











Preview text:
II. Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng từ 10 – 1930 đến tháng 5 – 1941
2.1. Luận cương chính trị a. Hoàn cảnh ra đời
Tháng 10/1930, sau 8 tháng Đảng ra đời, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung
ương lâm thời có ý nghĩa như một Đại hội tổ chức tại Hương Cảng tức Hồng Kông
(Trung Quốc) do điều kiện trong nước bị đế quốc đàn áp khủng bố gắt gao phong trào
cách mạng. Hội nghị họp từ ngày 14/10 đến ngày 31/10/1930 thảo luận và thông qua bản
Luận cương chánh trị, án nghị quyết của Trung ương toàn thể Đại hội, nói về tình hình
hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần thiết của Đảng, Điều lệ Đảng, hợp thành nội
dung Cương lĩnh thứ hai của Đảng. Hội nghị Trung ương quyết định đổi tên Đảng Cộng
sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, bầu đồng chí Trần Phú làm tổng bí thư. b. Nội dung
Cương lĩnh thứ hai mà bản Luận cương chính trị là văn kiện quan trọng, mang tên
Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương có những nội dung như sau:
Thứ nhất, Luận cương đã phân tích đặc điểm, tình hình xã hội thuộc địa nửa phong kiến
và nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương do giai
cấp công nhân lãnh đạo.
Thứ hai, Luận cương chỉ rõ: mẫu thuẫn chủ yếu trong xã hội Đông Dương là mâu thuẫn
giai cấp diễn ra gay gắt một bên là chợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với một
bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc.
Thứ ba, Luận cương vạch ra phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương là
lúc đầu cách mạng Đông Dương là cuộc “cách mạng tư sản dân quyền”, có tính chất thổ
địa và phản đế, “tư sản dân quyền cách mạng là thời kì dự bị để làm xã hội cách mạng”,
sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục “phát triển, bỏ qua thời kỳ tư
bổn mà đấu tranh thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”.
Thứ tư, Luận cương khẳng định nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng tư sản dân quyền là
đánh đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc chủ
nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ chiến lược đó có
quan hệ khăng khít với nhau, vì đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa
chủ, để tiến hành cách mạng thổ địa thắng lợi và có phá tan được chế độ phong kiến thì
mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa. Trong hai nhiệm vụ này, Luận cương xác định
“Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền” và là cơ sở để Đảng giành
quyền lãnh đạo dân cày.
Thứ năm, về lực lượng cách mạng, Luận cương chỉ rõ giai cấp vô sản vừa là động lực
chính của cách mạng tư sản dân quyền vừa là giai cấp lãnh đạo cách mạng. “Trong cuộc
cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chánh, nhưng
vô sản có cầm quyền lãnh đạo thì cách mạng mới thắng lợi được”1. Dân cày là lực lượng
đông đảo nhất và là động lực mạnh của cách mạng. Tư sản thương nghiệp thì đuéng về
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.94.
phe đế quốc và địa chủ chống lại cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đuéng về phía
quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc. Trong giai cấp
tiểu tư sản, bộ phận thủ công nghiệp thì có thái độ do dự; tiểu tư sản thương gia thì không
tán thành cách mạng; tiêu tư sản trí thức thì có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉ cps
thể hăng hái tham gia chống đế quốc trong thời kì đầu. Chỉ có các phần tử lao khổ ở đô
thị như những người bán hàng rong, thợ thủ công nhỏ, trí thức thất nghiệp thì mới đi theo cách mạng mà thôi.
Thứ sáu, về phương pháp cách mạng, Luận cương chỉ rõ, để đạt được mục tiêu cơ bản
của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công
nông thì phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường “võ trang bạo động”. Võ
trang bạo động để giành chính quyền là một nghệ thuật, “phải tuân theo khuôn phép nhà binh”.
Thứ bảy, về quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, Luận cương
khẳng định, cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, trước
hết là giai cấp vô sản Pháp, và phải mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng ở các
nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cách mạng cho
cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương.
Thứ tám, về vai trò lãnh đạo của Đảng, Luận cương khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng
“điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một
Đảng Cộng Sản có một đường chính chánh trị đúng, có kỉ luật, tập trung, mật thiệt liên
lạc với quần chúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành”2. Đảng là đội tiền phong của
giai cấp vô sản lấy chủ nghĩa Mac – Lenin làm gốc mà đại biểu quyền lợi chánh và lâu
dài, chung cho cả giai cấp vô sản ở Đông Dương ra tranh đấu để đạt được mục đích cuối
cùng của vô sản là chủ nghĩa cộng sản.
c. Ý nghĩa và hạn chế của Luận cương chính trị
Luận cương chính trị khẳng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc về chiến lược cách mạng
mà Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt đã nêu ra như vai trò lãnh đạo của Đảng,
tầm quan trọng trong quan hệ với cách mạng vô sản thế giới và lực lượng cách mạng chủ
yếu là công nhân và công dân. Bên cạnh những ưu điểm, Luận cương chính trị cũng có
một số hạn chế nhất định như sau:
Thứ nhất, Luận cương chính trị không nêu ra được mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa
dân tiộc Việt Nam và đế quốc Pháp, từ đó không đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu.
Thứ hai, đánh giá không đúng vai trò cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản, phủ nhận mặt
tích cực của tư sản dân tộc và chưa thấy khả năng phân hoá, lôi kéo một bộ phận địa chủ
vừa và nhỏ trong cách mạng giải phóng dân tộc. Từ đó, Luận cương đã không đề ra được
một chiến lược liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược và tay sai.
Thứ ba, phủ nhận quan điểm đúng đắn trong Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt
Thứ tư, đề cao việc đấu tranh giành độc lập cho toàn cõi Đông Dương nhưng lại bỏ qua
sự khác biệt về lịch sử, văn hoá giữa các nước, vì vậy không thể tập hợp sức mạnh, chung
sức chung lòng cùng làm cách mạng được.
2 Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 100.
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế nêu trên có thể xuất phát từ nhiều yếu tố như sau:
Một là, Luận cương chính trị chưa tìm ra và nắm vững những đặc điểm của xã hội thuộc
địa nửa phong kiến Việt Nam.
Hai là, do nhận thức giáo điều, máy móc về vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng
nửa thuộc địa, lại chịu ảnh hưởng trực tiếp khuynh hướng “tả” của Quốc tế Cộng sản và
một số Đảng Cộng sản trong thời gian đó.
Chính vì vậy, Hội nghị ban chấp hành Trung ương tháng 10/1930 đã không chấp nhận
những quan điểm mới, sáng tạo, độc lập tự chủ của Nguyễn Ái Quốc được nêu trong
Đường cách mệnh, Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt. Ngày 18/11/1930, Ban
Thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị thành lập Hội phản đế đồng minh, nêu lên tư
tưởng chiến lược cách mạng đúng đắn của Đảng coi việc đoàn kết toàn dân thành một lực
lượng thật rộng rãi, lấy công nông làm hai động lực chính, là một nhân tố quyết định
thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc. Chỉ thị phê phán những nhận thức sai lầm trong
Đảng đã tách rời vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, nhận thức không đúng về vấn đề
đoàn kết dân tộc, về vai trò của Hội phản đế đồng minh trong cách mạng ở thuộc địa.
2.2. Quá trình khắc phục hạn chế và hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng
dân tộc từ tháng 3 – 1935 đến tháng 5 – 1941
2.2.1 Giai đoạn tháng 3/1935 – 11/1939
2.2.1.1 Đại hội Đảng lần I (3/1935)
Nhờ sự cố gắng phi thường của Đảng, được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, đến cuối
năm 1934 đầu năm 1935 hệ thống tổ chức của Đảng đã được khôi phục và phong trào
quần chúng dần được nhen nhóm lại. Khi hệ thống tổ chức của Đảng được khôi phục từ
cơ sở đến Trung ương, Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng quyết định triệu tập Đại hội Đảng.
Tháng 3/1935, Đại hội lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma Cao (Trung Quốc), đáh dấu sự
hồi phục của phong trào cách mạng đồng thời tiếp tục vạch ra chủ trương nhiệm vụ trước
mắt của phong trào cách mạng Đông Dương.
Tại Đại hội lần thứ I đề ra ba nhiệm vụ trước mắt: 1) Củng cố và phát triển Đảng; 2) Đẩy
mạnh cuộc vận động tập hợp quần chúng; 3) Mở rộng tuyên truyền chống đế quốc, chống
chiến tranh, ủng hộ Liên Xô và ủng hộ cách mạng Trung Quốc…Đại hội thông qua Nghị
quyết chính trị, Điều lệ Đảng và các nghị quyết về vận động quần chúng. Tuy nhiên, Đại
hội lần thứ I một lần nữa cho thấy vẫn tiếp tục đứng trên quan điểm của Hội nghị lần thứ
I (10/1930), vẫn chưa đề ra một chủ trương chiến lược phù hợp với giải phóng dân tộc lên
hàng đầu và tập hợp lực lượng toàn dân tộc. Cũng tại Đại hội đó, đồng chí Nguyễn Ái
Quốc cũng chỉ rõ: “Chính sách Đại hội Ma Cao vạch ra không sát với phong trào cách
mạng thế giới và trong nước lúc bấy giờ”. Mặc dù còn nhiều điểm hạn chế song các nghị
quyết nói trên của Đảng đã được góp phần to lớn đưa phong trào cách mạng của quần
chúng trong cả nước dần dần được phục hồi với nhiều hình thức khác nhau. Các cơ sở
Đảng được nối lại, các cơ sở quần chúng được xây dựng, các phong trào đấu tranh nhất là
công nhân và nông dân đã hoạt động trở lại. Phong trào cách mạng Việt Nam lại bước
vào thời kì đấu tranh mới.
2.2.1.2 Phong trào dân chủ 1936 – 1939
a. Hoàn cảnh lịch sử
Trên thế giới, hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1923 đã làm
cho mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản thêm gay gắt và phong trào cách mạng của
quần chúng dâng cao. Một số nước đi vào con đường phát xít hoá: dùng bạo lực để đàn
áp phong trào đấu tranh trong nước và ráo riết chạy đua vũ trang phát động chiến tranh
thế giới mới. Chủ nghĩa phát xít thắng thế ở Đức, Ý, Nhật, chúng liên kết với nhau lập ra
phe “Trục”, tuyên bố chống Quốc tế Cộng sản và phát động chiến tranh thế giới chia lại
thị trường. Nguy cơ phát xít và chiến tranh thế giới đe doạ nghiêm trọng nền hoà bình và
an ninh quốc tế. Đại hội VII Quốc tế Cộng sản họp tại Matxcơva (7/1935) đã xác định kẻ
thù nguy hiểm trước mắt của nhân dân trên thế giới chưa phải là chủ nghĩa đế quốc nói
chung mà là chủ nghĩa phát xít. Nhiệm vụ trước mắt của giai cấp nông dân và nhân dân
lao động thế giới chưa phải là đấu tranh lật độ chủ nghĩa tư bản, giành chính quyền mà là
chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, hoà bình và cải thiện đời sống. Đối với
các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, vấn đề lập mặt trận thống nhất chống đế quốc có
tầm quan trọng đặc biệt.
Trong nước, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới có nhiều biến động ảnh hưởng sâu
sắc tới đời sống của mọi giai cấp, tầng lớp xã hội. Trong khi đó, bọn cầm quyền phản
động ở Đông Dương ra sức vơ vét, bốc lột và khủng hoảng phong trào đấu tranh của nhân
dân làm cho bầu không khí chính trị trở nên ngột ngạt, yêu cầu có những cải cách dân chủ.
b. Những quan điểm và chủ trương của Đảng
Chủ trương và nhận thức mới của Đảng trong giai đoạn này trước hết được thể hiện qua
các hội nghị Trung ương lần thứ II (7/1936), rồi tiếp tục bổ sung trong các hội nghị Trung
ương tháng 3/1937, tháng 9/1937, tháng 3/1938.
Ngày 26/7/1936, Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ II tại Thượng
Hải, do đồng chí Lê Hồng Phong chủ trì, nhằm “sữa chữa những sai lầm” trước đó và
“định lại chính sách mới” dựa theo những nghị quyết của Đại hội lần thứ VII Quốc tế
Cộng sản3. Nội dung cơ bản của hội nghị trên bao gồm:
Về mặt tư tưởng đã xác định rằng mục tiêu chiến lược không thay đổi so với Hội
nghị lần thứ I “cách mạng tư sản dân quyền – phản đế và điền địa – lập chính quyền công
nông bằng hình thức Xô Viết”, “để dự bị điều kiện đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa”.
Về xác định kẻ thù trước mắt và nguy hại nhất là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng.
Về nhiệm vụ và mục tiêu đấu trạnh là chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc,
chống bọn phản động thuộc địa tay và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình. Để
thực hiện nhiệm vụ này, Ban chấp hành Trung ương quyết định thành lập Mặt trận nhân
dân phản đề gồm các giai cấp, đảng phái các đoàn thể chính trị và các tôn giáo khác nhau,
các dân tộc xứ Đông Dương để đấu tranh đòi những quyền dân chủ đơn sơ.
Về hình thức tổ chức và biện pháp đấu tranh hội nghị chủ trương chuyển hình
thức từ tổ chức bí mật không hợp pháp sang hình thức tổ chức và đấu tranh công khai,
nửa công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp. Mục đích mở rộng quan hệ của Đảng với quần chúng.
3 Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7,tr.21
Về đoàn kết quốc tế phải đoàn kết với giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Pháp,
ủng hộ Mặt trận Nhân dân Pháp, ủng hộ Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp để cùng
chống kẻ thù chung là phát xít và phản động thuộc địa ở Đông Dương.
Tháng 10/1936, Trung ương Đảng được tổ chức lại do đồng chí Hà Huy Tập làm
Tổng Bí thư, trong văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới Ban Chấp hành Trung
ương cũng đặt ra vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ,
phản đế và điền địa trong cách mạng Đông Dương: cách mạng giải phóng dân tộc không
nhất thiết phải gắn kết chặt với cuộc cách mạng điền địa. “Nếu phát triển cuộc đấu tranh
chia đất mà ngăn trở cuộc đấu tranh phản đế thì phải chọn vấn đề nào quan trọng hơn mà
giải quyết trước”. Đó là nhận thức mới phù hợp với tinh thần Cương lĩnh cách mạng đầu
tiên của Đảng, bước đầu khắc phục hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930.
Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào quần chúng từ giữa năm 1936 trở đi khẳng
định sự chuyển hướng chỉ đạo cách mạng đúng đắn của Đảng. Các Hội nghị lần tháng
3/1937, tháng 9/1937, tiếp đó là Hội nghị tháng 3/1938 đã đi sâu về công tác tổ chức của
Đảng, quyết định chuyển mạnh hơn nữa về phương pháp tổ chức và hoạt động để tập hợp
được đông đảo quần chúng trong mặt trận chống phản động thuộc địa, chống phát xít, đòi
tự do, cơm áo, hòa bình.
Cùng với việc đề ra chủ trương cụ thể, trước mắt để lãnh đạo phong trào dân chủ
1936 – 1939, Ban chấp hành Trung ương Đảng đặt vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa
hai nhiệm vụ phản đế và điền địa. Chỉ thị của Ban Trương ương Đảng Cộng sản Đông
Dương Gửi các tổ chức Đảng (26/7/1936) chỉ rõ “ở một xứ thuộc địa như Đông Dương,
trong hoàn cảnh hiện tại, nếu chỉ quan tâm đến sự phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp
có thể sẽ nảy sinh những khó khăn để mở rộng phong trào giải phóng dân tộc”4. Tại Hội
nghị tháng 7/1939 Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ cho xuất bản tác phẩm Tự chỉ trích,
nhằm rút kinh nghiệm về những sai lầm, thiếu sót của Đảng viên, hoạt động công khai
trong cuộc vận động tranh cử ở Hội đồng quản hạt Nam kỳ (4/1939). Tác phẩm đã phân
tích những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng, tổng kết kinh nghiệm cuộc vậnđộng dân chủ
của Đảng, nhất là về đường lối xây dựng Mặt trận dân chủ Đông Dương. Tác phẩm
không chỉ có tác dụng lớn trong cuộc đấu tranh khắc phục những lệch lạc, sai lầm trong
phong trào vận động dân chủ, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng, mà
còn là một văn kiện lý luận quan trọng về công tác xây dựng Đảng, vận động quần chúng.
c. Những kết quả đạt được
Đường lối chính trị do Đảng đưa ra đã thay đổi trong quan điểm, phù hợp với tính
thần Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và bước đầu khắc phục những hạn chế của
Luận cương chính trị tháng 10/1930 về chiến lược, nhiệm vụ, lực lượng cách mạng và
phạm vi giải quyết vấn đề về dân tộc.
Về nhiệm vụ đã xác định đúng kẻ thù trước mắt và nguy hại nhất là bọn phản động
thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng. Đây là biểu hiện sinh động trong nhận thức mới của
Đảng về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.349 – 350, 74.
Về chiến lược đã tách được cuộc cách mạng điền địa ra khỏi cách mạng dân tộc.
Đã đặt đúng mục tiêu giải phóng dân tộc lên hàng đầu, giải quyết vấn đề dân tộc là cốt yếu.
Về lực lượng cách mạng: có được mối quan hệ giữa liên minh công – nông và mặt
trận đoàn kết dân tộc rộng rãi. Phát huy được sức mạnh toàn dân.
Về phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc: khoanh vùng chính xác phạm vi Việt Nam,
không phải toàn Đông Dương. Giải quyết tình hình dân tộc là ưu tiên hơn cả.
2.2.2 Giai đoạn tháng 11/1939 – 5/1941
a. Hoàn cảnh lịch sử
Tình hình thế giới, ngày 1/9/1939, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ và lan rộng
trên phạm vi thế giới đã chi phối sâu sắc đời sống kinh tế, chính trị, xã hội tất cả các
nước. Cách mạng Pháp bị khủng bố và đàn áp. Mặt trận nhân dân Pháp vỡ trận, Đảng
cộng sản Pháp bị tổn thất nặng nề. Tháng 6/1940, Đức tấn công Pháp và Chính phủ Pháp
đã đầu hàng. Ngày 22/6/1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô. Từ khi phát xít Đức
tấn công Liên Xô, tính chất chiến tranh đế quốc chuyển thành cuộc chiến tranh giữa các
lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu.
Tình hình trong nước, ở các nước Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính
sách thời chiến phản động cả về kinh tế, chính trị lẫn quân sự. Thực hiện chính sách
“kinh tế chỉ huy” tăng cường vơ vét sức người, sức của phục vụ chiến tranh, bắt lính sang
Pháp làm bia đỡ đạn. Lợi dụng sự thất thủ của Pháp ở Đông Dương, tháng 9/1940 Nhật
Bản cho quân xâm lược Đông Dương, Pháp nhanh chóng đầu hàng và dâng Đông Dương
cho Nhật. Chịu cảnh “một cổ hai tròng” đời sống nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh ngột
ngạt về chính trị, bần cùng về kinh tế. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Pháp, Nhật
và tay sai phản động ngày càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
b. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng
Nội dung chuyển hướng thể hiện qua các Hội nghị Trung ương lần thứ VI (11/1939); Hội
nghị Trung ương lần thứ VII (7/1940); Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (5/1941).
• Hội nghị Trung ương lần thứ VI (11/1939) - Nội dung Hội nghị
Hội nghị phân tích tính chất của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai: đây là cuộc chiến
tranh giữa hai tập đoàn đế quốc nhằm tranh giành, chia lại thị trường thế giới. Thủ phạm
chính của cuộc chiến tranh là phát xít Đức - Ý - Nhật. Các nước đế quốc trong khi đánh
nhau đều có âm mưu xoay cuộc chiến chĩa mũi nhọn vào Liên Xô. Hội nghị nhận định:
chiến tranh thế giới sẽ gieo đau thương tai hoạ ghê gớm cho loài người “thế giới sẽ là cái
lò sát sinh lớn? Nhân loại sẽ phải chịu một số kiếp vô cùng thê thảm”.
Về tình hình Đông Dương, Hội nghị nhận định Đông Dương sẽ bị lôi kéo vào guồng
máy chiến tranh "một cuộc đại thảm sát xưa nay chưa từng thấy”, phát xít Nhật sẽ xâm
chiếm Đông Dương và Pháp sẽ đầu hàng Nhật. Chế độ cai trị ở Đông Dương đã trở thành
chế độ phát xít “một thứ phát xít quân nhân thuộc địa nên lại càng tham tàn độc ác bội
phần”. Toàn bộ đời sống xã hội của các giai cấp, các dân tộc ở Đông Dương bị đảo lộn.
Hội nghị phân tích rõ thái độ từng giai cấp trong xã hội, xu hướng chính trị của các đảng phái, tôn giáo.
Hội nghị kết luận mối liên quan lực lượng các giai cấp như sau: Một bên là đế
quốc Pháp cầm hết quyền kinh tế chính trị dựa vào bọn vua quan bổn xứ thối nát và bọn
chó săn phản bội dân tộc. Một bên là tất cả các dân tộc bổn xứ bị đế quốc chủ nghĩa Pháp
áp bức như trâu ngựa và đẽo rút xương tuỷ... Những thảm trạng do đế quốc chiến tranh
gây nên sẽ làm cho trình tự cấp tiến hoá và cách mệnh hoá của quần chúng hết sức mau
chóng... Cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị gây nên bởi đế quốc chiến tranh lần này sẽ
nung nấu cách mệnh Đông Dương nổ bùng...
Sau khi phân tích rõ mâu thuẫn chủ yếu, gay gắt nhất ở Đông Dương lúc này là
mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc Đông Dương, Hội nghị xác định mục tiêu chiến
lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các
dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. “Bước đường sinh tồn của
các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế
quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng độc lập”.
Nhằm tập trung mọi lực lượng phục vụ nhiệm vụ chủ yếu là chống chiến tranh đế
quốc, giành độc lập dân tộc, Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng
đất, thay bằng khẩu hiệu “tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân
tộc”. Lần đầu tiên, Hội nghị làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phản đế và phản
phong kiến, xác định rõ nhiệm vụ phản đế là quan trọng, làm rõ thêm tính chất khăng khít
nhưng không tiến hành nhất loạt ngang nhau giữa hai nhiệm vụ đó.
Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế
Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương, dựa trên cơ sở liên minh công
nông là “hai lực lượng chính của cách mạng” để đoàn kết tất cả các giai cấp các đảng
phái, các dân tộc các phần tử phản đế chĩa mũi nhọn của cách mạng vào kẻ thù chủ yếu là
đế quốc và tay sai của chúng. Khẩu hiệu lập chính quyền Xôviết công, nông binh được
thay thế bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hoà.
Về phương pháp cách mạng, Hội nghị quyết định chuyển từ đấu tranh đòi quyền
dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai, từ
hoạt động hợp pháp nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp “bước tới bạo
động làm cách mạng giải phóng dân tộc”.
Hội nghị đặc biệt chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, đề ra những nguyên tắc
và biện pháp cụ thể nhằm củng cố Đảng về mọi mặt. Phải thống nhất ý chí và hành động,
phải mật thiết liên lạc với quần chúng, phải có vũ trang lý luận cách mạng phải lập tức
khôi phục hệ thống tổ chức Đảng Trung - Nam - Bắc, phải khuếch trương và củng cố cơ
sở Đảng ở các thành thị, các trung tâm điểm kỹ nghệ và các hầm mỏ, đồn điền, thực hiện
tự phê bình và đấu tranh trên hai mặt trận chống “tả” khuynh và “hữu” khuynh, đặc biệt
chú trọng sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11/1939 đánh dấu bước phát triển quan
trọng về lý luận và đường lối phương pháp cách mạng của Đảng, thể hiện sự nhạy bén về
chính trị và năng lực sáng tạo của Đảng. Nghị quyết góp phần làm phong phú kho tàng lý
luận của Đảng ta về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân5.
- Đánh giá Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VI
5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.6, tr.509 – 567.
Hội nghị Trung ương Đảng lần VI (11/1939) đã giải quyết được hạn chế trong Luận
cương đó là Đảng ta đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đoàn kết được rộng rãi
mọi tầng lớp giai cấp, dân tộc Đông Dương trong một mặt trận dân tộc thống nhất để đấu
tranh chống kẻ thù chung. Trong khi luận cương đặt nặng vấn đề đấu tranh giai cấp và
cách mạng ruộng đất thì Hội nghị lần 6 tạm giác khẩu hiệu “Cách mạng ruộng đất”, thay
bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian chia cho dân cày. Sự chuyển
hướng này đã mở ra một thời kỳ đấu tranh mới, thời kỳ trực tiếp mở đường tiến tới thắng
lợi của cách mạng tháng Tám sau này.
Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương
thay cho Mặt trận Dân chủ, quyết định những hình thức đấu tranh phù hợp với tình hình
và nhiệm vụ mới, trong đó chú trọng tới công tác xây dựng Đảng để tạo nên sự thống
nhất về ý chí hành động. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển quyết định trong chỉ đạo
cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn trực tiếp giành độc lập dân tộc.
• Hội nghị Trung ương lần thứ VII (11/1940) - Nội dung Hội nghị
Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng phát xít Đức, lập Chính phủ bù nhìn Visi (Vichy). Lợi
dụng cơ hội này, từ cuối tháng 9/1940, phát xít Nhật kéo quân vào chiếm Đông Dương.
Nhân dân Đông Dương lâm vào tình cảnh “một cổ hai tròng”. Quần chúng nung nấu căm
hờn, khởi nghĩa Bắc Sơn đã nổ ra, nhân dân Nam Kỳ đang ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa.
Sau Hội nghị Trung ương tháng 11/1939, nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng bị sa vào tay giặc.Trước tình hình ấy, Trung ương Đảng
họp Hội nghị từ ngày 6 đến ngày 9/11/1940, tại làng Đình Bảng (huyện Từ Sơn, Bắc
Ninh). Tham dự Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hạ Bá Cang, Hoàng Văn Thụ,
Phan Đăng Lưu, Trần Đăng Ninh.
Phân tích tình hình thế giới, Hội nghị nêu rõ: Cuộc chiến tranh thế giới ngày càng
lan rộng, đế quốc Pháp đã bại trận, phát xít Nhật thừa cơ mở rộng chiến tranh, giành lấy
những thuộc địa của Pháp, Anh, Mỹ ở Viễn Đông. Hội nghị nhận định: “Cuộc đế quốc
chiến tranh này rất có thể chuyển biến thành cuộc chiến tranh giữa đế quốc với Liên Xô”.
Về tình hình trong nước, Hội nghị nhận định, từ khi phát xít Pháp - Nhật câu kết, áp
bức bóc lột nhân dân ta, mâu thuẫn giữa chúng và toàn thể dân tộc Việt Nam càng trở nên
sâu sắc, một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái
sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động
giành lấy quyền tự do độc lập.
Về tình hình Đảng và các hội quần chúng, Hội nghị chỉ rõ, từ khi Đảng ta chủ
trương lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thì nhiều nơi lại xao nhãng
việc tổ chức Công hội và Nông hội, chỉ chú trọng tổ chức Hội Phản đế cứu quốc.
Hội nghị khẳng định: “Tình thế hiện tại không thay đổi gì tính chất cơ bản của
cuộc cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương”, chủ trương chuyển hướng về chỉ đạo
chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm rút khẩu hiệu cách mạng ruộng đất
của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939 là đúng.
Hội nghị chỉ rõ, kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là đế
quốc Pháp - Nhật. Hội nghị quyết định hai vấn đề cấp thiết trước mắt: vấn đề thứ nhất,
duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập những đội du kích, dùng hình thức vũ trang
công tác, xây dựng cơ sở cách mạng, khi cần thiết thì chiến đấu chống địch khủng bố,
tiến tới thành lập căn cứ du kích, lấy vùng Bắc Sơn, Võ Nhai làm trung tâm, do Trung
ương trực tiếp chỉ đạo. Đồng chí Hoàng Văn Thụ chịu trách nhiệm thực hiện Nghị quyết
này. Vấn đề thứ hai, sau khi nghe báo cáo về tình hình Nam Bộ, Hội nghị chỉ thị cho Xứ
uỷ Nam Kỳ đình chỉ khởi nghĩa vũ trang ở Nam Bộ vì chưa có đủ kiện chủ quan và khách
quan bảo đảm giành thắng lợi. Đồng chí Phan Đăng Lưu, ủy viên Trung ương Đảng được
giao nhiệm vụ truyền đạt chủ trương này của Trung ương đến Đảng bộ Nam Kỳ.
Ban Chấp hành Trung ương lâm thời được thành lập gồm các đồng chí Trường
Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phan Đăng Lưu, do đồng chí Trường Chinh làm quyền Tổng Bí
thư. Hội nghị cũng quyết định chắp mối liên lạc với Quốc tế Cộng sản và bộ phận của Đảng ở nước ngoài.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 1/1940 sáng suốt nhận định kẻ thù
chính của nhân do Đông Dương lúc đó là phát xít Pháp - Nhật, đồng thời có chủ trương
đúng về cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ6 .
- Đánh giá Hội nghị Trung ương lần thứ VII
Sau khi nghe báo cáo về tình hình Nam Bộ, Hội nghị chỉ thị cho Xứ uỷ Nam Kỳ đình
chỉ khởi nghĩa vũ trang ở Nam Bộ vì chưa có đủ điều kiện chủ quan và khách quan bảo
đảm giành thắng lợi do Hội nghị đã nhìn nhận được khởi nghĩa chưa đặt trong sức mạnh
toàn quốc, công tác xây dựng lực lượng, xây dựng vũ trang còn chưa vững mạnh, và bị
thực dân Pháp khủng bố khốc liệt.
Hội nghị cũng xác định rõ kẻ thù chính lúc này là phát xít Pháp-Nhật, nhấn mạnh vấn
đề mâu thuẫn dân tộc, tạm rút khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, giải quyết được một phần
hạn chế của luận cương.
Hội nghị Trung ương lần VII chưa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phải thống
nhất ý chí và hành động, phải mật thiết liên lạc với quần chúng, phải có vũ trang lý luận
cách mạng phải lập tức khôi phục hệ thống tổ chức Đảng Trung - Nam - Bắc, phải
khuếch trương và củng cố cơ sở Đảng thực hiện tự phê bình và đấu tranh, đặc biệt chú
trọng sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, đây là bước thụt lùi so với Hội nghị Trung ương lần VI.
• Hội nghị Trung ương lần thứ VIII - Nội dung Hội nghị
Hội nghị phân tích nguồn gốc, đặc điểm, tính chất của cuộc Chiến tranh thế giới thứ
hai, từ đó nhận định phát xít Đức sẽ tấn công Liên Xô và chiến tranh Thái Bình Dương sẽ
bùng nổ. Loài người sẽ bị tàn sát ghê gớm trong cuộc chiến tranh phát xít. Phe Đồng
minh chống phát xít nhất định sẽ thắng lợi, phe phát xít nhất định sẽ thất bại, phong trào
cách mạng thế giới sẽ phát triển mạnh mẽ.
Hội nghị dự đoán: nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước
xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ
nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công. Hội nghị nhận định cuộc cách
mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới, của phong trào dân chủ chống phát xít.
6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.20 – 28.
Hội nghị chỉ rõ: nhân dân Đông Dương phải chịu những hậu quả nặng nề của cuộc
chiến tranh thế giới, vì vậy thái độ chính trị của các giai cấp có thay đổi khá lớn. Mâu
thuẫn chủ yếu phải được giải quyết cấp bách lúc này là mâu thuẫn giữa các dân tộc Việt
Nam với bọn đế quốc phát xít Pháp - Nhật. Hội nghị tán thành Nghị quyết của các Hội
nghị Trung ương lần thứ sáu, bảy về chuyển hướng chiến lược và sách lược. Hội nghị đề
ra nhiều chủ trương, chính sách cụ thể, nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề dân tộc,
nhấn mạnh Đảng của giai cấp công nhân, nếu muốn tập hợp lực lượng toàn dân thì phải
giương cao ngọn cờ dân tộc, phải đoàn kết hết sức rộng rãi “Trong lúc này quyền lợi của
bộ phận, của giai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong
lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự
do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa
trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
Theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định thành lập Mặt
trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Các tổ chức quần chúng yêu
nước chống đế quốc trong Mặt trận đều lấy tên là Hội Cứu quốc như Hội Công nhân Cứu
quốc, Hội Nông dân Cứu quốc, Hội Phụ nữ Cứu quốc, Hội Thanh niên Cứu quốc, Hội
Phụ lão Cứu quốc, Hội Nhi đồng Cứu vong, Hội Quân nhân Cứu quốc... Với các dân tộc
Lào, Cao Miên, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận ở mỗi nước, tiến tới thành lập một
Mặt trận chung Đông Dương.
Nhằm triệt để phát huy yếu tố dân tộc, phân hoá hàng ngũ giai cấp địa chủ, Hội
nghị tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất
cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia
cho dân cày nghèo, chia lại ruộng công, giảm tô, giảm tức”.
Hội nghị xác định: phương pháp cách mạng là “cuộc cách mạng Đông Dương kết
liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”. Hội nghị quyết định phải xúc tiến công tác
chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, khi thời cơ đến “với lực lượng sẵn có ta có thể lãnh đạo
một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà
mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”.
Hội nghị quyết định đặt vấn đề dân tộc trong khuôn khổ của một nước Việt Nam,
Lào, Khơ me, thi hành đúng quyền “dân tộc tự quyết”, với tinh thần liên hệ mật thiết,
giúp đỡ nhau giành thắng lợi..
Hội nghị đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo sự nghiệp
cách mạng của dân tộc. Nghị quyết Hội nghị đề ra gấp rút đào tạo cán bộ và tăng thêm
thành phần vô sản trong Đảng.
Hội nghị bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức gồm các đồng chí Trường
Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang, Phùng Chí Kiên, đồng chí Trường Chinh làm Tổng
Bí thư của Đảng. Ban Thường vụ Trung ương Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh,
Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang.
Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh chủ
trương thay đổi chiến lược cách mạng được đề ra từ Hội nghị tháng 11/1939, có ý nghĩa
quyết định thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
- Đánh giá Hội nghị Trung ương lần thứ VII
Hội nghị tháng 5/1941 đã giải quyết được hạn chế sau của Luận cương chính trị:
Thứ nhất, xác định động lực cách mạng là công nhân và nông dân. Chưa tập hợp
được toàn dân tộc chống đế quốc, chưa đánh giá đúng khả năng cách mạng của các giai
cấp, tầng lớp khác ngoài công nhân và nông dân.
Thứ hai, nếu như hội nghị tháng 11/1939 đánh dấu sự chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu nhưng vẫn là giải quyết vấn đề dân
tộc trong khuôn khổ 3 nước Đông Dương thì phải đến hội nghị tháng 5/1941, vấn đề dân
tộc mới được giải quyết trong khuôn khổ từng nước. Hội nghị quyết định thành lập Mặt
trận Việt Nam độc lập đồng minh thay cho Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông
Dương, thay tên các hội Phản đề thành hội cứu quốc và giúp đỡ thành lập mặt
trận ở các nước Lào, Campuchia.
Hội nghị lần thứ VIII (khóa I) của Trung ương Đảng có ý nghĩa lịch sử đặc biệt
quan trọng đối với cách mạng nước ta. Nghị quyết của hội nghị thể hiện một cách sâu sắc
và hoàn chỉnh vấn đề giải phóng dân tộc, đánh dấu bước tiến mới trong tư duy cách mạng
và sự lãnh đạo của Đảng, khẳng định bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam; có ý
nghĩa quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945. Nghị quyết của Hội nghị lần
thứ VIII và những chủ trương sáng suốt của Nguyễn Ái Quốc được toàn Đảng, toàn quân,
toàn dân ra sức phấn đấu thực hiện, đi đến thành công.