



















Preview text:
BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
------------------------
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
( Phục vụ đào tạo Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội) Chủ biên
:TS. Phạm Thị Kim Ngân
Đơn vị công tác : Khoa lý luận chính trị HÀ NỘI 2021 BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI 1
------------------------
TS. PHẠM THỊ KIM NGÂN
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
( Phục vụ đào tạo Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội)
Những người thực hiện: TS. Phạm Thị Kim Ngân (chủ biên)
Lại Thị Huệ - Thành viên
Ths. Tạ Ánh Tuyết - Thành viên
Ngày 3 tháng 2 năm 2021
Ngày 3 tháng 2 năm 2021
T/M Thủ trưởng đơn vị chủ quản Chủ biên tài liệu T.S Nguyễn Huy Cảnh
TS. Phạm Thị Kim Ngân
Chủ tịch Hội đồng Hiệu trưởng
đánh giá chính thức HÀ NỘI - 2. 2021 2 LỜI NÓI ĐẦU
Môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào
giảng dạy ở bậc đại học bắt đầu từ khóa học 2019-2020, thay thế cho môn học Đường lối
cách mạng của Đảng Cộng sản, theo Kết luận số 94-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương
Đảng, năm 2014, “Về tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục
quốc dân” và Công văn số 3056/ BGDĐT- GDĐH năm 2019, “Về hướng dẫn thực hiện
chương trình, giáo trình các môn Lý luận chính trị”. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là
môn học đòi hỏi tư duy tổng quát, nội dung kiến thức trải rộng, xuyên suốt quá trình hình
thành, phát triển, lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng của Đảng. So với môn học Đường lối
cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (03 tín chỉ), môn học Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam có lượng kiến thức trải rộng hơn, nhưng thời lượng học trên lớp ít hơn một tín
chỉ (02 tín chỉ), buộc sinh viên phải tăng cường độ tự học và nghiên cứu.
Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam cho sinh viên Trường Đại học Kiến trúc, nhóm tác giả đã biên soạn cuốn sách:
“Những nội dung cơ bản môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”. Cuốn sách được
biên soạn theo cấu trúc nội dung chương trình - giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), với một cấu trúc ngắn
gọn hơn và có mở rộng một số nội dung nhất định để người đọc dễ nắm bắt được vấn
đề môn học.
Cuốn sách gồm 5 chương nội dung: Chương Nhập môn, giới thiệu về môn học;
Chương 1 và chương 2, trình bày về sự ra đời của Đảng, sự lãnh đạo của Đảng về cách
mạng dân tộc dân chủ, hoàn thành giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước từ năm
1930 đến năm1975; Chương 3 và chương 4, trình bày về Đảng lãnh đạo cả nước quá
độ lên chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới (1975 - nay) và tổng kết 90
năm quá trình lãnh đạo của Đảng.
Với nội dung và bố cục được trình bày như trên, chúng tôi hy vọng cuốn sách này,
sẽ giúp ích cho sinh viên Trường Đại học Kiến trúc trong quá trình tự học môn Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam đạt được hiệu quả nhất, đồng thời cũng có thể là tài liệu tham
khảo đối với đồng nghiệp trong việc tiếp cận kiến thức, phương pháp giảng dạy nâng
cao chất lượng giảng dạy môn học.
Trong quá trình biên soạn, nhóm tác giả đã rất cố gắng, song không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý bạn đọc.
Chúng tôi chân thành cảm ơn!. 3 Chương nhập môn
ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM A. MỤC TIÊU
Về kiến thức: Giúp sinh viên hiểu rõ khái quát môn học Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam, đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu và mục tiêu học tập môn học.
Về kỹ năng: Sinh viên có phương pháp khoa học đúng đắn trong phân tích đánh giá
và tiếp cận các vấn đề thuộc về quá trình ra đời và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về tư tưởng: Định hướng đúng đắn cho sinh viên trong việc hình thành tư duy
khoa học để nhận thức và vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng trong thực tiễn cuộc sống. B. NỘI DUNG
1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập năm 1930. Từ thời
điểm lịch sử đó, lịch sử của Đảng hòa quyện cùng lịch sử của dân tộc Việt Nam. Đảng
đã lãnh đạo và đưa sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị có quy luật hình thành, phát
triển vai trò lịch sử riêng trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Do đó, lịch sử Đảng là đối
tượng nghiên cứu của một khoa học riêng - khoa học lịch sử Đảng.
Lịch sử Đảng gắn liền với lịch sử dân tộc. Theo đó, lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam là một chuyên ngành, một bộ phận của khoa học lịch sử. Đó còn là chuyên ngành
mang nội dung khoa học chính trị và có quan hệ mật thiết với các khoa học về lý luận
của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Với tư cách là một khoa học, Lịch
sử Đảng có đối tượng nghiên cứu là sự ra đời,
phát triển và hoạt động lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ lịch sử.
Đối tượng nghiên cứu cụ thể của Lịch sử Đảng bao gồm:
1.1.1. Các sự kiện lịch sử Đảng
- Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu sâu sắc, có hệ thống các sự kiện
lịch sử Đảng, hiểu rõ nội dung, tính chất, bản chất của các sự kiện đó gắn liền với sự
lãnh đạo của Đảng. Các sự kiện thể hiện quá trình Đảng ra đời, phát triển và lãnh đạo
sự nghiệp giải phóng dân tộc, kháng chiến cứu quốc và xây dựng, phát triển đất nước
theo con đường xã hội chủ nghĩa. 4
- Phân biệt sự kiện lịch sử Đảng với sự kiện lịch sử dân tộc và lịch sử quân sự,
trong cùng thời kỳ, thời điểm lịch sử. Sự kiện lịch sử Đảng gắn trực tiếp với sự lãnh
đạo của Đảng, phát sinh và phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc.
Một sự kiện có thể vừa là sự kiện lịch sử Đảng vừa là sự kiện của lịch sử dân
tộc. Một sự kiện khi được nghiên cứu tiếp cận với tư cách là sự kiện lịch sử Đảng có
sự khác biệt với sự kiện đó khi nghiên cứu với tư cách lịch sử quân sự, chính trị… hay
rộng lớn hơn là lịch sử dân tộc. Ví dụ:
Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 là sự kiện trọng đại của cách
mạng Việt Nam (của Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam), nhưng không phải là sự kiện
trọng đại của dân tộc Việt Nam.
Đối với sự kiện Cách mạng Tháng Tám 1945, khi nghiên cứu trên bình diện là sự
kiện lịch sử dân tộc thì đó là sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc với ý nghĩa là đánh
đổ ách thống trị của đế quốc phát xít, xóa bỏ nền thống trị phong kiến phản động lập
nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – nhà nước dân chủ đầu tiên trong lịch sử dân
tộc Việt Nam và trong khu vực Đông Nam Á; khi nghiên cứu trên bình diện lịch sử
Đảng: “ …một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã giành chính
quyền trên cả nước” ( Hồ Chí Minh).
Một phần quan trọng trong lịch sử vẻ vang của Đảng gắn với cuộc chiến tranh
cách mạng giải phóng dân tộc, với các trận chiến “lừng lẫy năm châu, chấn động địa
cầu”, nên trong các tác phẩm lịch sử Đảng trước đây có tồn tại sự lẫn lộn giữa sự kiện
lịch sử Đảng với sự kiện lịch sử quân sự (sự kiện lịch sử dân tộc). Nhiều nhà nghiên
cứu có xu thế “lạc” vào diễn biến, kết quả các các trận chiến trong khi đối tượng
nghiên cứu của Lịch sử Đảng phải là sự kiện Lịch sử Đảng, sự lãnh đạo và chỉ đạo của
Đảng mà trận đánh đó chỉ có thể là một nét phác họa trong tổng thể đường lối chiến
lược mà Đảng đã xây dựng.
Trên thực tế, một bài giảng, bài học Lịch sử Đảng luôn là sự kết hợp thống nhất
giữa các sự kiện lịch sử Đảng và sự kiện lịch sử dân tộc ở cùng một thời điểm lịch sử.
Việc phân biệt sự kiện lịch sử Đảng với sự kiện lịch sử dân tộc giúp cho người học có
tư duy mạch lạc, nhận thức được đầy đủ giá trị, ý nghĩa của sự kiện lịch sử trên nhiều
bình diện xã hội khác nhau.
1.1.2. Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách lớn của Đảng
Đảng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước
bằng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách lớn. Do vậy, Lịch sử Đảng nghiên
cứu làm sáng tỏ nội dung Cương lĩnh, đường lối của Đảng, cơ sở lý luận, thực tiễn và
giá trị hiện thực của đường lối trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam. 5
- Đảng đã đề ra Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2-1930); Luận cương chính trị (10-
1930); Chính cương của Đảng (2-1951) và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (6-1991) và bổ sung, phát triển năm 2011.
- Quá trình lãnh đạo, Đảng đề ra đường lối nhằm cụ thể hóa Cương lĩnh trên
những vấn đề nổi bật ở mỗi thời kỳ lịch sử. Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc.
Đường lối kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân. Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đường lối đổi mới. Đường lối quân sự.
Đường lối đối ngoại v.v...
- Đảng quyết định những vấn đề chiến lược, sách lược và phương pháp cách
mạng. Đảng là người tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân hiện
thực hóa đường lối đưa đến thắng lợi.
1.1.3. Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực tiễn của Đảng trong tiến trình cách mạng
- Nghiên cứu, học tập lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam làm rõ thắng lợi, thành
tựu, kinh nghiệm, bài học của
cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo trong sự nghiệp
giải phóng dân tộc, kháng chiến giành độc lập, thống nhất, thành tựu của công cuộc đổi mới.
- Đảng cũng thẳng thắn nêu rõ những khuyết điểm, hạn chế, khó khăn, thách
thức, nguy cơ cần phải khắc phục, vượt qua. Ví dụ: giai đoạn 1975 - 1986, cả nước quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, những hạn chế của đường lối kinh tế về công nghiệp hóa, cơ
chế kinh tế tập trung, bao cấp…
- Nghiên cứu, học tập lịch sử Đảng là giáo dục sâu sắc những kinh nghiệm, bài
học trong lãnh đạo của Đảng. Tổng kết kinh nghiệm, bài học, tìm ra quy luật riêng của
cách mạng Việt Nam ở mỗi thời kỳ lịch sử, (truyền thống đấu tranh kiên cường, bất
khuất của Đảng; truyền thống đoàn kết, thống nhất trong Đảng…)
1.1.4. Làm rõ tổ chức của Đảng, công tác xây dựng Đảng qua các giai đoạn và
thời kỳ lịch sử
- Thời kỳ vận động thành lập Đảng: 1920 – 1930 (Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên - Ba tổ chức cộng sản (1929) – Đảng cộng sản Việt Nam )
- Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền: 1930- 1945
- Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ: 1945 - 1975
- Thời kỳ cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới: 1976 - 2018
1. 2. Chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu
Là một ngành của khoa học lịch sử, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có chức
năng, nhiệm vụ của khoa học lịch sử, đồng thời có những điểm cần nhấn mạnh. 6
1.2.1. Chức năng
- Chức năng nhận thức: Nghiên cứu và học tập lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
để nhận thức đầy đủ, có hệ thống những tri thức lịch sử lãnh đạo, đấu tranh và cầm
quyền của Đảng, nhận thức rõ về Đảng với tư cách một Đảng chính trị - tổ chức lãnh
đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu, học tập
lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam còn nhằm nâng cao nhận thức về thời đại mới của
dân tộc - thời đại Hồ Chí Minh, góp phần bồi đắp nhận thức lý luận từ thực tiễn Việt Nam.
- Chức năng giáo dục: Giáo dục sâu sắc tinh thần yêu nước, ý thức, niềm tự hào,
tự tôn, ý chí tự lực, tự cường dân tộc.
- Chức năng dự báo và phê phán: Từ nhận thức những gì đã diễn ra trong quá
khứ để hiểu rõ hiện tại và dự báo tương lai của sự phát triển. Để tăng cường sự lãnh
đạo, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng.
1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của khoa học lịch sử Đảng được đặt ra từ đối tượng nghiên cứu đồng
thời cụ thể hóa chức năng của khoa học lịch sử Đảng, nổi bật là những nhiệm vụ sau đây:
- Trình bày có hệ thống Cương lĩnh, đường lối của Đảng: Khoa học lịch sử Đảng
có nhiệm vụ hàng đầu là khẳng định, chứng minh giá trị khoa học và hiện thực của
những mục tiêu chiến lược và sách lược cách mạng mà Đảng đề ra trong Cương lĩnh,
đường lối từ khi Đảng ra đời và suốt quá trình lãnh đạo cách mạng.
- Tái hiện tiến trình lịch sử lãnh đạo, đấu tranh của Đảng: Từ hiện thực lịch sử
và các nguồn tư liệu thành văn và không thành văn, khoa học lịch sử Đảng có nhiệm
vụ rất quan trọng và làm rõ những sự kiện lịch sử, làm nổi bật các thời kỳ, giai đoạn và
dấu mốc phát triển căn bản của tiến trình lịch sử, nghĩa là tái hiện quá trình lịch sử
lãnh đạo và đấu tranh của Đảng.
- Tổng kết lịch sử của Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam không dừng lại
mô tả, tái hiện sự kiện và tiến trình lịch sử, mà còn có nhiệm vụ tổng kết từng chặng
đường và suốt tiến trình lịch sử, làm rõ kinh nghiệm, bài học, quy luật và những vấn
đề lý luận của cách mạng Việt Nam.
1.3. Phương pháp nghiên cứu, học tập môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
1.3.1. Phương pháp nghiên cứu
1.3.1.1. Phương pháp luận sử học 7
Phương pháp nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cần dựa trên phương
pháp luận khoa học mác xít, đặc biệt nắm vững chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử để xem xét và nhận thức lịch sử một cách khách quan, trung thực
và đúng quy luật. Chú trọng nhận thức lịch sử theo quan điểm khách quan, toàn diện,
phát triển và lịch sử cụ thể.
1.3.1.2. Các phương pháp cụ thể
Khoa học lịch sử và chuyên ngành khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
đều sử dụng hai phương pháp cơ bản: phương pháp lịch sử và phương pháp logic,
đồng thời chú trọng vận dụng các phương pháp khác trong nghiên cứu, học tập các
môn khoa học xã hội như phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch,
cụ thể hóa và trừu tượng hóa…
- Phương pháp lịch sử: là dựa trên việc bám sát các sự kiện lịch sử sẽ thể hiện
được tính cụ thể, sinh động, phong phú của lịch sử, tức đi sâu vào tính muôn vẻ của
lịch sử để tìm ra cái đặc thù, cái cá biệt trong cái phổ biến. Các hiện tượng lịch sử
thường hay tái diễn, nhưng không bao giờ hoàn toàn như cũ. Phương pháp lịch sử
không có nghĩa là học thuộc lòng sự kiện, diễn biến lịch sử mà phải hiểu tính chất, bản
chất của sự kiện, hiện tượng.
- Phương pháp logic: là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng lịch sử trong
hình thức tổng quát, nhằm mục đích vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng chung
trong sự vận động của chúng, tức giúp ta tìm thấy tính tất yếu, tính quy luật, xu hướng
phát triển trong sự thăng trầm, bộn bề của lịch sử. Như vậy, hai phương pháp này luôn
bổ sung, hỗ trợ cho nhau.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn lịch sử gắn với nghiên cứu lý luận để làm rõ
kinh nghiệm, bài học, quy luật phát triển và những vấn đề về nhận thức lý luận của
cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo. Chú trọng phương pháp so sánh, so sánh giữa
các giai đoạn, thời kỳ lịch sử, so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử, làm rõ các mối
quan hệ, so sánh trong nước và thế giới v.v...
1.3.2. Phương pháp học tập của sinh viên
- Nghe giảng trên lớp để nắm vững những nội dung cơ bản của từng bài giảng
của giảng viên và nội dung tổng thể của môn học.
- Thực hiện phương pháp làm việc nhóm, tiến hành thảo luận, trao đổi các vấn
đề do giảng viên đặt ra để hiểu rõ hơn nội dung chủ yếu của môn học.
- Nghiên cứu, giảng dạy, học tập lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cần chú trọng
phương pháp vận dụng lý luận vào thực tiễn. Điều đó đòi hỏi nắm vững lý luận cơ bản
của chủ nghĩa Mác-Lênin, bao gồm triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội
khoa học, nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn liên hệ lý luận với thực tiễn Việt 8
Nam để nhận thức đúng đắn bản chất của mỗi hiện tượng, sự kiện của lịch sử lãnh đạo, đấu tranh của Đảng.
1.4. Mục tiêu nghiên cứu, học tập môn học:
- Nâng cao nhận thức, hiểu biết về Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong
lãnh đạo cách mạng Việt Nam đưa đến những thắng lợi, thành tựu có ý nghĩa lịch sử to
lớn trong sự phát triển của lịch sử dân tộc.
- Giáo dục lý tưởng, truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng và dân tộc,
củng cố, bồi đắp niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, tự hào về Đảng và thế hệ trẻ
gia nhập Đảng, tham gia xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, tiếp tục thực hiện sứ
mệnh vẻ vang của Đảng lãnh đạo bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Làm rõ đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn học?.
2. Mục tiêu học tập, nghiên cứu môn Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam?. 9 Chương 1
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 - 1945) A. MỤC TIÊU
Về kiến thức: Cung cấp cho sinh viên những tri thức có tính hệ thống quá trình ra
đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (1920-1930), nội dung cơ bản, giá trị lịch sử của
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và quá trình Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc, giành chính quyền (1930-1945).
Về kỹ năng: Từ việc nhận thức lịch sử thời kỳ đầu dựng Đảng, góp phần trang bị
cho sinh viên phương pháp nhận thức biện chứng, khách quan về quá trình Đảng ra đời
và vai trò lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xác lập chính quyền cách mạng.
Về tư tưởng: Cung cấp cơ sở lịch sử, góp phần củng cố niềm tin của thế hệ trẻ
vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc và phát triển đất nước - sự lựa chọn đúng
đắn, tất yếu, khách quan của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam
trước vận mệnh của dân tộc dưới ách thống trị của đế quốc, phát xít. B. NỘI DUNG
1.1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
1.1.1. Bối cảnh lịch sử
1.1.1.1. Tình hình thế giới tác động đến cách mạng Việt Nam
- Từ nửa cuối TK XIX, Chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn
tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa), đẩy mạnh quá
trình xâm chiếm và nô dịch các nước nhỏ, yếu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ-
Latinh, biến các quốc gia này thành thuộc địa của các nước đế quốc.
- Việc tăng cường xâm lược và áp bức của chủ nghĩa đế quốc thực dân đối với
nhân dân các nước thuộc địa đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh giành độc lập trên thế giới,
đặc biệt là châu Á: Cách mạng Tân Hợi (Trung Quốc); Cách mạng Ấn Độ…, tác động
mạnh mẽ đến phong trào yêu nước Việt Nam.
- Tại các nước tư bản chính quốc, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động chống chủ nghĩa tư bản, chống áp bức bất công, vì dân chủ và hòa
bình phát triển mạnh mẽ.
- Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi đã làm biến
đổi sâu sắc tình hình thế giới, tác động đến phong trào đấu tranh của giai cấp công 10
nhân, nhân dân các nước, phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều Đảng
cộng sản đã ra đời: Đảng cộng sản Đức, Hung (1918), Đảng cộng sản Mỹ (1919),
Đảng cộng sản Anh, Pháp (1920), Đảng cộng sản Trung Quốc, Mông Cổ (1921); Đảng
cộng sản Nhật (1922). Sự ra đời nhà nước Xô Viết, với việc thực hiện các chủ trương,
chính sách mang lại quyền lợi cho đa số nhân dân lao động đã có tác dụng to lớn cổ
vũ, động viên các dân tộc thuộc địa vùng lên tự giải phóng. Quốc tế Cộng sản ra đời
tháng 3-1919 do V.I.Lênin đứng đầu đã trở thành bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh
đạo phong trào cách mạng vô sản thế giới, không những vạch đường hướng chiến lược
cho cách mạng vô sản mà cả đối với các vấn đề dân tộc và thuộc địa, giúp đỡ, chỉ đạo
phong trào giải phóng dân tộc. Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920) đã thông qua
Luận cương về dân tộc và thuộc địa do V.I.Lênin khởi xướng. Cách mạng tháng Mười
và những hoạt động cách mạng của Quốc tế Cộng sản đã ảnh hưởng mạnh mẽ và thức
tỉnh phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam và Đông Dương.
1.1.1.2. Xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp
- Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng và từ
đó từng bước thôn tính Việt Nam. Trước hành động xâm lược của Pháp, Triều đình
nhà Nguyễn đang trong giai đoạn khủng hoảng trầm trọng đã lần lượt thỏa hiệp (Hiệp
ước 1862, 1874, 1883), đặc biệt ngày 6-6-1884 với Hiệp ước Patơnốt (Patenotre) nhà
Nguyễn đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp.
- Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa: Cuộc khai
thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-
1929). Mưu đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói
chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của Pháp, nơi vơ vét tài nguyên, bóc lột sức
lao động rẻ mạt của người bản xứ. Để đạt được mưu đồ đó, sau khi cơ bản dập tắt các
phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp từng bước thành lập bộ
máy và thực hiện chính sách thống trị:
+ Về chính trị: Bộ máy chính quyền phong kiến bản xứ vẫn được duy trì làm tay
sai. Pháp thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng
quốc gia dân tộc: chia ba kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) với các chế độ chính trị khác
nhau nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp được thành lập ngày 17-10-1887.
Mọi quyền hành của đất nước đều nằm trong tay các viên quan cai trị người Pháp.
+ Về kinh tế: Thực dân Pháp thực hiện chính sách độc quyền trong xuất nhập
khẩu, khai thác dầu mỏ, giao thông, ngân hàng, rượu, thuốc phiện... biến Việt Nam
thành thị trường tiêu thụ hàng hóa cho chính quốc. Một mặt, vẫn duy trì phương thức
sản xuất phong kiến lạc hậu. Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào kinh tế Pháp.
+ Về văn hóa: Thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ cai trị, lập
nhà tù nhiều hơn trường học, du nhập những giá trị phản văn hóa, duy trì các tệ nạn xã 11
hội phong kiến cũ, tạo nên nhiều tệ nạn mới, dùng rượu cồn và thuốc phiện để đầu độc
các thế hệ người Việt Nam, tuyên truyền tư tưởng “khai hóa văn minh” của nước “Đại Pháp”...
- Các chương trình khai thác thuộc địa về mọi mặt của thực dân Pháp đã làm biến
đổi toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Việt Nam: Quyền độc lập, tự do của
Việt Nam bị xóa bỏ; Phương thức sản xuất kinh tế tư bản đã thâm nhập vào Việt Nam
phá vỡ phương thức sản xuất kinh tế phong kiến, song nền kinh tế Việt Nam vẫn
nghèo nàn lạc hậu ngày càng phụ thuộc vào kinh tế Pháp; 90% dân số mù chữ. Tính
chất xã hội Việt Nam thay đổi từ xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa nửa
phong kiến. Phân hóa giai cấp xã hội sâu sắc, các giai cấp cũ phân hóa, giai cấp, tầng
lớp mới xuất hiện với địa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái độ chính trị khác
nhau đối với vận mệnh của dân tộc.
+ Giai cấp địa chủ phong kiến: Giai cấp địa chủ bị phân hóa mạnh mẽ. Một bộ
phận địa chủ câu kết, làm tay sai cho Pháp, ra sức đàn áp phong trào yêu nước và bóc
lột nông dân. Một bộ phận khác nêu cao tinh thần dân tộc khởi xướng và lãnh đạo các
phong trào chống Pháp và bảo vệ chế độ phong kiến. Một bộ phận nhỏ chuyển sang
kinh doanh theo lối tư bản.
+ Giai cấp nông dân: Số lượng nông dân chiếm khoảng hơn 90% dân số Việt
Nam, là giai cấp bị phong kiến, thực dân bóc lột nặng nề nhất. Do vậy, ngoài mâu
thuẫn giai cấp vốn có với giai cấp địa chủ, từ khi thực dân Pháp xâm lược, giai cấp
nông dân còn có mâu thuẫn sâu sắc với thực dân xâm lược. Đây là lực lượng hùng hậu,
có tinh thần đấu tranh kiên cường cho nền độc lập của dân tộc và khao khát giành lại
ruộng đất cho dân cày, khi có lực lượng tiên phong lãnh đạo, giai cấp nông dân sẵn
sàng vùng dậy làm cách mạng lật đổ thực dân phong kiến.
Xã hội Việt Nam bên cạnh hai giai cấp cũ đã xuất hiện thêm các giai cấp và tầng lớp mới.
+ Giai cấp công nhân Việt Nam: Được hình thành gắn với việc thực dân Pháp
thiết lập các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng, khu đồn điền... Ngoài những đặc điểm
của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng
vì ra đời trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến, chủ yếu xuất thân từ
nông dân, cơ cấu chủ yếu là công nhân khai thác mỏ, đồn điền, lực lượng còn nhỏ bé,
nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển
từ “tự phát” đến “tự giác”, thể hiện là giai cấp có năng lực lãnh đạo cách mạng.
[Trước 1914 giai cấp công nhân có khoảng 10 vạn người; đến 1929 giai cấp công nhân
có khoảng 22 vạn người ,chiếm trên 1,2% dân số. Đông
nhất công nhân đồn điền gồm 81.188
người (chiếm 36,8%); công nhân mỏ 53.240 người (24%); công nhân các ngành công nghiệp
chế biến, giao thông, thương nghiệp 86.622 người chiếm (39,2%).] 12
+ Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân. Một bộ phận
gắn liền lợi ích với tư bản Pháp, tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế của chính
quyền thực dân Pháp, trở thành tầng lớp tư sản mại bản. Một bộ phận là giai cấp tư sản
dân tộc, họ bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm, bị lệ thuộc, yếu ớt về kinh tế. Vì vậy,
phần lớn tư sản dân tộc Việt Nam có tinh thần dân tộc, yêu nước nhưng không có khả
năng tập hợp các giai tầng để tiến hành cách mạng.
+ Tầng lớp tiểu tư sản: Tầng lớp tiểu tư sản gồm học sinh, trí thức, thợ thủ công,
viên chức và những người làm nghề tự do - Trong đó, giới trí thức và học sinh là bộ
phận quan trọng nhất. Đời sống bấp bênh và dễ bị phá sản trở thành vô sản có lòng yêu
nước, căm thù đế quốc, rất nhạy cảm chính trị, ham hiểu biết cái mới đặc biệt chịu sự
ảnh hưởng của phong trào công – nông thức tỉnh và phong trào cách mạng tiến bộ từ
bên ngoài. Do vậy, họ bước vào hàng ngũ cách mạng ngày càng đông, trở thành lực
lượng quan trọng ở thành thị. Tuy nhiên, do địa vị kinh tế bấp bênh, thái độ hay dao
động, thiếu kiên định, nên tầng lớp tiểu tư sản không thể lãnh đạo cách mạng.
+ Tầng lớp sĩ phu phong kiến: cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bị phân hóa sâu
sắc, một bộ phận vẫn giữ cốt cách phong kiến, một bộ phận hướng sang tư tưởng dân
chủ tư sản hoặc tư tưởng vô sản. Một số người khởi xướng các phong trào yêu nước có ảnh hưởng lớn.
- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong lòng xã hội Việt Nam xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản:
+ Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp. Đây là mâu
thuẫn chủ yếu nhất, có tính chất bao trùm và ngày càng gay gắt.
+ Mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến.
Dưới chính sách thống trị của thực dân Pháp, sự ra đời của các giai cấp mới,
cùng những luồng tư tưởng ở bên ngoài: tư tưởng Cách mạng tư sản Pháp 1789, phong
trào Duy tân Nhật Bản năm 1868, cuộc vận động Duy Tân tại Trung Quốc năm 1898,
Cách mạng Tân Hợi của Trung Quốc năm 1911..., đặc biệt là Cách mạng tháng Mười
Nga năm 1917 đã tác động mạnh, làm chuyển biến phong trào yêu nước ở Việt Nam
những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mang nhiều khuynh hướng tư tưởng
chính trị khác nhau: Phong kiến, dân chủ tư sản, vô sản…
1.1.1.3. Các phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam trước khi Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời
a. Phong trào yêu nước theo lập trường phong kiến
Đến năm 1884, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã đầu hàng, nhưng
một bộ phận phong kiến yêu nước đã cùng với nhân dân vẫn tiếp tục đấu tranh vũ
trang chống Pháp, các phong trào tiêu biểu: 13
- Phong trào Cần Vương (1885-1896): do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết
khởi xướng. Ngày 13/7/1885 vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, phong trào diễn
ra sôi nổi, lan rộng khắp Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ với các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình
(Thanh Hóa), Bãi Sậy (Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh)… Tuy nhiên, phong trào
không tập hợp được một cách rộng rãi toàn thể các tầng lớp nhân dân, không có khả
năng liên kết các trung tâm kháng Pháp trên toàn quốc. Ngày 1/11/1888 Vua Hàm
Nghi bị bắt, phong trào vẫn tiếp diễn đến cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng năm
1896, cũng là mốc chấm dứt vai trò lãnh đạo của giai cấp phong kiến đối với phong
trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam.
- Phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang) - (1884-1913): Hoàng Hoa Thám
lãnh tụ cuộc khởi nghĩa đã đánh thắng Pháp nhiều trận, gây cho Pháp nhiều khó khăn,
tổn thất. Nhưng phong trào vẫn mang nặng “cốt cách phong kiến”, không có khả năng
mở rộng hợp tác và thống nhất tạo thành một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bị
thực dân Pháp dập tắt năm 1913.
b. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản tư sản. Phong trào này có 2 giai đoạn:
- Trước chiến tranh thế giới thứ nhất: Có 2 xu hướng: xu hướng bạo động (Phan
Bội Châu); xu hướng cải lương (Phan Chu Trinh):
+ Xu hướng bạo động do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo: Chủ trương tập hợp
lực lượng với phương pháp bạo động chống Pháp, xây dựng chế độ chính trị quân chủ
lập hiến như ở Nhật Bản. Mở đầu xu hướng là phong trào Đông Du, tổ chức đưa thanh
niên yêu nước Việt Nam sang Nhật Bản học tập. Đến năm 1908, Chính phủ Nhật Bản
câu kết với thực dân Pháp trục xuất lưu học sinh Việt Nam và những người đứng đầu.
Do ảnh hưởng của Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc (1911), năm 1912 Phan Bội Châu
lập tổ chức Việt Nam Quang phục hội với tôn chỉ là vũ trang đánh đuổi thực dân Pháp,
khôi phục Việt Nam, thành lập nước cộng hòa dân quốc Việt Nam. Nhưng chương
trình, kế hoạch hoạt động của Hội lại thiếu rõ ràng. Cuối năm 1913, Phan Bội Châu bị
thực dân Pháp bắt giam tại Trung Quốc cho tới đầu năm 1917 và sau này bị quản chế
tại Huế cho đến khi ông mất (1940). Ảnh hưởng xu hướng bạo động của tổ chức Việt
Nam Quang phục hội đối với phong trào yêu nước Việt Nam đến đây chấm dứt.
+ Xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh: bao gồm phong trào Đông Kinh
Nghĩa Thục (Bắc kỳ) và phong trào Duy Tân (Trung kỳ): Chủ trương muốn giành độc
lập cho dân tộc bằng cải cách đất nước. Phan Châu Trinh cho rằng “bất bạo động, bạo
động tắc tử”; phải “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, phải bãi bỏ chế độ quân
chủ, thực hiện dân quyền, khai thông dân trí, mở mang thực nghiệp. Để thực hiện được
chủ trương, Phan Châu Trinh đã đề nghị Nhà nước “bảo hộ” Pháp tiến hành cải cách.
Đó chính là sự hạn chế trong xu hướng cải cách để cứu nước, Cụ không rõ bản chất
của đế quốc thực dân. Do vậy, khi phong trào Duy Tân lan rộng khắp cả Trung kỳ và 14
Nam kỳ, đỉnh cao là vụ chống thuế ở Trung kỳ (1908), thực dân Pháp đã đàn áp dã
man, nhiều sĩ phu bị bắt, bị đày đi Côn Đảo, trong đó có Phan Châu Trinh, Huỳnh
Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn... Phong trào chống thuế ở Trung kỳ bị thực dân Pháp
dập tắt, cùng với sự kiện tháng 12-1907 thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa Trường Đông
Kinh Nghĩa Thục , phản ánh sự kết thúc xu hướng cải cách trong phong trào cứu nước 1 của Việt Nam.
- Sau chiến tranh thế giới thứ nhất: Phong trào của tầng lớp trí thức Tây học với
các tổ chức chính trị tiêu biểu là Việt Nam Quốc Dân Đảng và Tân Việt cách mạng Đảng:
+ Phong trào của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng: Việt Nam Quốc dân Đảng
do Nguyễn Thái Học lãnh đạo được thành lập tháng 12-1927 tại Bắc kỳ, thu hút nhiều
học sinh, sinh viên binh lính tham gia. Mục đích của Việt N
am Quốc dân Đảng là đánh
đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc, xây dựng chế độ cộng hòa tư sản,
với phương pháp đấu tranh vũ trang nhưng theo lối manh động, ám sát cá nhân. Tổ
chức đã phát động cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930), khẩu hiệu đấu tranh: “ không
thành công thì thành nhân” nhanh chóng bị thất b 2 ại.
+Tân Việt Cách mạng Đảng: Tiền thân của Tổ chức là Hội Phục hưng Việt Nam
( Phục Việt) thành lập ngày 14/7/1925 tại Vinh (Nghệ An) từ hai lực lượng: Một số tù
chính trị cũ ở Trung Kỳ như Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên, một số giáo viên như
Trần Mộng Bạch, Trần Phú, Hà Huy Tập... và một số nhóm sinh viên Trường Cao
đẳng Sư phạm Hà Nội như Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai... Phục Việt tích cực
tham gia vào phong trào đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu bằng việc rải truyền đơn
tại Hà Nội. Sợ bị lộ và dần dần chuyển sang quỹ đạo cách mạng vô sản, Phục Việt đổi
tên thành Hội Hưng Nam, Việt Nam Cách mạng Đảng (1926), Việt Nam Cách mạng
đồng chí hội (7/1927), Tân Việt Cách mạng Đảng(7/1928). Trong suốt quá trình tồn
tại, tổ chức chính trị này đã cử người sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự các lớp huấn
luyện chính trị của Nguyễn Ái Quốc và chịu ảnh hưởng tư tưởng của Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên. Do vậy, lập trường chính trị của tổ chức này dần dần thay đổi
và chuyển dần sang khuynh hướng vô sản.
+ Tại Nam kỳ có các tổ chức như Đảng Thanh niên cao vọng do Nguyễn An
Ninh thành lập năm 1926, Đảng Lập hiến do Bùi Quang Chiêu thành lập ….với một số
hoạt động chính trị đấu tranh cho quyền lợi của người dân Nam kỳ. Sau đó, các tổ
chức này lần lượt bị tan rã. Tóm lại:
- Trước yêu cầu đòi hỏi của lịch sử Việt Nam, các phong trào đấu tranh chống
Pháp diễn ra sôi nổi dưới nhiều trào lưu tư tưởng, nhiều cách thức tiến hành khác
1 Trường Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí. . thành lập ở Hà Nội, nhằm truyền bá tư tưởng dân chủ, tự do tư sản, nâng cao lòng tự tôn dân tộc cho thanh niên Việt Nam.
2 Lê Duẩn: Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1959, tr. 41. 15
nhau, song mục tiêu là đều hướng tới giành độc lập dân tộc. Trên lập trường giai cấp
khác nhau: nhằm khôi phục chế độ phong kiến hay thiết lập chế độ quân chủ lập hiến
hoặc cộng hòa tư sản. Phương thức, biện pháp: bạo động cải lương hoặc cải cách…,
kết quả đều thất bại.
- Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản thất bại phản ánh
sự bất lực của họ trước nhiệm vụ lịch sử Việt Nam đặt ra. Nguyên nhân thất bại chủ yếu
là do, các phong trào thiếu đường lối chính trị đúng đắn để giải quyết triệt để những
mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội, chưa thành lập được một tổ chức vững mạnh để
tập hợp, giác ngộ và lãnh đạo toàn dân tộc, chưa xác định được phương pháp đấu tranh
thích hợp để đánh đổ kẻ thù.
- Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về
giai cấp lãnh đạo. Nhiệm vụ của lịch sử đặt ra là phải có một tổ chức cách mạng tiên
phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc.
- Tuy đã thất bại, các phong trào yêu nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân, đặc biệt góp
phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức tiên tiến chọn lựa
một con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại.
1.1.2. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng
1.1.2.1. Sự lựa chọn con đường cứu nước
- Trước yêu cầu cấp thiết giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, với nhiệt
huyết cứu nước, năm 1911, Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước,
giải phóng dân tộc. Qua trải nghiệm thực tế nhiều nước, Người đã nhận thức được
rằng: “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc
lột và giống người bị bóc lột”, từ đó xác định rõ kẻ thù và lực lượng đồng minh của
nhân dân các dân tộc bị áp bức.
- Nguyễn Ái Quốc đã tìm hiểu kỹ các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới.
Người đánh giá cao tư tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái”, giá trị dân chủ, khai phóng
trong các cuộc cách mạng Mỹ (1776), cách mạng Pháp (1789). Nhưng Người khẳng
định: Con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho
nhân dân các nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.
- Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tìm hiểu cuộc cách mạng tháng 10 Nga
năm 1917 – Cuộc cách mạng do Đảng cộng sản lãnh đạo; Thắng lợi của cách mạng
tháng mười Nga (1917) đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận thức - đây là cuộc “cách mạng
đến nơi”, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc
bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Người từ nước Anh trở 16
lại nước Pháp và tham gia các hoạt động chính trị hướng về tìm hiểu con đường Cách
mạng tháng Mười Nga, về V.I.Lênin.
- Năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp, một chính Đảng
tiến bộ nhất lúc đó ở Pháp. Tháng 6-1919, tại Hội nghị của các nước thắng trận trong
Chiến tranh thế giới thứ nhất họp ở Vécxây, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Nguyễn Ái
Quốc thay mặt Hội những người An Nam yêu nước ở Pháp gửi tới Hội nghị bản Yêu
sách của nhân dân An Nam (gồm tám điểm đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam).
Những yêu sách đó không được Hội nghị đáp ứng, nhưng sự kiện này làm Nguyễn Ái
Quốc càng hiểu rõ hơn bản chất của đế quốc, thực dân.
- Tháng 7/1920 – Nguyễn Ái Quốc đọc “ sơ thảo lần thứ nhất Những luận cương
về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lênin (đăng trên báo Nhân đạo – cơ
quan Ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp ): Nguyễn Ái Quốc tìm thấy trong đó lời giải
đáp về con đường giải phóng dân tộc Việt Nam về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc
địa với cách mạng vô sản thế giới.
- Tháng 12/1920, Tại Đại hội Đảng xã hội Pháp – Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán
thành việc gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp. Sự kiện
này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ái Quốc: từ người yêu
nước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. Người
khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con
đường cách mạng vô sản”.3
1.1.2.2. Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng
- Nguyễn Ái Quốc đã tham gia sáng lập Hội Liên Hiệp thuộc địa (1921) ở Pháp.
Cùng các nhà cách mạng Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và những thanh niên
yêu nước, Người đã tích cực truyền bá những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin vào Việt Nam, trên các báo nhân đạo; người cùng khổ; đời sống công nhân ở
Pháp và đặc biệt là tác phẩm: "Bản án chế độ thực dân Pháp” với các nội dung:
+ Lên án mạnh mẽ chế độ cai trị hà khắc tàn bạo của thực dân Pháp
+ Vạch trần tội phản dân, hại nước của bọn vua quan phong kiến phản bội Tổ
quốc, chống lại đồng bào
+ Chỉ ra kẻ thù của nhân dân lao động thế giới, kẻ thù của các dân tộc thuộc địa
và kẻ thù nguy hiểm, trực tiếp của nhân dân Việt Nam
+ Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc chống lại thực dân Pháp xâm lược.
- 11/1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc) - nơi có
đông người Việt Nam yêu nước hoạt động. Tháng 2-1925, Người lựa chọn một số
thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra nhóm Cộng sản đoàn
3 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tập 10, tr. 128. 17
(nhằm xúc tiến những điều kiện thành lập Đảng). Tháng 7-1925, Nguyễn Ái Quốc đã
cùng một số nhà yêu nước Triều Tiên, Inđônêxia….Lập ra Hội Liên hiệp các dân tộc
bị áp bức ở Á Đông. Tôn chỉ của Hội là liên lạc với các dân tộc bị áp bức để cùng làm
cách mạng, đánh đổ đế quốc.
- Tháng 6 - 1925 – Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh
niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), nòng cốt là Cộng sản đoàn. Mục đích của Hội nêu
rõ: Làm cách mạng dân tộc và cách mạng thế giới. Sau khi cách mạng thành công, Hội
chủ trương lập chính phủ nhân dân, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, tiến lên xây
dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, đoàn kết với giai cấp vô sản, phong trào cách mạng
thế giới. Hệ thống tổ chức của Hội gồm 5 cấp: trung ương bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ hay thành
bộ, huyện bộ và chi bộ. Hội xuất bản tờ báo Thanh niên (ngày 21/6/1926 - đánh dấu sự
ra đời của báo chí cách mạng Việt Nam), tuyên truyền tôn chỉ, mục đích của Hội,
tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và về phương hướng phát triển của cuộc vận động
giải phóng dân tộc Việt Nam.
- Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên mở lớp huấn luyện cán bộ (tại nhà số 13,
đường Văn Minh, Quảng Châu), do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp phụ trách, cử người về
nước vận động, lựa chọn và đưa một số thanh niên tích cực sang Quảng Châu để đào
tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị. Từ giữa năm 1925 đến tháng 4-1927, Hội đã tổ
chức được trên 10 lớp huấn luyện. Sau khi được đào tạo, các hội viên được cử về nước
trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, xây dựng và phát triển phong
trào cách mạng theo khuynh hướng vô sản, một số hội viên khác được cử đi học
trường Đại học Cộng sản phương Đông (Liên Xô) và trường Quân chính Hoàng Phố
(Trung Quốc). Số hội viên của Hội tăng nhanh từ 300 người năm 1928 đến năm 1929
tăng lên 1500 người. Hội bắt đầu phát triển cơ sở trong nước (1926), các kỳ bộ được thành lập (1927)…
- Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc trong các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho những
người Việt Nam yêu nước tại Quảng Châu, được Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức
ở Á Đông xuất bản thành cuốn Đường Cách mệnh (1927). Đây là cuốn sách chính trị
đầu tiên của cách mạng Việt Nam, chuẩn bị trực tiếp những điều kiện về tư tưởng, lý
luận, chính trị và tổ chức để thành lập Đảng với nội dung:
+ Chiến lược của cách mạng: Tính chất, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là
cách mạng giải phóng dân tộc mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.
+ Về lực lượng cách mạng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng “là việc
chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người” 4phải đoàn kết toàn dân –
công nông là gốc cách mệnh.
4 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 2, tr. 283 18
+ Lực lượng lãnh đạo cách mạng: Cách mạng muốn thắng lợi phải có một Đảng
lãnh đạo, Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt .5
+ Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin.
+ Mối quan hệ của cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: Cách mệnh
An Nam cũng là một bộ phận trong cách mạng thế giới. Ai làm cách mạng trong thế
giới đều là đống chí của dân An Nam. Đã là đồng chí thì sung sướng cực khổ phải có nhau.
+ Về phương pháp cách mạng: Phương pháp cách mạng phải đi từ giác ngộ và
thức tỉnh quần chúng, phải đồng tâm hiệp lực, phải có mưu chước, dùng bạo lực cách
mạng của quần chúng để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp.
- Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chưa phải là chính Đảng cộng sản, nhưng
chương trình hành động đã thể hiện quan điểm, lập trường của giai cấp công nhân. Hội
đã chuẩn bị về tổ chức tiến tới thành lập một chính Đảng cộng sản.
1.1.3. Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
1.1.3.1. Sự phát triển phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản
- Phong trào công nhân những năm 1919 – 1924: Chủ yếu vẫn là đấu tranh tự
phát (Hình thức bãi công là hình thức đấu tranh phổ biến).
- Từ năm1925 - 1929, với sự nỗ lực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong
trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc và những hoạt
động tích cực của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đã ảnh hưởng và thúc đẩy
mạnh mẽ sự chuyển biến của phong trào công nhân, phong trào yêu nước những năm
1928-1929 theo xu hướng cách mạng vô sản:
(Phong trào công nhân dần dần chuyển sang trình độ đấu tranh tự giác, mang tính
chất chính trị rõ rệt, có tổ chức thống nhất, có sự liên kết của các nhà máy, các ngành,
các địa phương. Số lượng các cuộc đấu tranh của công nhân trong năm 1926-1927 là
27 cuộc, 1928-1929 tăng lên 40 cuộc. Phong trào công nhân đã đi đầu và trực tiếp lãnh
đạo phong trào đấu tranh cách mạng, có sức lôi kéo phong trào dân tộc phát triển rộng
khắp cả nước và theo con đường cách mạng vô sản). Sự phát triển phong trào công
nhân và phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản, đòi hỏi phải thành lập một
chính Đảng để đáp ứng yêu cầu tập hợp lực lượng và lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc.
1.1.3.2. Các tổ chức cộng sản ra đời
5 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 2, tr. 289. 19
- Đến năm 1929, trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Việt
Nam, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không còn thích hợp và đủ sức
lãnh đạo phong trào. Hội đã làm tròn nhiệm vụ là chuẩn bị những điều kiện, những
tiền đề cho ra đời một Đảng Cộng sản ở Việt Nam, dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cộng sản:
+ Tháng 3/1929 – Một số hội viên của tổ chức Thanh niên ở Bắc kỳ lập ra chi bộ
cộng sản đầu tiên ở số nhà 5D, Hàm Long, Hà Nội. Chi bộ gồm 7 người: Ngô Gia Tự,
Nguyễn Đức Cảnh, Đỗ Ngọc Du, Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Cung, Dương Hạc Đính,
Kim Tôn. Trong đó, đồng chí Trần Văn Cung là Bí thư chi bộ. Tiếp đó:
+ Đông Dương cộng sản Đảng: Ngày 17-6-1929, đại biểu của các tổ chức cơ sở
cộng sản ở miền Bắc họp tại số nhà 312 phố Khâm Thiên (Hà Nội), quyết định thành
lập Đông Dương cộng sản Đảng, thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ; lấy cờ đỏ búa liềm
là Đảng kỳ và quyết định xuất bản báo Búa liềm làm cơ quan ngôn luận.
+ An Nam cộng sản Đảng: Tháng 11-1929, trước ảnh hưởng của Đông Dương
Cộng sản Đảng, các hội viên tiên tiến của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở
Trung Quốc và Nam Kì tổ chức ra các chi bộ và quyết định thành lập An Nam cộng
sản Đảng tại Khánh Hội, Sài Gòn; công bố Điều lệ, quyết định xuất bản Tạp chí Bônsơvích.
+ Đông Dương cộng sản liên đoàn (9/1929) tại Trung kỳ: Sự ra đời của Đông
Dương cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng đã làm nội bộ Tân Việt Cách mạng
Đảng (là một tổ chức thanh niên yêu nước có Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai...).
phân hóa mạnh mẽ. Những đảng viên tiên tiến của Tân Việt quyết định thành lập Đông
Dương cộng sản liên đoàn 9/1929. Khi đang Đại hội, sợ bị lộ, các đại biểu di chuyển
đến địa điểm mới thì bị địch bắt vào sáng ngày 1-1-1930. Tuy vậy do tuyên đạt tháng
9-1929, Đông Dương Cộng Sản đã chính thức ra đời .6 Tuyên ngôn của Đông Dương
cộng sản liên đoàn nêu rõ: Đông Dương cộng sản liên đoàn lấy chủ nghĩa cộng sản
làm nền móng; lấy công, nông, binh liên hiệp làm đối tượng vận động cách mệnh và
thực hành vận động cách mạng ở Đông Dương làm cho Đông Dương hoàn toàn độc
lập, xóa bỏ nạn người bóc lột người, xây dựng chế độ công nông chuyên chính tiến lên
cộng sản chủ nghĩa trong toàn xứ Đông Dương.
Tóm lại: Sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản trong năm 1929 đã khẳng định bước
phát triển về chất của phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng cách mạng
vô sản, phù hợp với xu thế và nhu cầu bức thiết của lịch sử Việt Nam.
Mặc dù, sự ra đời ba tổ chức cộng sản ở ba miền đều giương cao ngọn cờ chống
đế quốc, phong kiến, tiến tới xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, đều tự nhận là
Đảng cách mạng chân chính, nhưng do hoạt động riêng rẽ, không tránh khỏi phân tán
về lực lượng và thiếu thống nhất về tổ chức trên cả nước. Do vậy trước sự phát triển
6 Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nô Ži, 2007, tâ Žp 1, trang 319. 20