

















Preview text:
Đề cương Lịch Sử Đảng
Vấn đề 2: Chiến lược cách mạng (1939 – 1945)
6. Vai trò các nghị quyết quan trọng của Đảng đối với sự phát triển của Cách mạng
Việt Nam giai đoạn 1939 – 1945? Ý nghĩa việc chuẩn bị lực lượng cách mạng giai đoạn này?
* Vai trò các nghị quyết quan trọng
Xác định đường lối đấu tranh đúng đắn
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (1939) xác định kẻ thù chính là chủ
nghĩa đế quốc và phát xít, kêu gọi nhân dân Việt Nam đấu tranh chống lại
thực dân Pháp và phát xít Nhật.
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (1941) đưa ra chiến lược cụ thể: thành
lập Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào
phong trào đấu tranh, từ đó nâng cao nhận thức chính trị, đồng thời xác định
nhiệm vụ hàng đầu là "giành độc lập dân tộc" thay vì cách mạng vô sản.
Đề ra phương thức đấu tranh phù hợp
- Đảng chủ trương sử dụng phương pháp đấu tranh vũ trang kết hợp đấu tranh
chính trị, đồng thời xây dựng các tổ chức quân sự tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
- Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 8 đã quyết định chuẩn bị các điều kiện cho
tổng khởi nghĩa vũ trang, từ đó tiến đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Đảng đã thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (1944), tạo
nền móng cho các lực lượng cách mạng
Xây dựng và củng cố lực lượng cách mạng
- Nghị quyết của các hội nghị Trung ương khẳng định tầm quan trọng của việc
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, thành lập Mặt trận Việt Minh, bao gồm
các tầng lớp yêu nước từ trí thức, nông dân, đến công nhân
- Các nghị quyết còn nhấn mạnh vai trò của công tác tổ chức Đảng, tuyển
chọn và huấn luyện đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đảm bảo sự đoàn kết và đồng
lòng trong phong trào cách mạng.
Định hướng và chuẩn bị cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
- Các nghị quyết giúp Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh, xây dựng các căn
cứ địa, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước khi Nhật đầu hàng Đồng
Minh (8/1945), tạo cơ hội vàng cho tổng khởi nghĩa
- Sự chỉ đạo kịp thời, quyết đoán của Đảng đã đưa đến thành công của Cách
mạng Tháng Tám, giành chính quyền về tay nhân dân và lập nên nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2/9/1945.
* Ý nghĩa việc chuẩn bị lực lượng cách mạng giai đoạn này?
Tạo dựng nền tảng vững chắc cho cách mạng
- Việc chuẩn bị lực lượng giúp Đảng xây dựng và củng cố các tổ chức cách
mạng, hình thành cơ sở quần chúng vững mạnh, bao gồm lực lượng công
nhân, nông dân, trí thức, thanh niên và các tầng lớp yêu nước khác.
- Thành lập các đội vũ trang tự vệ, hình thành những cơ sở cách mạng ở vùng
nông thôn, thành thị và vùng căn cứ địa đã tạo nền móng cho sự lớn mạnh
của phong trào cách mạng.
Đảm bảo tính chính nghĩa và đại đoàn kết dân tộc
- Đảng đã thành lập Mặt trận Việt Minh, huy động được sự tham gia của đông
đảo các tầng lớp nhân dân, từ đó tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc, tăng
cường lòng tin của nhân dân đối với cách mạng.
- Mặt trận Việt Minh không chỉ là cầu nối giữa Đảng và quần chúng mà còn là
lực lượng chính trị đại diện cho nguyện vọng của nhân dân, giúp cách mạng
nhận được sự ủng hộ rộng rãi.
Phát triển các lực lượng vũ trang cách mạng
- Đảng đã chủ động xây dựng các lực lượng vũ trang như Đội Việt Nam
Tuyên truyền Giải phóng quân (1944) và Cứu quốc quân, vừa làm nhiệm vụ
tuyên truyền, vận động, vừa trực tiếp tham gia đấu tranh vũ trang.
- Các lực lượng này đóng vai trò nòng cốt, thực hiện các nhiệm vụ quan trọng
như bảo vệ căn cứ địa, phát động khởi nghĩa, và dẫn dắt phong trào đấu tranh.
Tạo tiền đề cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
- Việc chuẩn bị lực lượng giúp Đảng và nhân dân sẵn sàng nắm bắt thời cơ
khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh. Trong một thời gian ngắn, lực lượng
cách mạng đã có thể tiến hành khởi nghĩa đồng loạt, giành chính quyền ở cả nông thôn và thành thị
- Nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng về lực lượng, cách mạng đã giành được thắng lợi
nhanh chóng, ít tổn thất và thuận lợi cho công cuộc xây dựng chính quyền mới.
Đảm bảo sự lãnh đạo tập trung và hiệu quả của Đảng
- Đảng đã chú trọng phát triển đội ngũ cán bộ cách mạng có tư tưởng chính trị
vững vàng, đồng thời tổ chức, huấn luyện cán bộ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cách mạng.
- Đội ngũ cán bộ được rèn luyện trong gian khổ là lực lượng lãnh đạo trực
tiếp, triển khai đường lối của Đảng một cách hiệu quả, giữ vững niềm tin của
quần chúng và duy trì sự thống nhất trong phong trào cách mạng.
7. Chủ trương cách mạng Việt Nam thể hiện qua hội nghị 6,7,8 (thời kỳ 1939 –
1941)? Tại sao nói đây là thời kỳ thay đổi chủ trương chiến lược, đưa cách
mạng đi tới thắng lợi?
- Trước những biến động lớn của tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị Ban
chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (11- 1939) tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia
Định), phân tích tình hình và chỉ rõ: Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông
Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp,
chống tất cả các ánh ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải
phóng độc lập. Khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất” phải tạm gác và thay bằng các
khẩu hiệu chống địa tô cao, chống cho va lãi nặng, tịch thu ruộng đất của đế quốc
và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc chia cho dân cày. Hội nghị chủ trương thành
lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, thu hút tất cả các giai cấp,
Đảng phái và cá nhân yêu nước ở Đông Dương vào phong trào dân tộc. Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11-1939 đã đáp ứng đúng yêu cầu khách
quan của lịch sử, đưa nhân dân bước vào thời kỳ trực tiếp vận động giải phóng dân tộc.
- Chủ trương chuyển hướng chiến lược của Đảng tiếp tục được phát triển bổ
sung nội dung qua Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 (11-1940) tại Đình Bảng,
Bắc Ninh) và hoàn thiện tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 ( 5-1941) tại Pắc
Bó - Cao Bằng. Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, ngày 28-1-1941, lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc về nước và làm việc ở Cao Bằng. Tháng 5-1941, Nguyễn Ái
Quốc chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8. Hội nghị Trung
ương nêu rõ những nội dung quan trọng:
+ Nhấn mạnh mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách là mâu
thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp - Nhật. + Xác định nhiê m }
vụ bức thiết nhất của cách mạng là giải phóng dân c vì: tô }
“Quyền lợi của tất cả các giai cấp bị cướp t; giâ vâ } n } mê } nh dân tôc } nguy vong không
lúc nào bằng” . Hội nghị chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai
cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu
không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, nếu không đòi được độc lập tự
do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi
kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại
được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”
+ Chủ trương tiếp tục tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân
cày”, thay bằng các khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho
dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho công bằng, giảm tô, giảm tức.
+ Giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thi
hành chính sách “dân tộc tự quyết”, quyết định thành lập ở mỗi nước Đông Dương
một mặt trận riêng, thực hiện đoàn kết từng dân tộc, đồng thời đoàn kết ba dân tộc
chống kẻ thù chung. Sau khi đánh đuổi Pháp - Nhật thì các dân tộc Đông Dương
muốn tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành lập một quốc gia tùy ý.
+ Tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc trong tổ chức Việt Nam độc lập đồng
minh (mặt trận Việt Minh) “không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa
chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt
trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc” . Các
tổ chức quần chúng trong mặt trận Việt Minh đều mang tên “cứu quốc”. Trong
việc xây dựng các đoàn thể cứu quốc, “điều cốt yếu không phải những hội viên
phải hiểu chủ nghĩa cộng sản, mà điều cốt yếu hơn hết là họ có tinh thần cứu quốc
và muốn tranh đấu cứu quốc.
+ Chủ trương sau khi cách mạng thành công sẽ thành lập nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa theo tinh thần tân dân chủ, một hình thức nhà nước “của chung
cả toàn thể dân tộc” .
+ Về phương pháp cách mạng: Xác định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là
nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân; “phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng
sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù”. Trong những
hoàn cảnh nhất định thì “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi
nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở
đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” . Hội nghị còn xác định những điều
kiện chủ quan, khách quan và dự đoán thời cơ tổng khởi nghĩa.
+ Hội nghị bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức gồm các đồng chí
Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang, Phùng Chí Kiên, đồng chí Trường
Chinh làm Tổng Bí thư của Đảng.
- Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 đã hoàn chỉnh chủ
trương chiến lược được đề ra từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ
6 (11-1939), khắc phục triệt để những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10-
1930, khẳng định lại đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn trong
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc.
Tại sao nói đây là thời kỳ thay đổi chủ trương chiến lược, đưa cách mạng đến thắng lợi?
Chuyển hướng mục tiêu đấu tranh từ đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ hàng ngày lên
mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc
Thành lập mặt trận dân tộc thống nhất riêng trong từng nước, lấy liên minh công –
nông làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Chuyển hướng phương pháp đấu tranh cách mạng sang thời kỳ mới: kết hợp đấu
tranh bí mật, bất hợp pháp với tranh thủ triệt để mọi điều kiện để xây dựng phát
triển lực lượng, sử dụng kết hợp lực lượng, hình thức đấu tranh chính trị với lực
lượng, hình thức đấu tranh quân sự làm phương pháp đấu tranh chủ yếu để giành chính quyền
Chuyển hướng công tác xây dựng Đảng, gấp rút đào tạo cán bộ, tăng thành phần
công nhân trong Đảng, kiện toàn, củng cố vững chắc hệ thống của Đảng, nhất là ở Lào và Campuchia
8. Sự chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam khi chiến tranh thế giới
thứ II bùng nổ. Đánh giá sự chuyển hướng chiến lược cách mạng giai đoạn này? Bối cảnh lịch sử:
- Tháng 9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, chiến tranh thế giới thứ hai
bùng nổ. Chính phủ mới cầm quyền ở Pháp thi hành một loạt biện pháp đàn áp lực
lượng dân chủ ở trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa. Mặt trận Nhân
dân Pháp tan vỡ. Tháng 6-1940, Đức tấn công Pháp. Chính phủ Pháp ký văn bản đầu hàng Đức. - Ở Đông Dương:
+ Thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến, phát xít hóa bộ máy thống trị,
thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng; thực hiện chính sách “kinh tế chỉ huy”
nhằm tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc,
lệnh thiết quân luật được ban bố. Ngày 28- 9-1939, Toàn quyền Đông Dương ra
Nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài
vòng pháp luật, giải tán các hội, đoàn, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm
hội họp và tụ tập đông người...
+ Tháng 9-1940, quân phiệt Nhật vào Đông Dương, thực dân Pháp
đầu hàng và câu kết với Nhật để thống trị và bóc lột nhân dân Đông Dương, làm
cho nhân dân Đông Dương phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”. Mâu thuẫn giữa
nhân dân ta và đế quốc phát xít Pháp - Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
Sự chuyển hướng Đảng chỉ đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc
1939 – 1945
+ Đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu: mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta
đòihỏi được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phát
xít Pháp – Nhật. Ban Chấp hành Trung ương quyết định tạm gác khẩu hiệu “Đánh
đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” bằng khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của
bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo”, “Chia lại ruộng đất công cho
công bằng và giảm tô, giảm tức”…
+ Thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh (còn gọi là Việt Minh) để đoàn kết, tập
hợp lực lượng cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc thay cho hình thức
mặt trận trước đó; đổi tên các hội phản đế thành hội cứu quốc
+ Xác định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng
và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại; ra sức phát triển lực lượng cách mạng (bao
gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang), xúc tiến xây dựng căn cứ địa cách mạng.
+ Xác định phương châm và hình thái khởi nghĩa ở nước ta: lãnh đạo cuộc khởi
nghĩa từng phần trong từng địa phương giành thắng lợi mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn.
+ Chú trọng công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo
của Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ cho cách mạng và đẩy
mạnh công tác vận động quần chúng.
=> Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhận thức nhiệm vụ giải
phóng dân tộc lên cao hơn hết thảy, tập hợp rộng rãi mọi người Việt Nam yêu
nướctrong Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng ở cả
nông thôn và thành thị, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang,
nâng cao hơn nữa năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng là tinh thần chung của
quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược.
Đánh giá sự chuyển hướng chiến lược cách mạng giai đoạn 1939 – 1945:
- Quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được hoàn chỉnh góp phần giải
quyết mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc, đưa
đến những chủ trương, sự chỉ đạo đúng đắn để thực hiện mục tiêu đó.
- Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược giúp cho nhân dân ta có đường hướng
đúng đắn để tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật,
giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân.
- Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng giúp công tác chuẩn bị giành
độc lập dân tộc diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trong cả nước, cổ vũ
và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng của quần chúng vùng lên đấu tranh giành chính quyền
+ Lực lượng cách mạng đã tích cực xây dựng các tổ chức cứu quốc của quần
chúng, đẩy nhanh việc phát triển lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh của quần chúng
+ Đảng đã chỉ đạo việc vũ trang cho quần chúng cách mạng, từng bước xây
dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm cơ sở đưa tới sự ra đời của Việt Nam Giải phóng quân sau này.
+ Đảng Cộng sản Đông Dương cũng chỉ đạo việc lập các chiến khu và căn
cứ địa cách mạng, tiêu biểu là căn cứ Bắc Sơn – Vũ Nhai và căn cứ Cao Bằng.
* Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng thời kỳ
1939-1945 xuất phát từ đòi hỏi khách quan của thực tiễn cách mạng Đông
Dương đặt ra. Đó là chủ trương đúng đắn, khoa học của Đảng trong giải
quyết mối quan hệ giữa chiến lược và chỉ đạo chiến lược trong cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân. Trên thực tế, chủ trương đó đã được Đảng và Hồ
Chí Minh hiện thực hóa trong thực tiễn. Dưới sự lãnh đạo thống nhất của
Đảng Cộng sản Đông Dương, chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
của Đảng được lực lượng cách mạng ở 3 nước quán triệt, thực hiện khẩn
trương: thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất trong từng nước; chủ động xây
dựng phát triển lực lượng chính trị quần chúng, lực lượng vũ trang; củng cố,
phát triển tổ chức và đoàn thể cách mạng; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng
phát triển lực lượng với tổ chúc quần chúng tranh đấu giành độc lập dân tộc.
9. Trình bày sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng trong giai đoạn cách mạng giải
phóng dân tộc 1939 – 1945? Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có phải là một
sự “ăn may” hay không? Vì sao? * Bối cảnh lịch sử -Thế giới:
Chiến tranh thế giới II bùng nổ, tác động sâu sắc tới tình hình thế giới, lôi cuốn
nhiều quốc gia dân tộc vào cuộc chiến, trong đó có Pháp và Nhật kẻ thù trực tiếp của cách mạng Việt Nam -Việt Nam:
+ 9/ 1940, Phát xít Nhật xâm chiếm Việt Nam, cướp thuộc địa Đông Dương của Pháp
+ Phát xít Nhật và thực dân Pháp cấu kết với nhau bóc lột nhân dân Việt Nam, đẩy
nhân dân ta vào cảnh « một cổ hai tròng"
*Chủ trương chiến lược mới của Đảng ( Đảng CS Đông Dương)
- Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu tạm gác nhiệm vụ cách mạng
ruộng đất (Hội nghị TW 6, tháng 11/1939; hội nghị TW7, 11/1940, hội nghị TW 8/ tháng 5/ 1941)
- Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu tạm gác nhiệm vụ cách mạng ruộng đất
Hội nghị TW6, tháng 11/1939
- Chủ trì: Tổng bí thư Nguyên Văn Cừ
- Dự báo phát xít Nhật sẽ vào Đông Dương
- Quyết định tạm gác nhiệm vụ ruộng đất tập trung lực lượng cho giải phóng dân tộc
Hội nghị TW7, tháng 11/1940
- Tiếp tục phát triên chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu tạm
gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. Hội nghị tw Đảng 8
+ Thời gian: Ngày 10 đến 19/5/1941
+ Địa điểm: Pắc Bó ( Cao Bằng)
+ Chủ trì: Nguyễn Ái Quốc - Dư báo tình hình
+ Thế giới: Chiến tranh thế giới II chắc chẵn sẽ kêt thúc với thắng lợi thuộc về
Đồng Minh; Chủ nghĩa phát xít nhất định sẽ bị tiêu diệt. Cơ hội cho cách mang Việt Nam đang đến gần.
+ Việt Nam: Quyền lợi giai cấp bị cướp giật, vận mệnh dân tộc nguy nan hơn lúc nào bằng
+ Khẳng định quyết tâm chủ trương giành độc lập dân tộc, tạm gác khẩu hiệu cách
mạng ruộng đất ( phát triển quan điểm cách mạng giải phóng dân tộc HN 6, 7)
+ Đặt vấn đề giải phóng dân tộc trong phạm vi Việt Nam
+ Nhiệm vụ cụ thể của cách mạng: xây dựng lực lượng, chờ đón thời cơ giành chính quyền.
+ Thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) đại đoàn kết toàn dân trong
một mặt trận đánh Pháp đuổi Nhật
+ Thành lập nước VN DC CH sau khi giành chính quyền thành công.
* Đảng chỉ đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc 1939 - 1945
Phong trào đấu tranh chống đế quốc Pháp - phát xít Nhật và chuẩn bị lực lượng cho
khởi nghĩa giành chính quyền (5/1941 - Tháng 3/ 1945)
- Chủ trương xây dựng lực lượng chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền
• Xây dựng lực lượng chính trị
Mặt trận Việt Minh có vai trò đại đoàn kết dân tộc không phân biệt giai cấp, tôn
giáo, dân tộc... Với mục tiêu cao nhất là đánh Pháp, đuổi Nhật
- Chủ trương xây dựng lực lượng chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền
• Xây dựng lực lượng Vũ trang + 1940: Cứu quốc quân
+ 1944: Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
+ 1945: Việt Nam giải phóng quản - Xây dựng căn cứ địa
+ Cao Bằng, Bắc Sơn - Võ Nhai + Tân trào (Tuyên Quang), Thái Nguyên, ... 6 tỉnh
Việt Bắc, trung du, đồng bằng
+ Các cơ sở cách mạng tại đồng bằng và đô thị
* Tranh thủ thời cơ giành chính quyền
a, Cao trào kháng Nhật cứu nước, khởi nghĩa từng phần giành chính quyền bộ phận
( tháng 3/1945 đến trước tổng khởi nghĩa)
- Thời cơ: 9/ 3/1945, Phatxit Nhật đảo chính
Pháp, độc chiếm Đông Dương.
- 12/3/1945: Đảng ra chỉ thị « Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta»;
Phát động cao trào kháng Nhật trên cả nước
- Chỉ thị « Nhật Pháp băn nhau và hành động của chúng ta» và Cao trào kháng
Nhật khởi nghĩa từng phần giành chính quyền
- Tranh thủ thời cơ Nhật đảo chính Pháp. Đảng phát động cao trào kháng Nhật cửu
nước, khởi nghĩa từng phần giảnh chính quyền bộ phân
- Kết quả: Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1945 nhiều nơi trên cả nước đã giành được
chính quyền đặc biệt là tại các địa phương cấp xã, huyện vùng sâu, xa, vùng căn cứ địa cách mạng
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Cách mạng Tháng Tám thành công
• Thời cơ: 14/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh
• Hồ Chí Minh: «...Dù đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giảnh cho được độc lập»
Chu trương: Ngày 13/3/1945. Họi nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trao quyết
định tổng khỏi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc
- 23h ngày 13/8/1945 quân lệnh số 1 đc phát đi
• Kết quả: Từ ngày 13 đến ngày 28/8/1945 (15 ngày) tổng khởi nghĩa đã kết thúc
thắng lợi, giành chính quyền trên cả nước
- 19/8/1945: giành chính quyền ở Hà Nội
- 2318/1945: giành chính quyền ở Huế
- 25/8/1945: giành chính quyền ở Sài Gòn
- 28/8/1945: giành chính quyền ở Hà Tiên
- 30/8/1945: Vua Bảo Đại thoái vị
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có phải là một sự “ăn may” hay không? Vì sao?
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 không phải là sự “ăn may” của lịch sử,
đó là kết quả của sự lãnh đạo tài tình, chủ động chớp thời cơ khi điều kiện cách
mạng đã chín muồi đồng thời phát huy tinh thần đoàn kết của toàn dân tộc. Do đó,
thành quả Cách mạng tháng Tám 1945 là hiện thực, có giá trị vĩnh hằng, không thể
phủ nhận. Đây “là hoa, là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã
hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập
trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường; là kết quả của
bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn 20 triệu nhân dân Việt Nam lúc
bấy giờ”. Vì vậy, phủ nhận và xuyên tạc thành quả cũng như công lao của toàn thể
dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng là những kẻ vô ơn, bạc
nghĩa, xuyên tạc lịch sử đáng bị lên án.
VẤN ĐỀ 4: XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN 1945 – 1946
14. Chủ trương, biện pháp của Đảng trong củng cố, xây dựng và bảo vệ chính
quyền cách mạng 1945 – 1946? Tại sao nói: một cuộc cách mạng chỉ có giá trị
khi nó biết tự bảo vệ?
*Bối cảnh lịch sử Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám (9/1945 - 12/1946) Khó khăn
Nước Việt Nam DCCH đổi mặt với «thù trong giặc ngoài» " ngân cân treo sơi tóc"
+ Thực dân Pháp: 9/1945, Pháp quay lại xâm lược Nam bộ
+ 6 vạn quân Phátxit Nhật chưa được giải giáp
+ Quân đội thực dân Anh ở phía nam
+ Quân đội Tưởng Giới Thạch và các tổ chức phản động, tay sai ở phía bắc ( ViêT Quốc, Việt Cách)
- Khó khăn về kinh tế - xã hội: nạn đói, sản xuất công nghiếp bị đình trệ, nông
nghiệp gặp thiên tai lớn: 95% số dẫn mù chữ, ngăn sách Nhà nước trồng rồng.
Ngân hãng Đông Dương nằm trong tay Pháp.
- Nên độc lập của Việt Nam Chua được các quốc gia trên thế giới và các tổ chức quốc té cõng nhân Thuận lợi
- Toàn dân ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh
- Trên thế giới, sau chiến tranh thế giới II, 3 dòng thác cách mạng thời đại có điều kiện phát triển
*Chủ trương: Chỉ thị « Kháng chiến kiến quốc», ngày 25/11/1945
- Mục tiêu chiến lược: Giải phóng dân tộc (giữ vững độc lập, giữ vững chính quyền)
- Kẻ thù chính: Thực dân Pháp
- Phương hướng: Đoàn kết toàn dân, thêm bạn bớt thù, thực hiện khâu hiệu « Hoa - Việt thân thiên>
- Nhiệm vụ: Củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân
*Chỉ đạo thực hiện ( biện pháp )
- Xây dựng củng cố chính quyền cách mạng
+ Về chinh trị: tiến hành bầu cử QUỐC Hội đầu tiên, soạn thảo hiến pháp đầu tiên,
thành lập chính phủ chính thức, cũng cố LLVT, các đoàn thể nhân dân... Chỉ đạo thực hiện
+ Về phát triển kinh tế - văn hóa
- Khôi phục sản xuât công nông nghiệp; chia lại ruộng công, tạm câp ruộng đất
văng chủ, bãi bỏ thuế thân, khắc phục nạn đói...
- Xây dựng nền tài chính độc lập: Tổ chức «tuần lễ vàng», « quỹ Độc lập»
- Phát động phong trào Bình dân học vụ, «diệt giặc dốt»
-Về đấu tranh với kẻ thù bảo vệ chính quyền cách mạng
+ Tháng 9/1945 - 3/1946 : Nhân nhượng với Tưởng ở phía bắc tập trung lực lượng
chống thực dân Pháp ở Nam bộ
-Về đấu tranh với kẻ thù bảo vệ chính quyền cách mạng TỪ 3/1946 ĐẾN 12/1946
+ 28/2/1946: Hiệp ước Hoa Pháp ký kết
+ 6/ 3/1946 : Sau khi Hiệp ước Hoa - Pháp ký kết, Đảng chủ trương hòa hoãn với
Pháp tao điều kiện để Pháp tiền quân ra Bắc, buộc Tưởng Giới Thạch phải rút quân
+ Từ tháng 3/1946 - 12/1946: Đình chiến; Đàm phán với TD Pháp để bảo vệ nền
độc lập bằng con đường hòa bình.
- Ngày 6-3-1946, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ký với đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp J.Xanhtơny (Jean
Sainteny) bản Hiệp định sơ bộ.
- 5/1946: Hội nghị trù bị Đà Lạt
- 7/ 1946: Hội nghị Fonten ( HN chính thức)
- 14/9/1946: để đảm bảo an toàn cho phái đoàn đại biểu Việt Nam rời Pháp, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp M.Mutê (Marius Moutet) bản
“Tạm ước” tại Mácxây (Pháp), đồng ý nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền
lợi kinh tế, văn hóa ở Việt Nam; hai bên cam kết đình chỉ chiến sự ở Nam bộ.
Tại sao nói: một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ?
Bảo vệ thành quả cách mạng
Thành quả của một cuộc cách mạng thường là sự thay đổi về chính trị, kinh tế, xã
hội nhằm đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân. Nếu không có biện pháp
bảo vệ, thành quả đó có thể bị lật đổ hoặc bị lợi dụng bởi các thế lực đối lập, làm
cho những nỗ lực và hy sinh của quần chúng trở nên vô nghĩa.
Đối với cách mạng Việt Nam, thành quả lớn nhất là nền độc lập và tự do. Do đó,
nhiệm vụ hàng đầu là phải bảo vệ những giá trị này trước những mưu toan can
thiệp từ bên ngoài hoặc sự phản kháng từ bên trong.
2. Củng cố chính quyền cách mạng
Một cuộc cách mạng thành công không chỉ dừng lại ở việc giành chính quyền mà
còn cần phải củng cố và bảo vệ chính quyền đó. Chỉ có như vậy, các chính sách và
đường lối phục vụ lợi ích của nhân dân mới có thể được thực thi hiệu quả.
Bảo vệ chính quyền cách mạng là đảm bảo cho sự ổn định, duy trì và phát triển của
chế độ mới. Trong thời kỳ Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám, việc bảo vệ
chính quyền non trẻ là rất quan trọng để tránh nguy cơ bị xâm lược trở lại hoặc bị
phá hoại từ các lực lượng thù địch trong và ngoài nước.
3. Đảm bảo an ninh quốc gia và sự phát triển bền vững
Các cuộc cách mạng thường phải đối mặt với những thách thức và nguy cơ tiềm ẩn
từ các thế lực đối lập. Để giữ vững nền độc lập, quốc gia cần có khả năng tự bảo
vệ, duy trì an ninh quốc gia trước mọi âm mưu phá hoại.
Chỉ khi tự bảo vệ được, cách mạng mới có cơ hội phát triển bền vững, từ đó có thể
thực hiện những cải cách cần thiết trong kinh tế, văn hóa và xã hội nhằm nâng cao
đời sống của nhân dân.
4. Bảo vệ quyền lợi và lòng tin của nhân dân
Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó thực sự mang lại lợi ích cho nhân dân.
Việc bảo vệ thành quả cách mạng cũng chính là bảo vệ quyền lợi và cuộc sống của
người dân mà cách mạng đã giành được. Nếu các thành quả đó bị đe dọa, quyền lợi
của nhân dân cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Lòng tin của nhân dân đối với cách mạng sẽ bền vững khi họ thấy những giá trị mà
họ đấu tranh và hy sinh vẫn được giữ vững. Điều này giúp củng cố niềm tin vào
chính quyền cách mạng và làm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.
5. Đảm bảo tính chính danh và sự tiếp nối của cách mạng
Khi cách mạng tự bảo vệ được mình, đó là bằng chứng cho tính chính danh và
chính nghĩa của cuộc cách mạng. Ngược lại, nếu không có sự tự bảo vệ, cách mạng
dễ bị xâm phạm, đánh mất tính chính danh và bị các thế lực đối địch thao túng.
Việc tự bảo vệ cũng tạo nền tảng để các thế hệ sau tiếp nối và phát triển cách mạng
một cách bền vững, đáp ứng những thách thức mới trong tương lai.
15. Hoàn cảnh lịch sử, chủ trương, biện pháp của Đảng trong xây dựng và bảo vệ
chính quyền giai đoạn 1945 – 1946? (như trên)
Tại sao trong chủ trương đó, Đảng xác định xây dựng và bảo vệ chính quyền là
nhiệm vụ quan trọng nhất?
Chính quyền mới thành lập và còn rất non trẻ
Sau Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam mới chỉ thiết lập một chính quyền cách
mạng non trẻ, chưa có nền tảng vững chắc để điều hành quốc gia một cách hiệu
quả. Chính quyền cần được củng cố và xây dựng để có thể thực hiện chức năng
quản lý và lãnh đạo đất nước.
Nếu không tập trung xây dựng và bảo vệ chính quyền, nguy cơ sụp đổ trước sức ép
từ các lực lượng phản động và thế lực ngoại bang là rất lớn. Vì vậy, Đảng xác định
nhiệm vụ quan trọng nhất là phải xây dựng một chính quyền đủ mạnh, có khả năng
tự đứng vững trong bối cảnh phức tạp này.
2. Đối mặt với nguy cơ xâm lược và thù địch từ cả bên trong và bên ngoài
Năm 1945, Việt Nam rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” khi phải đối mặt với
nhiều kẻ thù. Phát xít Nhật vừa đầu hàng Đồng Minh, thực dân Pháp đang tìm cách
tái chiếm Đông Dương, quân đội Tưởng Giới Thạch tiến vào miền Bắc Việt Nam,
và các thế lực phản động trong nước như Đại Việt, Quốc dân đảng hoạt động mạnh
mẽ nhằm lật đổ chính quyền cách mạng.
Trong bối cảnh này, Đảng phải tập trung toàn bộ lực lượng vào việc bảo vệ chính
quyền non trẻ, nếu không sẽ có nguy cơ mất độc lập, khi mà các thế lực thù địch từ
trong và ngoài nước đều sẵn sàng tấn công và lật đổ chính quyền cách mạng.
3. Đảm bảo tính chính danh và lòng tin của nhân dân
Để đảm bảo chính quyền mới được công nhận và ủng hộ rộng rãi, Đảng phải chú
trọng xây dựng chính quyền gần gũi, hiệu quả và thực sự phục vụ lợi ích của nhân
dân. Nhân dân là nguồn lực và nền tảng vững chắc của chính quyền, do đó việc
bảo vệ chính quyền cách mạng cũng chính là bảo vệ quyền lợi của nhân dân.
Xây dựng và củng cố chính quyền giúp tăng cường lòng tin của nhân dân đối với
Đảng và cách mạng, tạo nên khối đoàn kết toàn dân, giúp chính quyền đủ sức vượt
qua thử thách và đối phó với mọi tình huống khó khăn.
4. Tạo nền tảng để phát triển đất nước về lâu dài
Chính quyền là công cụ để thực hiện các nhiệm vụ quan trọng về cải cách kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội nhằm nâng cao đời sống nhân dân. Trong giai đoạn đầu
xây dựng đất nước, nếu chính quyền không vững mạnh, các chính sách phát triển
cũng khó được thực thi hiệu quả.
Việc xây dựng và bảo vệ chính quyền trong giai đoạn này là nền tảng để phát triển
đất nước một cách bền vững, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc kháng chiến lâu dài sau này.
5. Khẳng định tính hợp pháp và tránh tình trạng “rơi vào khoảng trống quyền lực”
Sau khi chính quyền phong kiến và thực dân bị lật đổ, Việt Nam đứng trước nguy
cơ “khoảng trống quyền lực” và sự xâu xé từ các thế lực ngoại bang. Do đó, việc
xây dựng chính quyền mạnh và hợp pháp là cách duy nhất để bảo vệ độc lập, tránh
sự chi phối của các thế lực ngoại quốc.
Đảng hiểu rõ rằng chỉ khi chính quyền cách mạng được củng cố, độc lập dân tộc
mới được bảo đảm. Chính quyền phải đủ mạnh để ngăn chặn các nguy cơ thôn
tính, vừa là biểu tượng của nền độc lập mới giành được, vừa là chỗ dựa cho người
dân trong bối cảnh phức tạp.
16. Trình bày bối cảnh lịch sử, đường lối và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng
và bảo vệ chính quyền sau cách mạng Tháng Tám (1945 – 1946) (như trên). Vị trí,
ý nghĩa của giai đoạn 1945 – 1946 đối với cách mạng Việt Nam?
Đánh dấu sự ra đời của Nhà nước Việt Nam độc lập
Cách mạng Tháng Tám thành công vào năm 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới khi
lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có một nhà nước độc lập dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập, khai sinh nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật.
Sự ra đời của nhà nước cách mạng không chỉ có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị mà
còn khẳng định quyền tự chủ, thể hiện khát vọng của toàn dân tộc về độc lập, tự do.
Những chủ trương, biện pháp, sách lược và đối sách đúng đắn của Đảng, Chính
phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng:
ngăn chặn bước tiến của đội quân xâm lược Pháp ở Nam bộ, vạch trần và làm thất
bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các kẻ thù; củng cố, giữ vững và bảo vệ
bộ máy chính quyền cách mạng từ Trung ương đến cơ sở và những thành quả của
cuộc Cách mạng tháng Tám; tạo thêm thời gian hòa bình, hòa hoãn, tranh thủ xây
dựng thực lực, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến lâu dài.