn lực để phát triển GD. Đầu tư cho GD là đầu tư cho sự phát triển. GD phải trở thành
một quốc sách quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển của mọi quốc gia *
Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam:
● Môn Giáo dục công dân, Ngữ văn, Lịch sử... trong nhà trường giúp học sinh hiểu biết
và hình thành tư tưởng sống tích cực, yêu nước, trung thực, đoàn kết.
● Các hoạt động ngoại khóa như văn nghệ, thể thao, “Hành trình về nguồn”, “Tìm hiểu
di sản văn hóa”... góp phần giáo dục truyền thống và kỹ năng sống.
● Giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống giúp giới trẻ định hướng đúng đắn lối sống và nghề nghiệp.
● Trong bối cảnh hội nhập, giáo dục giúp thế hệ trẻ tiếp cận tri thức toàn cầu mà vẫn giữ
gìn bản sắc văn hóa Việt Nam.
Câu 2: Vai trò của bẩm sinh – di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách 1.
Khái niệm nhân cách và sự phát triển nhân cách a.
Nhân cách: Nhân cách là tổ hợp các phẩm chất và năng lực của cá nhân, tạo nên
bản sắc và giá trị XH của họ. Nhân cách là toàn bộ những thuộc tính đặc biệt mà một con
người có đc trong hệ thống các quan hệ XH, là mức độ chiếm lĩnh các giá trị văn hóa vật
chất và tỉnh thần. Những thuộc tỉnh đó bao hàm các thuộc tỉnh về trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất... b.
Sự phát triển nhân cách: Là sự biến đổi tổng thể các yếu tố tự nhiên, tâm lí, xã hội
trong con người. Bao gồm cả những biến đổi về lượng và những biến đổi về chất trong đó
chủ yếu là biến đổi về chất 2.
Vai trò của yếu tố BS-DT đối với sự hình thành và phát triển nhân cách a. Khái niệm
Di truyền là sự tái tạo ở trẻ những thuộc tính sinh học nhất định, giống với cha mẹ; là sự
truyền lại từ cha mẹ đến con những phẩm chất và đặc điểm nhất định đã được ghi lại trong cấu trúc gen.
Bẩm sinh là những thuộc tính sinh học từ khi sinh ra đã có. Trong mối quan hệ
giữa bẩm sinh và di truyền có thể bao gồm: bẩm sinh do di truyền, bẩm sinh không do
di truyền; di truyền nhưng không bẩm sinh b.
Vai trò của yếu tố BS-DT đối với sự hình thành và phát triển nhân cách.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng coi di truyền, bẩm sinh, sinh học giữ vai trò
tiền đề đối với sự phát triển nhân cách, không quyết định trước kiểu nhân cách: -
Di truyền, bẩm sinh, sinh học đảm bảo cho loài người tiếp tục tồn tại (về mặt
sinh học), đồng thời giúp con người thích ứng với những biến đổi của các điều kiện tồn tại của nó -
Nhân cách chỉ hình thành, phát triển và tồn tại trên một cơ thể người sống, trong
đó sự lành lặn về não bộ và các cơ quan thần kinh, các giác quan có vai trò to lớn đối với sự
phát triển nhân cách. Yếu tố bẩm sinh, sinh học thuận lợi sẽ là tiền đề thuận lợi cho sự hình
thành, phát triển nhân cách. Ngược lại, bất cứ sự khiếm khuyết hoặc tổn thương nào về
mặt sinh học, đặc biệt là khiếm khuyết, tổn thương về cơ quan thần kinh và các giác quan đều
tạo ra những bất lợi cho việc hình thành, phát triển nhân cách. -
Phản ánh tâm lý là chức năng của một dạng vật chất có tổ chức và tiến hóa
cao, đó là não bộ của con người. Nhờ có khả năng phản ánh này mà các quá trình tâm lý
phức tạp, ý thức, nhân cách con người mới có thể hình thành và phát triển dưới tác
động của hoàn cảnh xung quanh. -
Nhưng di truyền không quyết định trước nhân cách, dù có tư chất người mà không
sống trong xã hội loài người cũng không thể có nhân cách. Các trường hợp trẻ em ngay từ
nhỏ đã bị lạc và được thú rừng nuôi đã minh chứng điều đó -
Tư chất là một số đặc điểm sinh học của con người giúp cho họ có thể thành công
trong một hoặc một số hoạt động nhất định. Những tư chất đó có sẵn trong cấu tạo của não,
và trong các cơ quan như cơ quan cảm giác, các cơ quan vận động … Tư chất chỉ là điều
kiện để sau này thực hiện có kết quả, hình thành năng lực ở một hoặc một số hoạt động nào
đó. Song điều này không có nghĩa là tư chất quyết định sẵn nhân cách (cụ thể là năng lực).
Tư chất có trở thành năng lực hay không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tiễn, hoạt động
học tập và lao động, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm của cá nhân đó -
Các thuộc tính về loại hình thần kinh không định trước những nét tính cách sau
này của con người, mặc dù chúng có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các nét tính cách. Có
những nét tính cách khác nhau được hình thành trên cùng một kiểu hình thần kinh, và ngược
lại có những nét tính cách giống nhau nhưng có trên nhiều kiểu hình thần kinh. -
Cơ thể con người có sự biến đổi qua các giai đoạn lứa tuổi, sự biến đổi này khá phức
tạp và nó cũng ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý, nhân cách của giai đoạn đó. Đó chỉ là ảnh
hưởng của sinh lý đối với tâm lý, nó không quyết định trước nhân cách.
=> Kết luận: di truyền, bẩm sinh có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển
nhân cách, tuy nhiên nó chỉ là yếu tố tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách,
không quyết định trước nhân cách hay quy định xu hướng phát triển nhân cách của các cá
nhân, cũng như không giới hạn trình độ phát triển của nhân cách. c.
Quan điểm sai lầm:
Qua sự phân tích trên đã khẳng định yếu tố di truyền, bẩm sinh chỉ tạo tiền đề phát triên nói
chung, phát triển nhân cách nói riêng của con người. Nhận thức rõ điều đó, cần phê phán các
quan điểm sai lầm khi đánh giá về vai trò của yếu tố di truyền, bẩm sinh:
Quan điểm duy tâm trong "Thuyết ưu sinh", thuyết "Định mệnh do di truyền" đã tuyệt
đối hóa vai trò của yếu tố di truyền. Những người theo trường phái này cho rằng, tư chất của
con người được qui định trước hành vi của người đó, qui định trước phẩm chất và trình độ
hoạt động trí tuệ của con người. Theo họ, trẻ em sinh ra có những yếu tố sinh học thuận lợi
hoặc bất lợi sẽ quyết định mặt "thiên tài" hoặc "đần độn" sau này của trẻ. Phái "Nhi
đồng học" (Lan truyền mạnh ở phương Tây vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) cho rằng,
nhân cách, đạo đức của con người cũng mang tính di truyền vì thế cha mẹ thuộc tầng lớp
nào sẽ quyết định vận mệnh của con cái họ như vậy. Theo họ, con cái của những nhà bác
học, những người giàu có sẽ trở thành những người thông thái, thành đạt, giàu có, còn con
cái của những người lao động bình thường, những kẻ trộm cắp, rượu chè, cờ bạc... cũng chỉ
là những người như cha mẹ chúng.
Ngược lại với các quan điểm trên, thuyết "Giáo dục là vạn năng" lại phủ nhận hoàn toàn vai
trò của di truyền. Những người theo trường phái này cho rằng, yếu tố di truyền không có vai
trò gì đối với sự phát triển nhân cách. Con người trở thành tốt hay xấu, thiện hay ác, tài giỏi
hay đần độn... hoàn toàn do giáo dục quyết định...
Những quan điểm trên hoặc là đề cao quá mức, hoặc phủ nhận hoàn toàn vai trò của yếu tố di
truyền, bẩm sinh đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, đều là những quan niệm sai lầm, phản khoa học. d.
Kết luận sư phạm -
Trong quá trình giáo dục cần chú ý đúng mực đến vai trò là tiền đề, là điều kiện
của yếu tố di truyền, bẩm sinh đối với sự phát triển nhân cách. -
Cần tổ chức các hoạt động và giao tiếp, tạo điều kiện để tìm hiểu, sớm phát hiện
những HS có năng khiếu đặc biệt, có tư chất; những mặt hạn chế riêng để có cách tác động phù hợp
. - Phát huy tính tích cực của cá nhân trong quá trình giáo dục; quan tâm, động viên, khích lệ
học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh khó khăn...
Câu 3. Vai trò của yếu tố môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Khái niệm môi trường:
Môi trường là hệ thống các yếu tố, hoàn cảnh bên ngoài tác động đến cuộc sống và hoạt
động của con người. Môi trường được chia thành hai loại chính:
-Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố địa lý, sinh thái, có ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển thể chất và đời sống con người.
-Môi trường xã hội: hệ thống các mối quan hệ xã hội mà con người sống trong đó. Cụ thể hơn: +
Ở phạm vi lớn, môi trường xã hội đặc trưng chủ yếu bởi tính chất của nhà
nước; bao gồm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, hệ thống các quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội… +
Ở phạm vi nhỏ, đó là một bộ phận của môi trường lớn, trực tiếp bao quanh trẻ.
Môi trường xã hội là các yếu tố trực tiếp tác động đến cuộc sống cá nhân, như: gia đình,
nhà trường, nhóm bạn, địa phương, phong tục, điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị tại nơi sinh sống.
Môi trường nhỏ tác động trực tiếp đến trẻ, trong khi môi trường lớn ảnh hưởng gián tiếp qua
môi trường nhỏ. Tuy nhiên, môi trường nhỏ có tính độc lập và thay đổi nhanh chóng hơn môi trường lớn. ●
Vai trò của yếu tố môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách:
-Môi trường xã hội: Xã hội đưa ra những yêu cầu khách quan, tạo ra mô hình nhân
cách mà con người phải phấn đấu, qua đó thúc đẩy sự phát triển xã hội và cá nhân. Vai
trò đó được thể hiện cụ thể như sau:
+ Một là, Đặt ra yêu cầu về phẩm chất, năng lực: Môi trường xã hội đưa ra những
yêu cầu và mẫu hình nhân cách, từ đó thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội.
+ Hai là, Cung cấp phương tiện và điều kiện: Môi trường tạo ra các điều kiện thuận
lợi để con người tham gia hoạt động xã hội, giúp họ học hỏi và phát triển nhân cách qua
các giá trị văn hóa và kinh nghiệm xã hội.
+ Ba là, Khai thác sử dụng năng lực, phẩm chất cá nhân: Môi trường giúp khai
thác và phát triển những khả năng của con người, tạo cơ hội để họ đóng góp vào sự phát
triển chung của xã hội. +
Bốn là, Quan hệ xã hội đa dạng: Các mối quan hệ xã hội như gia đình,
công việc, và các giá trị xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách. +
Năm là, Tác động khác nhau đối với các cá nhân: Môi trường ảnh
hưởng khác nhau đối với các cá nhân và nhóm xã hội, tuỳ thuộc vào vị trí xã hội, điều
kiện sống, và quan điểm của mỗi người. +
Sáu là, Mối quan hệ hai mặt giữa MTXH và phát triển nhân cách: Môi
trường có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nhân cách con người. Các yếu tố
tích cực giúp phát triển nhân cách, nhưng môi trường cũng có thể mang lại những ảnh
hưởng xấu nếu không được kiểm soát.
-Môi trường tự nhiên:
+Là điều kiện cần thiết cho sự sống và phát triển của con người. Môi trường tự
nhiên cung cấp không khí, nước, thức ăn và không gian sống, hỗ trợ sự tồn tại và phát
triển của con người. Một môi trường lành mạnh thúc đẩy phát triển thể chất và tinh thần.
+Có thể ảnh hưởng tốt và không tốt đến sức khỏe con người. Môi trường trong
lành và tài nguyên tự nhiên dồi dào cải thiện sức khỏe, giảm căng thẳng và tăng
cường hệ miễn dịch. Ngược lại, ô nhiễm và thiên tai có thể gây bệnh tật và ảnh hưởng tâm lý.
+Điều kiện tự nhiên khác nhau là cơ sở hình thành nên những nét tính cách, năng
lực, phẩm chất con người.
Các điều kiện tự nhiên khác nhau (vùng núi, đồng bằng, ven
biển) tạo ra đặc trưng tính cách và phẩm chất riêng. Ví dụ, người vùng núi thường kiên
cường, trong khi người ven biển phóng khoáng; môi trường cũng hình thành các phẩm
chất như tinh thần trách nhiệm, ý thức bảo vệ môi trường, và lòng yêu thiên nhiên.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, MTTN chỉ ảnh hưởng gián tiếp đến sự hình thành và phát triển
những phẩm chất và năng lực riêng biệt ở con người thông qua cuộc sống của họ.
=> Môi trường hiện nay ở Việt Nam có cả yếu tố tích cực và tiêu cực, sự phát triển đi đôi với
những mối lo ngại tiềm ẩn. Vì vậy, cần có sự giáo dục và định hướng từ gia đình và xã hội
để phát triển nhân cách đúng đắn, đặc biệt cho thế hệ trẻ. Bản thân con người cũng có thể cải
tạo môi trường, giữ lại những giá trị tốt đẹp và loại bỏ cái xấu để tạo ra một môi trường
giáo dục và phát triển tốt hơn.
Phê phán quan điểm sai lầm về vai trò của môi trường đối với sự hình
thành và phát triển nhân cách bao gồm hai quan điểm cực đoan:
-
Tuyệt đối hóa vai trò của môi trường: Quan điểm này cho rằng môi trường
hoàn toàn quyết định nhân cách con người, tiêu biểu là thuyết "Định mệnh do hoàn cảnh"
cho rằng một đứa trẻ, dù có khuyết tật, nếu sống trong môi trường tốt sẽ trở thành người
tốt. (“Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”; “Rau nào sâu ấy”)
-Phủ nhận vai trò của môi trường: Quan điểm này lại phủ nhận vai trò của môi
trường, cho rằng môi trường không ảnh hưởng gì đến sự hình thành nhân cách, tiêu biểu
là thuyết "Giáo dục là vạn năng". (“Nhân chi sơ tính bản thiện.”)
=> Cả hai quan điểm này đều sai lầm và phản khoa học vì ta không đề cao quá mức hoặc phủ
nhận hoàn toàn vai trò của môi trường. Môi trường không quyết định hoàn toàn sự phát triển
nhân cách, nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng. Con người không thể phát triển nhân cách
đúng nghĩa nếu không có môi trường xã hội để giao lưu và tham gia vào các hoạt động xã hội.
Kết luận sư phạm về vai trò của môi trường đối với sự phát triển nhân cách: -
Trong quá trình giáo dục, gia đình, nhà trường và cá nhân cần khai thác triệt để
những yếu tố tích cực của môi trường, tính tích cực của cá nhân. Bản thân mỗi cá nhân
cũng phải tự có ý thức. -
Cần phòng ngừa, hạn chế và loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong môi trường,
đặc biệt là những yếu tố có hại đến sự phát triển nhân cách của học sinh. -
Gia đình, nhà trường và xã hội cần phối hợp tạo ra một môi trường trong
sạch và lành mạnh để giúp phát triển nhân cách, đặc biệt là cho thế hệ trẻ. -
Nhà trường và gia đình cần giúp thế hệ trẻ nhận thức, trang bị cho thế hệ trẻ
những hiểu biết cần thiết về các tệ nạn xã hội, tác hại của chúng, đồng thời trang bị bản
lĩnh vững vàng để chống lại các cám dỗ tiêu cực từ môi trường xã hội.
Câu 4: Vai trò của yếu tố Giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách a) Khái niệm:
Giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có nội dung, phương pháp
được thực hiện trong hệ thống nhà trường nhằm hình thành và phát triển nhân cách con
người phù hợp với yêu cầu xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định b)
Vai trò của GD trong sự hình thành và phát triển NC con người:
Trong tất cả các yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách của con người,
giáo dục được xem là yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc nhất. Bởi vì: -
Thứ nhất, giáo dục là hoạt động có mục đích, có chương trình, kế hoạch, có nội
dung, phương pháp, phương tiện nhằm định hướng cho toàn bộ quá trình giáo dục và
cho sự hình thành và phát triển nhân cách
. Giáo dục được diễn ra theo một quá trình
được tổ chức nghiêm ngặt với mục đích xác định, phản ánh yêu cầu xã hội và là kim chỉ
nam cho cả người giáo dục và người được giáo dục; ;à định hướng cho các hoạt động giáo
dục, giúp điều chỉnh các phương thức giảng dạy; là cơ sở để đánh giá và tự đánh giá kết
quả của quá trình giáo dục; khuyến khích sự cố gắng và nỗ lực của cả giáo viên và học sinh.
=> Mục đích giáo dục có khả năng đi trước sự phát triển nhân cách, thúc đẩy hiện thực phát triển. -
Thứ hai, giáo viên có vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục (giáo dục được
thực hiện trong các cơ quan chức năng chuyên biệt do đội ngũ GV - những người có
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, hiểu biết đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi và

có khả năng tổ chức hoạt động phụ trách). Trong cuộc sống hàng ngày và các môi
trường sư phạm, nhà giáo dục đóng vai trò là những tấm gương sáng cho học sinh noi theo,
là những người có hiểu biết, luôn cư xử phù hợp trong mọi tình huống. Nhà giáo dục quan
tâm, động viên và giúp đỡ học sinh kịp thời, khơi gợi và tạo điều kiện để học sinh phát
huy tiềm năng tối đa. Nhờ đó, quá trình phát triển nhân cách của học sinh đạt hiệu quả. Tác
động của giáo viên đối với học sinh là trực tiếp và liên tục trong một khoảng thời gian dài.
=> Thông qua giáo viên, giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách. -
Thứ ba, giáo dục tổ chức, dẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách theo
mô hình đã được xác định. Giáo dục tổ chức các hoạt động xã hội, sinh hoạt tập thể...
Trong đó dưới sự hướng dẫn, tổ chức và điều khiển của nhà giáo dục, người được giáo
dục tự giác, tích cực tham gia để hình thành và phát triển nhân cách. Trong quá trình hoạt
động, nhà giáo dục cần theo dõi, điều chỉnh kịp thời và quản lý quá trình tham gia của
học sinh và sự tự điều chỉnh của người được giáo dục nhằm giúp cho quá trình phát triển
nhân cách của người được giáo dục không bị chệch hướng.
=> Những điều này giúp học sinh phát triển nhân cách theo đúng hướng. -
Bốn là, giáo dục còn tác động đến các yếu tố khác như: di truyền, bẩm sinh;
môi trường; hoạt động của cá nhân nhằm tạo sự thuận lợi cho quá trình phát triển nhân cách
+ Đối với yếu tố di truyền, bẩm sinh: giáo dục có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi để
các yếu tố di truyền được bộc lộ và phát triển; phát hiện, những yếu tố di truyền, có lợi cho
một số lĩnh vực hoạt động nào đó (thường gọi là năng khiếu). Giáo dục còn có khả năng,
cải tạo những yếu tố không thuận lợi do di truyền, bẩm sinh đem lại cho con người.
*Lưu ý: giáo dục chỉ có thể khắc phục một số yếu tố di truyền xấu trong chừng mực nhất định.
+ Đối với yếu tố môi trường: giáo dục có thể phát hiện những yếu tố thuận lợi của môi
trường và sử dụng chúng phục vụ cho việc giáo dục con người. Giáo dục có thể hạn chế,
khắc phục những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường đối với sự phát triển nhân
cách của con người. Đặc biệt giáo dục có thể cải tạo ở chừng mực nhất định những yếu tố
không thuận lợi của môi trường, biến chúng
thành yếu tố thuận lợi đối với sự phát triển nhân cách cũng như ngăn ngừa những ảnh hưởng
xấu của môi trường xã hội đến sự phát triển nhân cách.
*Lưu ý: giáo dục chỉ có thể cải tạo ở chừng mực nhất định những yếu tố không thuận lợi của
môi trường, giáo dục khó có thể cải tạo đc những bất lợi thuộc về bản chất của môi trường.
+ Đối với hoạt động cá nhân: Giáo dục tổ chức nhiều loại hình hoạt động và giao tiếp bổ
ích, lành mạnh nhằm phát huy những phẩm chất và năng lực cá nhân. Đặc biệt công tác
giáo dục luôn xây dựng các mối quan hệ giao tiếp tích cực giữa thầy trò, giữa bạn bè với
nhau đồng thời tổ chức và định hướng cho trẻ tham gia vào các hoạt động chủ đạo ở từng
giai đoạn lứa tuổi để thúc đẩy sự phát triển nhân cách.
*Lưu ý: Kết quả giáo dục ở mỗi cá nhân không đồng nhất và còn phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng người.
=> Kết luận: Mặc dù giáo dục đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nhân cách,
nhưng nó không phải là yếu tố duy nhất; đôi khi con người được giáo dục không tiếp nhận
hoặc phản ứng tiêu cực với tác động của nhà giáo dục. Giáo dục không phải là yếu tố vạn năng. -
Phê phán quan điểm sai lầm:
+ Phủ nhận vai trò của giáo dục: Quan điểm cho rằng giáo dục không ảnh hưởng gì đến
sự hình thành và phát triển nhân cách mà do bẩm sinh – di truyền, hoặc môi trường, hoặc
do cả hai yếu tố trên quyết định.
+ Đề cao tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục: Quan điểm coi giáo dục là yếu tố vạn năng,
quyết định chi phối sự hình thành nhân cách cá nhân. -
Kết luận sư phạm:
+ Cần đánh giá đúng vai trò cả sự hình thành đối với sự hình thành và phát triển nhân cách,
nhận thức rằng nhân cách không phải là yếu tố bẩm sinh mà là kết quả của quá trình giáo dục và rèn luyện lâu dài.
+ Cải tạo và xây dựng môi trường xã hội theo những mục đích trùng hợp với những
mục đích giáo dục: xây dựng nhà trường như là một trung tâm giáo dục của địa phương,
có nhiệm vụ thống nhất, phối hợp tất cả các nhân tố của môi trường tác động đến sự hình thành nhân cách.
+ Giáo dục phải dựa vào những tư chất vốn có và hoạt động tích cực của mỗi người trước
tác động bên ngoài: hiểu đặc điểm của người học; xây dựng theo nguyên tắc phát triển,
hướng vào vùng phát triển gần nhất; khiến người học ý thức, chấp nhận yêu cầu của nhà
giáo dục, biến chúng thành nhu cầu của bản thân, tự đề ra mục đích phấn đấu, rèn luyện, tự
thiết kế chương trình, kế hoạch tự học,...
+ Đảm bảo vai trò chủ đạo của nhà giáo trong quá trình giáo dục; thống nhất, phối hợp các
lực lượng giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội. Gia đình, nhà trường và xã hội cần hợp tác
chặt chẽ, phát huy vai trò chủ đạo của nhà trường và giáo viên để tránh mâu thuẫn trong
việc giáo dục, tạo ra môi trường nhất quán. Nhà trường cung cấp kiến thức và kỹ năng
sống, đồng thời rèn luyện đạo đức và kỷ luật. Giáo viên không chỉ là người truyền đạt kiến
thức mà còn là tấm gương đạo đức, hướng dẫn học sinh phát triển nhân cách một cách tích cực.
+ Đánh giá đúng vai trò của giáo dục, cải tạo môi trường xã hội, và thống nhất các lực
lượng giáo dục sẽ tạo ra một hệ thống giáo dục toàn diện, giúp cá nhân phát triển nhân
cách một cách bền vững và tích cực.
Câu 5: Quy luật cơ bản của quá trình dạy học a. Khái niệm:
Quá trình dạy học là quá trình hoạt động thống nhất biện chứng giữa hoạt động Dạy của Thầy
và hoạt động Học của Trò, trong đó, dưới vai trò chủ đạo (tổ chức, hướng dẫn, điều khiển) của
người dạy, người học chủ động (tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo; tự tổ chức, tự điều khiển)
hoạt động học của bản thân hướng tới thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học, từ đó hình thành và
phát triển nhân cách toàn diện của người học. b)
Quy luật cơ bản của quá trình dạy học
Quy luật về sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của gv và hoạt động học của Hs: là
quy luật cơ bản của QTDH, vì:
+ Quy luật phản ánh mối quan hệ giữa 2 thành tố cơ bản & trung tâm đặc trưng cho tính chất 2
mặt của QTDH: hoạt động giảng dạy của Gv và hoạt động học tập của Hs.
+ Quy luật chi phối, ảnh hưởng tích cực tới các quy luật khác của QTDH
Sự có mặt những yếu tố dạy và học quy định sự tồn tại, phát triển của QTDH ở đầu nói tới sự
dạy thì ở đó có sự học.
Trong nhà trường chủ thể của hoạt động dạy là người GV. Đây là bộ phận người được đào
tạo chuyên biệt, năm vững hệ thống tri thức chuyên ngành và được trang bị một hệ thống kỹ
năng, kỹ xảo thực hành nghề dạy học.
Mỗi đối tượng giảng dạy luôn luôn là một thế giới phong phú, đa dạng về sinh học, về tâm lý, về
trình độ nhận thức…. nhờ nắm vững nhu cầu, hứng thú, động cơ và những đặc điểm hoạt động
học tập của HS để từ đó có được cách thức, thủ thuật tác động hợp lý
Như vậy, sự chiếm lĩnh đối tượng trong hoạt động dạy của người giáo viên phải được hiểu là sự
dẫn dắt, điều chỉnh hoạt động học của người học để họ đạt tới những mức độ phát triển khác
nhau của sự hoàn thiện nhân cách.
Trong QTDH trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm trình độ hoạt động xã hội của người
GV cũng không ngừng được phát triển, cùng với đó, nhân cách của người GV cũng không
ngừng được hoàn thiện. Cùng với sự thay đổi của nhu cầu xã hội, những yêu cầu đặt ra đối với
người giáo viên cũng thường xuyên biến động, dẫn tới sự cần thiết phải đối mới cả về phương
thức, nội dung và quy định đào tạo ở các trường sư phạm qua từng giai đoạn phát triển lịch sử
Đối tượng hoạt động của người GV là nhân cách của một bộ phận người trong xã hội, chủ
yếu là thế hệ trẻ
.
Dưới tác động của hoạt động dạy, bộ mặt nhân cách của HS được hình thành và phát triển có
định hướng. Một mặt HS tiếp nhận những kinh nghiệm sáng của nhân loại đã được gia công và
chọn lọc để trở thành hệ thống tri thức khoa học nằm trong nội dung, chương trình học tập, mặt
khác, ở họ dần hình thành các phương pháp nhận thức để có khả năng tiếp tục tìm kiếm phát hiện tri thức mới
=> đóng góp vào quá trình duy trì và phát triển đời sống xã hội.
Thông qua hoạt động học, trí tuệ của HS vận động và phát triển không ngừng từ chỗ chưa biết,
chưa ý thức được các nhiệm vụ dạy học đến:
+ Ý thức được nhiệm vụ & mục đích dạy học;
+ Nắm tri thức đến nắm kĩ năng, kĩ xảo và với mức độ ngày càng cao;
+ Vận dụng những điều đã học vào tình huống quen thuộc rồi đến sự vận dụng linh hoạt vào những tình huống mới.
Như vậy, trong mối quan hệ với hoạt động dạy, HS đóng 2 vai trò:
+ Khách thể tiếp nhận (tác động từ hoạt động dạy)
+ Chủ thể tích cực, độc lập tự tổ chức, điều khiển hoạt động học của bản thân để chiếm lĩnh
NDDH và phát triển trí tuệ, năng lực của bản thân.
Tóm lại, trong QTDH, thầy với hoạt động giữ vai trò tổ chức, điều chỉnh, chỉ đạo và HS
với hoạt động học tập, giữ vai trò chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển quá trình nhận thức của
bản thân nhằm đạt tới mục đích dạy học.
Câu 6 : Động lực của quá trình dạy học? Động lực của quá trình dạy học : a. Khái niệm
Động lực của quá trình dạy học là việc phát hiện và giải quyết có hiệu quả các mâu thuẫn nảy
sinh trong quá trình dạy học b.
Các loại mâu thuẫn của quá trình dạy học
* Mâu thuẫn bên trong: Là những mâu thuẫn giữa các thành tố cấu trúc của QTDH hoặc
giữa các yếu tố trong trong thành tố với nhau.
+ Mâu thuẫn giữa các nhân tố cấu trúc của QTDH, ví dụ: mâu thuẫn giữa mục đích, nhiệm vụ
dạy học đã được nâng
cao với phương pháp, phương tiện ở trình độ thấp; hoặc giữa nội dung DH đã hiện đại hóa
nhưng phương pháp, hình thức DH còn lạc hậu; Mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ học tập mới
GV đặt ra ngày càng cao với trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS còn hạn chế;
+ Mâu thuẫn trong bản thân của từng nhân tố cấu trúc nên QTDH, ví dụ: Mâu thuẫn giữa yêu cầu cao đối với việc
nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và yêu cầu chưa tương ứng về giáo dục v.v… xuất hiện trong
NDDH; Mâu thuẫn giữa trình độ chuyên môn với trình độ về tay nghề sư phạm của thầy giáo; .
* Mâu thuẫn bên ngoài: là những mâu thuẫn giữa các nhân tố của môi trường kinh tế- xã hội, khoa học kĩ thuật với
những thành tố của QTDH. Ví dụ: Mâu thuẫn giữa sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật với
NDDH còn lạc hậu; Mâu thuẫn giữa cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật của nhà trường còn
nghèo nàn với yêu cầu cao về dạy học; Mâu thuẫn giữa yêu cầu của nền kinh tế đặt ra ngày
càng cao với nguồn nhân lực với mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện
dạy học chưa đáp ứng;
Mâu thuẫn cơ bản, động lực chủ yếu của quá trình dạy học
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn tồn tại suốt từ đầu đến cuối quá trình. Việc giải quyết các
mâu thuẫn khác xét cho cùng là để giải quyết mâu thuẫn này. Việc giải quyết mâu thuẫn cơ
bản có liên quan trực tiếp và sâu sắc đến sự phát triển của QTDH.
Ví dụ: Trong tiết học Toán, giáo viên đưa ra một bài toán nâng cao có yêu cầu phân tích và vận
dụng kiến thức đã học
ở nhiều bài trước. Học sinh ban đầu cảm thấy lúng túng vì chưa biết cách giải. Tuy nhiên,
chính sự mâu thuẫn giữa năng lực hiện tại của học sinh (chưa giải được bài toán) với yêu cầu
mới của nhiệm vụ học tập (giải được bài toán khó) đã kích thích học sinh phải suy nghĩ, trao
đổi nhóm, tìm tòi kiến thức cũ và thử nhiều cách giải khác nhau. Quá trình này thúc đẩy tư
duy, hình thành kiến thức mới và phát triển năng lực giải quyết vấn đề
Mâu thuẫn chỉ trở thành động lực trong QTDH với những điều kiện sau:
-Học sinh phải ý thức được trình độ phát triển trí tuệ hiện có của bản thân, cảm thấy những
khó khăn (vật cản) trong nhận thức và điều đó dẫn tới sự xuất hiện nhu cầu vượt cản, giải
quyết những khó khăn này để thực hiện được các nhiệm vụ học tập.
-Mâu thuẫn phải vừa sức với học sinh (học sinh có thể giải quyết được mâu thuẫn với sự nỗ lực cao nhất về thể lực,
kinh nghiệm và trí tuệ). Biện pháp tốt nhất để làm cho mâu thuẫn trở thành động lực của sự
dạy học là mâu thuẫn có nội dung chứa đựng những khó khăn, đòi hỏi một sự tìm tòi căng
thẳng nhưng vừa sức với tiềm năng nhận thức của học sinh.
-Mâu thuẫn phải được xuất hiện một cách tự nhiên trong sự phát triển của hoạt động dạy học.
do chính logíc của quá trình này tạo ra, và bởi thế, các mâu thuẫn phải chứa đựng những khó
khăn về nhận thức có mức độ tăng dần để tạo ra những điều kiện tập luyện, thích ứng trong quá
trình giải quyết những nhiệm vụ dạy học. c)
Kết luận sư phạm:
-Với tư cách là sinh viên:
+ Cần phải nỗ lực học tập, rèn luyện, trau dồi kĩ năng sư phạm.
+ Hướng cho bản thân cách tạo ra những mâu thuẫn (động lực) để có thể ứng dụng vào thực tiễn.
+ Nghiên cứu những mâu thuẫn để tìm cách làm cho mâu thuẫn trở thành động lực.
-Với tư cách là giáo viên tương lai:
+ Giáo viên phải tạo ra được mâu thuẫn: đưa ra những bài tập, yêu cầu, nhiệm vụ học tập
ngày càng cao => học sinh phải cố gắng nghiên cứu, phần tích để trả lời cho những bài tập đó.
+ Luôn hỗ trợ, theo dõi, quan sát, khuyến khích, tạo ra những hứng thú cho học sinh bởi vì. nếu
bản thân giáo viên có đưa ra những yêu cầu, nhiệm vụ học tập cao bao nhiêu mà học sinh không
có hứng thú học tập để giải quyết nhiệm vụ học tập đó thì cũng vô ích.
+ Hướng dẫn cho học sinh tự tạo ra mâu thuẫn cho chính bản thân học sinh, đồng thời giáo viên
phải luôn kích thích động viên các em cố gắng.
+ Giáo viên cần phát hiện những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình dạy học.
+ Thường xuyên đổi mới, cải tiến nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
+ Tạo nên các hệ thống, các động lực và các điều kiện thúc đẩy quá trình dạy học không ngừng
vận động và phát triển.
Câu 7: Phương pháp thuyết trình 1.
Khái niệm: Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức, biện pháp hoạt động của giáo
viên và học sinh trong sự phối hợp, thống nhất dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực
hiện những nhiệm vụ giáo dục phù hợp với mục đích giáo dục. Có ba phương diện cần xét
trong vấn đề dạy học đó là: quan điểm, phương pháp dạy cụ thể, và kĩ thuật dạy.
+ Các phương pháp dạy học cụ thể: có các phương pháp như: phương pháp thảo luận, nghiên
cứu, thuyết trình, vấn đáp, học nhóm,... 2.
Phương pháp thuyết trình
Khái niệm : Là phương pháp GV dùng lời nói sinh động để trình bày, thông báo nội dung bài
học tới học sinh. Mục đích chính là để chuyển tải cho HS nội dung bài học giúp HS lĩnh hội tri
thức 1 cách hệ thống, trọn vẹn nhất
Các phương pháp thuyết trình bao gồm:
Giảng thuật:
là phương pháp giáo viên dùng lời nói để mô tả, tường thuật, kể lại, đặc điểm của
sự vật hiện tượng, trong đó có chứa nội dung tri thức.
Giảng giải: là phương pháp GV dùng các luận cứ, dẫn chứng, sự kiện, số liệu để phân tích, chứng minh, so sánh, phân
loại làm sáng tỏ các vấn đề, các quy tắc, định lí, định luật, công thức, khái niệm, thuật ngữ...
Giảng diễn: là phương pháp GV dùng lời nói để trình bày một vấn đề có tính trừu tượng cao,
có hệ thống, trọn vẹn,hoàn chỉnh của nội dung dạy học tương đối phức tạp và khái quát. c)
Đánh giá phương pháp thuyết trình Ưu điểm:
+Việc sử dụng ngôn ngữ diễn đạt rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, phù hợp với logic nhận thức và trình
độ người nghe, phương pháp thuyết
trình đã chuyển tải đến người học một khối lượng lớn thông tin cần thiết cho số lượng lớn học sinh.
+Khi thuyết trình, GV có thể thường xuyên thay đổi các biện pháp, các thủ thuật thuyết trình
và hiệu chỉnh lại nội dung tài liệu cho phù hợp với trình độ hiện tại của người nghe, cung cấp
cho người học những thông tin cập nhật, chưa kịp trình bày trong các tài liệu giáo khoa.
+ Các bài thuyết trình không chỉ cung cấp thông tin về đối tượng học tập cho người học mà còn
cung cấp cho phương pháp nhận thức, phương pháp tổng hợp, cấu trúc tài liệu học tập; giúp
người học phương pháp nhận thức.
+ Thái độ và sự nhiệt tình của GV khi thuyết trình có vai trò quan trọng trong việc tích cực hóa
hoạt động học tập và nghiên cứu
của người học, truyền cảm hứng và sáng tạo cho họ. Tạo điều kiện thuận lợi cho GV tác động
mạnh mẽ tới tư tưởng, tình cảm của người học qua giọng nói và phong cách sư phạm của mình Nhược điểm
+ Thu được rất ít thông tin phản hồi từ phía người học, do dạy học chủ yếu là truyền thụ một
chiều, không kiểm tra, thu thông tin ngược về mức độ lĩnh hội của HS.
+ Mức độ lưu giữ thông tin của người học rất ít do trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ làm việc của
người nghe thường xuyên bi ƒquá tải.
Chủ yếu sử dụng cơ chế ghi nhớ và tư duy tái tạo của người học.
+ Tính cá thể hóa trong dạy học thấp, do giảng viên phải dùng một số biện pháp chung cho cả
nhóm, lớp học sinh, không cho phép GV chú ý đến đầy đủ các trình độ nhận thức. + Ít có sự
tham gia tích cực của người học. Mức độ khai thác và liên kết giữa kinh nghiệm đã có của
người học với nội dung mới thấp. Người học gần như thụ động tiếp nhận thông tin từ phía
người thuyết trình, ít có cơ hội thể hiện và áp dụng các ý tưởng của mình đối với tài liệu học
tập, do đó, bài học dễ dẫn đến đơn điệu, nhàm chán.
+Thời gian thu hút và duy trì sự chú ý của người học vào nội dung bài học thấp hơn các phương
pháp khác. HS dễ bi ƒthụ động, mệt mỏi (vì phải nghe là chủ yếu và nghe trong thời gian dài)
Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng PPDH thuyết trình -
Chuẩn bị bài thuyết trình: Để bài thuyết trình có hiệu quả tốt, bước chuẩn bị không
kém phần quan trọng. GV cần xác định rõ mục tiêu, nội dung và cấu trúc bài giảng. Hiểu rõ
nội dung cần truyền đạt. Lập đề cương cho bài giảng. Xác định các bước truyền đạt tài liệu
cho phù hợp với người nghe -
Thực hiện bài thuyết trình:
+ Thu hút và duy trì sự chú ý của học sinh, gây được hứng thú học tập, hướng dẫn tư duy học
sinh: GV phải có thái độ tích cực, nhiệt tình và say sưa đối với nội dung bài dạy,
+ Trong khi giảng bài, GVphải phán đoán các phản ứng của học sinh, GV phải luôn luôn sẵn
sàng có thể thay đổi thủ thuật trình bày khi cần
Đặt vấn đề: Đây là bước rất quan trọng, trong đó GV phải “Tạo được tâm thế học tập” cho HS
Giải quyết vấn đề (nội dung chính của bài thuyết trình): Thông thường GV trình bày vấn đề
theo các con đường logic của sự nhận thức -
Sử dụng ngôn từ và phi ngôn từ trong thuyết trình
+ Lời nói của GV phải có sức thuyết phục, rõ ràng, chính xác, sinh động, hấp dẫn người nghe.
+ Cường độ của giọng nói phải lớn hơn mức nghe cần thiết để mọi người trong lớp đều nghe rõ.
+ Tốc độ nói cũng ảnh hưởng đến sự tiếp thu của học sinh
+ Điệu bộ, phong cách, cử chỉ của GV: Yếu tố khách quan của phương pháp thuyết trình là nội
dung bài giảng, yếu tố chủ quan là phong cách diễn đạt của GV. -
Hướng dẫn học sinh ghi chép: Cách ghi chép vào tập và tài liệu phát tay bằng
cách kết hợp bảng phấn, học sinh nên ghi theo cách hiểu, tóm tắt, không ghi nguyên văn
trừ định nghĩa, công thức.
Câu 8: Phương pháp vấn đáp
Khái niệm
: Phương pháp vấn đáp là phương pháp mà GV đặt ra một hệ thống câu hỏi cho
HS trả lời, đồng thời có thể trao đổi qua lại dưới sự định hướng của thầy nhằm làm sáng
tỏ những vấn đề mới, rút ra những kết luận cần thiết từ những tài liệu đã học cũng như từ
những kinh ghiệm đã tích lũy được trong hoạt động thực tế, nhờ đó mà HS được củng cố,
mở rộng và đào sâu những tri thức đã học, kiểm tra được việc nắm vững tri thức của HS,
có thể nói trong phương pháp này, hệ thống hỏi - đáp là nguồn kiến thức chủ yếu cung
cấp cho HS trong giờ học.
-Có 3 loại vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìm tòi.
+ Vấn đáp tái hiện: Được thực hiện khi những câu hỏi do giáo viên đặt ra chỉ yêu cầu học
sinh nhắc lại kiến thức.
+ Vấn đáp giải thích- minh họa được thực hiện khi những câu hỏi giáo viên đặt ra có kèm
theo các VD minh họa (bằng lời hay bằng hình ảnh trực quan) giúp học sinh dễ hiểu, dễ ghi nhớ.
+ Vấn đáp tìm tòi -phát hiện là loại vấn đáp mà giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến giữa
thầy với cả lớp, giữa trò với trò.
Ưu nhược điểm của phương pháp vấn đáp -
Ưu điểm: Vấn đáp có ý nghĩa kích thích HS tích cực, độc lập tư duy tìm ra câu trả
lời chính xác, đầy đủ. Lôi cuốn HS tham gia vào bài học, làm cho không khí lớp học sôi
nổi. Kích thích hứng thú học tập và lòng tự tin của HS. Rèn luyện cho HS năng lực diễn
đạt sự hiểu biết của mình và hiểu ý diễn đạt của người khác. GV thu nhận tức thời nhiều
thông tin phản hồi từ phía người học, duy trì sự chú ý của HS; Giúp GV thu nhận liên hệ
ngược và GV có điều kiện quan tâm đến từng HS. Kiểm soát hành vi của HS và quản lí lớp học. -
Nhược điểm: Nếu hệ thống câu hỏi không tốt dẫn đến tình trạng đặt câu hỏi
không rõ mục đích, HS dễ dàng trả lời có hoặc không. Nếu câu hỏi đặt ra chỉ đòi hỏi nhớ
lại tri thức một cách máy móc sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy logic, sáng tạo của
HS. Khó kiểm soát quá trình học tập của HS (có nhiều tình huống bất ngờ, thậm chí câu
hỏi từ phía người học, vì vậy giờ học dễ lệch hướng do câu hỏi vụn vặt, không nhất quán).
Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp, biến vấn đáp thành cuộc đối thoại
giữa giáo viên và một vài HS, không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung. d)
Yêu cầu sử dụng phương pháp -
Xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung vấn đề để đặt câu hỏi chính, phụ; Đặt
câu hỏi với nội dung chính xác, rõ ràng, dể hiểu và sát với trình độ HS; Đặt câu hỏi có tác
dụng kích thích tính tích cực, độc lập tư duy, phát triển hứng thú nhận thức của HS. -
Nội dung câu hỏi: chính xác, rõ ràng, sát với mục đích, yêu cầu của bài học -
Tính chất câu hỏi: mang tính vừa sức, phù hợp với từng đối tượng HS -
Cách đặt câu hỏi: Đặt câu hỏi cho toàn lớp rồi mới chỉ định HS trả lời. Có thể yêu
cầu những HS khác nhận xét, bổ sung câu trả lời nhằm thu hút sự chú ý lắng nghe câu trả
lời của HS trong toàn lớp.
-Thái độ GV trong vấn đáp: Lắng nghe HS trả lời một cách tôn trọng. Có thái độ bình
tĩnh khi HS trả lời sai hoặc thiếu chính xác, tránh thái độ nôn nóng, vội vàng cắt ngang khi không thật cần thiết. -
Chú ý uốn nắn, bổ sung câu trả lời của HS giúp HS hệ thống hoá lại những
tri thức đã thu được trong quá trình vấn đáp.
Câu 9: Đặc điểm của quá trình giáo dục a. Khái niệm
Quá trình giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dục và đối
tượng giáo dục nhằm hình ở đối tượng giáo dục ý thức, thái độ, tình cảm, hành vi, thói
quen phù hợp với các chuẩn mực chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ và văn hoá, làm
phát triển nhân cách học sinh theo mục đích của nhà trường và xã hội. b.
Giáo dục là một quá trình có tính phức tạp:
Thứ nhất, Tính phức tạp trước hết thể hiện ở đối tượng giáo dục. Đối tượng của quá trình
giáo dục là nhân cách người được giáo dục, là yếu tố mang tính phong phú đa dạng và
không dễ dàng trực tiếp quan sát, đo lường, đánh giá được. Quá trình giáo dục là tạo ra sự
chuyển biến trong tâm hồn học sinh cũng không thể đo lường ngay được, khó định tính một cách rõ ràng.
Thứ hai, tính phức tạp thể hiện ở chỗ đối tượng giáo dục chịu những tác động phức hợp từ
phía nhà trường, gia đình, xã hội. Trong nhà trường, những tác động đó có thể là của nhà
giáo dục, của tập thể lớp, của bạn bè, của nội quy nhà trường,…Trong gia đình, đó có thể
là những tác động của người lớn, của anh chị em, của nền nếp, gia phong,…Trong xã hội, có
những tác động từ phía phương tiện thông tin đại chúng, của người lớn, của những hiện
tượng xảy ra trong cuộc sống hành ngày mà các em được chứng kiến.
Thứ ba, kết quả của quá trình giáo dục không nhìn thấy ngay được, không đánh giá ngay
được. Kết quả của quá trình giáo dục là sự phát triển nhân cách của đối tượng giáo dục, là
những cái rất khó để định tính, định lượng một cách hoàn toàn chính xác. Kết quả giáo
dục cần có thời gian, điều kiện, hoàn cảnh mới bộc lộ ra ngoài.
Vì vậy, trong quá trình giáo dục, cần lưu ý:
+ Xem xét những tác động thường gặp có thể ảnh hưởng đến học sinh của mình, từ đó xác định
những tác động tích cực và tiêu cực.
+ Khai thác và tận dụng những tác động tích cực từ phía môi trường
+ Phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm tạo ra môi trường giáo dục thống nhất, lành mạnh,
góp phần loại trừ những tác động tiê cực.
+ Rèn luyện cho người học bản lĩnh để chống lại những cám dỗ tiêu cực từ phía môi trường. b.
Giáo dục là một quá trình có tính lâu dài:
Trong quá trình giáo dục, muốn đạt được kết quả giáo dục như mong muốn cần phải trải qua
một thời gian dài nhất định. Kết quả mong muốn của quá trình giáo dục thể hiện qua việc học
sinh đồng thời hình thành được cả ý thức, thái độ, tình cảm, niềm tin và hành vi, thói quen liên
quan đến các mặt đạo đức, thể chất, thẩm mỹ,…
Trong quá trình giáo dục, tính lâu dài thường gắn liền với tính liên tục. Nếu trong một lúc hay
một giai đoạn nào đó người được giáo dục thiếu ý chí, nghị lực thì hiệu quả của quá trình giáo
dục sẽ mất đi, thậm chí học sinh có thể tiêm nhiễm những thói hư, tật xấu, dẫn đến thoái hoá, biến chất.
Vì vậy, trong quá trình giáo dục cần: -
Giáo dục cho học sinh những chuẩn mực hành vi đã được quy định phải theo một quá
trình lâu dài, thường xuyên, liên tục, không được nóng vội cũng không được chậm chạp. -
Khởi dậy ý thức và năng lực tự đấu tranh bản thân một cách tự giác, tích cực, độc lập;
hình thành ở các em “sức đề kháng” trước những tác động xấu; hình thành ở các em năng lực,
ý thức và sự yêu mến cái hay, cái tốt. -
Giúp cho các em có những hành vi, thói quen xấu tự giác, tích cực và độc lập khắc
phục khó khăn, vươn lên vững chắc, không áp đặt, nóng vội đối với quá trình sửa chữa ở các em. -
Xây dựng và thực hiện một cách có kế hoạch, có tổ chức, có phương pháp, có hệ thống
những hoạt động giáo dục được thống nhất trong một quá trình giáo dục dài hạn và ngắn hạn
phù hợp với mục đích và nhiệm giáo dục. -
Tạo sự thống nhất trong môi trường giáo dục để học sinh được rèn luyện ở mọi lúc, mọi
nơi, khép kín các tác động cả về không gian lẫn thời gian c.
Quá trình giáo dục có tính cá biệt hóa cao
Quá trình giáo dục được thực hiện trong cuộc sống, hoạt động và giao lưu của mỗi cá nhân học
sinh. Để đạt được hiệu quả, tác động giáo dục ngoài việc đảm bảo mang tính khái quát
chung cần đảm bảo chú ý đến những điểm riêng biệt, cụ thể của mỗi đối tượng giáo dục.
Tính cụ thể của quá trình giáo dục được thể hiện ở chỗ: Tác động giáo dục cần phù hợp với
từng cá nhân học sinh với những tình huống giáo dục cụ thể, riêng biệt.
Mỗi học sinh đều là một cá nhân có tính độc lập tương đối về trình độ giáo dục, về kinh
nghiệm sống,…nên quá trình tác động giáo dục cần phải phù hợp với cái riêng, cái cụ thể đó.
Kết quả giáo dục cũng mang tính cụ thể đối với từng đối tượng giáo dục, đối với từng mặt,
từng yêu cầu giáo dục của từng quá trình giáo dục cụ thể.
Trong quá trình giáo dục cần: -
Quan tâm, tính đến những đặc điểm riêng của đối tượng giáo dục: đặc điểm tâm lý lứa
tuổi, điều kiện hoàn cảnh sống,…để nhà giáo dục có thể nhìn thấy hoặc dự đoán được
nguyên nhân của những thái độ, hành vi, thói quen…để có cách thức tác động phù hợp. -
Đa dạng hoá các loại hình hoạt động giáo dục để phù hợp với nhịp điệu phát triển của tất cả học sinh. -
Phát huy vai trò tự giác, chủ động của người được giáo dục. -
Nhà giáo dục cần phải thực sự yêu thương, quan tâm đến từng học sinh để hiểu tường
tận về các em. Có hiểu học sinh thì mới có thể cá biệt hoá tác động đến các em và đạt mục đích giáo dục d.
Quá trình giáo dục thống nhất biến chứng với quá trình dạy học
Quá trình giáo dục và quá trình dạy học là hai quá trình bộ phận của của một quá trình giáo dục
tổng thể. Vì vậy, hai quá trình này không tách rời nhau mà thống nhất biện chứng với nhau.
Sự thống nhất này được thể hiện ở chỗ: cả hai đều hướng đến hình thành và phát triển nhân cách
toàn vẹn cho người được giáo dục đáp ứng yêu cầu của phát triển của cá nhân và xã hội. Đều
có sự tham gia của cả giáo viên và học sinh, trong đó vai trò của giáo viên và học sinh là như nhau
Tính biện chứng của chúng được thể hiện qua sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau. Cụ thể:
Dạy học là một con đường cơ bản để thực hiện quá trình giáo dục: trên cơ sở tiếp thu được hệ
thống tri thức khoa học về tự nhiên, xã hội, tư duy mà hình thành ở học sinh thế giới
quan khoa học, quan điểm, tư tưởng chính trị, đạo đức, tình cảm, hành vi đúng đắn.
Quá trình dạy phải dẫn đến quá trình giáo dục, là một trong những kết quả, mục đích
quan trọng nhất của các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Mục đích cuối cùng của
dạy học là nhằm vào giáo dục nhân cach cho học sinh. Kết quả của quá trình thông qua “dạy
chữ” để “dạy người”.
Kết quả của quá trình giáo dục ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình dạy học. Đồng thời, việc tổ
chức các hoạt động giáo dục nhằm củng cố, khắc sâu, mở rộng kết quả dạy học nhiều môn
học. Mặc dù tồn tại độc lập tương đối với nhau nhưng hai quá trình dạy học và giáo dục
thống nhất với nhau, tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau nhằm đạt được
mục đích chung của giáo dục.
Câu 10 : Phương pháp giảng giải , khuyên răn. - Khái niệm:
Phương pháp giáo dục là một tổ hợp các cách thức hoạt động của nhà giáo dục và người được
giáo dục, được thực hiện trong sự phối hợp thống nhất với nhau, nhằm thực hiện các
nhiệm vụ giáo dục, hoàn thành mục đích giáo dục đã đề ra.
Phương pháp giảng giải , khuyên răn: Là phương pháp mà nhà giáo dục chủ yếu dùng
lời nói hoặc bằng các lập luận vững chắc để khuyên bảo, giải thích, chứng minh tính đúng đắn
của các chuẩn mực xã hội, giúp người được giáo dục nắm vững ý nghĩa, nội dung và cách
thực hiện các nguyên tắc, chuẩn mực về văn hóa, đạo đức, lối sống, hình thành ở người được
giáo dục niềm tin và mong muốn thực hiện. -
Ý nghĩa sử dụng phương pháp giáo dục:
+ Giúp người được giáo dục phân biệt được tốt - xấu, đúng - sai, những việc nên làm,những việc không nên làm.
+ Giúp người được giáo dục hình dung rõ nét những việc cần thực hiện trong các tình huống
giáo dục cụ thể, cách thực hiện, lý do phải thực hiện.
+ Nhà giáo dục và người được giáo dục có cơ hội hiểu nhau nhiều hơn. Tạo ra sự thân mật, gắn
bó giữa nhà giáo dục và người được giáo dục.
+ Tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các thành viên trong lớp, xây dựng mối quan hệ đoàn
kết, thân ái trong tập thể học sinh. -
Yêu cầu sử dụng phương pháp giáo dục
+ Nhà giáo dục phải chuẩn bị trước nội dung vấn đề cần khuyên giải với các đối tượng cụ
thể để, cần chuẩn bị những lý lẽ thuyết phục, lập luận vững chắc cả về phương diện lý luận
và thực tiễn. Nội dung giảng giải phải là những nội dung chuẩn mực, những giá trị đạo đức,
thẩm mỹ cần hình thành cho người được giáo dục, giúp các em hiểu được ý nghĩa của các
chuẩn mực và cách thực hiện đúng. Nội dung các chuẩn mực phải hấp dẫn, lôi cuốn được sự
chú ý của người nghe, gắn liền với thực tế, cuộc sống, hoạt động và kinh nghiệm của các em.
+ Nội dung giảng giải, khuyên răn cần làm rõ 3 vấn đề: Chuẩn mực đó là gì? Tại sao phải thực
hiện các chuẩn mực đó? Thực hiện các chuẩn mực đó như thế nào?
+ Căn cứ vào đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi và kinh nghiệm của người được giáo dục để
xây dựng các nội dung giảng giải, khuyên răn cho phù hợp.
+ Trước khi giảng giải, khuyên răng, nhà giáo dục cần tìm hiểu kỹ đối tượng hiểu rõ đối
tượng để tiếp cận và đưa ra cách khuyên giải phù hợp. Cần có sự thông cảm sâu sắc, dựa
trên cơ sở tình thương và khoan dung kết hợp với sự nghiêm khắc cần thiết một cách có lý có
tình mới khuyên giải có hiệu quả.
+ Khi giảng giải, khuyên răn, nhà giáo dục phải dùng lời nói rõ ràng, mạch lạc, khúc triết,
không lan man, dài dòng. Lập luận chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, nên có các minh họa cụ thể
và thực tế.Thái độ của nhà giáo dục phải chân thành, thiện chí, tôn trọng và đồng cảm với
người được giáo dục.
+ Kết thúc giảng giải, nhà giáo dục phải đưa ra những kết luận ngắn gọn, súc tích về các
chuẩn mực để người được giáo dục dễ nhớ, dễ hiểu và dễ vận dụng trong thực tiễn cuộc sống.
+ Bản thân nhà giáo dục phải thực sự gương mẫu và có uy tín với học sinh