lOMoARcPSD| 61470371
PHẦN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GH
Câu 1: Trình bày sự hình thành và phát triển của GDH?
- Khái niệm: Giáo dục học là khoa học nghiên cứu về quá trình giáo dục toàn vẹn con người.
- Quá trình hình thành, phát triển của GDH trải qua các giai đoạn sau:
1. Thời kì nguyện thuỷ: trực tiếp trong LĐSX; thông qua phong tực, tập quán, truyện kể…
2. Khi XH phát triển: GDH là một bộ phận của triết học.
3. Thời văn hoá phục hưng: nhiều thuyết GD phát triển, nhưng GDH vẫn còn một bộ phận
của Triết học.
4. Thế kỉ XVII: GDH trở thành một khoa học độc lập (nhờ lý luận về dạy học của Komesky
– cuốn “Lý luận dạy học vĩ đại”)
Câu 2: Nêu đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của GDH?
- Đối tượng nghiên cứu của GDH: quá trình giáo dục toàn vẹn (hay quá trình giáo dục theo nghĩa
rộng)
- Nhiệm vụ nghiên cứu của GDH:
o Nghiên cứu nguồn gốc phát sinh, phát triển và bản chất của hiện tượng GD. o Nghiên cứu dự
báo tương lai của giáo dục (các xu thế, chiến lược giáo dục) o Nghiên cứu xây dựng các lí
thuyết giáo dục mới để áp dụng vào thực tiễn giáo dục. o Nghiên cứu các phương pháp, phương
tiện giáo dục mới nhằm nâng cao kết quả giáo dục.
Câu 3: Phân tích các khái niệm cơ bản của Giáo dục học?
- GDH là khoa học nghiên cứu quá trình giáo dục toàn vẹn con người.
- GDH có các khái niệm cơ bản sau:
o Giáo dục (rộng): Quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng
phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục,
nhằm hình thành nhân cách của họ.
o Dạy học: Quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp người học lĩnh
hội tri thức khoa học, phát triển năng lực tư duy và năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó
hình thành thế giới quan và các phẩm chất nhân cách của người học theo mục đích giáo dục
o Giáo dục (hẹp): Quá trình hình thành cho người được giáo dục tưởng, động cơ, tình cảm,
niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong
xh thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu.
- Giữa các khái niệm của GDH vừa có những điểm chung, vừa có những điểm khác biệt. o Điểm chung
giữa các khái niệm: đều hướng tới mục tiêu hình thành, phát triển nhân cách cho con người; đều cần
có sự tương tác, phối hợp giữa nhà giáo dục và người được giáo dục.
o Điểm khác biệt:
1/ Chức năng trội
2/ Cách thức tiến hành
3/ Lực lượng tiến hành
Quá trình giáo dục
Quá trình dạy học
Chức năng trội
Tập trung phát triển các phẩm chất đạo
đức cho người học.
Hình thành và phát triển tri thức,
năng, kĩ xảo cho HS
Cách thức tiến hành
Hoạt động giáo dục
Bài học trên lớp
Lực lượng tiến hành
GV chủ nhiệm lớp, cha mẹ HS, Hội
đồng nhà trường và các đoàn thể GD
khác.
GV bộ môn
Câu 4. Trình bày các tính chất của giáo dục.
- Khái niệm quá trình GD (nghĩa rộng): quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội
dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo
dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ.
- Các tính chất của giáo dục: o Tính phổ biến và vĩnh hằng o GD chịu sự quy định của XH o Tính lịch
sử o Tính giai cấp
- Phân tích từng tích chất:
o Tính phổ biến và vĩnh hằng: GD diễn ra mọi lúc mọi nơi, mọi hoàn cảnh và mọi đối tượng; GD
xuất phát từ nhu cầu tồn tại và phát triển của XH loài người, do đó GD cũng sẽ phải tồn tại và
phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của XH loài người.
o GD chịu sự quy định của XH: GD p/a trình độ phát triển KT-XH đồng thời đáp ứng các yêu
cầu KT-XH trong những giai đoạn nhất định của XH; GD luôn luôn biến đổi trong tiến trình
phát triển của XH loài người khi XH thay đổi thì cũng sẽ đặt ra những yêu cầu làm cho GD
cũng phải biến đổi để đáp ứng theo các nhu cầu đó.
o Tính lịch sử: Ở mỗi một thời kì lịch sử khác nhau lại có một nền giáo dục tương ứng, nền GD
đó sẽ khác nhau về mục đích, về nội dung, về phương pháp, về hình thức tổ chức, kết quả giáo
dục và ta khẳng định rằng không có mt nền GD nào là chung nhất, là dập khuân cho mọi thời
kỳ lịch sử.
o Tính giai cấp: Thể hiện trong các chính sách giáo dục chính thống của một quốc gia; các chính
sách GD này được xây dựng trên cơ sở tư tưởng của Nhà nước cầm quyền, do đó, GD không
đứng ngoài chính sách và quan điểm của nhà nước thể hiện tính chất giai cấp của GD. GD
công cụ của giai cấp thống trị để duy trì quyền lợi và lợi ích của mình, và truyền bá những
tư tưởng, đường lối, chính sách của giai cấp mình.
Thêm: GD là của ai, phục vụ cho giai cấp nào?
Ở VN, mục đích của Nhà nước ta là hướng tới xoá bỏ áp bức, bóc lột, từ đó hướng tới sự bình
đẳng, công bằng trong giáo dục. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, bên cạnh những mặt tích
cực cơ bản vẫn có những mặt trái khó tránh được. Nhà nước ta đã cố gắng đưa ra những chính
sách đảm bảo công bằng trong giáo dục như:
lOMoARcPSD| 61470371
Mọi công dân đều có quyền tiếp cận hệ thống giáo dục
Đảm bảo những sinh viên, học sinh năng khiếu, tài năng tiếp tục được đào tạo lên
cao bất kể đk, hoàn cảnh, giới tính, dân tộc, tôn giáo,…
Tiến hành xoá mù chữ, phổ cập GD
Đa dạng, mềm dẻo các loại hình đào tạo, các loại hình trường lớp nhằm tạo cơ hội học
tập cho mọi tầng lớp nhân dân
- Kết luận sư phạm (lời khuyên hành hành động, bn ý trên-bn lời khuyên):
o GD có tính phổ biến nhà GD cần tác động đến người được GD mọi lúc, mọi nơi, trong nhiều
tình huống giáo dục khác nhau…
Câu 5. Chức năng xã hội của giáo dục.
1. Khái niệm
- Quá trình giáo dục (nghĩa rộng): quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch, có nội
dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan
giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ.
- Các chức năng xã hội của giáo dục: sự tác động của GD đến các quá trình, các lĩnh vực của đsxh mà
trong đó con người là chủ thể.
2. Các chức năng xã hội của giáo dục gồm:
a. Chúc năng kinh tế - sản xuất.
b. Chức năng chính trị - xã hội.
c. Chức năng tư tưởng – văn hoá.
3. Phân tích chức năng đề thi y/c (ví dụ: chức năng kinh tế - sản xuất)
d. Nội dung, yêu cầu
e. Biểu hiện của chức năng
f. Cách thực hiện chức năng
3.1. Chức năng kinh tế - sản xuất
Giáo dục tái sản xuất sức lao động xã hội, o tạo nên sức lao động mới có chất lượng cao hơn, thay thế
sức lao động cũ đã lạc hậu, đã g
cỗi hoặc đã mất đi
o bằng cách phát triển những năng lực chung và năng lực chuyên biệt của con người, o nhằm
tạo ra một năng suất lao động cao hơn, thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế xã hội.
Xã hội hiện đại đặt ra những yêu cầu cao đối với chất lượng nguồn nhân lực:
o có trình độ học vấn cao, có tay nghề vững vàng, năng động, sáng tạo, linh hoạt để thích nghi,
đáp ứng được những yêu cầu của tiến trình phát triển xã hội.
o Dạy học theo tiếp cận năng lực là một trong giải pháp quan trọng để
phát triển năng lực hành động cho người học trong các nhà trường,
đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động hiện nay.
Kết luận sư phạm:
Giáo dục luôn gắn kết với thực tiễn xã hội.
Tiếp tục thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Hệ thống giáo dục nhà trường không ngừng đổi mới nhằm phát triển năng lực hành động cho người
học, đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn nghề nghiệp.
3.2. Chức năng chính trị - xã hội
Giáo dục tác động đến cấu trúc xã hội, tức tác động đến các bộ phận, các thành phần xã hội (các giai
cấp, các tầng lớp, c nhóm xã hội...) làm thay đổi tính chất mối quan hệ giữa các bộ phận, thành phần
đó bằng cách nâng cao trình độ văn hóa chung cho toàn thể xã hội.
Giáo dục trở thành phương tiện, công cụ để khai sáng nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, củng cố niềm
tin, kích thích hành động của tất cả các lực lượng xã hội, nhằm duy trì, củng cố thể chế chính trị-
hội cho một quốc gia nào đó.
Giáo dục xã hội chủ nghĩa góp phần làm cho cấu trúc xã hội trở nên thuần nhất, làm cho các giai cấp,
các tầng lớp, các thành phần xã hội.. ngày càng xích lại gần nhau.
Ở nước ta, o Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước, đại diện cho quyền lực “của dân, do dân,
vì dân” trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
o giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. o Giáo dục phục vụ cho mục
tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Kết luận sư phạm:
Người giáo viên luôn phải nắm vững quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà
nước.
Giúp học sinh hiểu, tin tưởng và thực hiện theo đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà
nước
3.3. Chức năng tư tưởng – văn hóa
Giáo dục tham gia vào việc o xây dựng một hệ tư tưởng chi phối toànhội, o xây dựng một lối sống
phổ biến trong hội o bằng cách phổ cập giáo dục phổ thông với trình độ ngày càng cao cho mọi
tầng lớp xã hội.
Thông qua giáo dục, những tư tưởng xã hội được thấm đến từng con người, giáo dục hình thành ở con
người thế giới quan, giáo dục ý thức, hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội. Nhờ giáo dục,
tất cả các giá trị văn hoá của nhân loại, của dân tộc, của cộng đồng được bảo tồn phát triển, trở
thành hệ thống giá trị của từng con người.
Kết luận sư phạm
Đa dạng hóa các loại hình và phương thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân,nhằm tạo cơ hội
cho người dân được đi học và học suốt đời
Sử dụng sức mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng.
lOMoARcPSD| 61470371
4. Mối quan hệ giữa các chức năng XH của GD
a. Các chức năng giáo dục của xã hội có mối quan hệ mật thiết và biện chứng với nhau, việc thực
hiện tốt các chức năng này sẽ giúp cho việc thực hiện các chức năng còn lại thực hiện có hiệu
quả hơn.
b. Trong tất cả các chức năng kể trên thì chức năng kinh tế - sản xuất chức năng tính chất
quyết định.
5. Kết luận sư phạm:
Câu 6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách.
1. Khái niệm nhân cách, sự phát triển nhân cách
a. Nhân cách: hthống giá trị làm người mà cá nhân đạt được; với sự trưởng thành về phẩm chất và năng
lực; trong quá trình thực hiện các chức năng xã hội của mình và được xh đánh giá thừa nhận.
b. Sự phát triển nhân cách: thực chất là quá trình k/đ bản chất xh của con người, k/đ trình độ phát triển
nhân cách của chính cá nhân đó.
Như vậy sự phát triển của cá nhân thì được biểu hiện qua 2 dấu hiệu:
- Một, là sự biểu hiện phát triển tâm lý: sự biến đổi các quá trình tâm lý của cá nhân như nhận thức, tư
duy, quan điểm, lập trường, thói quen, cảm xúc, tình cảm
- Hai, là sự biểu hiện phát triển xã hội: Chúng ta có thái độ và hvi ứng xưe phù hợp khi chúng ta đứng
cho mối qh xh vs người khác.
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách gồm:
a. Bẩm sinh, di truyền
b. Môi trường
c. Giáo dục
d. Hoạt động cá nhân
3. Vai trò của các yếu tố
Yếu tố bẩm sinh- di truyền:Yếu tố này đóng vai trò tiền đề tự nhiên, sở vật chất cho sự hình
thành và phát triển nhân. Những yếu tố này sinh ra đã có do bố mẹ truyền lại hoặc tự nảy sinh do
biến dị( bẩm sinh). Vai trò tiền đề cho sự phát triển nhân cách.
Yếu tố môi trường sống: Bao gồm cả hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội tác động trực hoặc gián
tiếp đến quá trình phát triển nhân cách thông qua việc con người tiếp xúc với thế giới tự nhiên, phong
tục tập quán, nghề nghiệp,.. hay với người khác. Vai trò quyết định cho sự phát triển nhân cách
Yếu tố hoạt động tích cực: Con người tự giác, chủ động tham gia vào quá trình phát triển tâm lý, hình
thành nhân cách. Vai trò trực tiếp với sự phát triển nhân cách.
Yếu tố giáo dục: Giáo dục mang vai trò chủ đạo với sự phát triển nhân cách bởi:
o Không chỉ vạch ra mục tiêu, chiều hướng mà còn tổ chức, chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiện
quá trình phát triển nhân cách.
o Tác động một cách có điều kiện, mang lại những tiến bộ mà các yếu tố bẩm sinh di truyền, môi
trường sống không thể tạo ra được.
o Cải biến nét tính cách, phẩm chất sao cho phù hợp với chuẩn mực xã hội.
o tầm quan trọng đặc biệt với người khuyết tật giúp họ trừ những chức năng bị khiếm
khuyết, hòa nhập với xã hội
o Có tác động điều khiển và điều chỉnh nên không những thích ứng với các yếu tố mà còn kìm
hãm hoặc thúc đẩy các yếu tố đó theo một gia tốc phù hợp
4. Phân tích từng yếu tố
- Là gì?
- Phân loại?
- Vai trò theo qđ của GD hiện đại đvs sự pt của nhân cách cá nhân? - Biểu hiện?
+ Khi cá nhân được rơi vào 1 mt tốt có đ thuận lợi cho sự hình thành và pt nhân cách thì cá nhân đó sẽ pt
theo hướng tích cực và lành mạnh hơn
+ Ngược lại, với những cá nhân ko có đk thuận lợi về môi trường thì sự hình thành và pt nhân cách của
cá nhân đó sẽ gặp nhiều khó khăn và trở ngại hơn
4.1. Vai trò của bẩm sinh, di truyền đến sự hình thành và phát triển nhân cách
a. Khái niệm
Di truyền o Di truyền là sự tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tinh sinh học có ở cha mẹ, là sự truyền lại
từ cha mẹ cho con cái những đặc điểm, những p/c nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen.
o Những thuộc tính, những đặc điểm có thể di truyền là cấu trúc giải phẫu của cơ thể, những đặc điểm
sinh học (như màu da, tóc, vóc dáng…), tư chất của hệ thần kinh.
o Những yếu tố này trước hết đảm bảo cho loài người phát triển, đồng thời giúp con người có thể
thích ứng với những biến đổi của đk sinh tồn.
Bẩm sinh: hiện tượng sinh ra đã có – bẩm sinh có thể do di truyền và có thể là không di truyền
b. Các quan điểm sai lầm
Tuyệt đối hoá: “Con vua thì lại làm vua”, “trứng rồng lại nở ra rồng”
Sai, vì chưa ĐG đúng vai trò của di truyền, quá đề cao vai trò của di truyền dẫn đến phủ
định vai trò của các yếu tố khác đvs sự hình thành và pt nhân cách con người.
Trên thực tế sự pt nhân cách con người ko chỉ do di truyền quyết định mà còn phụ
thuộc vào các nhân tố khác đó là mt và gd đặc biệt là tính tích cực của cá nhân
Phủ nhận hoàn toàn: di truyền hoàn toàn ko có vai trò gì đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
c. Quan điểm đúng đắn của GD hiện đại
Bẩm sinh, di truyền là tiền đề cho sự hình thành, phát triển nhân cách.
- Tạo ra những sức sống trong bản chất tự nhiên của con người, tạo khả năng cho người đó có kết
quả trong 1 số lĩnh vực nhất định.
- Vấn đề di truyền những tư chất về một lĩnh vực hđ nhất định ở trẻ em có tầm quan trọng đặc biệt đvs
công tác gd
- Không thể quyết định giới hạn tiến bộ xh của con người mà nó chỉ tạo khả năng cho con người hđ có
kết quả trong 1 số lĩnh vực nhất định
- Không định hướng cụ thể vào một lĩnh vực nào đó.
- Không quyết định nd của sự phát triển tâm lý, mà nó chỉ ảnh hưởng: tạo đk thuận lợi hay trở ngại cho
sự pt tâm lý với tốc độ nhanh hay chậm
lOMoARcPSD| 61470371
dụ: Một người có tư chất toàn học (yếu tố di truyền) nên định hướng cho người đó khả năng hđ trong
lĩnh vực khtn, người đó trở thành nhà toán học hay giáo viên toán hoặc kỹ sư, kiến trúc sư, bác sỹ, nhà quản
lý,… lại phụ thuộc vào sự tích cực, sự cố gắng của bản thân, sự gd của mt, gd nhà trường, gia đình và xh
Ví dụ: Trẻ khyết tật về thị giác hay thính giác tiếp thu kinh nghiệm xh-ls khó khăn và chậm hơn song điều đó
ko quyết định nội dung tâm lý nhân cách. (Helen Kyller)
d. KLSP
4. 2. Vai trò của môi trường đến sự hình thành và phát triển nhân cách
a. Thế nào là môi trường? Có mấy loại mội trường?
- Môi trường: Là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các đk tự nhiên và xh xung quanh cần thiết cho hđ
sống và pt con người.
- Phân loại: 2 loại o Môi trường tự nhiên: các đk tự nhiên-hệ sinh thái phục vụ cho các hđ sinh sống của
con người; hoàn cảnh địa lí, nước, không khí, động vật, thực vật,…
o Môt trường xhL một hệ thống qh chính trị kinh tế, xã hội-lịch sử, văn hoá, gd,… được thiết lập
b. Các qđ sai lầm - Tuyệt đối hoá - phủ nhận hoàn toàn
c. Quan điểm đúng đắn của GDH hiện đại
Môi trường là điều kiện cho sự hình thành và phát triển nhân cách
- môi trường xã hội có tầm quan trọng đặc biệt vì nếu không có xã hội loài người thì những tư chất có
tính người cũng không thể phát triển được
- Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể được thực hiện trong một môi trường nhất định. Môi
trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện cho hoạt động giao lưu của
nhân, nhờ đó giúp trẻ chiếm lĩnh được các kinh nghiệm để hình thành và phát triển nhân cách của mình
- Tuy nhiên, tính chất mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành phát triển nhân
cách còn tùy thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhân đối với các ảnh hưởng đó, cũng như
tùy thuộc vào xu hướng và năng lực, vào mức độ cá nhân tham gia cải biến môi trường.
d. KLSP
+ Đánh giá đúng vai trò của mt đvs sự hình thành và pt nhân cách
+ Nhà GD phải chủ động tạo ra những mt tích cực cho việc phát triển nhân cách của HS thông qua tchức
các hoạt động và giao lưu
+ Trong các môi trường thì mt lớp học, mt tập thể, mt giáo dục trong nhà trường là mt có ý nghĩa rất
quan trọng đvs sự phát triển nhân cách của hs, nhà GD cần phải chú ý xd mt sao cho đầy đủ các yếu tố
tích cực ở trong đó
4.3. Vai trò của GD đến sự hình thành và phát triển nhân cách
a. Khái niệm giáo dục (nghĩa rộng); đặc trưng của QTGD
- Giáo dục (nghĩa rộng): quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương
pháp khoa học của nhà giáo dục đến người được giáo dục qua các tổ chức giáo dục, nhằm hình thành nhân
cách cho họ.
- Đặc trưng của QTGD
+ Tác động tự giác, được điều khiển bởi cơ quan, lực lượng chuyên trách, khác với tác động tự phát tản mạn
của môi trường
+ Có mục đích, nội dung, phươn gphasp, phương tiện, chương trình… được tổ chức, lựa chọn khoa học phù
hợp với mọi đối tượng, giúp họ chiếm lĩnh được những kinh nghiệm, giá trị xh của nhân loại bằng con đường
ngăn nhất
b. Quan điểm đúng đắn của GDH hiện đại:
Giáo dục đóng vai trò chủ đạo đối cới sự hình thành, phát triển nhân cách cá nhân
c. Biểu hiện của vai trò chủ đạo của giáo dục
- Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách
của học sinh còn tổ chức, chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiện quá trình đó đến kết quả mong
muốn.
- Giáo dục là những tác động tự giác điều khiển, thể mang lại những tiến bộ
các yếu tố di truyền bẩm sinh hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể tạo ra được do tác động
tự phát.
- Giáo dục có sức mạnh cải biến những nét tính cách, hành thành phẩm chất lệch lạc
không phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của hội. Đó chính kết quả quan trọng của giáo
dục lại đối với trẻ em hư hoặc người phạm pháp.
- Giáo dục tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tật hoặc thiểu năng
do bệnh tật, tai nạn hoặc bẩm sinh, di truyền tạo ra. Nhờ có sự can thiệp sớm, nhờ có phương
pháp giáo dục, rèn luyện đặc biệt cùng với sự hỗ trợ của các phương tiện khoa học có thể giúp
cho người khuyết tật, thiểu năng phục hồi một phần chức năng đã mất hoặc phát triển các chức
năng khác nhằm bù trừ những chức năng bị khiếm khuyết, giúp cho họ hoà nhập vào cuộc sống
cộng đồng.
- Giáo dục những tác động điều khiển điều chỉnh cho nên không những thích
ứng với các yếu tố di truyền, bẩm sinh, môi trường, hoàn cảnh trong quá trình hình thành
phát triển nhân cách mà nó còn có khả năng kìm hãm hoặc thúc đẩy các yếu tố ảnh hưởng đến
quá trình đó theo một gia tốc phù hợp mã di truyền và môi trường không thể thực hiện được.
d. KLSP
- Cần có nhận thức đúng đắn về vai trò của giáo dục đến sự hình thành và phát triển nhân cách.
- Biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục ở người học
- Tổ chức quá trình giáo dục một cách khoa học, hợp lý:
+ Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý HS
+ Yêu cầu giáo dục mang tính vừa sức với HS
+ Tổ chức các hoạt động và giao lưu đa dạng, phong phú cho HS
+ Lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp và các phương pháp giáo dục khoa học
+ Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà giáo dục và người được giáo dục
lOMoARcPSD| 61470371
+ Khơi dậy khả năng tiềm ẩn, tố chất di truyền, tính tích cực trong hoạt động cá nhân của học
sinh nhằm mang lại hiệu quả cho quá trình giáo dục
4.4. Vai trò của hoạt động đến sự hình thành và phát triển nhân cách
a. Thế nào là hoạt động
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Hoạt động của con người là hđ có mục đích, mang tính xh,
cộng đồng, được thực hiện bằng những thao tác nhất định với những công cụ nhất định.
b. Vai trò của hoạt động
Hoạt động đóng vai trò quyết định đến sự hình thành, phát triển nhân cách
- Thông qua hoạt động của bản thân trẻ sẽ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội và biến nó thành nhân
cách của mình. Hoạt động giúp kích thích hứng thú, niềm say mê sáng tạo và làm nảy sinh những nhu
cầu mới, những thuộc tính tâm lý mới… ở mỗi các nhân mà nhờ đó nhân cách được hình thành và phát
triển.
- Sự hình thành phát triển nhân cách của trẻ phụ thuộc vào hoạt động mỗi thời kì, lứa tuổi nhất
đinh. Muốn hình thànhphát triển nhân cách thì cha mẹ cần phải tcho con ham gia vào các dạng hoạt
động khác nhau và kích thích yếu tố hoạt động cá nhân.
- Ngay từ khi còn nhỏ, ở mỗi trẻ đã hình thành những nhân cách khác nhau cũng như chịu chi phối bởi
hệ thống gia đình, giáo dục, xã hội,….Trong đó gia đình được coi là cái nôi của nhân cách, tác động
vào hệ thống phát triển tinh thần và thể chất của trẻ. Vì vậy giáo dục nhân cách cho trẻ ngay từ nhà
điều rất quan trọng và cần thiết.
c. KLSP
- Đưa HS vào những hđ đa dạng, coi hoạt động là phương tiện giáo dục cơ bản
- Làm phong phú nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động, từ đó lôi cuốn học sinh vào hoạt động
- Nắm được các hđ chủ đạo ở từng thời kì
Câu 7. Giáo dục trong xã hội hiện đại
1. Đặc điểm của xã hội hiện đại (pg 28)
a. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ
b. Xu thế toàn cầu hoá/hội nhập
c. Phát triển nền kinh tế tri thức
d. Thế giới biến đổi nhanh
e. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
2. Xu thế phát triển giáo dục thế giới
3. Xu hướng phát triển giáo dục VN trong giai đoạn hiện nay
LÝ LUẬN GIÁO DỤC
Câu 8. Khái niệm, cấu trúc của QTGD(pg 338)
1. Khái niệm quá trình giáo dục (nghĩa hẹp):
Quá trình giáo dục là một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, người được giáo dục tự
giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục
???Giáo dục (nghĩa hẹp) Quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm
tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xh thông qua việc tổ
chức cho họ các hoạt động và giao lưu.
2. Cấu trúc của QTGD
Theo cách tiếp cận hệ thống, QTGD bao gồm các thành tcấu trúc như: mục đích, nhiệm vụ giáo dục, nội
dung giáo dục, phương pháp và phương tiện giáo dục, nhà giáo dục, người được giáo dục, kết quả giáo dục.
Mỗi thành tố có chức năng riêng và có mối qh biện chứng với nhau.
1. Mục đích, nhiệm vụ giáo dục
Mục đích giáo dục là thành tố có vai trò định hướng, ảnh hưởng, chi phối, qui định sự phát triển của
các thành tố khác của quá trình giáo dục (nội dung, phương pháp, phương thức tổ chức giáo dục, kiểm
tra, đánh giá,…) cũng như toàn bộ quá trình giáo dục.
Mục đích giáo dục được xem như là “đơn đặt hàng của xã hội” về mẫu người mà quá trình giáo dục
phải tạo ra. Hay mục đích giáo dục chính là mô hình dự kiến về nhân cách con người đáp ứng được
các yêu cầu của xã hội. Mục đích giáo dục có tính lịch sử, chúng luôn biến đổi cùng với sự phát triển
của xã hội và thời đại.
Mục đích giáo dục của nhà trường hiện nay là: đào tạo người được GD, trước hết là thế hệ trẻ trở thành
những người công dân, những người lao động có đủ năng lực và phẩm chất, có khả năng hoà nhập và
thích ứng năng động sáng tạo với cuộc sống đang đổi mới toàn diện sâu sắc hiện nay. Trong Điều
27, Luật giáo dục (2005) quy định:
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và
sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư
cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc
sống lao động, tham gia lao động và bảo vệ T quốc”
2. Nhiệm vụ giáo dục
lOMoARcPSD| 61470371
Nhiệm vụ giáo dục chịu sự chi phối của mục đích, mục tiêu giáo dục. Nhiệm vụ giáo dục của nhà
trường là tác động đến toàn bộ tới nhân cách của người được giáo dục (nhận thức, thái độ và hành vi) đồng
thời hướng dẫn, khuyến khích người được giáo dục tạo lập những thói quen hành vi phù hợp với các chuẩn
mực xã hội qui định. Vì vậy nhiệm vụ của quá trình giáo dục bao gồm 3 nhiệm vụ sau đây:
+ Tổ chức hình thành phát triển ở người được GD ý thức cá nhân về các chuẩn mực hội (CMXH)
nói chung, các chuẩn mực đạo đức, pháp luật nói riêng đã được qui định. Ý thức cá nhân về các chuẩn mực
xã hội là một thể thống nhất giữa sự hiểu biết và niềm tin của cá nhân về các chuẩn mực xã hội đó.
+ Tổ chức hình thành phát triển người được GD những xúc cảm, tình cảm tích cực đối với các
CMXH, trên cơ sở đó có tác dụng thúc đẩy cá nhân chuyển hoá ý thức cá nhân về các chuẩn mực xã hội thành
hành vi, thói quen hành vi tương ứng ở họ.
+ Tổ chức hình thành và phát triển ở người được GD hệ thống những hành vi phù hợp với các chuẩn
mực hội đã qui định đồng thời lặp đi lặp lại những hành vi đó thành những thói quen bền vững gắn mật
thiết với nhu cầu tích cực của cá nhân.
3. Nội dung giáo dục
Nội dung giáo dục là hệ thống những tri thức, thái độ, hành vi, thói quen hành vi phù hợp với những
chuẩn mực xã hội qui định cần được giáo dục cho người được giáo dục.
Nội dung giáo dục trong nhà trường được thiết kế theo mục đích giáo dục, được chi tiết hóa thành từng
mảng cụ thể phù hợp với trình độ, lứa tuổi, theo từng cấp học, phù hợp với từng tình huống giáo dục cụ thể.
Nội dung giáo dục trong nhà trường bao gồm giáo dục đạo đức và ý thức công dân, giáo dục văn hóa,
thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và hướng nghiệp, giáo dục môi trường, giáo dục giới tính và
sức khỏe sinh sản, giáo dục dân số, giáo dục phòng chống các tệ nạn xã hội,…
4. Phương pháp và phương tiện giáo dục
Phương pháp phương tiện giáo dục những cách thức, biện pháp, phương tiện tổ chức hoạt động
giáo dục cho người được giáo dục tham gia nhằm giúp người được GD chuyển hóa các yêu cầu, chuẩn mực
hội qui định thành hành vi và thói quen tương ứng họ. Phương pháp, phương tiện giáo dục càng khoa
học, hiện đại, tiên tiến thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giáo dục đạt kết quả cao.
5. Nhà giáo dục
Nhà giáo dụcchủ thể của quá trình giáo dục và giữ vai trò chủ đạo. Nhà giáo dục trong phạm vi nhà
trường là giáo viên, tập thể sư phạm; ở gia đình là ông bà, cha mẹ, những người thân khác; trong các tổ chức
xã hội là cán bộ phụ trách đoàn thể,…
Vai trò chủ đạo của nhà giáo dục được thể hiện ở những mặt sau:
- Quán triệt mục đích, yêu cầu, nhiệm vgiáo dục chuyển tải tới đối tượng giáo dục. - Định
hướng sự phát triển nhân cách đối tượng giáo dục theo đúng mục đích giáo dục của Đảng và Nhà nước đã đề
ra và mục tiêu giáo dục cụ thể của nhà trường.
- Nhà giáo dục là người tổ chức, điều khiển toàn bộ quá trình giáo dục: xác định mục tiêu, lựa chọn
nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức, hướng dẫn người được giáo dục; kiểm tra, đánh giá kết quả
quá trình giáo dục.
- kế hoạch, phương pháp tổ chức hợp lí, khoa học, hệ thống các hoạt động giáo dục trong
ngoài nhà trường.
- Phát huy được ý thức tự giác, tính chủ động, tích cực tự giáo dục của học sinh.
- Phối hợp kết hợp với các lực lượng giáo dục (nhà trường, gia đình, xã hội) tạo nên những tác động
đồng bộ, thống nhất đến người được giáo dục.
6. Đối tượng giáo dục
Đối tượng giáo dục - người được GD ở trường phổ thông là cá nhân hay tập thể học sinh. Người được
GD đóng vai trò vừa là khách thể vừa là chủ thể của quá trình giáo dục.
Với tư cách là khách thể của quá trình giáo dục, các em nhận sự tác động có định hướng, có kế hoạch,
có phương pháp, có tổ chức và có hệ thống của nhà giáo dục.
Với tư cách chủ thể của quá trình giáo dục, các em tiếp nhận các tác động giáo dục một cách
chọn lọc thông qua lăng kính chủ quan của mình và tự vận động, biến các yêu cầu giáo dục bên ngoài thành
nhu cầu được giáo dục bên trong của bản thân.
Trong quá trình giáo dục, người được GD luôn thể hiện vai trò chủ động, tích cực, độc lập, sáng tạo
của mình, không phụ thuộc hoàn toàn vào nhà giáo dục, tự tìm ra cách thức, con đường tu dưỡng và rèn luyện
để phát triển và hoàn thiện nhân cách.
7. Kết quả giáo dục
Kết quả giáo dục là sản phẩm của những tác động giáo dục theo từng giai đoạn và của quá trình giáo dục. Sản
phẩm của giai đoạn này là tiền đề cho giai đoạn sau và chúng kế thừa nối tiếp nhau để đạt mục đích giáo dục
tổng thể.
Kết quả giáo dục được thể hiện trong sự hình thành và phát triển nhận thức, thái độ, tình cảm, hành vi
thói quen của học sinh theo mc đích, nhiệm vgiáo dục của nhà trường. Nếu mục đích giáo dục là dự kiến
mô hình giáo dục mong muốn thì kết quả giáo dục là cái đã đạt được, là sản phẩm thực tế của quá trình giáo
dục. Giữa mục đích giáo dục (M) và kết quả giáo dục (Kq) sẽ có các mối tương quan sau:
Kq → M; Kq ≈ M; Kq < M
Kq → M: Kết quả giáo dục hoàn toàn phù hợp với mục đích giáo dục đã đề ra.
Kq ≈ M: Kết quả giáo dục gần phù hợp với mục đích giáo dục.
Kq < M: Kết quả giáo dục trái (lệch hoặc ngược) với mục đích giáo dục.
Tóm lại, quá trình giáo dục là một hệ thống gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố có vai trò và chức năng riêng
nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau, tạo nên một chỉnh thể thống
nhất. Mặt khác chúng lại có quan hệ và bị chi phối bởi môi trường chính trị - kinh tế - văn hóa – khoa học kĩ
thuật và quan hệ sản xuất xã hội… Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào chất lượng của từng thành tố.
Câu 9. Bản chất của QTGD
1. Khái niệm quá trình giáo dục (nghĩa hẹp)
Quá trình giáo dục là một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, người được giáo dục tự
giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục
2. 2 cơ sở xác định bản chất của QTGD
Quá trình xã hội hóa cá nhân: Đây là quá trình biến cá nhân thành một thành viên của xã hội, có đầy
đủ các giá trị xã hội để tham gia vào các hoạt động xã hội.
Mối quan hệ giữa nhà giáo dục người được giáo dục : Đây là mối quan hệ sư phạm – một loại quan
hệ xã hội đặc thù.
3. Nêu bản chất của QTGD
Bản chất của quá trình GD là: quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các hoạt động và giao lưu cho người được
giáo dục tham gia một cách tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo nhằm chuyển hóa những yêu cầu những
chuẩn mực của xã hội quy định thành hành vi và thói quen hành vi tương ứng ở họ trên cơ sở đó, thực hiện tốt
các nhiệm vụ giáo dục.
4. Phân tích bản chất của QTGD
a. QTGD - quá trình xã hội giúp đối tượng giáo dục biến các yêu cầu khách quan thành yêu cầu chủ quan
của cá nhân
QTGD nhằm hình thành pt nhân con người trở thành những thành viên xh o Những
thành viên này phải thoả mãn được 2 mặt
Vừa phù hợp (thích ứng) với các yêu cầu xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển
Vừa có khả năng tác động cải tạo, xd xh làm cho nó tồn tại và pt
o Những nét bản chất của cá nhân con người chính là do các mi qhxh hợp thành
lOMoARcPSD| 61470371
o QTGD là quá trình làm cho ĐTGD ý thức được các qhxh và các giá trị của nó, biết vận dụng
vào các lĩnh vực của đsxh: kinh tế, văn hoá-xh, đạo đức, tôn giáo, pháp luật, gia đình, ứng xử
nhằm t/m nhu cầu của cá nhân và yêu cầu của xh.
Khi đứa trẻ mới sinh ra, ý thức, nhân cách của nó chưa được hình thành.
o Các chuẩn mực, quy tác… của xh vớn tồn tại khách quan bên ngoài, độc lập với đứa trẻ. o Quá
trình trẻ lớn lên trong mt văn minh của xh loài người, thẩm thấu những gía trị văn hoá của loài
người để tạo ra nhân cách của chính mình – quá trình xã hội hoá con người.
o Đó là qt giúp trẻ biến những yêu cầu khách quan xủa xh thành ý thức, thành niềm tin thái
độ, thành những thuộc tính, những phẩm chất nhân cách của cá nhân.
o Bên cạnh đó, quá trình này cũng giúp đối tượng biết loại bỏ khỏi bản thân những quan niệm,
những biểu hiện tiêu cực, tàn dư cũ, lạc hậu, không còn phù hợp với xã hội hiện đại.
b. Quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho ĐTGD
QTGD là quá trình hình thành bản chất người – bản chất xh trong mỗi cá nhân một cách có ý thức, là
quá trình tổ chức để mỗi cá nhân chiếm lĩnh được các kinh nghiệm xh.
Hoạt động và giao lưu là 2 mặtbản, thống nhất trong cs của con người và cũng là đk tất yếu của sự
hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân. Tâm lí học đã k/đ: hoạt động và giao lưu vừa là nguồn
gốc, vừa là động lực của sự hình thành và phát triển nhân cách
Các thuyết về hoạt động đã chứng tỏ là con người muốn tồn tại và pt phải có hđ và giao lưu. Nếu các
và giao lưu của nhân (hoặc nhóm người) được tổ chức một cách khoa học với các đk, phương
tiện tiên tiến, phong phú, nhân được tham gia vào các hđ giao lưu đó thì sẽ rất nhiều cơ
hội tốt cho sự phát triển.
Chính vì vậy, QTGD vừa mang tính chất của hđ, vừa mang tính chất của giao lưu. GDmột quá trình
qua lại mang tính xh giữa nhà giáo dục và ĐTGD, giữa các ĐTGD với nhau và với các lực lượng, các
qh xh trong và ngoài nhà trường.
5. KLSP
- Cần tổ chức các hđ và giao lưu đa dạng, phong phú, hấp dẫn cho học sinh
- Bồi dưỡng tính tự tin và tinh thần tập thể cho học sinh trong khi tổ chức các hđ GD
- Phát huy tính tích cực của hs trong các hđ do nhường tổ chức
Câu 10. Đặc điểm của QTGD
1. Khái niệm QTGD (nghĩa hẹp)
QTGD lầ một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà GD, người được GD tự giác, tích cực, chủ động
tự GD nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ GD.
2. Đặc điểm của QTGD
a. QTGD diễn ra dưới những tác động phức hợp
Sự phát triển nhân cách của người được giáo dục chịu ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố: khách quan, chủ
quan; Bên trong, bên ngoài; Trực tiếp, gián tiếp; Có chủ định, không có chủ đinh; Tích cực, tiêu cực… đan
xen vào nhau tác động tới người được giáo dục.
Quá trình giáo dục diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi con người, do đó quá trình giáo dục cũng luôn chịu sự tác
động của rất nhiều những yếu tố đó.
Yếu tố khách quan là những yếu tố môi trường KTXH, KHCN ảnh hưởng tới quá trình giáo dục (GD
nhà trường), ảnh hưởng tới NĐGD.
dụ: điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị hội, phong tục, tập quán, các hoạt động văn hóa, giáo
dục, xã hội ngoài nhà trường, các hoạt động thông tin tuyên truyền qua các phương tiện và các kênh
thông tin khác nhau…có ảnh hưởng tới.
Yếu tố chủ quan là o các thành tố của quá trình giáo dục (mục đích, nội dung, phương pháp, phương
tiện…) cách
tổ chức được chủ thể và khách thể của quá trình giáo dục tác động để nó vận hành và phát triển
nhằm đem lại hiệu quả giáo dục;
o các yếu tố tâm lí, trình độ được giáo dục, điều kiện, hoàn cảnh gia đình,… của đối tượng giáo
dục;
o các mối quan hệ phạm được tạo ra trong quá trình tác động qua lại giữa học sinh với giáo
viên, giữa học sinh với các lực lượng giáo dục khác
=> QTGD luôn diễn ra dưới những tác động vừa phức tạp, vừa hỗn hợp của rất nhiều các yếu tố.
=> Tuy nhiên, các yếu tố tác động đến quá trình giáo dục với nhiều mức độ khác nhau, chúng có thể thống
nhất, hỗ trợ cho nhau trong quá trình giáo dục, cũng có thể có mâu thuẫn làm hạn chế, suy giảm, thậm chí
làm vô hiệu hóa kết quả của quá trình giáo dục.
=> Chính vì vậy, quá trình giáo dục chỉ có thể đạt được mục tiêu của mình khi nhà giáo dục biết chủ động
phối hợp thống nhất các tác động giáo dục (gia đình, nhà trường, xã hội) nhằm phát huy những tác động tích
cực và hạn chế những tác động tiêu cực tác động tới người được giáo dục.
b. QTGD là một quá trình diễn ra lâu dài
=> Nhận xét: Mục tiêu của quá trình giáo dục là hình thành quan điểm, thế giới quan, nhân sinh quan, niềm
tin, lý tưởng, phẩm chất nhân cách của người công dân, người lao động mà xã hội yêu cầu ở người được
giáo dục. Để thực hiện mục tiêu đó đòi hỏi quá trình giáo dục phải diễn ra một thời gian dài mới đạt được
kết quả và thực tiễn giáo dục đã cho thấy: giáo dục diễn ra suốt cuộc đời mỗi người.
=> Tính chất lâu dài của QTGD được xem xét ở các góc độ sau:
Việc hình thành hành vi và thói quen hành vi đúng đắn ở người được GD, đòi hỏi quá trình giáo dục
phải tác động đến nhận thức, tạo lập xúc cảm, tình cảm tích cực đối với hành vi đó đồng thời người
được giáo dục phải trải qua một quá trình luyện tập, trải nghiệm để lặp đi lặp lại hành vi đó trở thành
thói quen bền vững gắn với nhu cầu của họ. Vì vậy quá trình giáo dục đòi hỏi trong một thời gian
dài, liên tục mới có được kết quả.
Trong quá trình hình thành quan điểm, thái độ, niềm tin, thói quen hành vi mới phù hợp với các
CMXH (chuẩn mực xã hội) quy định ở người được giáo dục , bản thân người được giáo dục cũng
lOMoARcPSD| 61470371
luôn phải diễn ra cuộc đấu tranh động cơ giữa cái cũ và cái mới cần phải hình thành (quan điểm,
niềm tin, giá trị, hành vi, thói quen hành vi mới). Thông thường, những cái cũ, lạc hậu thường tồn tại
dai dẳng khó thay đổi, đặc biệt là những thói quen hành vi xấu đã được tạo lập ở mỗi người. Nếu
người được giáo dục không quyết tâm thay đổi thì cái cũ lại nhanh chóng quay trở lại và cái mới khó
được hình thành.
=> Vì vậy, QTGD muốn đạt được mục tiêu, hiệu quả GD đòi hỏi nhà GD ko được nôn nóng, vôi vàng đốt
cháy giai đoạn mà cần phải kiên trì, bền bỉ, liên tục tác động cùng với sự tự giác, nỗ lực quyết tâm tự rèn
luyện của người được GD.
c. QTGD mang tính cá biệt, cụ thể
Quá trình giáo dục phải tính đến đặc điểm của từng nhóm đối tượng, từng đối tượng giáo dục cụ thể:
đặc điểm tâm sinh lý, trình độ được giáo dục, kinh nghiệm sống, thái độ, hành vi, thói quen, điều
kiện hoàn cảnh sống,…khi thực hiện tổ chức các hoạt động giáo dục và đưa ra những quyết định của
nhà giáo dục.
Quá trình giáo dục diễn ra trong thời gian, thời điểm, không gian với những điều kiện, hoàn cảnh c
thể. Do đó quá trình giáo dục phải trên cơ sở những điều kiện cụ thể của tình huống giáo dục để
những yêu cầu và tác động phù hợp đối với người được giáo dục.
Quá trình giáo dục phải đặc biệt chú ý luyện tập và rèn luyện các thao tác, kĩ năng hành động ở người
được giáo dục thể hiện theo các yêu cầu, nội dung, chuẩn mực xã hội về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực
trong đời sống của cá nhân nhưng vẫn thể hiện nét tính cách độc đáo riêng của mỗi con người.
Bên cạnh những tác động chung, đòi hỏi nhà giáo dục cần phải có những tác động riêng phù hợp với
từng đối tượng giáo dục trong từng bối cảnh cụ thể. Tuyệt đối tránh các cách giáo dục rập khuôn máy
móc, hình thức bởi, với cách giáo dục đó sẽ mang lại thất bại, tác động phản giáo dục.
Kết quả giáo dục cũng mang tính cụ thể của một quá trình giáo dục cho từng đối tượng, từng nhóm
đối tượng giáo dục cụ thể, đối với từng mặt, từng yêu cầu cụ thể…., trong những điều kiện, hoàn
cảnh nhất định
d. QTGD thống nhất biện chứng với QTDH
QTDH và QTGD là hai quá trình bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể có mối quan hệ thống nhất
biện chứng với nhau. Sự thống nhất của hai quá trình này là cùng hướng tới phát triển nhân cách toàn
diện cho người học đáp ứng các yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, mỗi quá trình có chức năng, nhiệm vụ
riêng nên giữa chúng có sự tác động qua lại, hỗ trợ, đan xen bổ xung cho nhau cùng đem lại sự phát
triển nhân cách của người học.
Nhiệm vụ của QTDH không những chỉ hình thành cho người học tri trức, kỹ năng kỹ xảo, phát triển
năng lực hoạt động trí tuệ mà còn hình thành phẩm chất nhân cách của người công dân, người lao
động. Hay ta thường nói: thông qua “dạy chữ” để “dạy người”.
Ngược lại: nhờ có QTGD mà người được giáo dục xây dựng được thế giới quan khoa học, động cơ
thái độ học tập đúng đắn, thói quen hành vi tích cực… Chính kết quả giáo dục này sẽ tạo điều kiện
thúc đẩy hoạt động học tập của người học nói riêng, hoạt động dạy học nói chung vận động phát
triển.
Mục đích cuối cùng của giáo dục là phát triển con người có đủ tài và đức để đáp ứng các yêu cầu của
xã hội, đủ sức cạnh tranh và phát triển. Vì vậy trong công tác giáo dục nói chung, giáo dục ở nhà
trường nói riêng tránh tách rời hai quá trình giáo dục và quá trình dạy họ.
Tóm lại: Trên đây là những đặc điểm cơ bản của quá trình giáo dục. Để thực hiện tốt quá trình giáo dục, các
nhà giáo dục cần nghiên cứu kỹ và nắm vững được những đặc điểm nêu trên của quá trình giáo dục.
Câu 11. Các khâu của QTGD
1. Khái niệm
a. QTGD (nghĩa hẹp):
là quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà giao sdujc mà người được GD tự giác, tích cực, chủ động
tự GD nhằm thực hiện các nhiệm vụ GD.
b. Logic của QTGD:
Logic của QTGD là trình tự vận động hợp quy luật của QTGD, nhằm đảm bảo cho người được GD đi từ trình
độ tri thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi, thói quen hành vi phù hợp với các CMXH tương ứng ừ lúc bắt đầu
tham gia một hđ GD nào đó, đến trình độ tri thức, xúc cảm, tình cảm hành vi, thói quen hành vi phù hợp
với các CMXH, tương ứng cới lúc kết thúc hđ GD.
2. Kể tên các khâu của QTGD
a. Tổ chức điều khiển NĐGD nắm vững những tri thức về các CMXH đã quy định
b. Tổ chức điều khiển NĐGD hình thành niềm tin và tình cảm tích cực với các CMXH quy định
c. Tổ chức điều khiển NĐGD hình thành hành vi và thói quen phù hợp với các CMXH đã quy định
3. Phân tích
3.1. Tổ chức điều khiển NĐGD nắm vững những tri thức về các CMXH đã quy định
Các CMXH thước đo giá trị hành vi của con người được xh thừa nhận, có tác dụng định hướng, điều
tiết hành vi của nhân, của nhóm xh trong những đk nhất định. CMXH cũng chính những điều
kiện xh kiểm tra hvi của nhân nhân lại thể sử dụng để kiểm tra hành vi của mình
trên cơ sở đó hướng tới sự phát triển xh.
Trong xh tồn tại rất nhiều hệ thống các giá trị CMXH:
o Giá trị chuẩn mực về pháp luật o
Chuẩn mực về đạo đức o Chuẩn mực
về truyền thống o Chuẩn mực về
phong tục tập quán o Chuẩn mực về
thẩm mỹ…
=> Trong đó, nhiều loại chuẩn mực về đạo đức, pháp luật đã được lựa chọn và đưa vào nd QTGD
Nhận thức là cơ sở, là kim chỉ nam cho sự hình thành và điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của mỗi
cá nhân. Muốn NĐGD tự giác tích cực thực hiện theo các CMXH đã quy định. Đòi hỏi NGD cần phải
lOMoARcPSD| 61470371
tác động tới nhận thức của NĐGD, giúp cho NĐGD nắm vững được những tri thức về các chuẩn mực
bao gồm:
o Ý nghĩa xh và ý nghĩa cá nhân của các CMXH quy định o Nội
dung của các chuẩn mực (bao gồm các khái niệm tương ứng) o Cách
thức thực hiệm theo các yêu cầu chuẩn mực đó
=> Tuy nhiên, kết quả của quá trình nhận thức đó phụ thuộc vào trình độ văn hoá, kinh nghiệm
sống, sự trải nghiệm của mỗi người, là sp của quá trình học tập tập và tự tu dưỡng. Quá đó những
khái niệm về đạo đức, về quyền lợi và nghĩa vụ, về quy tắc sống, CMXH, những giá trị văn hoá sẽ
được hình thành.
3.2. Tổ chức điều khiển NĐGD hình thành niềm tin và tình cảm tích cực với các CMXH quy định
Chính trong quá trình hình thành, phát triển tri thức về các CMXH cho NĐGD thì thái độ, niềm tin,
tình cảm tích cực đvs các CMXH ở họ dần được hình thành.
Trong QTGD, niềm tin đvs các CMXH được thể hiện ở NĐGD theo các mức độ tăng dần như sau: o
NĐGD nắm được những tri thức về các CMXH o Tin về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn đvs
tính chân đúng đắn của các CMXH o Mong muốn tuân theo những yêu cầu được phản ánh trong
các CMXH o Bước đầu hành vi phù hợp với các CMXH o Hài lòng vhành vi của mình khi đã
hoàn thành phù hợp với các CMXH o Tỏ thái độ ko khoan nhướng đvs những hành vi của người khác
có mâu thuẫn với những CMXH Chính niềm tin đó cùng với tri thức tương ứng thu lượm được sẽ
tạo nên ở NĐGD ý thức đúng đắn. Trong qt hình thành ý thức nói chung, niềm tin nói riêng cho NĐGD
đã làm nảy nở những xúc cảm, tình cảm tốt đẹp đvs các CMXH. Những xúc cảm, tình cảm tích cực
như là những “chất men” kích thuchs người được giáo dục chuyển hoá ý thức cá nhân thành hành vi
thói quen tương ứng.
Kinh nghiệm thực tiễn GD cho thấy:
o Nếu ý thức về các CMXH của NĐGD bị hạn chế thì tình cảm tương ứng cũng bị hạn chếm
điều đó dẫn tói hành vi tương ứng mang tính chất hình thức, thậm chí ko hình thành hoặc rơi
vào tình trạng sai lệch.
o Nếu NĐGD có nhận thức đúng về các CMXh mà ko có tình cảm tương ứng thì hành vi tương
ứng sẽ khô khan cứng nhắc và thậm chí ko hình thành hay sai lệch:
“Yêu nên tốt, ghét nên xấu”
o Nếu NĐGD nắm chắc các CMXH một cách không tgiác sẽ dẫn đến tình trạng nói làm
không đi đôi với nhau và kết quả GD là hình thành bộ mặt nhân cách giả tạo.
KLSP:
Đối với các trường phổ thông thì công tác giáo dục thái độ, niềm tin, tình cảm tích cực cho học sinh đối với
việc học tập, các mối quan hệ gia đình, bè bạn, xã hội, đối với tự nhiên và môi trường xung quanh là điều có
ý nghĩa rất quan trọng. Giáo dục xây dựng niềm tin cho các em vào chân lí, lẽ phải, giáo dục tình cảm yêu
mến, kính trọng thầy cô giáo, cha mẹ; thân ái với bạn bè,… và đồng thời chú ý uốn nắn, điều chỉnh kịp thời
những biểu hiện thái độ lệch lạc, thiếu trong sáng làm ảnh hưởng tới hiệu quả quá trình giáo dục.
3.3. Tổ chức điều khiển NĐGD hình thành hành vi và thói quen phù hợp với các CMXH đã quy định
Nhân cách của mỗi con người được thể hiện bằng hành vi và thói quen hành vi của họ chứ ko chỉ dừng
lại ở sự hiểu biết của họ. Hành vi biểu hiện cụ thể nhất ở bộ mặt tâm lí, đạo đức của con người.
Mục đích của QTGD là hình thành ở NĐGD phẩm chất nhân cách của người công dân, người lao động
đáp ứng yêu cầu xh.
o Do đó, QTGD quan trong nhất là phải tổ chức, điều khiển NĐGD tham gia vào những mối qh
hđ và giao lưu để họ tự rèn luyện nhằm hình thành những hvi phù hợp với các CMXH và lặp
đi lặp lại những hvi đó thành thói quen tương ứng.
o Bởi hvi văn hoá khi đã trở thành thói quen sẽ mang tính bề vững tự động htrong cách
ứng sử của mọi tình huống cs hằng ngày của NĐGD.
Hvi thói quen hvi của mỗi người được hình thành trong qt được rèn luyện trong các tình
huống cụ thể, đa dạng của cs. GD hvi, thói quen hvi có văn hoá là kết quả của cả 1 qt học tập tu dưỡng
và rèn luyện lâu dài của NĐGD.
=> Chính vì vây, QTGD phảu tổ chức các hđ đa dạng phong phú dưới nhiều hình thức khác nhau
ngày càng phức tạp; đồng thời chú ý bồi dưỡng cho NĐGD ý thức tự rèn luyện, năng lực tự ktra, tự ĐG
thường xuyên trên cơ sở đó các thói quen hvi đạo đức của NĐGD mới được hình thành.
Lưu ý: những hvi hình thành NĐGD phải t/m các tiêu chí sau đây: o Hvi đó phù hợp với các
CMXH quy định hay ko? o Hvi đó có được thể hiện ở mọi nơi mọi lúc hay ko? o Hvi có được duy trì
bền vững theo thời gian hay ko? o Hvi đó có động cơ đúng hay sai? Có ý nghĩa xh và cá nhân ntn?
Kết luận:
Các khâu trên đây của QTGD tác động đồng bộ tới nhận thức, tình cảm, hvi thói quen của NĐGD có mối qh
mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau thậm trí là thâm nhập vào nhau:
- Nhận thức là cơ sở là đk cần cho việc hình thành tình cảm, hvi tương ứng ở NĐGH
- Niềm tin, tình cảm là động lực thúc đẩy cá nhân hđ để biến nhận thức thành hđ
- Việc thể nghiệm hvi và rèn luện hvi là yếu tố quyến định sự hình thành pt nhân cách của NĐGD
Trong thực tiễn GD, khi vận dụng các khâu của QTGD đòi hỏi mà nhà GD ko nhất thiết phải tuân theo trình
tự các khâu nêu trên. Việc vận dựng các khâu sao cho phù hợp với từng đối tượng, yêu cầu, nhiệm vụ giáo
dục và hoàn cảnh cụ thể nhằm phát huy tính hiệu quả của QTGD.
Câu 12. Phương pháp giáo dục
(*)Trình bày khái niệm và đặc điểm của phương pháp giáo dục
1. Khái niệm
Phương pháp một thành tố quan trọng của quá trình giáo dục. Thực tiễn hoạt động giáo dục cho
thấy: trong cùng một hoạt động giáo dục với mục tiêu, chủ thể, đối tượng, điều kiện, phương tiện thực
hiện hoạt động như nhau nhưng kết quả của hoạt động mang lại khác nhau. thể giải sự khác
nhau này chính là do phương pháp tiến hành hoạt động đó có sự khác nhau. o Phương pháp là từ gốc
tiếng Hy Lạp “Metodos” có nghĩa là con đường theo dõi đối tượng. o Phương pháp cũng đồng nghĩa
với biện pháp kỹ thuật, biện pháp khoa học, tổ hợp những quy luật, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động của
con người đạt đến mục đích đặt ra…
o Theo quan niệm của Hêghen: “Phương pháp ý thức về hình thức vận động bên trong của nội
dung sự vật” (V.I.Lênin, 1963, Bút kí triết học, Nxb Sự thật, tr 103). Hình thức vận động bên
lOMoARcPSD| 61470371
ngoài nhưng lại có liên quan đến nội dung (các quy luật) của sự vật. Điều này có nghĩa là muốn
phương pháp thì cần phải nhận thức hành động tuân theo các quy luật của sự vật hiện
tượng mà con người đã nhận thức được.
o Theo Paplop: Phương pháp khoa học là những quy luật nội tại của sự vận động của tư duy với
cách sự phản ánh chủ quan về thế giới khách quan” “là những quy luật khách quan
được “chuyển” và “dịch” trong ý thức của con người và được sử dụng một cách có ý thức và
hệ thống như một phương tiện để giải thích và cải tạo thế giới” (Tôđo Páp lốp, 1949, luận
phản ánh, Mát cơ va, Sách tiếng Nga). Như vậy muốn có phương pháp thì cần phải nhận thức
được quy luật khách quan và hành động phù hợp với quy luật khách quan đó.
=> Từ các quan niệm nêu trên về phương pháp ta có thể định nghĩa một cách khái quát về phương pháp như
sau: Phương pháp con đường, cách thức hoặc trình tự thực hiện các công việc cụ thể để đạt được mục
tiêu đặt ra.
Như chúng ta đã biết, bản chất của quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, các hoạt động và
giao lưu cho người được giáo dục tham gia nhằm giúp người được giáo dục chuyển hóa các yêu cầu
chuẩn mực xã hội thành hành vi và thói quen hành vi tương ứng ở họ. Chính vì vậy, bản chất phương
pháp giáo dục cách thức tổ chức cuộc sống, c hoạt động giao lưu cho người được giáo dục
tham gia ở gia đình, nhà trường và xã hội nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đặt ra.
Trong quá trình giáo dục luôn bao gồm sự tác động qua lại của hai chủ thể giáo dục nhà giáo dục
giáo dục) người được giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đặt ra. Mỗi chủ thể vai trò,
chức năng riêng trong quá trình giáo dục. Nhà giáo dục có vai trò là người tổ chức các hoạt động giáo
dục nhằm tạo môi trường giáo dục tích cực để người được giáo dục tham gia trên cơ sở đó thực hiện
tốt các nhiệm vụ giáo dục. Bên cạnh đó, người được giáo dục với tư cách là chủ thể hoạt động quyết
định sự lựa chọn các tác động giáo dục từ môi trường quyết định sự phát triển nhân cách của bản
thân. Vì vậy trong quá trình giáo dục, phương pháp giáo dục được hiểu như sau:
Phương pháp giáo dục là hệ thống cách thức hoạt động của nhà giáo dục và người được
giáo dục thực hiện trong sự thống nhất với nhau nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục
phù hợp với mục đích giáo dục đặt ra.
=> Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra đòi hỏi hệ thống các cách thức hành động của nhà giáo
dục phải phù hợp với bản chất, quy luật của quá trình giáo dục và đối tượng giáo dục.
2. Đặc trưng
Phương pháp giáo dục là một khái niệm phức hợp, có nhiều bình diện, phương diện khác nhau. Có thể nêu ra
một số đặc trưng của phương pháp giáo dục như sau:
Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở định hướng của mục đích giáo dục.
Phương pháp giáo dục là sự thống nhất của cách thức tổ chức của nhà giáo dục và cách thức tham gia
tích cực tự giáo dục của người được giáo dục.
Phương pháp giáo dục thực hiện thống nhất tác động tới nhận thức, thái độ hành vi ứng xcủa
người được giáo dục trong quá trình giáo dục.
Phương pháp giáo dục sự thống nhất của logic nội dung giáo dục lôgic tâm của người được
giáo dục.
Phương pháp giáo dục có tính khách quan và chủ quan.
Phương pháp giáo dục là sự thống nhất của cách thức hành động với điều kiện phương tiện giáo dục.
Phương pháp giáo dục phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng giáo
dục cụ thể.
Kết luận: để có hiệu quả của hoạt động giáo dục đòi hỏi nhà giáo dục khi lựa chọn, sử dụng các phương
pháp giáo dục cần phải tìm hiểu, nghiên cứu kĩ mục đích, mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, đối tượng, phương
tiện, môi trường, hoàn cảnh giáo dục cụ thể.
(*)Trình bày hệ thống các phương pháp giáo dục
1. Khái niệm phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục là hệ thống cách thức hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục thực
hiện trong sự thống nhất với nhau nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục phù hợp với mục đích giáo dục
đặt ra.
2. Một số cách phân loại các phương pháp giáo dục
Dựa trên cơ sở quy trình các khâu của quá trình giáo dục, ta có 3 nhóm phương pháp giáo dục sau đây:
+ Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân của người được giáo dục về các chuẩn mực
hội quy định (Đàm thoại, Kể chuyện, Giảng giải, Nêu gương)
+ Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động hình thành hành vi thói quen hành vi ứng xử cho
người được giáo dục phù hợp với các chuẩn mực xã hội (CMXH) quy định (Phương pháp giao việc, Phương
pháp tập luyện, Phương pháp rèn luyện)
+ Nhóm các phương pháp kích thích và điều chỉnh hành vi ứng xử của người được giáo dục phù
hợp với các CMXH quy định (Khen thưởng, Trách phạt, Phương pháp thi đua )
Các cách phân chia phương pháp giáo dục nêu trên đều dựa trên các cách tiếp cận khác nhau và
tùy thuộc vào mục đích, mục tiêu giáo dục đặt ra nhà giáo dục lựa chọn, sử dụng các phương pháp giáo
dục cho phù hợp.
3. Hệ thống các phương pháp giáo dục
Theo cách phân loại phổ biến về hệ thống các phương pháp giáo dục - cách phân loại dựa trên cơ sở
logic của quá trình giáo dục, hệ thống các phương pháp giáo dục bao gồm:
(1) Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân của người được giáo dục
- Đàm thoại
- Kể chuyện
- Giảng giải
- Nêu gương
(2) Nhóm các PP hình thành hành vi và thói quen hành vi của người được giáo dục
- Yêu cầu sư phạm
- Luyện tập
- n luyện
(3) Nhóm các PP kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của người được giáo dục
- Khen thưởng
- Trách phạt
- Thi đua
Cách phân chia các phương pháp giáo dục thành 3 nhóm phương pháp nêu trên chỉ có tính chất tương
đối. Quá trình giáo dục tác động tới người được giáo dục không nhất thiết phải tuần tự tác động tới nhận thức,
cảm xúc, tình cảm rồi mới tác động tới hành vi, thói quen hành vi ứng xử của người được giáo dục. Trong thực
tiễn giáo dục, các tác động giáo dục luôn đan xen vào nhau, hỗ trợ cho nhau và thực hiện một cách linh hoạt
với những đặc điểm tâm lứa tuổi của người được giáo dục khác nhau, trong những tình huống, bối cảnh
giáo dục đa dạng của cuộc sống.
(*) Trình bày và phân tích nội dung của PP đàm thoại trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
Đàm thoại là phương pháp trò chuyện chủ yếu giữa nhà giáo dục và người được giáo dục về các chủ đề
liên quan đến các CMXH nói chung, các chuẩn mực đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ nói riêng bằng một hệ thống
các câu hỏi do nhà giáo dục chuẩn bị trước.
lOMoARcPSD| 61470371
Các loại đàm thoại: tùy vào mục tiêu của hoạt động đàm thoại, ta có các loại như sau: đàm thoại gợi mở,
đàm thoại củng cố, hệ thống hoá...
Ý nghĩa của phương pháp đàm thoại:
+ Thông qua đàm thoại, người được giáo dục có cơ hội giải thích, đánh giá những sự kiện, hiện tượng có liên
quan đến các hành vi tích cực hay tiêu cực, giải thích những tình huống đạo đức, pháp luật…trên sở đó
nắm vững được những tri thức về các CMXH quy định và từ đó rút ra những kết luận bổ ích cho bản thân.
+ Thông qua đàm thoại, người được giáo dục có điều kiện để khắc sâu, phát triển, hệ thống hoá những vấn đề
có liên quan đến các CMXH đã được giáo dục, từ đó hình thành, phát triển xúc cảm, tình cảm tích cực đối với
các CMXH.
+ Qua đàm thoại sẽ hình thành và phát triển được ở người được giáo dục niềm tin đối với các CMXH và trên
cơ sở đó hình thành được ý thức cá nhân của người được giáo dục đối với các CMXH quy định.
Yêu cầu thực hiện phương pháp đàm thoại:
+ Công tác chuẩn bị đàm thoại:
Nhà giáo dục cần xác định chủ đề, mục tiêu, nội dung của buổi đàm thoại; xây dựng hệ thống câu hỏi
(chính – phụ) và thông báo cho người được GD chuẩn bị trước.
+ Tổ chức đàm thoại: Người tổ chức nêu lên chủ đề, mục tiêu, nội dung và các câu hỏi đặt ra của buổi đàm
thoại; Sau đó tổ chức trò chuyện giữa nhà giáo dục với người được giáo dục và giữa những người được giáo
dục với nhau; Các ý kiến được lật đi lật lại cho đến khi hoàn thành mục tiêu chủ đề đàm thoại.
+ Kết thúc đàm thoại: Nhà giáo dục cần kích thích những người được giáo dục rút ra những kết luận, bài học
cần thiết đối với bản thân và những người xung quanh. Sau cùng nhà giáo dục tổng kết đánh giá kết quả đàm
thoại.
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
(*)Trình bày và phân tích nội dung của PP kể chuyện trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
Kể chuyện là phương pháp tác động rất mạnh mẽ tới cảm xúc của người nghe thông qua cách thức
kể chuyện của người kể và các nhân vật, tình huống trong nội dung của cốt truyện. Vì vậy, kể chuyện
phương pháp được sử dụng rất phổ biến trong quá trình giáo dục với những người được giáo dục nhỏ tuổi.
- Định nghĩa kể chuyện phương pháp nhà giáo dục dùng lời nói, điệu bộ, cử chỉ, nét
mặt để thuật lại một cách sinh động một câu chuyện có ý nghĩa giáo dục.
- Ý nghĩa của phương pháp kể chuyện:
+ Qua nội dung truyện kể cách thức kể chuyện, người được giáo dục sẽ hình thành phát triển tri
thức, xúc cảm tình cảm tích cực, niềm tin đúng đắn đối với các CMXH.
+ Người được giáo dục sẽ học tập được những gương tốt và tránh được những gương phản diện với
óc phê phán nhận xét, đánh giá thông qua nội dung câu chuyện. - Yêu cầu khi thực hiện phương pháp kể
chuyện:
+ Lựa chọn truyện kể: Nhà giáo dục cần trên cơ sở mục tiêu giáo dục, với đối tượng giáo dục cụ thể
xác định chủ đề truyện kể; Lựa chọn cốt truyện được xây dựng phong phú, hấp dẫn chứa đựng các tình huống
giáo dục hướng tới mục tiêu giáo dục; Lưu ý khối lượng truyện kể phải phù hợp về mt thời gian, phù hợp với
trình độ nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý người được giáo dục.
+ Người kể chuyện phải thể hiện lời nói sinh động, giọng nói, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phải phù hợp
với các tình tiết, các nhân vật trong cốt truyện. Nhằm gây sự tập trung chú ý, cảm xúc mạnh mẽ cho người
được giáo dục; Lưu ý có thể có thể kết hợp với băng hình, các bức tranh ảnh minh hoạ cho những tình huống
nổi bật.
+ Sau khi kể chuyện : Đối với người được giáo dục tuổi nhỏ, nhà giáo dục có thể yêu cầu trẻ tập kể
lại và nêu một số câu hỏi cho người được giáo dục trao đổi nhằm khắc sâu những bài học về các CMXH, củng
cố niềm tin đối với các CMXH và phát triển năng lực tưởng tượng sáng tạo của người được giáo dục.
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
(*) Trình bày và phân tích nội dung của phương pháp giảng giải trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
Giảng giải phương pháp trong đó, nhà giáo dục dùng lời nói để giải thích, chứng minh các CMXH đã
được quy định, nhằm giúp cho người được giáo dục hiểu nắm được ý nghĩa, nội dung, quy tắc thực hiện
các chuẩn mực này.
Ý nghĩa phương pháp giảng giải:
+ Người được giáo dục nắm vững những tri thức về các CMXH một cách tự giác trên cơ sở những luận
cứ, luận chứng khoa học, ví dụ cụ thể, rõ ràng… thông qua cách phân tích, giảng giải của nhà giáo dục.
+ Thông qua giảng giải giúp hình thành niềm tin ở người được giáo dục về các CMXH quy định.
+ Qua giảng giải người được giáo dục tránh được các tình trạng: nắm các CMXH, mù quáng, máy móc,
hình thức dẫn đến những hành vi tương ứng không tự giác.
- Yêu cầu trong quá trình giảng giải:
+ Chuẩn bị nội dung diễn giải đầy đủ, chính xác, đáp ứng các câu hỏi: Tại sao? Nội dung gồm? Thực
hiện theo quy tắc nào?
+ Khi giảng giải phải:
Lời nói: rõ ràng, khúc chiết, không lan man dài dòng.
Lập luận: chính xác, dễ hiểu, lô gíc.
Minh họa: Tranh ảnh, băng hình (nếu cần), giáo dục thực tế gần gũi đời thường của
người được giáo dục.
Có thể và nên thu hút người được giáo dục tham gia vào giải thích chứng minh…
rút ra kết luận trong quá trình giảng giải.
Nên liên hệ để người được giáo dục liên hệ với thực tế, với bản thân.
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
(*)Trình bày và phân tích nội dung của PP nêu gương trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
Nêu gương là phương pháp dùng những tấm gương sáng của các cá nhân hoặc của tập thể đkích thích
những người được giáo dục học tập và làm theo.
Phương pháp nêu gương có thể dùng những tấm gương tốt để người được giáo dục học tập và gương xấu
để tránh những hành vi tương tự.
+ Nêu gương tốt (chính diện) nhằm giúp người được giáo dục khắc phục những khó khăn gặp phải
của bản thân, học tập và làm theo gương tốt, hướng vào những hành vi tích cực (làm việc thiện).
Ví dụ về những tấm gương tốt: học sinh học giỏi, giúp đỡ bạn, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn,
luôn có trách nhiệm, nhiệt tình trong các hoạt động, “sinh viên nghèo vượt khó”, “các nhà doanh nghiệp trẻ”,
lao động giỏi, dũng cảm hy sinh vì nước vì dân, …
+ Nêu gương xấu (gương phản diện) nhằm giúp người được giáo dục phân tích, tránh hành vi tương tự.
Ví dụ gương xấu như: lười học, chơi bời lêu lổng, cờ bạc rượu chè, ăn cắp, gây gổ, ăn nói vô lễ, trốn
thuế…
Ý nghĩa phương pháp nêu gương:
+ Qua nêu gương, nhà giáo dục sẽ giúp người được giáo dục phát triển năng lực phê phán, đánh giá
được hành vi của người khác và rút ra những kết luận bổ ích.
+ Người được giáo dục biết học những gương tốt đồng thời biết tránh gương xấu trong cuộc sống và các hoạt
động thực tiễn.
lOMoARcPSD| 61470371
+ Qua việc phân tích, đánh giá của nhà giáo dục về những tấm gương sẽ giúp người được giáo dục hình thành
niềm tin về các CMXH và mong muốn có những hành vi phù hợp với các CMXH quy định.
Yêu cầu thực hiện phương pháp nêu gương:
+ Trên cơ sở: mục tiêu, nội dung giáo dục cụ thể, đặc điểm tâm sinh lí của người được giáo dục, n
giáo dục lựa chọn những tấm gương sáng gương phản diện cho phợp. Tránh lạm dụng những gương
phản diện vì dễ dẫn tới tác dụng phản giáo dục.
+ Những tấm gương lựa chọn phải thoả mãn điều kiện sau đây:
Gần gũi với cuộc sống đời thường của người được giáo dục, tránh xa lạ, không thích
hợp.
Có tính điển hình, cụ thể. Tránh lan man, chung chung.
Phải tính khả thi với người được giáo dục. “Tránh” quá tưởng nên người được
giáo dục chỉ có thể “chiêm ngưỡng” mà không bắt chước được.
+ Trong quá trình nêu gương, ngiáo dục nên khuyến khích người được giáo dục liên hệ thực tế, nêu
những tấm gương cần học tập, phê phán và tham gia tích cực vào phân tích, đánh giá những tấm gương đó để
rút ra kết luận bổ ích.
+ Nhà giáo dục cần phải tự rèn luyện, xây dựng nhân cách bản thân trở thành là một tấm gương sáng
trước người được giáo dục.
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
(*) Trình bày và phân tích nội dung của phương pháp nêu yêu cầu sư phạm trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
Giao việc (nêu yêu cầu sư phạm) là phương pháp nhà giáo dục lôi cuốn người được giáo dục vào các
hoạt động đa dạng với những công việc nhất định, với những nghĩa vụ cá nhân và xã hội nhất định mà người
được giáo dục phải hoàn thành.
- Ý nghĩa của phương pháp giao việc: Qua thực hiện công việc, hoạt động được giao người được giáo
dục sẽ hình thành những hành vi, thói quen phù hợp với các yêu cầu công việc được giao, yêu cầu của các
CMXH quy định và được thể hiện những kinh nghiệm ứng xử của mình trong mối quan hệ đa dạng.
Yêu cầu thực hiện phương pháp giao việc:
+ Trước khi giao việc, nhà giáo dục cần giúp người được giáo dục ý thức đầy đủ về ý nghĩa xã hội và ý nghĩa
cá nhân của công việc phải làm và kích thích họ tự giác, tích cực hoạt động thực hiện công việc được giao.
+ Nhà giáo dục đưa ra những yêu cầu cụ thể mà người được giáo dục phải hoàn thành và giúp họ định hướng
đúng đắn toàn bộ chuỗi hành động phải hoàn thành.
+ Giao việc phải tính tới hứng thú, năng khiếu, điều kiện thực tiễn và tính khả thi của hoạt động của người
được giáo dục nhằm phát huy thế mạnh ở họ trong hoạt động.
+ Quá trình thực hiện hoạt động nhà giáo dục cần theo dõi, giúp đỡ tạo điều kiện (nếu cần) để người được
GD hoàn thành mọi yêu cầu của công việc được giao.
+ Cần kiểm tra đánh giá công khai kết quả hoàn thành công việc của cá nhân hay tập thể người được
giáo dục. Lưu ý: ngiáo dục luôn có nhận xét cụ thể, những chỉ dẫn hỗ trợ và khuyến khích, động viên người
được giáo dục tiếp tục tham gia các hoạt động thực tiễn.
+ Có thể phát huy ý thức tự quản của tập thể học sinh bằng việc để tập thể học sinh giao việc cho cá
nhân trong các hoạt động của lớp mà không nhất thiết giáo viên giao việc.
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
(*)Trình bày và phân tích nội dung của PP luyện tập trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
Tập luyện là phương pháp tổ chức cho người được giáo dục thực hiện một cách đều đặn và có kế hoạch
các hoạt động nhất định, nhằm biến những hành động đó thành những thói quen ứng xử người được giáo
dục.
Ý nghĩa của phương pháp luyện tập:
+ Người được giáo dục có môi trường hoạt động thực tiễn để trải nghiệm, củng cố, phát triển niềm tin đối
với các CMXH và biến ý thức cá nhân về các CMXH thành những hành vi tương ứng ở họ.
+ Người được giáo dục có môi trường hoạt động thực tiễn để lặp đi lặp lại c hành vi hoạt động theo quy
trình xác định trên cơ sở đó tạo lập thành những thói quen hành vi ứng xử tương ứng ở họ, đảm bảo tính bền
vững của hành vi ứng xử phù hợp với các CMXH quy định ở người được giáo dục.
Yêu cầu khi thực hiện phương pháp luyện tập:
+ Nhà giáo dục cần giúp cho người được giáo dục nắm được quy tắc hành vi và hình dung rõ hành vi đó
cần thực hiện như thế nào? để giúp họ có thể định hướng cho việc thực hiện hành vi qua tập luyện.
+ Trong những trường hợp cần thiết, nhà giáo dục thể làm mẫu cho người được giáo dục về những
hành vi cần tập luyện.
+ Cần tạo điều kiện cho người được giáo dục tập luyện theo quy tắc hành vi, theo mẫu hành vi đã giới thiệu.
+ Nhà giáo dục cần khuyến khích người được giáo dục tập luyện thường xuyên, lặp đi lặp lại những hành vi
đã tập luyện qua việc thực hiện chế độ sinh hoạt hàng ngày, các hoạt động thực tiễn của cuộc sống.
+ Ngiáo dục cần tiến hành kiểm tra uốn nắn thường xuyên hành vi hoạt động của người được giáo dục theo
yêu cầu quy trình chuẩn đồng thời khuyến khích, động viên họ tự kiểm tra, tự uốn nắn hành vi của mình trong
quá trình luyện tập.
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
(*)Trình bày và phân tích nội dung của PP rèn luyện trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
Rèn luyện là phương pháp tổ chức cho người được giáo dục được thể nghiệm ý thức, tình cảm, hành vi
của mình về các CMXH trong những tình huống đa dạng của cuộc sống. Qua đó hình thành và củng cố được
những hành vi phù hợp với các CMXH đã quy định.
Ý nghĩa của phương pháp rèn luyện:
+ Thông qua những tình huống, hoạt động mới, đa dạng của cuộc sống thực, người được giáo dục được trải
nghiệm là chính mình đưa ra những quyết định và chịu trách nhiệm với những quyết định đó. Trên cơ sở đó
nhận ra mình là ai, những cái phù hợp và chưa phù hợp từ đó điều chỉnh bản thân đáp ứng yêu cầu của CMXH.
+ Chính trong quá trình “thâm nhập” vào những tình huống mới, đa dạng của cuộc sống, người được giáo
dục phải tiến hành cuộc đấu tranh động cơ để tự xác định động cơ đúng đắn, định hướng cho hoạt động nhằm
giải quyết đúng đắn những tình huống đó. Điều đó sẽ giúp cho ý thức về các CMXH ở người được giáo dục
được khắc sâu, phát triển đảm bảo những hành vi, hoạt động tương ứng mang tính tự giác, bền vững cao
hình thành thói quen hành vi tương ứng ở họ.
+ Quá trình được trải nghiệm, lặp đi lặp lại những hành vi đó trong những tình huống khác nhau của cuộc
sống thực sẽ giúp người được giáo dục biến những hành vi đó trở thành thói quen bền vững.
Yêu cầu:
+ Tạo cơ hội cho người được giáo dục “Thâm nhập” vào những tình huống đa dạng từ đơn giản đến phức
tạp, từ dễ đến khó của cuộc sống thực.
+ Tạo hội cho người được giáo dục dựa vào kết quả của tập luyện, lặp đi lặp lại những hành vi đó trong
những tình huống khác nhau của cuộc sống thực để những hành vi đó trở thành thói quen bền vững.
+ Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra của nhà giáo dục và tự kiểm tra của người được giáo dục .
+ Tổ chức liên tục có hệ thống các hoạt động thông qua tình huống tự nhiên của cuộc sống thực hoặc
tạo ra những tình huống thích hợp nhằm thu hút người được giáo dục tích cực tham gia.
lOMoARcPSD| 61470371
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
(*)Trình bày và phân tích nội dung của PP khen thưởng trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
Khen thưởng là phương pháp biểu thị sự đồng tình, sự đánh giá tích cực của nhà giáo dục đối với thái độ,
hành vi ứng xử của người được giáo dục trong những tình huống nhất định nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
đặt ra.
Ý nghĩa của khen thưởng:
+ Khen thưởng cách thức để khẳng định hành vi của người được giáo dục là đúng đắn, phù hợp với các
CMXH đã quy định.
+ Qua việc khen thưởng sẽ giúp người được giáo dục tự khẳng định những hành vi tốt của mình, củng c
và phát triển niềm tin đối với các CMXH có liên quan đến những hành vi tốt của mình đã thực hiện.
+ Khen thưởng sẽ kích thích người được giáo dục duy trì, phát triển những hành vi tích cực đồng thời tránh
được những hành vi tiêu cực không phù hợp các CMXH.
Vì vậythể nói: khen thưởng là phương pháp rất quan trọng và có ý nghĩa sâu sắc đối với người được giáo
dục, khen thưởng mang lại sức mạnh và niềm tin cho người được giáo dục trong quá trình học tập rèn luyện
bản thân.
Các hình thức khen thưởng: Để lựa chọn đưa ra quyết định về hình thức và mức độ khen thưởng p
hợp với người được giáo dục , đòi hỏi ngiáo dục cần căn cứ vào: tính chất, mức độ, phạm vi ảnh hưởng,
động cơ, sự nỗ lực của người được giáo dục … đối với hành vi tích cực đó mà nhà giáo dục có hình thức, mức
độ khen thưởng phù hợp.
Ví dụ: về các mức độ khen thưởng đối với hành vi tích cực của người được giáo dục (theo chiều tăng
dần):
+ Tỏ thái độ đồng tình, ủng hộ những hành vi tốt một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
+ Tỏ lời khen với những hành vi tốt.
+ Biểu dương những hành vi tốt.
+ Tặng giấy khen, bằng khen có kèm thưởng
Lưu ý: thưởng có thể bằng nhiều hình thức như vật phẩm, tiền mặt, học bổng, chuyến du lịch… Yêu
cầu khi thực hiện khen thưởng:
+ Đảm bảo khen thưởng trên cơ sở hành vi thực tế đạt được của người được giáo dục.
VD: Nhà giáo dục cần xem xét hành vi đó thể hiện có phù hợp với các CMXH hay không? Có động cơ
đúng đắn không? Có tính phổ biến, tính thường xuyên không?
+ Đảm bảo khen thưởng phải khách quan, công bằng không vì thiên vị mà đánh giá cao, thành kiến mà đánh
giá thấp.
+ Đảm bảo khen thưởng phải kịp thời, đúng lúc, đúng chỗ, tránh khen thưởng ở những nơi không thích hợp,
tuỳ tiện quá sớm hay quá muộn.
+ Đảm bảo kết hợp khen thưởng thường xuyên với khen thưởng quá trình.
+ Đảm bảo khen thưởng phải gây được dư luận tập thể đồng tình, ủng hộ.
khi dư luận tập thể đồng tình, ủng hộ sẽ làm tăng thêm giá trị, ý nghĩa của hành vi tốt, kích thích người
được GD tiếp tục phát triển hành vi tốt và kích thích, định hướng cho những người khác noi theo những hành
vi tốt.
(*)Trình bày và phân tích nội dung của phương pháp trách phạt trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
Trách phạt phương pháp biểu thị sự không đồng tình, sự phản đối, sự phê phán những hành vi sai trái
của người được giáo dục so với các CMXH quy định.
Ý nghĩa của việc trách phạt:
+ Trách phạt sẽ buộc người mắc lỗi trong ứng xử phải ngừng ngay hành vi sai trái một cách tự giác, nâng
cao ý thức tự kiềm chế trong tương lai không tái phạm nữa trái lại những hành vi đúng đắn, tích cực
phù hợp với các CMXH quy định.
+ Tạo cơ hội nhắc nhở những người khác không vi phạm các CMXH, không rơi vào những hành vi sai trái
như người bị trách phạt.
Các hình thức trách phạt :
Tùy vào từng trường hợp mà nhà giáo dục có thể đưa ra quyết định hình thức, mức độ trách phạt phù hợp
theo mức độ tăng dần như sau: Nhắc nhở (khuyên bảo), chê trách, phê bình, cảnh cáo, buộc thôi học, đuổi
học.
Khi đưa ra quyết định lựa chọn hình thức, mức độ trách phạt đòi hỏi nhà giáo dục cần căn cứ vào các yếu
tố sau đây:
+ Loại hình của hành vi sai lệch là học tập, lao động hay ứng xử ? sẽ có cách trách phạt khác nhau.
+ Tính chất của hành vi sai lệch (Nghiêm trọng hay không nghiêm trọng? thường xuyên hay không thường
xuyên? cố tình hay vô ý?).
+ Phạm vi và mức độ tai hại do hành vi sai lệch gây ra (Tai hại nhiều hay ít?, ở diện rộng hay diện hẹp?) Yêu
cầu khi trách phạt:
+ Đảm bảo trách phạt phải khách quan: Nhà giáo dục phải thận trọng xem xét đánh giá những hành vi sai
lệch của người được giáo dục, cũng như đưa ra những quyết định về mức độ, hình thức trách phạt sao cho
đúng đắn, chính xác và thỏa đáng. Tránh tình trạng đánh giá sai, không phù hợp với thực tế (Quá cao hay quá
thấp)
+ Đảm bảo trách phạt phải công bằng: Nhà giáo dục khi đưa ra quyết định trách phạt cần phải công bằng
với mọi người, tránh thiên vị mà trừng phạt nhẹ, thành kiến mà trừng phạt nặng.
+ Đảm bảo khi trách phạt phải làm cho người được giáo dục thấy rõ được sai lầm của mình và
chấp nhận hình thức, mức độ trách phạt đối với mình “Tâm phục, khẩu phục”. Cụ thể: Khi trách phạt phải
làm cho người được giáo dục thấy rõ được lý do bị trách phạt, tính tất yếu của sự trách phạt; Người được
giáo dục thể hiện thái độ ân hận về lỗi lầm của mình và chấp nhận tính hợp lý của hình thức và mức độ trách
phạt. Có như vậy người được giáo dục mới quyết tâm sửa chữa sai lầm, không tái phạm.
+ Đảm bảo tôn trọng nhân phẩm của người btrách phạt: Cụ thể: Khi trách phạt nhà giáo dục
không được làm nhục, không xúc phạm tới thể xác người bị trách phạt; Không dùng trách phạt để trả thù; Phải
chỉ ra hướng để giúp cho người bị trách phạt sửa chữa sai lầm một cách tích cực và tự tin; Đồng thời luôn tỏ
thái độ chân thành, lòng tin tưởng ở sự tiến bộ của họ.
+ Đảm bảo tính cá biệt trong trách phạt: Khỉ trách phạt, nhà giáo dục cần quan tâm tới đặc điểm
tâm sinh lý (xu hướng, năng lực, vốn kinh nghiệm, tính cách, điều kiện hoàn cảnh…) của từng cá nhân
người mắc lỗi trong từng bối cảnh cụ thể để có cách thức giáo dục phù hợp.
+ Đảm bảo trách phạt của nhà giáo dục phải tạo được dư luận tập thể đồng tình với sự trách phạt.
Sự đồng tình của luận tập thể với việc trách phạt của nhà giáo dục sẽ tạo thêm sức mạnh hỗ trợ người bị
trách phạt quyết tâm nhanh chóng sửa chữa sai lầm đồng thời ngăn chặn những người khác không vi phạm sai
lầm.
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
(*)Trình bày và phân tích nội dung của PP thi đua trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
lOMoARcPSD| 61470371
Thi đua phương pháp thông qua các phong trào hoạt động tập thể nhằm kích thích khuynh hướng tự
khẳng định ở người được giáo dục, thúc đẩy họ đua tài gắng sức, hăng hái nỗ lực vươn lên ở vị trí hàng đầu
và lôi cuốn những người khác cùng tiến lên giành thành tích cá nhân hay tập thể cao nhất.
Phong trào thi đua có thể tổ chức trong các hoạt động học tập, lao động, vệ sinh trường lớp, văn hóa văn
nghệ, thể dục, thể thao…của tập thể các lớp, các câu lạc bộ nhà trường…VD: “Người đạt điểm cao nhất
trong tháng”, “Người có nhiều đóng góp xây dựng bài nhất trong tháng”…; “Lớp học xanh, sạch, đẹp”….
Ý nghĩa của phương pháp thi đua:
+ Thi đua kích thích nhu cầu khẳng định bản thân của người được giáo dục. Những người được giáo dục
sẽ nỗ lực hết mình tham gia vào quá trình hoạt động thi đua để giành thắng lợi cao nhất trên cơ sở đó đạt được
các mục tiêu giáo dục đặt ra.
+ Thi đua tạo môi trường hoạt động tích cực và hiệu quả của những người giáo dục tham gia trên
cơ sở đó mục tiêu giáo dục đạt được hiệu quả cao.
+ Trong hoạt động thi đua, với sự nỗ lực hết mình của người tham gia, người được giáo dục sẽ tự
nhận thức, đánh giá được bản thân mình trên cở sở đó có sự điều chỉnh kịp thời đối với bản thân.
- Yêu cầu khi thực hiện phương pháp thi đua:
+ Mục tiêu thi đua phải được xác định: cụ thể, rõ ràng và thiết thực
+ Các hoạt động thi đua cần phải động viên được tất cả mọi người được giáo dục hăng hái tham gia với động
cơ đúng đắn.
+ Các hình thức hoạt động thi đua phải thể hiện sự sáng tạo, mới mẻ, hấp dẫn người được giáo dục tham gia.
+ Thi đua cần có phương thức đánh gkết quả thi đua tường minh, công khai kích thích sự tham gia hết mình
của các thành viên và cần có so sánh công khai kết quả thi đua mà họ đạt được.
+ Tiến hành sơ tổng kết các hoạt động thi đua đều đặn để giúp người được giáo dục điều chỉnh kịp
thời hoạt động của bản thân trên cơ đó đạt hiệu quả cao nhất của hoạt động thi đua.
+ Nhà giáo dục cần biểu dương khen thưởng công bằng, thích đáng các cá nhân và tập thể đạt thành tích cao
hoặc có nhiều nỗ lực trong thi đua.
(*)Trình bày những yêu cầu khi lựa chọn, sử dụng các phương pháp giáo dục
Không phương pháp giáo dục nào vạn năng đối với mọi nhà giáo dục, cho mọi đối tượng giáo
dục, trong mọi tình huống, điều kiện giáo dục…
Mỗi nhóm phương pháp, mỗi phương pháp giáo dục có ưu, nhược điểm riêng và thực hiện với những
nhiệm vụ giáo dục nhất định. Do đó, trong quá trình giáo dục đòi hỏi nhà giáo dục cần biết lựa chọn, phối hợp
các phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu GD đặt ra.
Mục đích của nhà giáo dục sử dụng các phương pháp giáo dục để giúp người được giáo dục tự chuyển
hóa yêu cầu của các CMXH quy định thành hành vi và thói quen hành vi ứng xử tương ứng ở họ trên cơ sở đó
thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục.
vậy trong hoạt động thực tiễn giáo dục, đòi hỏi nhà giáo dục khi lựa chọn, sử dụng các phương
pháp cần lưu ý những điều sau đây:
+ Khi lựa chọn phối hợp các phương pháp giáo dục cần dựa trên cơ sở: Mục đích, nhiệm vụ giáo dục
xác định; Nội dung giáo dục cụ thể; Đặc điểm của đối tượng giáo dục ; Năng lực sư phạm của nhà giáo dục;
Những điều kiện, bối cảnh thực tế của vấn đề giáo dục.
+ Trong quá trình vận dụng các phương pháp giáo dục cần đảm bảo được sự thống nhất giữa hoạt động
giáo dục - vai trò chủ đạo của nhà giáo dục với hoạt động tự giáo dục - vai trò tự giác tích cực, độc lập năng
động của người được giáo dục.
Tuyệt đối tránh 2 xu hướng:
Nếu quá đề cao vai trò của nhà giáo dục, coi nhẹ, coi thường vai trò của người được giáo dục. Điều đó
sẽ dẫn đến hiệu quả giáo dục áp đặt mang tính hình thức.
Nếu hạ thấp vai trò nhà giáo dục, quá đề cao vai trò người được giáo dục. Điều đó dẫn đến hậu quả
người được giáo dục tự do, vô tổ chức trong giáo dục.
Câu 13. Nội dung giáo dục
Khái niệm:
o NDGD là những kinh nghiệm lịch sử - xh của loài người
o Không phải kinh nghiệm xh – lịch sử nào của loài người cũng đều trở thành NDGD mà những
kinh nghiệm đó phải được các nhà sp chế biến và lựa chọn
o Để tổ chức cho ĐTGD chiếm lĩnh, và qua đđạt được các mục tiêu GD
Các NDGD ở phổ thông o GD đạo đức o GD ý thức công dân o
GD thẩm mĩ o GD lao động o GD hướng nghiệp
o GD thể chất…
Ngoài ra còn 1 số NDGD mới, ví dụ: GD dân số, sức khoẻ sinh sản; GD môi trường; GD kĩ năng sống, giá trị
sống…
Câu 14. Nguyên tắc giáo dục
1. Khái niệm nguyên tắc GD
Nguyên tắc giáo dục là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lý luận giáo dục, có vai trò định hướng
trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục, chỉ dẫn việc lựa chọn nội dung, phương pháp và các hình thức tổ
chức nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục và đạt được mục đích giáo dục đề ra.
2. Hệ thống các nguyên tắc GD
1) Đảm bảo tính mục đích trong HĐGD
2) GD gắn với đsxh và lao động
3) Đảm bảo sự thống nhất giữa GD ý thức – tạo lập thói quen hành vi của NĐGD
4) GD trong tập thể và bằng tập thể
5) Tôn trong nhân cách HS kết hợp với yêu cầu hợp lí
6) Kết hợp vai trò tổ chức của NGD – tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của NĐGD
7) Đảm bảo tính hệ thống, kế tục, liên tiếp
8) Đảm bảo hệ thống giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng trong GD 9) Thống nhất GD gia đình
– nhà trường – xã hội.
3. Phân tích
3.1. Đảm bảo tính mục đích trong HĐGD
1. Nội dung nguyên tắc
Tính mục đích của HĐGD giúp cho các nhà GD có phương hướng suy nghĩ và hđ đúng đắn. Nó nân
gcao tính tưởng chỉ đạo trong HĐGD, tránh được những HĐGD tự phát, tuỳ tiện, tổ chức hay
lệch chiều, chệch hướng.
GD là hđ có mục đích, do đó nd, pp, hình thức tổ chức QTGD đều phải căn cứ vào mục đích và phải
lOMoARcPSD| 61470371
đạt được mục đích GD
Bất kỳ một HĐGD nào trong và ngoài nhà trường đều có mục đích là GD thế hệ trẻ trở thành người
công dân, những người lao động giàu long nhanais, năng động, sáng tạo, biết sống và làm việc theo
hiến pháp và pháp luật, có tiềm năng, thích ứng được với cs đang đổi mới toàn diện, sâu sắc hiện nay.
2. Biện pháp thực hiện
3. Liên hệ
3.2. GD gắn với đsxh và lao động
1. Nội dung nguyên tắc
QTGD góp phần đào tạo cho người công dân, người lao động hoà nhập vào cs xh với lao động.
Chính bản thân cs và hđ lao động lại là mt, phương tiện góp phần tích cực vào sự hình thành pt nhân
cách con người
Thông qua các hđ hằng ngày của cs thực, hđ lao động vừa sức làm cho con người khoẻ mạnh về mặt
thể chất, thoải mái về tinh thần, thông minh, sáng tạo hơn. Đặc biệt, giúp cho con người nhận ra
những gtri cs, biết yêu thương, quý trọng lẫn nhau quý trọng thành quả lao động. Lao động hình
thành cho thế hệ trẻ thái độ đúng đắn với người lao động, đối cới những sp lao động, ý thức hợp
tác, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau để đạt được kết quả cao nhất. Lao động sáng tạo ra của cải vật chất và
tinh thần, giúp cải tạo thói hư tật xấu…
Vì vậy, GD gắn với đsxh và lao động chính là làm cho thực tiễn vừa là môi trường, vừa là phương tiện
thực hiện QTGD.
2. Biện pháp thực hiện
Tổ chức cho NĐGD có những hiểu biết về cs nói chung, HĐ lao động sáng tạo nói riêng của đất nước
đang trong quá trình đổi mới, từ đó GD cho họ ý thức được vai trò làm chủ đát nước của mình, những
nghĩa vụ, trách nhiệm mà họ phải hoàn thành đvs bản thân, gia đình và cộng đồng.
Tổ chức thường xuyên những hđ sinh hoạt tập thể, hđ lao động hữu ích cho NĐGD tham gia một cách
vừa sức vào sự nghiệp xd đất nước, xd trật tự, kỷ cương xh trong cộng đồng dân cư… qua đó hình
thành ở họ ý thức và phẩm chất cần thiết của người công dân, người lao động trong tương lai.
Tránh tách rời QTGD khỏi cuộc sống thực tiễn, khỏi sự nghiệp lao động, Vì như vậy dẫn đến hậu quả
những NĐGD sẽ trở nên ko hoà nhập vào cs lao động, xd đất nước giàu mạnh, công bằng, văn minh.
Khuyến khích NĐGD tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo tự rèn luyện mình trong các hđ lao động,
sinh hoạt tập thể gia đình, nhà trường cộng đồng xh. Tổ chức tốt các sinh hoạt của đs
nhân NĐGD
3. Liên hệ
3.3. Đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục ý thức – tạo lập thói quen hành vi của NĐGD
1. Nội dung nguyên tắc
Mục đích của quá trình giáo dục hình thành phẩm chất nhân cách, những thói quen hành vi, nếp
sống, tình cảm tích cực cho người được giáo dục. Chính trong quá trình giáo dục đòi hỏi người được
giáo dục phải trải qua các thời kì nhận thức, thể nghiệm, luyện tập, rèn luyện để biến các yêu cầu chuẩn
mực xã hội thành hành vi, thói quen hành vi tương ứng ở họ
Vì vậy, quá trình giáo dục chỉ đạt được hiệu quả khi các tác động giáo dục phải tác động đồng bộ toàn
diện nhân cách bao gồm cả nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi, ý chí của người được giáo dục.
Trong qtrình giáo dục: tác động tới nhận thức của người được giáo dục quá trình giúp người được
giáo dục nắm vững các quy tắc, chuẩn mực xã hội, hiểu rõ các giá trị, ý nghĩa của các hành vi văn hóa.
Nhận thức là cơ sở để hình thành niềm tin, tình cảm tích cực và những hành vi, thói quen hành vi văn
hóa phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Hành vi, thói quen hành vi của người được giáo dụckết quả
của ý thức cá nhân, đồng thời sở để khẳng định trình độ nhận thức và thái độ người được giáo
dục về các chuẩn mực xã hội
Hành vi, thói quen hành vi là biểu hiện lối sống, phương thức sống của cá nhân trong cuộc sống hàng
ngày, là biểu hiện nhân cách của họ. Hành vi, thói quen hành vi của mỗi người cũng chính là biểu hiện
trình độ giáo dục của người đó
Do vậy, sự thống nhất giữa giáo dục ý thức hành vi, thói quen hành vi cho người được giáo dục vừa
là mục tiêu, vừa là nguyên tắc chỉ đạo các hoạt động giáo dục.
2. Biện pháp thực hiện
Chống tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm trong cuộc sống, lao động và học tập hàng ngày.
NGD luôn phải là những tấm gương sáng về mọi mặt cho ĐTGD noi theo.
Cần tổ chức các hình thức hoạt động đa dạng, hấp dẫn, tạo điều kiện cho các ĐTGD luyện tập, trải
nghiệm nhằm phát triển năng lực trí tuệ, tạo lập thói quen hành vi văn hóa, phẩm chất đạo đức của
người công dân, người lao động hiện đại.
Bên cạnh đó, quá trình giáo dục cần uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những nhận thức, thái độ, hành vi
thói quen không phù hợp với các CMXH khuyến khích người được giáo dục tự rèn luyện trong
cuộc sống hàng ngày để khẳng định bản thân.
3. Liên hệ
3.4. GD trong tập thể và bằng tập thể
1. Nội dung nguyên tắc
Tập thể là một nhóm người, một cộng đồng người được liên kết với nhau bằng những hoạt động chung có
tính tổ chức để thực hiện mục đích chung chân chính. Nhờ vậy lợi ích chung của tập thể lợi ích
riêng của từng cá nhân trong tập thể thống nhất với nhau và thống nhất với mục đích của xã hội.
Tập thể học sinh trong nhà trường là nơi học sinh học tập, giao lưu với thầy cô, bạn với những hoạt
động chung tổ chức, chương trình, kế hoạch chặt chẽ theo chương trình giáo dục quy định, có bộ
máy tự quản, nội quy, kỷ luật chặt chẽ được mọi người tôn trọng tự giác chấp hành; luận,
truyền thống tập thể…
Với ý nghĩa như vậy, tập thể nói chung, tập thể học sinh nói riêng được coi như môi trường, phương
tiện để giáo dục con người. Vì thông qua tập thể và bằng tập thể nhân cách mỗi người tác động qua lại với
nhau. Tập thể chính phương tiện giáo dục từng thành viên trong tập thể đó thông qua: các hoạt động
chung, nội qui, kỉ luật tập thể dư luận tập thể, truyền thống tập thể…)
2. Biện pháp thực hiện nguyên tắc
- Nhà giáo dục luôn chú ý xây dựng tập thể học sinh trở thành một tập thể vững mạnh. Một tập thể học
sinh vững mạnh là tập thể phải đảm bảo các yếu tố sau đây:
o Mục đích của cá nhân, tập thể thống nhất với mục đích của xã hội
Cụ thể: cần coi trọng đúng mức lợi ích cá nhân trong sự thống nhất với lợi ích chung của tập thể,
lợi ích cá nhân chân chính là động lực phát triển trực tiếp đối với sự phát triển cá nhân. Tuyệt đối
lOMoARcPSD| 61470371
tránh các tình trạng cực đoan hoá lợi ích cá nhân hoặc lợi ích chung của tập thể, tạo ra sự đối lập
giữa chúng.
o chương trình các hoạt động chung được tổ chức khoa học, đa dạng, phong phú thu hút được
mọi người tham gia với sự tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của những người được giáo dục.
o Có hệ thống nguyên tắc hoạt động chung được mọi thành viên ý thức đầy đủ và tự giác thực hiện
(xây dựng nội quy, kỷ luật cụ thể, chặt chẽ, bao hàm các mặt hoạt động) o Có bộ máy cán bộ tự
quản (cán bộ lớp, đoàn) có năng lực, uy tín, nhiệt tình và bản lĩnh được mọi người yêu quý.
o Tạo được luận tập thể lành mạnh: hoan nghênh và ủng hộ những nhận thức, thái độ, hành vi
tích cực và lên án phê phán những biểu hiện nhận thức, thái độ, hành vi sai trái làm hại tới lợi ích
chung đi ngược với những chuẩn mực xã hội đã qui định.
o Phát huy được tinh thần tự quản của học sinh trên sở sự định hướng của nhà giáo dục, tạo
hội và điều kiện cho các thành viên tự rèn luyện, tự kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động rèn luyện
của cá nhân, nhóm, tập thể.
- Lôi cuốn mọi người được giáo dục vào tập thể, tổ chức, kích thích họ liên kết với nhau, cùng tham
gia vào công việc chung một cách cách tự giác với ý thức làm chủ.
- Nhà giáo dục luôn ý thức vai trò chủ đạo của mình trong mọi khâu, mọi hoạt động, một mặt của
công tác giáo dục học sinh.
- Nhà giáo dục lưu ý bên cạnh những tác động chung cần có những tác động riêng phù hợp với từng
đối tượng giáo dục trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
3. Liên hệ
3.5. Tôn trong nhân cách HS kết hợp với yêu cầu hợp lí
1. Nội dung nguyên tắc
Mỗi con người là một chủ thể hoạt động có ý thức. Mọi tác động từ bên ngoài đều thông qua chủ thể
hoạt động. Mặt khác, mọi sự nỗ lực của con người là để khẳng định bản thân. Do vậy, con người luôn
có niềm tin vào bản thân, có lòng tự trọng, và có nhu cầu được người khác tôn trọng.
vậy, muốn giáo dục con người thì trước hết phải tôn trọng nhân cách con người. Trong quá trình
giáo dục, nhà giáo dục cần phải tôn trọng nhân cách người được giáo dục, coi họ như một chủ thể tự
giáo dục một cách tích cực, độc lập, tin tưởng và lạc quan đối với họ. Có như vậy mới nâng cao được
lòng tự trọng, lòng tự tin vào nghị lực của họ, khích lệ tinh thần cầu tiến, ý thức vươn lên không ngừng
của họ.
VD: Tôn trọng nhân cách là tôn trọng nhân phẩm, tự do tư tưởng, tự do thể hiện nhu cầu, nguyện vọng và thói
quen sống của mỗi cá nhân, không ai có quyền xúc phạm đến thân thể, phẩm giá, danh dự của con người.
Tôn trọng nhân cách con người cũng đồng nghĩa với tin tưởng con người, thể hiện sự mong muốn, tin
tưởng, khuyến khích của các nhà giáo dục đối với người được giáo dục. Tuyệt đối không thành kiến
với học sinh, ngay cả đối với những học sinh mắc phải những lỗi lầm lớn. Vì nếu có ác cảm, định kiến
với học sinh thì sẽ làm cho các em mất tự tin mặc cảm và xa lánh nhà giáo dục, bạn bè và tập thể nên
càng mất có hội được giáo dục.
Song vấn đề cần nhấn mạnh là: càng tôn trọng nhân cách người được GD bao nhiêu thì càng phải đưa
ra những yêu cầu hợp lí đối với họ bấy nhiêu. Đặt ra những yêu cầu hợp lý là vừa sức, khả thi đối với
họ cũng chính thể hiện niềm tin đối với họ, tạo môi trường hoạt động để người được giáo dục nỗ
lực thực hiện, rèn luyện trên cơ đó phát triển nhân cách.
Những yêu cầu hợp lý đối với người được giáo dục phải đảm bảo: yêu cầu phải đáp ứng đòi hỏi của
mục đích giáo dục; Vừa sức, khả thi đối với người được giáo dục; Có tác dụng kích thích người được
giáo dục tự giác tích cực, chủ động thực hiện; Có khả năng mang lại hiệu quả mong muốn.
2. Biện pháp thực hiện nguyên tắc Qtrình giáo
dục thực hiện nguyên tắc này cần lưu ý:
- Nhà giáo dục phải có lòng thương yêu học sinh.
- Nhà giáo dục phải tôn trọng phẩm giá, danh dự, thân thể của học sinh, - Khuyến khích lòng tự trọng
ở các em.
- Đề ra các yêu cầu ngày càng cao đối với người được giáo dục - Luôn luôn tỏ ra nghiêm khắc nhưng
chân thành, tin tưởng, thiện trí.
- Kịp thời phát huy ưu điểm của người được giáo dục, trên sở đó kích thích giúp đỡ họ khác phục
những sai sót trong rèn luyện
- Tránh tình trạng thô bạo, thiếu tin tưởng, định kiến…đối với người được giáo dục, đồng thời cũng
tránh tình trạng nuông chiều dễ dãi đối với họ.
VD: Một số hiện tượng có biểu hiện thiếu tôn trọng học sinh như: nói năng thô bạo, coi thường nhân
phẩm, dọa nạt, sỉ nhục, đánh đập,…; những định kiến, đố kị, bi quan, thiếu tin tưởng vào khả năng phát triển
hoàn thiện nhân cách của trẻ; những hiện tượng nuông chiều, buông thả dẫn đến học sinh tự do kỉ
luật…Cần được khắc phục trong công tác giáo dục
3. Liên hệ
3.6. Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tổ chức sư phạm của nhà giáo duc và vai trò tự giác, tích cực,
độc lập, sáng tạo tự giáo dục của NĐGD
1. Nội dung nguyên tắc
Trong quá trình giáo dục, dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục sẽ giúp cho tính chủ động, độc lập
sáng tạo của người được giáo dục được hình thành và phát triển. Và ngược lại: khi tính chủ động, độc
lập sáng tạo của người được giáo dục được hình thành và phát triển thì sẽ tạo điều kiện cho nhà giáo
dục phát huy tác dụng chủ đạo của mình ngày càng cao.
Trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo, tổ chức lãnh đạo quá trình hình thành, phát
triển những phẩm chất, hành vi, thói quen ở học sinh, thể hiện:
o Nâng cao ý thức trách nhiệm, vai trò lãnh đạo sư phạm của giáo viên trong việc theo dõi, kiểm
tra, đánh giá quá trình và kết quả hoạt động của tập thể học sinh và của từng học sinh. o Thuyết
phục học sinh biết định hướng và quyết tâm phấn đấu đạt những mục đích đã đề ra. o Lựa chọn
các phương pháp, phương tiện để thực hiện các nhiệm vụ giáo dục cho phù hợp.
2. Biện pháp thực hiện nguyên tắc
- Nhà gd phải có năng lực chung (Thiết kế, tổ chức, giao tiếp, nghiên cứu đối
tượng) và năng lực giáo dục chuyên biệt (Xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương
tiện, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục, kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục)
- Tuyệt đối không buông lỏng vai trò chủ đạo của nhà giáo dục.
- Phải biết ứng xử sư phạm khéo léo
- Người được giáo dục phải tự giác, tự vận động đi lên dưới tác dụng chủ đạo
của nhà giáo dục, tránh rơi vào tình trạng cực đoan coi thường tác dụng chủ đạo của nhà giáo
dục hoặc thụ động làm theo ý kiến của nhà giáo dục.
- Tôn trọng sáng kiến và sự độc lập của học sinh.
- Thu hút sự tham gia tích cực của học sinh vào các hoạt động chung, thường
xuyên theo dõi, động viên uốn nắn những sai lệch một cách kịp thời.
- Phát huy vai trò tự quản của tập thể học sinh, biến những yêu cầu giáo dục
thành những yêu cầu tự giáo dục của tập thể và của từng cá nhân.
- Lựa chọn các biện pháp và hình thức tổ chức giáo dục, giúp học sinh tự đánh
giá kết quả rèn luyện của bản thân, của tập thể, từ đó đề ra các mục tiêu phấn đấu mới.
3. Liên hệ
3.7. Đảm bảo tính hệ thống, kế tiếp, liên tục
1. Nội dung nguyên tắc
Nguyên tắc này đòi hỏi: quá trình giáo dục phải được thực hiện các tác động giáo dục theo một
hệ thống đồng bộ thống nhất (từ mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức,
kiểm tra đánh giá, nhà giáo dục…), kế tiếp nhau liên tục tác động đến nhân cách người được giáo dục
mọi nơi, mọi lúc trên cơ sở đó mục tiêu giáo dục mới đạt được hiệu quả .
Bởi, trong quá trình giáo dục:
lOMoARcPSD| 61470371
- Một phẩm chất nhân cách được hình thành là kết quả tổng hợp của nhiều tác động, của
nhiều nhân tố trong một thời gian dài liên tục .
- Quá trình giáo dục một quá trình hình thành một hệ thống những phẩm chất nhân
cách của người được giáo dục chứ không phải những phẩm chất riêng lẻ.
- Quá trình giáo dục diễn ra theo hướng giai đoạn trước đặt nền móng cho giai đoạn sau,
những giai đoạn sau phải kế tiếp và phát triển những kết quả của giai đoạn trước
- Quá trình giáo dục phải được tổ chức sao cho những phẩm chất nhân cách người được
giáo dục hình thành và phát triển không bị giãn đoạn mỗi lần giãn đoạn là một lần chững lại ,
hoặc thụt lùi sự phát triển nhân cách của họ .
2. Biện pháp thực hiện nguyên tắc
Khi thực hiện nguyên tắc này, quá trình giáo dục cần lưu ý:
- Nội dung giáo dục, những tác động giáo dục, hoạt động giáo dục phải tính hệ thống, không
tản mạn, rời rạc.
- Những kết quả giáo dục, kinh nghiệm giáo dục đã thu được cần được kế thừa có chọn lọc, không
coi thường hay phủ định .
- Giáo dục phải được tiếp tục trong mọi không gian, thời gian, không ngắt quãng, giãn đoạn.
3. Liên hệ
3.8. Đảm bảo thống nhất giữa tính vừa sức chúng và tính vừa sức riêng của NĐGD
1. Nội dung nguyên tắc
Ở mỗi giai đoạn lứa tuổi, nhân cách con người đạt tới một trình độ phát triển nhất định, thậm chí trong
cùng một lứa tuổi sự phát triển nhân cách của mỗi người cũng khác nhau. Mỗi người được giáo dục có
những đặc điểm tâm sinh lý, kinh nghiệm, hoàn cảnh, điều kiện sống, học tập, lao động khác nhau. VD:
Sự khác nhau ở những người được giáo dục về : Đặc điểm tâm sinh lí cá nhân (sức khỏe, trình độ nhận
thức, vốn kinh nghiệm, xúc cảm, tình cảm, lí trí, xu hướng, tính cách, nhu cầu, động cơ…); những đặc
điểm riêng của đời sống cá nhân (điều kiện kinh tế, văn hóa, giáo dục, các mối quan hệ với gia đình, bạn
bè, người thân…); đặc điểm điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán,…vùng miền nơi họ
sinh sống…
Do vậy trong quá trình giáo dục, bên cạnh những tác động giáo dục đảm bảo tính vừa sức chung thì cần
phải có những tác động giáo dục riêng phù hợp với từng đối tượng trong những điều kiện hoàn cảnh cụ
thể trên cơ sở đó quá trình giáo dục mới mang lại hiệu quả .
2. Biện pháp thực hiện nguyên tắc
Khi thực hiện nguyên tắc này nhà giáo dục cần lưu ý:
- Tìm hiểu, nắm vững đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, đặc điểm giới tính; đặc
điểm về sức khỏe, trình độ được giáo dục, tính cách, nhu cầu, động cơ, điều kiện hoàn cảnh
riêng của từng đối tượng giáo dục.
- Trên sở nắm vững đặc điểm đối tượng giáo dục nhà giáo dục xác định
mục tiêu, nhiệm vụ, lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục cho phù hợp,
có hiệu quả với nhóm đối tượng và từng đối tượng giáo dục cụ thể.
- Quá trình giáo dục cần đa dạng các hình thức tổ chức giáo dục nhằm thu hút
được sự tham gia tích cực của nhiều người được giáo dục và phát triển được tiềm năng đa dạng
của các em.
- Cần có thái độ tôn trọng, khuyến khích người được giáo dục tham gia vào
quá trình giáo dục; Tôn trng sự đa dạng về tiềm năng, nhân cách của đối tượng giáo dục; Đảm
bảo quyền bình đẳng của những người được giáo dục tham gia vào các mối quan hệ ứng xử,
các hoạt động giáo dục…
3. Liên hệ
3.9. Đảm bảo thống nhất GD giữa nhà trường, gia và xã hội
1. Nội dung nguyên tắc
Nhà trường, gia đình, hội môi trường giáo dục không thể thiếu trong sự phát triển nhân cách. Sự
thống nhất ba môi trường: gia đình, nhà trường hội tạo nên môi trường hoàn chỉnh với những tác
động đồng bộ tới sự hình thành, phát triển nhân cách. Trong đó cần nhấn mạnh vai trò của giáo dục nhà
trường là môi trường giáo dục rất quan trọng giữ vai trò chủ đạo.
Giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội đều có vai trò chung là góp phần đào tạo thế hệ
trẻ, song mỗi lực lượng lại có những sức mạnh giáo dục đặc thù, lực lượng giáo dục này lực
lượng giáo dục khác lại không có. Phối hợp các lực lượng giáo dục chính là khai thác được các sức mạnh
giáo dục đặc thù ấy để tạo ra một sức mạnh giáo dục tổng hợp nhằm tác động vào thế hệ trẻ.
Sự thống nhất các lực lượng giáo dục chính nhằm xây dựng một môi trường giáo dục, tạo điều kiện
thuận lợi để giáo dục học sinh được liên tục, thường xuyên. Sự thống nhất các lực lượng sẽ tạo ra được
một sức mạnh tổng hợp tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Ngược lại, giáo tục
phân tán, không đồng bộ theo các khuynh hướng khác nhau có thể phá vỡ sự toàn vẹn, thống nhất của giáo
dục, dẫn đến hậu quả khó lường trước được nếu như có hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.
Trong sự thống nhất, phối hợp giữa các lực lượng giáo dục. Giáo dục nhà trường là cơ quan chuyên trách
đảm nhiệm chức năng giáo dục thế hệ trẻ xã hội trao cho. Do đó quá trình giáo dục của nhà trường giữ
vai trò chủ đạo: vai trò chủ động thiết kế, tổ chức các hoạt động phối hợp với giáo dục gia đình và xã hội:
2. Biện pháp thực hiện nguyên tắc
Để thực hiện nguyên tắc này, giáo dục nhà trường cần chú ý:
- Nhà giáo dục cần hiểu rõ đặc điểm giáo dục của từng lực lượng giáo dục ảnh hưởng tới
sự phát triển nhân cách người được giáo dục.
- Thống nhất giữa nhà trường với gia đình hội về mục đích, mục tiêu, nội dung,
phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và cách thức liên kết giáo dục.
- Liên kết, phối hợp tổ chức các hoạt động giáo dục trong ngoài nhà trường để giáo
dục học sinh ở mọi lúc, mọi nơi theo những mục tiêu đã từng đặt ra.
- Tạo nên mối liên hệ thường xuyên giữa nhà trường và gia đình, giữa cha mẹ học sinh
và thầy cô giáo.
- Khai thác chọn lọc những tác động tích cực đồng thời góp phần điều chỉnh, ngăn
chặn những tác động tiêu cực từ gia đình và cộng đồng, xã hội.
3. Liên hệ
lOMoARcPSD| 61470371
Phần II. Giáo viên chủ nhiệm lớp trong NTPT
Câu 14. Vai trò của GVCN lớp trong NTPT
1. Khái niệm GVCN
GVCN lớp là người có chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm tốt, có kinh nghiệm giáo dục là người được hiệu
trưởng lựa chọn và hội đồng giáo dục nhất trí phân công
2. Vai trò
Là thành viên của tập thể sp và thay mặt Hiệu trưởng, Hội đồng nhà trường, cha mẹ HS để quản lý và
giáo dục HS
Là cầu nối giữa tập thể học sinh với giáo viên bộ môn, Ban Giám Hiệu và các tổ chức đoàn thể trong
nhà trường
Với tập thể học sinh, GVCN là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển đánh giá toàn diện các mặt
học tập và rèn luyện của HS
Là cầu nối giữa gia đình, nhà trường và xh
Câu 15. Phân tích chức năng, nhiệm vụ của GVCN lớp
1. Khái niệm GVCN
GVCN lớp là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm tốt, có kinh nghiệm giáo dục và là người có
uy tín được hiệu trưởng lựa chọn và hội đồng giáo dục nhất trí phân công
2. Kể tên các chức năng
- Chức năng quản lý
- Chức năng giáo dục
- Chức năng đại diện
- Chức năng phối hợp và thống nhất các tác động giáo dục để giáo dục HS
- Chức năng kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục toàn diện của học sinh lớp chủ nhiệm
3. Phân tích các chức năng
3.1. Chức năng quản lý
Lớp học là một đơn vị cơ bản trong hệ thống giáo dục của nhà trường, nơi diễn ra các hoạt động dạy
học và giáo dục toàn diện đối với mỗi học sinh trong lớp. Xét về mặt quyền lực hành chính, giáo viên
chủ nhiệm là người thay mặt hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lí toàn diện học sinh lớp mình phụ
trách. Chức năng quản lí đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm lớp phải tiến hành công việc vừa mang tính
hành chính vừa mang tính khoa học. nghệ thuật. Công tác quản lí của giáo viên chủ nhiệm phải thống
nhất với công tác quản lí các các khối lớp khác trong nhà trường, chịu sự chỉ đạo của nhà trường và
mang tính hệ thống, kế hoạch cao.
Để thực hiện chức năng quản lí có hiệu quả, giáo viên chủ nhiệm cần nắm vững mục tiêu giáo dục
của lớp học, bậc học và cấp học, hiểu đầy đủ kế hoạch, chương trình dạy học và giáo dục. Đặc biệt,
cần phải dựa trên các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những quy định của Bộ Giáo
dục và Đào tạo trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, triển khai các hoạt động giáo dục trong lớp
học sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn của lớp mình phụ trách. Chức năng quản lí cũng đòi hỏi
giáo viên chủ nhiệm lớp phải nắm vững đầy đủ nghị quyết, sự chỉ đạo của hiệu trưởng nhà trường đối
với lớp học, phổ biến và triển khai đến các thành viên trong lớp và ngược lại, phản ánh những tâm tư
nguyện vọng, những diễn biến về tư tưởng tình cảm của học sinh đến lãnh đạo nhà trường. Nắm
vững các thông tin sẽ giúp cho giáo viên chủ nhiệm tiến hành quản lí hoạt động của học sinh có hiệu
quả
3.2. Chức năng giáo dục
Giáo viên chủ nhiệm cần tập hợp được học sinh thành một tập thể tự quản, biết đoàn kết, thương yêu
giúp đỡ lẫn nhau, phấn đấu thực hiện mục tiêu chung, giúp mỗi học sinh có ý thức và năng lực tham
gia vào quá trình giáo dục thành viên khác và giáo dục chính mình.
o Muốn làm được việc đó, giáo viên chủ nhiệm lớp cần quan tâm đến việc xây dựng lớp học
thành tập thể tự quản. o Một tập thể tự quản là
tập thể đội ngũ cán bộ lớp cán bộ Đoàn Đội gương mẫu, có năng lực và nhiệt tình
trong công tác;
tạo ra sự đoàn kết, nhất trí giữa các thành viên trong lớp, có dư luận tiến bộ lành mạnh,
hướng về lẽ phải, biết bảo vệ những giá trị chân, thiện, mĩ, biết lên án những thói hư,
tật xấu, những lối sống không lành mạnh;
là tập thể có khả năng đề ra được mục tiêu phấn đấu và biến chúng thành các kế hoạch
và hoạt động cụ thể.
Xây dựng tập thể gắn liền với việc giáo dục toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ và thể chất cho
học sinh trong tập thể. Khắc phục tình trạng học kém, lưu ban và chậm tiến về mặt đạo đức trong tập
thể. Hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực của con người mới, đáp ứng yêu cầu của
mục đích giáo dục.
Trong quá trình xây dựng tập thể và giáo dục toàn diện cho học sinh, giáo viên chủ nhiệm tham gia
với tư cách là người hướng dẫn, điều khiển các hoạt động của tập thể và các thành viên trong tập thể.
3.3. Chức năng đại diện
Người giáo viên chủ nhiệm lớp đại diện cho hiệu trưởng truyền đạt những nguyêyêu cầu đối với học sinh.
Giáo viên chủ nhiệm lớp còn là đại diện cho quyền lợi chính đáng của học sinh trong lớp, bảo vệ học sinh
một cách hợp pháp, phản ánh kịp thời với hiệu trưởng, các giáo viên bộ môn, với gia đình học sinh, các đoàn
thể trong và ngoài nhà trường về những nguyện vọng chính đáng của học sinh và của tập thể lớp để cùng có
các biện pháp giải quyết phù hợp, kịp thời, có tác dụng giáo dục.
3.4. Chức năng phối hợp và thống nhất các tác động GD để GD học sinh
Nhân cách được hình thành không chỉ trong lớp học mà diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, trong từng khu
phố, thôn xóm và gia đình.
lOMoARcPSD| 61470371
o Trách nhiệm giáo dục toàn diện học sinh trong lớp đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải chủ động
phối hợp và thống nhất các yêu cầu và các tác động giáo dục trong gia đình, nhà trường và xã
hội.
o Giáo viên chủ nhiệm lớp là người có vai trò chính, là cầu nối trong sự phối hợp và thống nhất
về yêu cầu và tác động giáo dục trong nội bộ nhà trường, giữa nhà trường với gia đình và
giữa nhà trường với các tổ chức xã hội.
Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên liên lạc với các giáo viên bộ môn để nắm tình hình chung của
lớp, cùng với họ đề ra các yêu cầu và thống nhất thực hiện các yêu cầu đó với tập thể học sinh. Thực
tế cho thấy, nếu không có sự phối hợp chặt chẽ với các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm
không thể hoàn thành tốt các chức năng giáo dục của mình.
Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt cho hiệu trưởng nhà trường liên kết và phối hợp với các lực
lượng giáo dục ở địa phương, các tổ chức chính trị xã hội để phối hợp và thống nhất trong công tác
giáo dục học sinh.
o Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, cần lôi cuốn mọi tầng lớp và các tổ chức
hội tham gia vào công tác giáo dục.
o Công tác giáo dục chỉ có thể thành công khi giáo viên chủ nhiệm biết tập hợp, khai thác và
phối hợp các sức mạnh giáo dục của tập thể cán bộ công nhân viên trong trường, các lực
lượng giáo dục xã hội và gia đình học sinh.
Giáo viên chủ nhiệm là người chuyển tải những chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước đến
các tổ chức xã hội và đến cha mẹ học sinh, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm giáo dục thế hệ trẻ
3.5. Chức năng KTĐG kết quả GD toàn diện của HS lớp chủ nhiệm
Để tiến hành các hoạt động giáo dục, giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên cập nhật những thông
tin về học sinh, tiến hành kiểm tra và đánh giá sự phấn đấu toàn diện của mỗi học sinh và tập thể lớp.
Nếu giáo viên nắm được những đặc điểm cơ bản về tâm lí, tư tưởng, chính trị đạo đức và các mối
quan hệ của học sinh với tập thể và những người xung quanh... thì sẽ thấy được mặt mạnh và yếu của
học sinh và tập thể, qua đó có nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp. Theo sát từng bước phát
triển của mỗi học sinh và tập thể lớp, phát hiện ra những yếu tố tích cực và hạn chế của mỗi học sinh
sẽ giúp cho giáo viên chủ nhiệm nâng cao vai trò tự quản của tập thể học sinh.
Là người quản lí, giáo dục và chịu trách nhiệm về tập thể học sinh trước hiệu trưởng, giáo viên chủ
nhiệm phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình học sinh để báo cáo cho hiệu trưởng và hội
đồng giáo dục của nhà trường về kết quả tu dưỡng, rèn luyện của học sinh.
o Để đưa ra được những nhận định và đánh giá đúng mức, khách quan, giáo viên chủ nhiệm cần
có sự liên kết các giáo viên bộ môn, tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ quản lí
lớp..., tham khảo ý kiến của họ.
o Việc thu thập thông tin phải được cập nhật thường xuyên, ghi chép cẩn thận nên sử dụng
nhiều phương pháp và từ các nguồn khác nhau để thu thập thông tin.
o Khi tiến hành đánh giá học sinh, giáo viên chủ nhiệm cần đảm bảo tính khách quan, công bằng,
công khai. o Đánh giá học sinh cần dựa vào những tiêu chuẩn nhất định.
o Những tiêu chuẩn này phổ biến đến từng học sinh, giúp học sinh biết cách tự đánh giá và hoàn
thiện bản thân.
o Thống nhất đánh giá của giáo viên chủ nhiệm và của tập thể lớp cũng như tự đánh giá của
học sinh.
Câu 17. Nội dung và phương pháp công tác của GVCN lớp
1. Tìm hiểu, phân loại HS lớp chủ nhiệm
2. Lập kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp
3. XD đội ngũ cán bộ lớp và tập thể HS lớp chủ nhiệm
4. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nội dung GD toàn diện và GD trải nghiệm/ trải nghiệm, hướng
nghiệp
5. Liên kết các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường
6. ĐG kết quả GD học sinh lớp chủ nhiệm
7. GD học sinh cá biệt
8. Tổ chức giờ sinh hoạt lớp (định kỳ)
9. Lập hồ sơ chủ nhiệm lớp
lOMoARcPSD| 61470371
Phần III. Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong
nhà trường phổ thông
Câu 18. Khái quát về hoạt động trải nghiệm (HĐTN) (20_HĐTN)
1. Vị trí, đặc điểm 2. Quan điểm xd chương trình 3. Mục tiêu chương trình 4. Yêu cầu cần đạt 5. Nôi
dung 6. Phương thức tổ chức 7. Đánh giá kết quả
Câu 19. Nêu quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm – hoạt động trải nghiệm, hương nghiệp trong nhà trường
phổ thông
1. Lựa chọn chủ đề
Chủ đề phải thể hiện được rõ ràng thông điệp của hđ; phải được diễn đạt một cách ngắn gọn, ràng, chính
xác, tạo được ấn tượng và gây được sự hấp dẫn với học sinh
2. Xđ các yêu cầu cần đạt
Trả lời câu hỏi: các hđ trong chủ đề hướng tới yêu cầu nào, hướng tới những mục tiêu nào; các mục tiêu cần
phải được diễn đạt bằng những hđ để có thể đo lường đánh giá được để dễ thực hiện, dễ kiểm tra
3. Chuẩn bị
4. Tỏ chức các hoạt động
5. Đánh giá kết quả hoạt động
Câu 20. Nêu quy trình tổ chức hđ trải nghiệm – hđ trải nghiệm, hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông
1. Khám phá
Xđ kỹ năng, kinh nghiệm nhận thức của học sinh có liên quan tới chủ đề; giáo viên cần tạo bầu không khí vui
vẻ thoải mái tạo tâm lý thân thiện, gần gũi và cởi mở để hs sẵn sàng tham gia trải nghiệm
2. Chiêm nghiệm – kết nối kinh nghiệm
HS đánh giá lại những hđ, kinh nghiệm mình đã trải qua, trải nghiệm; đồng thời khái quát lại những kinh
nghiệm mình đã trải qua đó kết nối với những gì mình đã trải nghiệm ngày hôm nay để từ đó liên tưởng với
những sự việc, sự kiện để rút ra bài học; giáo viên có thể sử dụng những hoạt động gợi mở, phỏng vấn ngắn
kết hợp với sự tương tác hỏi đáp, thảo luận nhóm, đóng vai, thực hiện tiểu phẩm, tạo cơ hội để HS chia sẻ.
3. Rèn luyện kỹ năng
Đây là bước rất quan trọng để HS thể hiện những gì mình biết, mình cảm nhận thông qua hành động để rèn
luyện và pt những kỹ năng cần thiết mà chủ đề đã đặt ra; giáo viên có thể tổ chức những hđ để HS tham gia
như hướng dẫn mẫu, quan sát và làm theo mẫu, hđ mô phỏng, hỏi đáp, trò chơi tương tác hoặc là xử lý tình
huống
4. Vận dụng/ mở rộng
Đây là bước giúp HS có cơ hội được thực hành, vận dụng những kiến thức và kỹ năng mới, vào một bối
cảnh thực tế và những đk thực tế có ý nghĩa trong đs của HS => giúp cho HS phát huy sự sáng tạo trong tư
duy và liên hệ vào chính đs của HS để đưa ra những bước ứng phó với những tình huống mà cs đặt ra; giáo
viên có thể nêu những tình huống có vấn đề, nêu các sân khấu tương tác, trò chơi, các hđ nhóm, dự án để
học sinh có thể thể hiện được kỹ năng, kinh nghiệm và những gì mình học được ở những bước trên
5. Đánh giá
Là rất quan trọng, giúp cho HS nhìn lại những gì mình làm được hoặc chưa được để từ đó thu thập thông tin
và xd những kế hoạch tiếp theo cho phù hợp với HS hơn; giáo viên cần phải thông qua nhiều kênh thông tin
và hình thức đánh giá khác nhau để đưa ra những nhận định ĐG đúng đăn và phù hợp.
Câu bổ sung 1: XD các chủ điểm GD hàng tháng cho các hoạt giáo dục ngoài giờ lên lớp
cho nhà trường phổ thông
Tháng 9
Thanh niên rèn luyện, học tập vì sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước
Tháng 10
Thanh niên với tình bạn, tình yêu và gia đình
Tháng 11
Thanh niên với truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo
Tháng 12
Thanh niên với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Tháng 1
Thanh niên với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Tháng 2
Thanh niên với lý tưởng cách mạng
Tháng 3
Thanh niên với vấn đề lập nghiệp
Tháng 4
Thanh niên với vấn đề hòa bình, hữu nghị và hợp tác
Tháng 5
Thanh niên với Bác Hồ
Tháng
6,7,8
Mùa hè tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng
Phần tự chọn
Tổ chức các câu lạc bộ theo từng chuyên đề
Các hoạt động vui chơi...
Các hoạt động giáo dục khác
Việc tổ chức hoạt động này thể hiện chỗ giáo viên chủ nhiệm tổ chức các tiết sinh hoạt lớp, các hoạt động
ngoại khóa về văn hóa thể thao (hội thao), các hoạt động tham quan, ngoại, hoạt động giáo dục hướng
nghiệp… cho học sinh

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61470371
PHẦN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GH
 3/ Lực lượng tiến hành Quá trình giáo dục Quá trình dạy học
Câu 1: Trình bày sự hình thành và phát triển của GDH?
- Khái niệm: Giáo dục học là khoa học nghiên cứu về quá trình giáo dục toàn vẹn con người.
- Quá trình hình thành, phát triển của GDH trải qua các giai đoạn sau: Chức năng trội
Tập trung phát triển các phẩm chất đạo Hình thành và phát triển tri thức, kĩ
1. Thời kì nguyện thuỷ: trực tiếp trong LĐSX; thông qua phong tực, tập quán, truyện kể… đức cho người học. năng, kĩ xảo cho HS
2. Khi XH phát triển: GDH là một bộ phận của triết học.
3. Thời kì văn hoá phục hưng: nhiều lý thuyết GD phát triển, nhưng GDH vẫn còn là một bộ phận Cách thức tiến hành Hoạt động giáo dục Bài học trên lớp của Triết học. Lực lượng tiến hành GV bộ môn
4. Thế kỉ XVII: GDH trở thành một khoa học độc lập (nhờ lý luận về dạy học của Komesky
GV chủ nhiệm lớp, cha mẹ HS, Hội
đồng nhà trường và các đoàn thể GD
– cuốn “Lý luận dạy học vĩ đại”) khác.
Câu 2: Nêu đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của GDH?
Câu 4. Trình bày các tính chất của giáo dục.
- Đối tượng nghiên cứu của GDH: là quá trình giáo dục toàn vẹn (hay quá trình giáo dục theo nghĩa
- Khái niệm quá trình GD (nghĩa rộng): quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội rộng)
dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo
- Nhiệm vụ nghiên cứu của GDH:
dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ.
o Nghiên cứu nguồn gốc phát sinh, phát triển và bản chất của hiện tượng GD. o Nghiên cứu dự
- Các tính chất của giáo dục: o Tính phổ biến và vĩnh hằng o GD chịu sự quy định của XH o Tính lịch
báo tương lai của giáo dục (các xu thế, chiến lược giáo dục) o Nghiên cứu xây dựng các lí sử o Tính giai cấp
thuyết giáo dục mới để áp dụng vào thực tiễn giáo dục. o Nghiên cứu các phương pháp, phương
- Phân tích từng tích chất:
tiện giáo dục mới nhằm nâng cao kết quả giáo dục.
o Tính phổ biến và vĩnh hằng: GD diễn ra mọi lúc mọi nơi, mọi hoàn cảnh và mọi đối tượng; GD
xuất phát từ nhu cầu tồn tại và phát triển của XH loài người, do đó GD cũng sẽ phải tồn tại và
Câu 3: Phân tích các khái niệm cơ bản của Giáo dục học?
phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của XH loài người.
- GDH là khoa học nghiên cứu quá trình giáo dục toàn vẹn con người.
o GD chịu sự quy định của XH: GD p/a trình độ phát triển KT-XH và đồng thời đáp ứng các yêu
- GDH có các khái niệm cơ bản sau:
cầu KT-XH trong những giai đoạn nhất định của XH; GD luôn luôn biến đổi trong tiến trình
o Giáo dục (rộng): Quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng
phát triển của XH loài người khi XH thay đổi thì cũng sẽ đặt ra những yêu cầu làm cho GD
phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục,
cũng phải biến đổi để đáp ứng theo các nhu cầu đó.
nhằm hình thành nhân cách của họ.
o Tính lịch sử: Ở mỗi một thời kì lịch sử khác nhau lại có một nền giáo dục tương ứng, nền GD
o Dạy học: Quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp người học lĩnh
đó sẽ khác nhau về mục đích, về nội dung, về phương pháp, về hình thức tổ chức, kết quả giáo
hội tri thức khoa học, phát triển năng lực tư duy và năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó
dục và ta khẳng định rằng không có một nền GD nào là chung nhất, là dập khuân cho mọi thời
hình thành thế giới quan và các phẩm chất nhân cách của người học theo mục đích giáo dục kỳ lịch sử.
o Giáo dục (hẹp): Quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm,
o Tính giai cấp: Thể hiện trong các chính sách giáo dục chính thống của một quốc gia; các chính
niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong
sách GD này được xây dựng trên cơ sở tư tưởng của Nhà nước cầm quyền, do đó, GD không
xh thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu.
đứng ngoài chính sách và quan điểm của nhà nước  thể hiện tính chất giai cấp của GD. GD
- Giữa các khái niệm của GDH vừa có những điểm chung, vừa có những điểm khác biệt. o Điểm chung
 công cụ của giai cấp thống trị để duy trì quyền lợi và lợi ích của mình, và truyền bá những
giữa các khái niệm: đều hướng tới mục tiêu hình thành, phát triển nhân cách cho con người; đều cần
tư tưởng, đường lối, chính sách của giai cấp mình.
có sự tương tác, phối hợp giữa nhà giáo dục và người được giáo dục.
Thêm: GD là của ai, phục vụ cho giai cấp nào?
Ở VN, mục đích của Nhà nước ta là hướng tới xoá bỏ áp bức, bóc lột, từ đó hướng tới sự bình o Điểm khác biệt:
đẳng, công bằng trong giáo dục. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, bên cạnh những mặt tích  1/ Chức năng trội
cực cơ bản vẫn có những mặt trái khó tránh được. Nhà nước ta đã cố gắng đưa ra những chính
 2/ Cách thức tiến hành
sách đảm bảo công bằng trong giáo dục như: lOMoAR cPSD| 61470371
 Mọi công dân đều có quyền tiếp cận hệ thống giáo dục
 phát triển năng lực hành động cho người học trong các nhà trường, 
 Đảm bảo những sinh viên, học sinh có năng khiếu, tài năng tiếp tục được đào tạo lên
đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động hiện nay.
cao bất kể đk, hoàn cảnh, giới tính, dân tộc, tôn giáo,… Kết luận sư phạm:
 Tiến hành xoá mù chữ, phổ cập GD
 Giáo dục luôn gắn kết với thực tiễn xã hội.
 Đa dạng, mềm dẻo các loại hình đào tạo, các loại hình trường lớp nhằm tạo cơ hội học
tập cho mọi tầng lớp nhân dân
 Tiếp tục thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
- Kết luận sư phạm (lời khuyên hành hành động, bn ý trên-bn lời khuyên):
 Hệ thống giáo dục nhà trường không ngừng đổi mới nhằm phát triển năng lực hành động cho người
học, đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn nghề nghiệp.
o GD có tính phổ biến  nhà GD cần tác động đến người được GD mọi lúc, mọi nơi, trong nhiều
tình huống giáo dục khác nhau…
3.2. Chức năng chính trị - xã hội
 Giáo dục tác động đến cấu trúc xã hội, tức là tác động đến các bộ phận, các thành phần xã hội (các giai
Câu 5. Chức năng xã hội của giáo dục.
cấp, các tầng lớp, các nhóm xã hội...) làm thay đổi tính chất mối quan hệ giữa các bộ phận, thành phần
đó bằng cách nâng cao trình độ văn hóa chung cho toàn thể xã hội. 1. Khái niệm
 Giáo dục trở thành phương tiện, công cụ để khai sáng nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, củng cố niềm
- Quá trình giáo dục (nghĩa rộng): quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch, có nội
tin, kích thích hành động của tất cả các lực lượng xã hội, nhằm duy trì, củng cố thể chế chính trị- xã
dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan
hội cho một quốc gia nào đó.
giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ.
 Giáo dục xã hội chủ nghĩa góp phần làm cho cấu trúc xã hội trở nên thuần nhất, làm cho các giai cấp,
- Các chức năng xã hội của giáo dục: sự tác động của GD đến các quá trình, các lĩnh vực của đsxh mà
các tầng lớp, các thành phần xã hội.. ngày càng xích lại gần nhau.
trong đó con người là chủ thể.
 Ở nước ta, o Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước, đại diện cho quyền lực “của dân, do dân,
2. Các chức năng xã hội của giáo dục gồm:
vì dân” trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
o giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. o Giáo dục phục vụ cho mục
a. Chúc năng kinh tế - sản xuất.
tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
b. Chức năng chính trị - xã hội.
c. Chức năng tư tưởng – văn hoá. Kết luận sư phạm:
 Người giáo viên luôn phải nắm vững quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà
3. Phân tích chức năng đề thi y/c (ví dụ: chức năng kinh tế - sản xuất) nước. d. Nội dung, yêu cầu
 Giúp học sinh hiểu, tin tưởng và thực hiện theo đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà
e. Biểu hiện của chức năng nước
f. Cách thực hiện chức năng
3.3. Chức năng tư tưởng – văn hóa
3.1. Chức năng kinh tế - sản xuất
 Giáo dục tham gia vào việc o xây dựng một hệ tư tưởng chi phối toàn xã hội, o xây dựng một lối sống
 Giáo dục tái sản xuất sức lao động xã hội, o tạo nên sức lao động mới có chất lượng cao hơn, thay thế
phổ biến trong xã hội o bằng cách phổ cập giáo dục phổ thông với trình độ ngày càng cao cho mọi
sức lao động cũ đã lạc hậu, đã già tầng lớp xã hội. cỗi hoặc đã mất đi
 Thông qua giáo dục, những tư tưởng xã hội được thấm đến từng con người, giáo dục hình thành ở con
o bằng cách phát triển những năng lực chung và năng lực chuyên biệt của con người, o nhằm
người thế giới quan, giáo dục ý thức, hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội. Nhờ giáo dục,
tạo ra một năng suất lao động cao hơn, thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế xã hội.
tất cả các giá trị văn hoá của nhân loại, của dân tộc, của cộng đồng được bảo tồn và phát triển, trở
thành hệ thống giá trị của từng con người.
 Xã hội hiện đại đặt ra những yêu cầu cao đối với chất lượng nguồn nhân lực:
o có trình độ học vấn cao, có tay nghề vững vàng, năng động, sáng tạo, linh hoạt để thích nghi, Kết luận sư phạm
đáp ứng được những yêu cầu của tiến trình phát triển xã hội.
 Đa dạng hóa các loại hình và phương thức đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân,nhằm tạo cơ hội
o Dạy học theo tiếp cận năng lực là một trong giải pháp quan trọng để
cho người dân được đi học và học suốt đời
 Sử dụng sức mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng. lOMoAR cPSD| 61470371
4. Mối quan hệ giữa các chức năng XH của GD
o Có tầm quan trọng đặc biệt với người khuyết tật giúp họ bù trừ những chức năng bị khiếm
khuyết, hòa nhập với xã hội
a. Các chức năng giáo dục của xã hội có mối quan hệ mật thiết và biện chứng với nhau, việc thực
o Có tác động điều khiển và điều chỉnh nên không những thích ứng với các yếu tố mà còn kìm
hiện tốt các chức năng này sẽ giúp cho việc thực hiện các chức năng còn lại thực hiện có hiệu
hãm hoặc thúc đẩy các yếu tố đó theo một gia tốc phù hợp quả hơn.
4. Phân tích từng yếu tố
b. Trong tất cả các chức năng kể trên thì chức năng kinh tế - sản xuất là chức năng có tính chất - Là gì? quyết định. - Phân loại? -
Vai trò theo qđ của GD hiện đại đvs sự pt của nhân cách cá nhân? - Biểu hiện? 5. Kết luận sư phạm:
+ Khi cá nhân được rơi vào 1 mt tốt có đ thuận lợi cho sự hình thành và pt nhân cách thì cá nhân đó sẽ pt
theo hướng tích cực và lành mạnh hơn
Câu 6. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách.
+ Ngược lại, với những cá nhân ko có đk thuận lợi về môi trường thì sự hình thành và pt nhân cách của
1. Khái niệm nhân cách, sự phát triển nhân cách
cá nhân đó sẽ gặp nhiều khó khăn và trở ngại hơn
a. Nhân cách: hệ thống giá trị làm người mà cá nhân đạt được; với sự trưởng thành về phẩm chất và năng
4.1. Vai trò của bẩm sinh, di truyền đến sự hình thành và phát triển nhân cách
lực; trong quá trình thực hiện các chức năng xã hội của mình và được xh đánh giá thừa nhận. a. Khái niệm
b. Sự phát triển nhân cách: thực chất là quá trình k/đ bản chất xh của con người, k/đ trình độ phát triển
 Di truyền o Di truyền là sự tái tạo lại ở trẻ em những thuộc tinh sinh học có ở cha mẹ, là sự truyền lại
nhân cách của chính cá nhân đó.
từ cha mẹ cho con cái những đặc điểm, những p/c nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen.
o Những thuộc tính, những đặc điểm có thể di truyền là cấu trúc giải phẫu của cơ thể, những đặc điểm
Như vậy sự phát triển của cá nhân thì được biểu hiện qua 2 dấu hiệu:
sinh học (như màu da, tóc, vóc dáng…), tư chất của hệ thần kinh.
o Những yếu tố này trước hết đảm bảo cho loài người phát triển, đồng thời giúp con người có thể
- Một, là sự biểu hiện phát triển tâm lý: sự biến đổi các quá trình tâm lý của cá nhân như nhận thức, tư
thích ứng với những biến đổi của đk sinh tồn.
duy, quan điểm, lập trường, thói quen, cảm xúc, tình cảm
 Bẩm sinh: hiện tượng sinh ra đã có – bẩm sinh có thể do di truyền và có thể là không di truyền
- Hai, là sự biểu hiện phát triển xã hội: Chúng ta có thái độ và hvi ứng xưe phù hợp khi chúng ta đứng
b. Các quan điểm sai lầm
cho mối qh xh vs người khác.
 Tuyệt đối hoá: “Con vua thì lại làm vua”, “trứng rồng lại nở ra rồng”
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách gồm:
 Sai, vì chưa ĐG đúng vai trò của di truyền, quá đề cao vai trò của di truyền dẫn đến phủ a. Bẩm sinh, di truyền
định vai trò của các yếu tố khác đvs sự hình thành và pt nhân cách con người. b. Môi trường
 Trên thực tế sự pt nhân cách con người ko chỉ do di truyền quyết định mà nó còn phụ c. Giáo dục
thuộc vào các nhân tố khác đó là mt và gd đặc biệt là tính tích cực của cá nhân d. Hoạt động cá nhân
 Phủ nhận hoàn toàn: di truyền hoàn toàn ko có vai trò gì đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
c. Quan điểm đúng đắn của GD hiện đại
3. Vai trò của các yếu tố
Bẩm sinh, di truyền là tiền đề cho sự hình thành, phát triển nhân cách.
 Yếu tố bẩm sinh- di truyền:Yếu tố này đóng vai trò tiền đề tự nhiên, là cơ sở vật chất cho sự hình
thành và phát triển cá nhân. Những yếu tố này sinh ra đã có do bố mẹ truyền lại hoặc tự nảy sinh do
- Tạo ra những sức sống trong bản chất tự nhiên của con người, tạo khả năng cho người đó hđ có kết
biến dị( bẩm sinh). Vai trò tiền đề cho sự phát triển nhân cách.
quả trong 1 số lĩnh vực nhất định.
 Yếu tố môi trường sống: Bao gồm cả hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội tác động trực hoặc gián
- Vấn đề di truyền những tư chất về một lĩnh vực hđ nhất định ở trẻ em có tầm quan trọng đặc biệt đvs
tiếp đến quá trình phát triển nhân cách thông qua việc con người tiếp xúc với thế giới tự nhiên, phong
tục tập quán, nghề nghiệp,.. hay với người khác. Vai trò quyết định cho sự phát triển nhân cách công tác gd
 Yếu tố hoạt động tích cực: Con người tự giác, chủ động tham gia vào quá trình phát triển tâm lý, hình
- Không thể quyết định giới hạn tiến bộ xh của con người mà nó chỉ tạo khả năng cho con người hđ có
thành nhân cách. Vai trò trực tiếp với sự phát triển nhân cách.
kết quả trong 1 số lĩnh vực nhất định
 Yếu tố giáo dục: Giáo dục mang vai trò chủ đạo với sự phát triển nhân cách bởi:
o Không chỉ vạch ra mục tiêu, chiều hướng mà còn tổ chức, chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiện
- Không định hướng cụ thể vào một lĩnh vực nào đó.
quá trình phát triển nhân cách.
- Không quyết định nd của sự phát triển tâm lý, mà nó chỉ ảnh hưởng: tạo đk thuận lợi hay trở ngại cho
o Tác động một cách có điều kiện, mang lại những tiến bộ mà các yếu tố bẩm sinh di truyền, môi
sự pt tâm lý với tốc độ nhanh hay chậm
trường sống không thể tạo ra được.
o Cải biến nét tính cách, phẩm chất sao cho phù hợp với chuẩn mực xã hội. lOMoAR cPSD| 61470371
Ví dụ: Một người có tư chất toàn học (yếu tố di truyền) nên định hướng cho người đó có khả năng hđ trong
+ Tác động tự giác, được điều khiển bởi cơ quan, lực lượng chuyên trách, khác với tác động tự phát tản mạn
lĩnh vực khtn, người đó trở thành nhà toán học hay giáo viên toán hoặc kỹ sư, kiến trúc sư, bác sỹ, nhà quản của môi trường
lý,… lại phụ thuộc vào sự tích cực, sự cố gắng của bản thân, sự gd của mt, gd nhà trường, gia đình và xh
+ Có mục đích, nội dung, phươn gphasp, phương tiện, chương trình… được tổ chức, lựa chọn khoa học phù
Ví dụ: Trẻ khyết tật về thị giác hay thính giác tiếp thu kinh nghiệm xh-ls khó khăn và chậm hơn song điều đó
hợp với mọi đối tượng, giúp họ chiếm lĩnh được những kinh nghiệm, giá trị xh của nhân loại bằng con đường
ko quyết định nội dung tâm lý nhân cách. (Helen Kyller) ngăn nhất d. KLSP
b. Quan điểm đúng đắn của GDH hiện đại:
4. 2. Vai trò của môi trường đến sự hình thành và phát triển nhân cách
Giáo dục đóng vai trò chủ đạo đối cới sự hình thành, phát triển nhân cách cá nhân
a. Thế nào là môi trường? Có mấy loại mội trường?
c. Biểu hiện của vai trò chủ đạo của giáo dục
- Môi trường: Là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các đk tự nhiên và xh xung quanh cần thiết cho hđ -
Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách sống và pt con người.
của học sinh mà còn tổ chức, chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiện quá trình đó đến kết quả mong
- Phân loại: 2 loại o Môi trường tự nhiên: các đk tự nhiên-hệ sinh thái phục vụ cho các hđ sinh sống của muốn.
con người; hoàn cảnh địa lí, nước, không khí, động vật, thực vật,… -
Giáo dục là những tác động tự giác có điều khiển, có thể mang lại những tiến bộ mà
o Môt trường xhL một hệ thống qh chính trị kinh tế, xã hội-lịch sử, văn hoá, gd,… được thiết lập
các yếu tố di truyền bẩm sinh hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể tạo ra được do tác động
b. Các qđ sai lầm - Tuyệt đối hoá - phủ nhận hoàn toàn tự phát.
c. Quan điểm đúng đắn của GDH hiện đại -
Giáo dục có sức mạnh cải biến những nét tính cách, hành thành phẩm chất lệch lạc
không phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của xã hội. Đó chính là kết quả quan trọng của giáo
Môi trường là điều kiện cho sự hình thành và phát triển nhân cách
dục lại đối với trẻ em hư hoặc người phạm pháp.
- môi trường xã hội có tầm quan trọng đặc biệt vì nếu không có xã hội loài người thì những tư chất có -
Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tật hoặc thiểu năng
tính người cũng không thể phát triển được
do bệnh tật, tai nạn hoặc bẩm sinh, di truyền tạo ra. Nhờ có sự can thiệp sớm, nhờ có phương
- Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể được thực hiện trong một môi trường nhất định. Môi
pháp giáo dục, rèn luyện đặc biệt cùng với sự hỗ trợ của các phương tiện khoa học có thể giúp
trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện cho hoạt động giao lưu của cá
cho người khuyết tật, thiểu năng phục hồi một phần chức năng đã mất hoặc phát triển các chức
nhân, nhờ đó giúp trẻ chiếm lĩnh được các kinh nghiệm để hình thành và phát triển nhân cách của mình
năng khác nhằm bù trừ những chức năng bị khiếm khuyết, giúp cho họ hoà nhập vào cuộc sống
- Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cộng đồng.
cách còn tùy thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhân đối với các ảnh hưởng đó, cũng như -
Giáo dục là những tác động có điều khiển và điều chỉnh cho nên không những thích
tùy thuộc vào xu hướng và năng lực, vào mức độ cá nhân tham gia cải biến môi trường.
ứng với các yếu tố di truyền, bẩm sinh, môi trường, hoàn cảnh trong quá trình hình thành và d. KLSP
phát triển nhân cách mà nó còn có khả năng kìm hãm hoặc thúc đẩy các yếu tố ảnh hưởng đến
+ Đánh giá đúng vai trò của mt đvs sự hình thành và pt nhân cách
quá trình đó theo một gia tốc phù hợp mã di truyền và môi trường không thể thực hiện được.
+ Nhà GD phải chủ động tạo ra những mt tích cực cho việc phát triển nhân cách của HS thông qua tổ chức d. KLSP
các hoạt động và giao lưu
+ Trong các môi trường thì mt lớp học, mt tập thể, mt giáo dục trong nhà trường là mt có ý nghĩa rất
- Cần có nhận thức đúng đắn về vai trò của giáo dục đến sự hình thành và phát triển nhân cách.
quan trọng đvs sự phát triển nhân cách của hs, nhà GD cần phải chú ý xd mt sao cho đầy đủ các yếu tố
- Biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục ở người học tích cực ở trong đó
4.3. Vai trò của GD đến sự hình thành và phát triển nhân cách
- Tổ chức quá trình giáo dục một cách khoa học, hợp lý:
a. Khái niệm giáo dục (nghĩa rộng); đặc trưng của QTGD
+ Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý HS
- Giáo dục (nghĩa rộng): quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương
+ Yêu cầu giáo dục mang tính vừa sức với HS
pháp khoa học của nhà giáo dục đến người được giáo dục qua các tổ chức giáo dục, nhằm hình thành nhân
+ Tổ chức các hoạt động và giao lưu đa dạng, phong phú cho HS cách cho họ.
+ Lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp và các phương pháp giáo dục khoa học - Đặc trưng của QTGD
+ Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà giáo dục và người được giáo dục lOMoAR cPSD| 61470371
+ Khơi dậy khả năng tiềm ẩn, tố chất di truyền, tính tích cực trong hoạt động cá nhân của học LÝ LUẬN GIÁO DỤC
sinh nhằm mang lại hiệu quả cho quá trình giáo dục
Câu 8. Khái niệm, cấu trúc của QTGD(pg 338)
4.4. Vai trò của hoạt động đến sự hình thành và phát triển nhân cách
a. Thế nào là hoạt động
1. Khái niệm quá trình giáo dục (nghĩa hẹp):
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Hoạt động của con người là hđ có mục đích, mang tính xh,
Quá trình giáo dục là một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, người được giáo dục tự
cộng đồng, được thực hiện bằng những thao tác nhất định với những công cụ nhất định.
giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục
b. Vai trò của hoạt động
???Giáo dục (nghĩa hẹp) Quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm
Hoạt động đóng vai trò quyết định đến sự hình thành, phát triển nhân cách
tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xh thông qua việc tổ
chức cho họ các hoạt động và giao lưu.
- Thông qua hoạt động của bản thân trẻ sẽ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội và biến nó thành nhân
cách của mình. Hoạt động giúp kích thích hứng thú, niềm say mê sáng tạo và làm nảy sinh những nhu 2. Cấu trúc của QTGD
cầu mới, những thuộc tính tâm lý mới… ở mỗi các nhân mà nhờ đó nhân cách được hình thành và phát triển.
- Sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ phụ thuộc vào hoạt động ở mỗi thời kì, lứa tuổi nhất
đinh. Muốn hình thành và phát triển nhân cách thì cha mẹ cần phải tcho con ham gia vào các dạng hoạt
động khác nhau và kích thích yếu tố hoạt động cá nhân.
- Ngay từ khi còn nhỏ, ở mỗi trẻ đã hình thành những nhân cách khác nhau cũng như chịu chi phối bởi
hệ thống gia đình, giáo dục, xã hội,….Trong đó gia đình được coi là cái nôi của nhân cách, tác động
vào hệ thống phát triển tinh thần và thể chất của trẻ. Vì vậy giáo dục nhân cách cho trẻ ngay từ nhà là
điều rất quan trọng và cần thiết. c. KLSP
- Đưa HS vào những hđ đa dạng, coi hoạt động là phương tiện giáo dục cơ bản
Theo cách tiếp cận hệ thống, QTGD bao gồm các thành tố cấu trúc như: mục đích, nhiệm vụ giáo dục, nội
- Làm phong phú nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động, từ đó lôi cuốn học sinh vào hoạt động
dung giáo dục, phương pháp và phương tiện giáo dục, nhà giáo dục, người được giáo dục, kết quả giáo dục.
- Nắm được các hđ chủ đạo ở từng thời kì
Mỗi thành tố có chức năng riêng và có mối qh biện chứng với nhau.
1. Mục đích, nhiệm vụ giáo dục
Câu 7. Giáo dục trong xã hội hiện đại
 Mục đích giáo dục là thành tố có vai trò định hướng, ảnh hưởng, chi phối, qui định sự phát triển của
các thành tố khác của quá trình giáo dục (nội dung, phương pháp, phương thức tổ chức giáo dục, kiểm
1. Đặc điểm của xã hội hiện đại (pg 28)
tra, đánh giá,…) cũng như toàn bộ quá trình giáo dục.
a. Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ
 Mục đích giáo dục được xem như là “đơn đặt hàng của xã hội” về mẫu người mà quá trình giáo dục
phải tạo ra. Hay mục đích giáo dục chính là mô hình dự kiến về nhân cách con người đáp ứng được
b. Xu thế toàn cầu hoá/hội nhập
các yêu cầu của xã hội. Mục đích giáo dục có tính lịch sử, chúng luôn biến đổi cùng với sự phát triển
của xã hội và thời đại.
c. Phát triển nền kinh tế tri thức
 Mục đích giáo dục của nhà trường hiện nay là: đào tạo người được GD, trước hết là thế hệ trẻ trở thành
những người công dân, những người lao động có đủ năng lực và phẩm chất, có khả năng hoà nhập và
d. Thế giới biến đổi nhanh
thích ứng năng động sáng tạo với cuộc sống đang đổi mới toàn diện sâu sắc hiện nay.  Trong Điều
e. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
27, Luật giáo dục (2005) quy định:
2. Xu thế phát triển giáo dục thế giới
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và
3. Xu hướng phát triển giáo dục VN trong giai đoạn hiện nay
sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư
cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc
sống lao động, tham gia lao động và bảo vệ Tổ quốc” 2. Nhiệm vụ giáo dục lOMoAR cPSD| 61470371
Nhiệm vụ giáo dục chịu sự chi phối của mục đích, mục tiêu giáo dục. Nhiệm vụ giáo dục của nhà 7. Kết quả giáo dục
trường là tác động đến toàn bộ tới nhân cách của người được giáo dục (nhận thức, thái độ và hành vi) và đồng
Kết quả giáo dục là sản phẩm của những tác động giáo dục theo từng giai đoạn và của quá trình giáo dục. Sản
thời hướng dẫn, khuyến khích người được giáo dục tạo lập những thói quen hành vi phù hợp với các chuẩn
phẩm của giai đoạn này là tiền đề cho giai đoạn sau và chúng kế thừa nối tiếp nhau để đạt mục đích giáo dục
mực xã hội qui định. Vì vậy nhiệm vụ của quá trình giáo dục bao gồm 3 nhiệm vụ sau đây: tổng thể.
+ Tổ chức hình thành và phát triển ở người được GD ý thức cá nhân về các chuẩn mực xã hội (CMXH)
Kết quả giáo dục được thể hiện trong sự hình thành và phát triển nhận thức, thái độ, tình cảm, hành vi
nói chung, các chuẩn mực đạo đức, pháp luật nói riêng đã được qui định. Ý thức cá nhân về các chuẩn mực
và thói quen của học sinh theo mục đích, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Nếu mục đích giáo dục là dự kiến
xã hội là một thể thống nhất giữa sự hiểu biết và niềm tin của cá nhân về các chuẩn mực xã hội đó.
mô hình giáo dục mong muốn thì kết quả giáo dục là cái đã đạt được, là sản phẩm thực tế của quá trình giáo
+ Tổ chức hình thành và phát triển ở người được GD những xúc cảm, tình cảm tích cực đối với các
dục. Giữa mục đích giáo dục (M) và kết quả giáo dục (Kq) sẽ có các mối tương quan sau:
CMXH, trên cơ sở đó có tác dụng thúc đẩy cá nhân chuyển hoá ý thức cá nhân về các chuẩn mực xã hội thành Kq → M; Kq ≈ M; Kq < M
hành vi, thói quen hành vi tương ứng ở họ.
Kq → M: Kết quả giáo dục hoàn toàn phù hợp với mục đích giáo dục đã đề ra.
+ Tổ chức hình thành và phát triển ở người được GD hệ thống những hành vi phù hợp với các chuẩn
Kq ≈ M: Kết quả giáo dục gần phù hợp với mục đích giáo dục.
mực xã hội đã qui định đồng thời lặp đi lặp lại những hành vi đó thành những thói quen bền vững gắn mật
Kq < M: Kết quả giáo dục trái (lệch hoặc ngược) với mục đích giáo dục.
thiết với nhu cầu tích cực của cá nhân. 3. Nội dung giáo dục
Tóm lại, quá trình giáo dục là một hệ thống gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố có vai trò và chức năng riêng
Nội dung giáo dục là hệ thống những tri thức, thái độ, hành vi, thói quen hành vi phù hợp với những
nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau, tạo nên một chỉnh thể thống
chuẩn mực xã hội qui định cần được giáo dục cho người được giáo dục.
nhất. Mặt khác chúng lại có quan hệ và bị chi phối bởi môi trường chính trị - kinh tế - văn hóa – khoa học kĩ
Nội dung giáo dục trong nhà trường được thiết kế theo mục đích giáo dục, được chi tiết hóa thành từng
thuật và quan hệ sản xuất xã hội… Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào chất lượng của từng thành tố.
mảng cụ thể phù hợp với trình độ, lứa tuổi, theo từng cấp học, phù hợp với từng tình huống giáo dục cụ thể.
Nội dung giáo dục trong nhà trường bao gồm giáo dục đạo đức và ý thức công dân, giáo dục văn hóa,
thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và hướng nghiệp, giáo dục môi trường, giáo dục giới tính và
Câu 9. Bản chất của QTGD
sức khỏe sinh sản, giáo dục dân số, giáo dục phòng chống các tệ nạn xã hội,…
4. Phương pháp và phương tiện giáo dục
1. Khái niệm quá trình giáo dục (nghĩa hẹp)
Phương pháp và phương tiện giáo dục là những cách thức, biện pháp, phương tiện tổ chức hoạt động
giáo dục cho người được giáo dục tham gia nhằm giúp người được GD chuyển hóa các yêu cầu, chuẩn mực
Quá trình giáo dục là một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, người được giáo dục tự
xã hội qui định thành hành vi và thói quen tương ứng ở họ. Phương pháp, phương tiện giáo dục càng khoa
giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục
học, hiện đại, tiên tiến thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giáo dục đạt kết quả cao. 5. Nhà giáo dục
2. 2 cơ sở xác định bản chất của QTGD
Nhà giáo dục là chủ thể của quá trình giáo dục và giữ vai trò chủ đạo. Nhà giáo dục trong phạm vi nhà
trường là giáo viên, tập thể sư phạm; ở gia đình là ông bà, cha mẹ, những người thân khác; trong các tổ chức
 Quá trình xã hội hóa cá nhân: Đây là quá trình biến cá nhân thành một thành viên của xã hội, có đầy
xã hội là cán bộ phụ trách đoàn thể,…
đủ các giá trị xã hội để tham gia vào các hoạt động xã hội.
Vai trò chủ đạo của nhà giáo dục được thể hiện ở những mặt sau:
- Quán triệt mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục và chuyển tải tới đối tượng giáo dục. - Định
 Mối quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục : Đây là mối quan hệ sư phạm – một loại quan
hướng sự phát triển nhân cách đối tượng giáo dục theo đúng mục đích giáo dục của Đảng và Nhà nước đã đề hệ xã hội đặc thù.
ra và mục tiêu giáo dục cụ thể của nhà trường.
- Nhà giáo dục là người tổ chức, điều khiển toàn bộ quá trình giáo dục: xác định mục tiêu, lựa chọn
3. Nêu bản chất của QTGD
nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức, hướng dẫn người được giáo dục; kiểm tra, đánh giá kết quả quá trình giáo dục.
Bản chất của quá trình GD là: quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các hoạt động và giao lưu cho người được
- Có kế hoạch, phương pháp tổ chức hợp lí, khoa học, hệ thống các hoạt động giáo dục trong và
giáo dục tham gia một cách tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo nhằm chuyển hóa những yêu cầu và những ngoài nhà trường.
chuẩn mực của xã hội quy định thành hành vi và thói quen hành vi tương ứng ở họ trên cơ sở đó, thực hiện tốt
- Phát huy được ý thức tự giác, tính chủ động, tích cực tự giáo dục của học sinh.
- Phối hợp kết hợp với các lực lượng giáo dục (nhà trường, gia đình, xã hội) tạo nên những tác động
các nhiệm vụ giáo dục.
đồng bộ, thống nhất đến người được giáo dục.
6. Đối tượng giáo dục
4. Phân tích bản chất của QTGD
Đối tượng giáo dục - người được GD ở trường phổ thông là cá nhân hay tập thể học sinh. Người được
GD đóng vai trò vừa là khách thể vừa là chủ thể của quá trình giáo dục.
a. QTGD - quá trình xã hội giúp đối tượng giáo dục biến các yêu cầu khách quan thành yêu cầu chủ quan
Với tư cách là khách thể của quá trình giáo dục, các em nhận sự tác động có định hướng, có kế hoạch, của cá nhân
có phương pháp, có tổ chức và có hệ thống của nhà giáo dục.
Với tư cách là chủ thể của quá trình giáo dục, các em tiếp nhận các tác động giáo dục một cách có
 QTGD nhằm hình thành và pt cá nhân con người trở thành những thành viên xh o Những
chọn lọc thông qua lăng kính chủ quan của mình và tự vận động, biến các yêu cầu giáo dục bên ngoài thành
thành viên này phải thoả mãn được 2 mặt
nhu cầu được giáo dục bên trong của bản thân.
 Vừa phù hợp (thích ứng) với các yêu cầu xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển
Trong quá trình giáo dục, người được GD luôn thể hiện vai trò chủ động, tích cực, độc lập, sáng tạo
của mình, không phụ thuộc hoàn toàn vào nhà giáo dục, tự tìm ra cách thức, con đường tu dưỡng và rèn luyện
 Vừa có khả năng tác động cải tạo, xd xh làm cho nó tồn tại và pt
để phát triển và hoàn thiện nhân cách.
o Những nét bản chất của cá nhân con người chính là do các mối qhxh hợp thành lOMoAR cPSD| 61470371
o QTGD là quá trình làm cho ĐTGD ý thức được các qhxh và các giá trị của nó, biết vận dụng
Sự phát triển nhân cách của người được giáo dục chịu ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố: khách quan, chủ
vào các lĩnh vực của đsxh: kinh tế, văn hoá-xh, đạo đức, tôn giáo, pháp luật, gia đình, ứng xử…
quan; Bên trong, bên ngoài; Trực tiếp, gián tiếp; Có chủ định, không có chủ đinh; Tích cực, tiêu cực… đan
nhằm t/m nhu cầu của cá nhân và yêu cầu của xh.
xen vào nhau tác động tới người được giáo dục.
 Khi đứa trẻ mới sinh ra, ý thức, nhân cách của nó chưa được hình thành.
Quá trình giáo dục diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi con người, do đó quá trình giáo dục cũng luôn chịu sự tác
o Các chuẩn mực, quy tác… của xh vớn tồn tại khách quan bên ngoài, độc lập với đứa trẻ. o Quá
động của rất nhiều những yếu tố đó.
trình trẻ lớn lên trong mt văn minh của xh loài người, thẩm thấu những gía trị văn hoá của loài
 Yếu tố khách quan là những yếu tố môi trường KTXH, KHCN ảnh hưởng tới quá trình giáo dục (GD
người để tạo ra nhân cách của chính mình – quá trình xã hội hoá con người.
nhà trường), ảnh hưởng tới NĐGD.
o Đó là qt giúp trẻ biến những yêu cầu khách quan xủa xh thành ý thức, thành niềm tin và thái
Ví dụ: điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội, phong tục, tập quán, các hoạt động văn hóa, giáo
độ, thành những thuộc tính, những phẩm chất nhân cách của cá nhân.
dục, xã hội ngoài nhà trường, các hoạt động thông tin tuyên truyền qua các phương tiện và các kênh
o Bên cạnh đó, quá trình này cũng giúp đối tượng biết loại bỏ khỏi bản thân những quan niệm,
thông tin khác nhau…có ảnh hưởng tới.
những biểu hiện tiêu cực, tàn dư cũ, lạc hậu, không còn phù hợp với xã hội hiện đại.
 Yếu tố chủ quan là o các thành tố của quá trình giáo dục (mục đích, nội dung, phương pháp, phương
b. Quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho ĐTGD tiện…) cách
tổ chức được chủ thể và khách thể của quá trình giáo dục tác động để nó vận hành và phát triển
 QTGD là quá trình hình thành bản chất người – bản chất xh trong mỗi cá nhân một cách có ý thức, là
quá trình tổ chức để mỗi cá nhân chiếm lĩnh được các kinh nghiệm xh.
nhằm đem lại hiệu quả giáo dục;
o các yếu tố tâm lí, trình độ được giáo dục, điều kiện, hoàn cảnh gia đình,… của đối tượng giáo
 Hoạt động và giao lưu là 2 mặt cơ bản, thống nhất trong cs của con người và cũng là đk tất yếu của sự
hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân. Tâm lí học đã k/đ: hoạt động và giao lưu vừa là nguồn dục;
gốc, vừa là động lực của sự hình thành và phát triển nhân cách
o các mối quan hệ sư phạm được tạo ra trong quá trình tác động qua lại giữa học sinh với giáo
 Các thuyết về hoạt động đã chứng tỏ là con người muốn tồn tại và pt phải có hđ và giao lưu. Nếu các
viên, giữa học sinh với các lực lượng giáo dục khác
hđ và giao lưu của cá nhân (hoặc nhóm người) được tổ chức một cách khoa học với các đk, phương
=> QTGD luôn diễn ra dưới những tác động vừa phức tạp, vừa hỗn hợp của rất nhiều các yếu tố.
tiện hđ tiên tiến, phong phú, cá nhân được tham gia vào các hđ và giao lưu đó thì sẽ có rất nhiều cơ
=> Tuy nhiên, các yếu tố tác động đến quá trình giáo dục với nhiều mức độ khác nhau, chúng có thể thống
hội tốt cho sự phát triển.
nhất, hỗ trợ cho nhau trong quá trình giáo dục, cũng có thể có mâu thuẫn làm hạn chế, suy giảm, thậm chí
 Chính vì vậy, QTGD vừa mang tính chất của hđ, vừa mang tính chất của giao lưu. GD là một quá trình
làm vô hiệu hóa kết quả của quá trình giáo dục.
qua lại mang tính xh giữa nhà giáo dục và ĐTGD, giữa các ĐTGD với nhau và với các lực lượng, các
qh xh trong và ngoài nhà trường.
=> Chính vì vậy, quá trình giáo dục chỉ có thể đạt được mục tiêu của mình khi nhà giáo dục biết chủ động
phối hợp thống nhất các tác động giáo dục (gia đình, nhà trường, xã hội) nhằm phát huy những tác động tích 5. KLSP
cực và hạn chế những tác động tiêu cực tác động tới người được giáo dục.
- Cần tổ chức các hđ và giao lưu đa dạng, phong phú, hấp dẫn cho học sinh
b. QTGD là một quá trình diễn ra lâu dài
- Bồi dưỡng tính tự tin và tinh thần tập thể cho học sinh trong khi tổ chức các hđ GD
=> Nhận xét: Mục tiêu của quá trình giáo dục là hình thành quan điểm, thế giới quan, nhân sinh quan, niềm
- Phát huy tính tích cực của hs trong các hđ do nhường tổ chức
tin, lý tưởng, phẩm chất nhân cách của người công dân, người lao động mà xã hội yêu cầu ở người được
giáo dục. Để thực hiện mục tiêu đó đòi hỏi quá trình giáo dục phải diễn ra một thời gian dài mới đạt được
Câu 10. Đặc điểm của QTGD
kết quả và thực tiễn giáo dục đã cho thấy: giáo dục diễn ra suốt cuộc đời mỗi người.
1. Khái niệm QTGD (nghĩa hẹp)
=> Tính chất lâu dài của QTGD được xem xét ở các góc độ sau:
QTGD lầ một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà GD, người được GD tự giác, tích cực, chủ động
 Việc hình thành hành vi và thói quen hành vi đúng đắn ở người được GD, đòi hỏi quá trình giáo dục
tự GD nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ GD.
phải tác động đến nhận thức, tạo lập xúc cảm, tình cảm tích cực đối với hành vi đó đồng thời người
được giáo dục phải trải qua một quá trình luyện tập, trải nghiệm để lặp đi lặp lại hành vi đó trở thành 2. Đặc điểm của QTGD
thói quen bền vững gắn với nhu cầu của họ. Vì vậy quá trình giáo dục đòi hỏi trong một thời gian
a. QTGD diễn ra dưới những tác động phức hợp
dài, liên tục mới có được kết quả.
 Trong quá trình hình thành quan điểm, thái độ, niềm tin, thói quen hành vi mới phù hợp với các
CMXH (chuẩn mực xã hội) quy định ở người được giáo dục , bản thân người được giáo dục cũng lOMoAR cPSD| 61470371
luôn phải diễn ra cuộc đấu tranh động cơ giữa cái cũ và cái mới cần phải hình thành (quan điểm,
 Mục đích cuối cùng của giáo dục là phát triển con người có đủ tài và đức để đáp ứng các yêu cầu của
niềm tin, giá trị, hành vi, thói quen hành vi mới). Thông thường, những cái cũ, lạc hậu thường tồn tại
xã hội, đủ sức cạnh tranh và phát triển. Vì vậy trong công tác giáo dục nói chung, giáo dục ở nhà
dai dẳng khó thay đổi, đặc biệt là những thói quen hành vi xấu đã được tạo lập ở mỗi người. Nếu
trường nói riêng tránh tách rời hai quá trình giáo dục và quá trình dạy họ.
người được giáo dục không quyết tâm thay đổi thì cái cũ lại nhanh chóng quay trở lại và cái mới khó
Tóm lại: Trên đây là những đặc điểm cơ bản của quá trình giáo dục. Để thực hiện tốt quá trình giáo dục, các được hình thành.
nhà giáo dục cần nghiên cứu kỹ và nắm vững được những đặc điểm nêu trên của quá trình giáo dục.
=> Vì vậy, QTGD muốn đạt được mục tiêu, hiệu quả GD đòi hỏi nhà GD ko được nôn nóng, vôi vàng đốt
cháy giai đoạn mà cần phải kiên trì, bền bỉ, liên tục tác động cùng với sự tự giác, nỗ lực quyết tâm tự rèn
Câu 11. Các khâu của QTGD
luyện của người được GD. 1. Khái niệm
c. QTGD mang tính cá biệt, cụ thể a. QTGD (nghĩa hẹp):
 Quá trình giáo dục phải tính đến đặc điểm của từng nhóm đối tượng, từng đối tượng giáo dục cụ thể:
là quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà giao sdujc mà người được GD tự giác, tích cực, chủ động
đặc điểm tâm sinh lý, trình độ được giáo dục, kinh nghiệm sống, thái độ, hành vi, thói quen, điều
tự GD nhằm thực hiện các nhiệm vụ GD.
kiện hoàn cảnh sống,…khi thực hiện tổ chức các hoạt động giáo dục và đưa ra những quyết định của b. Logic của QTGD: nhà giáo dục.
 Quá trình giáo dục diễn ra trong thời gian, thời điểm, không gian với những điều kiện, hoàn cảnh cụ
Logic của QTGD là trình tự vận động hợp quy luật của QTGD, nhằm đảm bảo cho người được GD đi từ trình
thể. Do đó quá trình giáo dục phải trên cơ sở những điều kiện cụ thể của tình huống giáo dục để có
độ tri thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi, thói quen hành vi phù hợp với các CMXH tương ứng ừ lúc bắt đầu
những yêu cầu và tác động phù hợp đối với người được giáo dục.
tham gia một hđ GD nào đó, đến trình độ tri thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi, thói quen hành vi phù hợp
 Quá trình giáo dục phải đặc biệt chú ý luyện tập và rèn luyện các thao tác, kĩ năng hành động ở người
với các CMXH, tương ứng cới lúc kết thúc hđ GD.
được giáo dục thể hiện theo các yêu cầu, nội dung, chuẩn mực xã hội về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực
2. Kể tên các khâu của QTGD
trong đời sống của cá nhân nhưng vẫn thể hiện nét tính cách độc đáo riêng của mỗi con người.
a. Tổ chức điều khiển NĐGD nắm vững những tri thức về các CMXH đã quy định
 Bên cạnh những tác động chung, đòi hỏi nhà giáo dục cần phải có những tác động riêng phù hợp với
từng đối tượng giáo dục trong từng bối cảnh cụ thể. Tuyệt đối tránh các cách giáo dục rập khuôn máy
b. Tổ chức điều khiển NĐGD hình thành niềm tin và tình cảm tích cực với các CMXH quy định
móc, hình thức bởi, với cách giáo dục đó sẽ mang lại thất bại, tác động phản giáo dục.
c. Tổ chức điều khiển NĐGD hình thành hành vi và thói quen phù hợp với các CMXH đã quy định
 Kết quả giáo dục cũng mang tính cụ thể của một quá trình giáo dục cho từng đối tượng, từng nhóm
đối tượng giáo dục cụ thể, đối với từng mặt, từng yêu cầu cụ thể…., trong những điều kiện, hoàn 3. Phân tích cảnh nhất định
3.1. Tổ chức điều khiển NĐGD nắm vững những tri thức về các CMXH đã quy định
d. QTGD thống nhất biện chứng với QTDH
 Các CMXH là thước đo giá trị hành vi của con người được xh thừa nhận, có tác dụng định hướng, điều
 QTDH và QTGD là hai quá trình bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể có mối quan hệ thống nhất
tiết hành vi của cá nhân, của nhóm xh trong những đk nhất định. CMXH cũng chính là những điều
biện chứng với nhau. Sự thống nhất của hai quá trình này là cùng hướng tới phát triển nhân cách toàn
kiện mà xh kiểm tra hvi của cá nhân và cá nhân lại có thể sử dụng nó để kiểm tra hành vi của mình
diện cho người học đáp ứng các yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, mỗi quá trình có chức năng, nhiệm vụ
trên cơ sở đó hướng tới sự phát triển xh.
riêng nên giữa chúng có sự tác động qua lại, hỗ trợ, đan xen bổ xung cho nhau cùng đem lại sự phát
 Trong xh tồn tại rất nhiều hệ thống các giá trị CMXH:
triển nhân cách của người học.
o Giá trị chuẩn mực về pháp luật o
 Nhiệm vụ của QTDH không những chỉ hình thành cho người học tri trức, kỹ năng kỹ xảo, phát triển
Chuẩn mực về đạo đức o Chuẩn mực
năng lực hoạt động trí tuệ mà còn hình thành phẩm chất nhân cách của người công dân, người lao
về truyền thống o Chuẩn mực về
động. Hay ta thường nói: thông qua “dạy chữ” để “dạy người”.
phong tục tập quán o Chuẩn mực về
 Ngược lại: nhờ có QTGD mà người được giáo dục xây dựng được thế giới quan khoa học, động cơ thẩm mỹ…
thái độ học tập đúng đắn, thói quen hành vi tích cực… Chính kết quả giáo dục này sẽ tạo điều kiện
=> Trong đó, nhiều loại chuẩn mực về đạo đức, pháp luật đã được lựa chọn và đưa vào nd QTGD
thúc đẩy hoạt động học tập của người học nói riêng, hoạt động dạy học nói chung vận động phát
 Nhận thức là cơ sở, là kim chỉ nam cho sự hình thành và điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của mỗi triển.
cá nhân. Muốn NĐGD tự giác tích cực thực hiện theo các CMXH đã quy định. Đòi hỏi NGD cần phải lOMoAR cPSD| 61470371
tác động tới nhận thức của NĐGD, giúp cho NĐGD nắm vững được những tri thức về các chuẩn mực
 Nhân cách của mỗi con người được thể hiện bằng hành vi và thói quen hành vi của họ chứ ko chỉ dừng bao gồm:
lại ở sự hiểu biết của họ. Hành vi biểu hiện cụ thể nhất ở bộ mặt tâm lí, đạo đức của con người.
o Ý nghĩa xh và ý nghĩa cá nhân của các CMXH quy định o Nội
 Mục đích của QTGD là hình thành ở NĐGD phẩm chất nhân cách của người công dân, người lao động
dung của các chuẩn mực (bao gồm các khái niệm tương ứng) o Cách đáp ứng yêu cầu xh.
thức thực hiệm theo các yêu cầu chuẩn mực đó
o Do đó, QTGD quan trong nhất là phải tổ chức, điều khiển NĐGD tham gia vào những mối qh
hđ và giao lưu để họ tự rèn luyện nhằm hình thành những hvi phù hợp với các CMXH và lặp
=> Tuy nhiên, kết quả của quá trình nhận thức đó phụ thuộc vào trình độ văn hoá, kinh nghiệm
đi lặp lại những hvi đó thành thói quen tương ứng.
sống, sự trải nghiệm của mỗi người, là sp của quá trình học tập tập và tự tu dưỡng. Quá đó những
o Bởi hvi văn hoá khi đã trở thành thói quen sẽ mang tính bề vững và tự động hoá trong cách
khái niệm về đạo đức, về quyền lợi và nghĩa vụ, về quy tắc sống, CMXH, những giá trị văn hoá sẽ được hình thành.
ứng sử của mọi tình huống cs hằng ngày của NĐGD.
 Hvi và thói quen hvi của mỗi người được hình thành trong qt hđ và được rèn luyện trong các tình
3.2. Tổ chức điều khiển NĐGD hình thành niềm tin và tình cảm tích cực với các CMXH quy định
huống cụ thể, đa dạng của cs. GD hvi, thói quen hvi có văn hoá là kết quả của cả 1 qt học tập tu dưỡng
 Chính trong quá trình hình thành, phát triển tri thức về các CMXH cho NĐGD thì thái độ, niềm tin,
và rèn luyện lâu dài của NĐGD.
tình cảm tích cực đvs các CMXH ở họ dần được hình thành.
=> Chính vì vây, QTGD phảu tổ chức các hđ đa dạng phong phú dưới nhiều hình thức khác nhau và
 Trong QTGD, niềm tin đvs các CMXH được thể hiện ở NĐGD theo các mức độ tăng dần như sau: o
ngày càng phức tạp; đồng thời chú ý bồi dưỡng cho NĐGD ý thức tự rèn luyện, năng lực tự ktra, tự ĐG
NĐGD nắm được những tri thức về các CMXH o Tin về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn đvs
thường xuyên trên cơ sở đó các thói quen hvi đạo đức của NĐGD mới được hình thành.
tính chân lý đúng đắn của các CMXH o Mong muốn tuân theo những yêu cầu được phản ánh trong
các CMXH o Bước đầu có hành vi phù hợp với các CMXH o Hài lòng về hành vi của mình khi đã
 Lưu ý: những hvi hình thành ở NĐGD phải t/m các tiêu chí sau đây: o Hvi đó có phù hợp với các
CMXH quy định hay ko? o Hvi đó có được thể hiện ở mọi nơi mọi lúc hay ko? o Hvi có được duy trì
hoàn thành phù hợp với các CMXH o Tỏ thái độ ko khoan nhướng đvs những hành vi của người khác
bền vững theo thời gian hay ko? o Hvi đó có động cơ đúng hay sai? Có ý nghĩa xh và cá nhân ntn?
có mâu thuẫn với những CMXH  Chính niềm tin đó cùng với tri thức tương ứng thu lượm được sẽ
tạo nên ở NĐGD ý thức đúng đắn. Trong qt hình thành ý thức nói chung, niềm tin nói riêng cho NĐGD Kết luận:
đã làm nảy nở những xúc cảm, tình cảm tốt đẹp đvs các CMXH. Những xúc cảm, tình cảm tích cực
Các khâu trên đây của QTGD tác động đồng bộ tới nhận thức, tình cảm, hvi thói quen của NĐGD có mối qh
như là những “chất men” kích thuchs người được giáo dục chuyển hoá ý thức cá nhân thành hành vi
mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau thậm trí là thâm nhập vào nhau: thói quen tương ứng.
- Nhận thức là cơ sở là đk cần cho việc hình thành tình cảm, hvi tương ứng ở NĐGH
 Kinh nghiệm thực tiễn GD cho thấy:
- Niềm tin, tình cảm là động lực thúc đẩy cá nhân hđ để biến nhận thức thành hđ
o Nếu ý thức về các CMXH của NĐGD bị hạn chế thì tình cảm tương ứng cũng bị hạn chếm
- Việc thể nghiệm hvi và rèn luện hvi là yếu tố quyến định sự hình thành pt nhân cách của NĐGD
điều đó dẫn tói hành vi tương ứng mang tính chất hình thức, thậm chí ko hình thành hoặc rơi
vào tình trạng sai lệch.
Trong thực tiễn GD, khi vận dụng các khâu của QTGD đòi hỏi mà nhà GD ko nhất thiết phải tuân theo trình
o Nếu NĐGD có nhận thức đúng về các CMXh mà ko có tình cảm tương ứng thì hành vi tương
tự các khâu nêu trên. Việc vận dựng các khâu sao cho phù hợp với từng đối tượng, yêu cầu, nhiệm vụ giáo
ứng sẽ khô khan cứng nhắc và thậm chí ko hình thành hay sai lệch:
dục và hoàn cảnh cụ thể nhằm phát huy tính hiệu quả của QTGD.
“Yêu nên tốt, ghét nên xấu”
Câu 12. Phương pháp giáo dục
o Nếu NĐGD nắm chắc các CMXH một cách không tự giác sẽ dẫn đến tình trạng nói là làm
không đi đôi với nhau và kết quả GD là hình thành bộ mặt nhân cách giả tạo.
(*)Trình bày khái niệm và đặc điểm của phương pháp giáo dục 1. Khái niệm KLSP:
 Phương pháp là một thành tố quan trọng của quá trình giáo dục. Thực tiễn hoạt động giáo dục cho
Đối với các trường phổ thông thì công tác giáo dục thái độ, niềm tin, tình cảm tích cực cho học sinh đối với
thấy: trong cùng một hoạt động giáo dục với mục tiêu, chủ thể, đối tượng, điều kiện, phương tiện thực
việc học tập, các mối quan hệ gia đình, bè bạn, xã hội, đối với tự nhiên và môi trường xung quanh là điều có
hiện hoạt động là như nhau nhưng kết quả của hoạt động mang lại khác nhau. Có thể lí giải sự khác
nhau này chính là do phương pháp tiến hành hoạt động đó có sự khác nhau. o Phương pháp là từ gốc
ý nghĩa rất quan trọng. Giáo dục xây dựng niềm tin cho các em vào chân lí, lẽ phải, giáo dục tình cảm yêu
tiếng Hy Lạp “Metodos” có nghĩa là con đường theo dõi đối tượng. o Phương pháp cũng đồng nghĩa
mến, kính trọng thầy cô giáo, cha mẹ; thân ái với bạn bè,… và đồng thời chú ý uốn nắn, điều chỉnh kịp thời
với biện pháp kỹ thuật, biện pháp khoa học, tổ hợp những quy luật, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động của
con người đạt đến mục đích đặt ra…
những biểu hiện thái độ lệch lạc, thiếu trong sáng làm ảnh hưởng tới hiệu quả quá trình giáo dục.
o Theo quan niệm của Hêghen: “Phương pháp là ý thức về hình thức vận động bên trong của nội
3.3. Tổ chức điều khiển NĐGD hình thành hành vi và thói quen phù hợp với các CMXH đã quy định
dung sự vật” (V.I.Lênin, 1963, Bút kí triết học, Nxb Sự thật, tr 103). Hình thức vận động bên lOMoAR cPSD| 61470371
ngoài nhưng lại có liên quan đến nội dung (các quy luật) của sự vật. Điều này có nghĩa là muốn
1. Khái niệm phương pháp giáo dục
có phương pháp thì cần phải nhận thức và hành động tuân theo các quy luật của sự vật hiện
Phương pháp giáo dục là hệ thống cách thức hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục thực
tượng mà con người đã nhận thức được.
hiện trong sự thống nhất với nhau nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục phù hợp với mục đích giáo dục
o Theo Paplop: “Phương pháp khoa học là những quy luật nội tại của sự vận động của tư duy với đặt ra.
tư cách là sự phản ánh chủ quan về thế giới khách quan” … “là những quy luật khách quan
được “chuyển” và “dịch” trong ý thức của con người và được sử dụng một cách có ý thức và
2. Một số cách phân loại các phương pháp giáo dục
có hệ thống như một phương tiện để giải thích và cải tạo thế giới” (Tôđo Páp lốp, 1949, Lí luận
Dựa trên cơ sở quy trình các khâu của quá trình giáo dục, ta có 3 nhóm phương pháp giáo dục sau đây:
phản ánh, Mát cơ va, Sách tiếng Nga). Như vậy muốn có phương pháp thì cần phải nhận thức
+ Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân của người được giáo dục về các chuẩn mực xã
được quy luật khách quan và hành động phù hợp với quy luật khách quan đó.
hội quy định (Đàm thoại, Kể chuyện, Giảng giải, Nêu gương)
=> Từ các quan niệm nêu trên về phương pháp ta có thể định nghĩa một cách khái quát về phương pháp như
sau: Phương pháp là con đường, là cách thức hoặc trình tự thực hiện các công việc cụ thể để đạt được mục
+ Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động hình thành hành vi và thói quen hành vi ứng xử cho tiêu đặt ra.
người được giáo dục phù hợp với các chuẩn mực xã hội (CMXH) quy định (Phương pháp giao việc, Phương
pháp tập luyện, Phương pháp rèn luyện)
 Như chúng ta đã biết, bản chất của quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, các hoạt động và
giao lưu cho người được giáo dục tham gia nhằm giúp người được giáo dục chuyển hóa các yêu cầu
+ Nhóm các phương pháp kích thích và điều chỉnh hành vi ứng xử của người được giáo dục phù
chuẩn mực xã hội thành hành vi và thói quen hành vi tương ứng ở họ. Chính vì vậy, bản chất phương
hợp với các CMXH quy định (Khen thưởng, Trách phạt, Phương pháp thi đua )
pháp giáo dục là cách thức tổ chức cuộc sống, các hoạt động và giao lưu cho người được giáo dục
Các cách phân chia phương pháp giáo dục nêu trên đều dựa trên các cách tiếp cận khác nhau và
tham gia ở gia đình, nhà trường và xã hội nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đặt ra.
tùy thuộc vào mục đích, mục tiêu giáo dục đặt ra mà nhà giáo dục lựa chọn, sử dụng các phương pháp giáo
 Trong quá trình giáo dục luôn bao gồm sự tác động qua lại của hai chủ thể giáo dục là nhà giáo dục dục cho phù hợp.
giáo dục) và người được giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đặt ra. Mỗi chủ thể có vai trò,
3. Hệ thống các phương pháp giáo dục
chức năng riêng trong quá trình giáo dục. Nhà giáo dục có vai trò là người tổ chức các hoạt động giáo
dục nhằm tạo môi trường giáo dục tích cực để người được giáo dục tham gia trên cơ sở đó thực hiện
Theo cách phân loại phổ biến về hệ thống các phương pháp giáo dục - cách phân loại dựa trên cơ sở
tốt các nhiệm vụ giáo dục. Bên cạnh đó, người được giáo dục với tư cách là chủ thể hoạt động quyết
logic của quá trình giáo dục, hệ thống các phương pháp giáo dục bao gồm:
định sự lựa chọn các tác động giáo dục từ môi trường và quyết định sự phát triển nhân cách của bản
(1) Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân của người được giáo dục
thân. Vì vậy trong quá trình giáo dục, phương pháp giáo dục được hiểu như sau: - Đàm thoại
Phương pháp giáo dục là hệ thống cách thức hoạt động của nhà giáo dục và người được - Kể chuyện
giáo dục thực hiện trong sự thống nhất với nhau nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục - Giảng giải
phù hợp với mục đích giáo dục đặt ra. - Nêu gương
=> Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra đòi hỏi hệ thống các cách thức hành động của nhà giáo
(2) Nhóm các PP hình thành hành vi và thói quen hành vi của người được giáo dục
dục phải phù hợp với bản chất, quy luật của quá trình giáo dục và đối tượng giáo dục. - Yêu cầu sư phạm 2. Đặc trưng - Luyện tập
Phương pháp giáo dục là một khái niệm phức hợp, có nhiều bình diện, phương diện khác nhau. Có thể nêu ra - Rèn luyện
một số đặc trưng của phương pháp giáo dục như sau:
(3) Nhóm các PP kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của người được giáo dục
 Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở định hướng của mục đích giáo dục.
 Phương pháp giáo dục là sự thống nhất của cách thức tổ chức của nhà giáo dục và cách thức tham gia - Khen thưởng
tích cực tự giáo dục của người được giáo dục. - Trách phạt
 Phương pháp giáo dục thực hiện thống nhất tác động tới nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử của
người được giáo dục trong quá trình giáo dục. - Thi đua
 Phương pháp giáo dục là sự thống nhất của logic nội dung giáo dục và lôgic tâm lý của người được
Cách phân chia các phương pháp giáo dục thành 3 nhóm phương pháp nêu trên chỉ có tính chất tương giáo dục.
đối. Quá trình giáo dục tác động tới người được giáo dục không nhất thiết phải tuần tự tác động tới nhận thức,
 Phương pháp giáo dục có tính khách quan và chủ quan.
cảm xúc, tình cảm rồi mới tác động tới hành vi, thói quen hành vi ứng xử của người được giáo dục. Trong thực
 Phương pháp giáo dục là sự thống nhất của cách thức hành động với điều kiện phương tiện giáo dục.
tiễn giáo dục, các tác động giáo dục luôn đan xen vào nhau, hỗ trợ cho nhau và thực hiện một cách linh hoạt
 Phương pháp giáo dục phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng giáo
với những đặc điểm tâm lý lứa tuổi của người được giáo dục khác nhau, trong những tình huống, bối cảnh dục cụ thể.
giáo dục đa dạng của cuộc sống.
Kết luận: để có hiệu quả của hoạt động giáo dục đòi hỏi nhà giáo dục khi lựa chọn, sử dụng các phương
(*) Trình bày và phân tích nội dung của PP đàm thoại trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
pháp giáo dục cần phải tìm hiểu, nghiên cứu kĩ mục đích, mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, đối tượng, phương
Đàm thoại là phương pháp trò chuyện chủ yếu giữa nhà giáo dục và người được giáo dục về các chủ đề có
tiện, môi trường, hoàn cảnh giáo dục cụ thể.
liên quan đến các CMXH nói chung, các chuẩn mực đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ nói riêng bằng một hệ thống
các câu hỏi do nhà giáo dục chuẩn bị trước.
(*)Trình bày hệ thống các phương pháp giáo dục lOMoAR cPSD| 61470371
Các loại đàm thoại: tùy vào mục tiêu của hoạt động đàm thoại, ta có các loại như sau: đàm thoại gợi mở,
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
đàm thoại củng cố, hệ thống hoá...
Ý nghĩa của phương pháp đàm thoại:
(*) Trình bày và phân tích nội dung của phương pháp giảng giải trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
+ Thông qua đàm thoại, người được giáo dục có cơ hội giải thích, đánh giá những sự kiện, hiện tượng có liên
Giảng giải là phương pháp trong đó, nhà giáo dục dùng lời nói để giải thích, chứng minh các CMXH đã
quan đến các hành vi tích cực hay tiêu cực, giải thích những tình huống đạo đức, pháp luật…trên cơ sở đó
được quy định, nhằm giúp cho người được giáo dục hiểu và nắm được ý nghĩa, nội dung, quy tắc thực hiện
nắm vững được những tri thức về các CMXH quy định và từ đó rút ra những kết luận bổ ích cho bản thân. các chuẩn mực này.
+ Thông qua đàm thoại, người được giáo dục có điều kiện để khắc sâu, phát triển, hệ thống hoá những vấn đề
Ý nghĩa phương pháp giảng giải:
có liên quan đến các CMXH đã được giáo dục, từ đó hình thành, phát triển xúc cảm, tình cảm tích cực đối với các CMXH.
+ Người được giáo dục nắm vững những tri thức về các CMXH một cách tự giác trên cơ sở những luận
cứ, luận chứng khoa học, ví dụ cụ thể, rõ ràng… thông qua cách phân tích, giảng giải của nhà giáo dục.
+ Qua đàm thoại sẽ hình thành và phát triển được ở người được giáo dục niềm tin đối với các CMXH và trên
cơ sở đó hình thành được ý thức cá nhân của người được giáo dục đối với các CMXH quy định.
+ Thông qua giảng giải giúp hình thành niềm tin ở người được giáo dục về các CMXH quy định.
Yêu cầu thực hiện phương pháp đàm thoại:
+ Qua giảng giải người được giáo dục tránh được các tình trạng: nắm các CMXH, mù quáng, máy móc,
hình thức dẫn đến những hành vi tương ứng không tự giác.
+ Công tác chuẩn bị đàm thoại:
- Yêu cầu trong quá trình giảng giải:
Nhà giáo dục cần xác định rõ chủ đề, mục tiêu, nội dung của buổi đàm thoại; xây dựng hệ thống câu hỏi
(chính – phụ) và thông báo cho người được GD chuẩn bị trước.
+ Chuẩn bị nội dung diễn giải đầy đủ, chính xác, đáp ứng các câu hỏi: Tại sao? Nội dung gồm? Thực hiện theo quy tắc nào?
+ Tổ chức đàm thoại: Người tổ chức nêu lên chủ đề, mục tiêu, nội dung và các câu hỏi đặt ra của buổi đàm
thoại; Sau đó tổ chức trò chuyện giữa nhà giáo dục với người được giáo dục và giữa những người được giáo + Khi giảng giải phải:
dục với nhau; Các ý kiến được lật đi lật lại cho đến khi hoàn thành mục tiêu chủ đề đàm thoại.
● Lời nói: rõ ràng, khúc chiết, không lan man dài dòng.
● Lập luận: chính xác, dễ hiểu, lô gíc.
+ Kết thúc đàm thoại: Nhà giáo dục cần kích thích những người được giáo dục rút ra những kết luận, bài học
● Minh họa: Tranh ảnh, băng hình (nếu cần), giáo dục thực tế gần gũi đời thường của
cần thiết đối với bản thân và những người xung quanh. Sau cùng nhà giáo dục tổng kết đánh giá kết quả đàm
người được giáo dục. thoại.
● Có thể và nên thu hút người được giáo dục tham gia vào giải thích chứng minh… và
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
rút ra kết luận trong quá trình giảng giải.
● Nên liên hệ để người được giáo dục liên hệ với thực tế, với bản thân.
(*)Trình bày và phân tích nội dung của PP kể chuyện trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
Kể chuyện là phương pháp tác động rất mạnh mẽ tới cảm xúc của người nghe thông qua cách thức
kể chuyện của người kể và các nhân vật, tình huống trong nội dung của cốt truyện. Vì vậy, kể chuyện là
(*)Trình bày và phân tích nội dung của PP nêu gương trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
phương pháp được sử dụng rất phổ biến trong quá trình giáo dục với những người được giáo dục nhỏ tuổi.
Nêu gương là phương pháp dùng những tấm gương sáng của các cá nhân hoặc của tập thể để kích thích -
Định nghĩa kể chuyện là phương pháp nhà giáo dục dùng lời nói, điệu bộ, cử chỉ, nét
những người được giáo dục học tập và làm theo.
mặt để thuật lại một cách sinh động một câu chuyện có ý nghĩa giáo dục.
Phương pháp nêu gương có thể dùng những tấm gương tốt để người được giáo dục học tập và gương xấu -
Ý nghĩa của phương pháp kể chuyện:
để tránh những hành vi tương tự.
+ Qua nội dung truyện kể và cách thức kể chuyện, người được giáo dục sẽ hình thành phát triển tri
+ Nêu gương tốt (chính diện) nhằm giúp người được giáo dục khắc phục những khó khăn gặp phải
thức, xúc cảm tình cảm tích cực, niềm tin đúng đắn đối với các CMXH.
của bản thân, học tập và làm theo gương tốt, hướng vào những hành vi tích cực (làm việc thiện).
+ Người được giáo dục sẽ học tập được những gương tốt và tránh được những gương phản diện với
Ví dụ về những tấm gương tốt: học sinh học giỏi, giúp đỡ bạn, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn,
óc phê phán nhận xét, đánh giá thông qua nội dung câu chuyện. - Yêu cầu khi thực hiện phương pháp kể
luôn có trách nhiệm, nhiệt tình trong các hoạt động, “sinh viên nghèo vượt khó”, “các nhà doanh nghiệp trẻ”, chuyện:
lao động giỏi, dũng cảm hy sinh vì nước vì dân, …
+ Lựa chọn truyện kể: Nhà giáo dục cần trên cơ sở mục tiêu giáo dục, với đối tượng giáo dục cụ thể
+ Nêu gương xấu (gương phản diện) nhằm giúp người được giáo dục phân tích, tránh hành vi tương tự.
xác định chủ đề truyện kể; Lựa chọn cốt truyện được xây dựng phong phú, hấp dẫn chứa đựng các tình huống
giáo dục hướng tới mục tiêu giáo dục; Lưu ý khối lượng truyện kể phải phù hợp về mặt thời gian, phù hợp với
Ví dụ gương xấu như: lười học, chơi bời lêu lổng, cờ bạc rượu chè, ăn cắp, gây gổ, ăn nói vô lễ, trốn
trình độ nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý người được giáo dục. thuế…
+ Người kể chuyện phải thể hiện lời nói sinh động, giọng nói, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt phải phù hợp
Ý nghĩa phương pháp nêu gương:
với các tình tiết, các nhân vật trong cốt truyện. Nhằm gây sự tập trung chú ý, cảm xúc mạnh mẽ cho người
+ Qua nêu gương, nhà giáo dục sẽ giúp người được giáo dục phát triển năng lực phê phán, đánh giá
được giáo dục; Lưu ý có thể có thể kết hợp với băng hình, các bức tranh ảnh minh hoạ cho những tình huống
được hành vi của người khác và rút ra những kết luận bổ ích. nổi bật.
+ Người được giáo dục biết học những gương tốt đồng thời biết tránh gương xấu trong cuộc sống và các hoạt
+ Sau khi kể chuyện : Đối với người được giáo dục tuổi nhỏ, nhà giáo dục có thể yêu cầu trẻ tập kể động thực tiễn.
lại và nêu một số câu hỏi cho người được giáo dục trao đổi nhằm khắc sâu những bài học về các CMXH, củng
cố niềm tin đối với các CMXH và phát triển năng lực tưởng tượng sáng tạo của người được giáo dục. lOMoAR cPSD| 61470371
+ Qua việc phân tích, đánh giá của nhà giáo dục về những tấm gương sẽ giúp người được giáo dục hình thành
Tập luyện là phương pháp tổ chức cho người được giáo dục thực hiện một cách đều đặn và có kế hoạch
niềm tin về các CMXH và mong muốn có những hành vi phù hợp với các CMXH quy định.
các hoạt động nhất định, nhằm biến những hành động đó thành những thói quen ứng xử ở người được giáo
Yêu cầu thực hiện phương pháp nêu gương: dục.
+ Trên cơ sở: mục tiêu, nội dung giáo dục cụ thể, đặc điểm tâm sinh lí của người được giáo dục, nhà
Ý nghĩa của phương pháp luyện tập:
giáo dục lựa chọn những tấm gương sáng và gương phản diện cho phù hợp. Tránh lạm dụng những gương
+ Người được giáo dục có môi trường hoạt động thực tiễn để trải nghiệm, củng cố, phát triển niềm tin đối
phản diện vì dễ dẫn tới tác dụng phản giáo dục.
với các CMXH và biến ý thức cá nhân về các CMXH thành những hành vi tương ứng ở họ.
+ Những tấm gương lựa chọn phải thoả mãn điều kiện sau đây:
+ Người được giáo dục có môi trường hoạt động thực tiễn để lặp đi lặp lại các hành vi hoạt động theo quy
● Gần gũi với cuộc sống đời thường của người được giáo dục, tránh xa lạ, không thích
trình xác định trên cơ sở đó tạo lập thành những thói quen hành vi ứng xử tương ứng ở họ, đảm bảo tính bền hợp.
vững của hành vi ứng xử phù hợp với các CMXH quy định ở người được giáo dục.
● Có tính điển hình, cụ thể. Tránh lan man, chung chung.
Yêu cầu khi thực hiện phương pháp luyện tập:
● Phải có tính khả thi với người được giáo dục. “Tránh” quá lý tưởng nên người được
giáo dục chỉ có thể “chiêm ngưỡng” mà không bắt chước được.
+ Nhà giáo dục cần giúp cho người được giáo dục nắm được quy tắc hành vi và hình dung rõ hành vi đó
cần thực hiện như thế nào? để giúp họ có thể định hướng cho việc thực hiện hành vi qua tập luyện.
+ Trong quá trình nêu gương, nhà giáo dục nên khuyến khích người được giáo dục liên hệ thực tế, nêu
những tấm gương cần học tập, phê phán và tham gia tích cực vào phân tích, đánh giá những tấm gương đó để
+ Trong những trường hợp cần thiết, nhà giáo dục có thể làm mẫu cho người được giáo dục về những
rút ra kết luận bổ ích. hành vi cần tập luyện.
+ Nhà giáo dục cần phải tự rèn luyện, xây dựng nhân cách bản thân trở thành là một tấm gương sáng
+ Cần tạo điều kiện cho người được giáo dục tập luyện theo quy tắc hành vi, theo mẫu hành vi đã giới thiệu.
trước người được giáo dục.
+ Nhà giáo dục cần khuyến khích người được giáo dục tập luyện thường xuyên, lặp đi lặp lại những hành vi
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
đã tập luyện qua việc thực hiện chế độ sinh hoạt hàng ngày, các hoạt động thực tiễn của cuộc sống.
+ Nhà giáo dục cần tiến hành kiểm tra uốn nắn thường xuyên hành vi hoạt động của người được giáo dục theo
yêu cầu quy trình chuẩn đồng thời khuyến khích, động viên họ tự kiểm tra, tự uốn nắn hành vi của mình trong
(*) Trình bày và phân tích nội dung của phương pháp nêu yêu cầu sư phạm trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn quá trình luyện tập.
Giao việc (nêu yêu cầu sư phạm) là phương pháp nhà giáo dục lôi cuốn người được giáo dục vào các
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
hoạt động đa dạng với những công việc nhất định, với những nghĩa vụ cá nhân và xã hội nhất định mà người
được giáo dục phải hoàn thành.
- Ý nghĩa của phương pháp giao việc: Qua thực hiện công việc, hoạt động được giao người được giáo
(*)Trình bày và phân tích nội dung của PP rèn luyện trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
dục sẽ hình thành những hành vi, thói quen phù hợp với các yêu cầu công việc được giao, yêu cầu của các
Rèn luyện là phương pháp tổ chức cho người được giáo dục được thể nghiệm ý thức, tình cảm, hành vi
CMXH quy định và được thể hiện những kinh nghiệm ứng xử của mình trong mối quan hệ đa dạng.
của mình về các CMXH trong những tình huống đa dạng của cuộc sống. Qua đó hình thành và củng cố được
Yêu cầu thực hiện phương pháp giao việc:
những hành vi phù hợp với các CMXH đã quy định.
+ Trước khi giao việc, nhà giáo dục cần giúp người được giáo dục ý thức đầy đủ về ý nghĩa xã hội và ý nghĩa
Ý nghĩa của phương pháp rèn luyện:
cá nhân của công việc phải làm và kích thích họ tự giác, tích cực hoạt động thực hiện công việc được giao.
+ Thông qua những tình huống, hoạt động mới, đa dạng của cuộc sống thực, người được giáo dục được trải
+ Nhà giáo dục đưa ra những yêu cầu cụ thể mà người được giáo dục phải hoàn thành và giúp họ định hướng
nghiệm là chính mình đưa ra những quyết định và chịu trách nhiệm với những quyết định đó. Trên cơ sở đó
đúng đắn toàn bộ chuỗi hành động phải hoàn thành.
nhận ra mình là ai, những cái phù hợp và chưa phù hợp từ đó điều chỉnh bản thân đáp ứng yêu cầu của CMXH.
+ Giao việc phải tính tới hứng thú, năng khiếu, điều kiện thực tiễn và tính khả thi của hoạt động của người
+ Chính trong quá trình “thâm nhập” vào những tình huống mới, đa dạng của cuộc sống, người được giáo
được giáo dục nhằm phát huy thế mạnh ở họ trong hoạt động.
dục phải tiến hành cuộc đấu tranh động cơ để tự xác định động cơ đúng đắn, định hướng cho hoạt động nhằm
giải quyết đúng đắn những tình huống đó. Điều đó sẽ giúp cho ý thức về các CMXH ở người được giáo dục
+ Quá trình thực hiện hoạt động nhà giáo dục cần theo dõi, giúp đỡ tạo điều kiện (nếu cần) để người được
được khắc sâu, phát triển đảm bảo những hành vi, hoạt động tương ứng mang tính tự giác, bền vững cao và
GD hoàn thành mọi yêu cầu của công việc được giao.
hình thành thói quen hành vi tương ứng ở họ.
+ Cần kiểm tra đánh giá công khai kết quả hoàn thành công việc của cá nhân hay tập thể người được
+ Quá trình được trải nghiệm, lặp đi lặp lại những hành vi đó trong những tình huống khác nhau của cuộc
giáo dục. Lưu ý: nhà giáo dục luôn có nhận xét cụ thể, những chỉ dẫn hỗ trợ và khuyến khích, động viên người
sống thực sẽ giúp người được giáo dục biến những hành vi đó trở thành thói quen bền vững.
được giáo dục tiếp tục tham gia các hoạt động thực tiễn. Yêu cầu:
+ Có thể phát huy ý thức tự quản của tập thể học sinh bằng việc để tập thể học sinh giao việc cho cá
nhân trong các hoạt động của lớp mà không nhất thiết giáo viên giao việc.
+ Tạo cơ hội cho người được giáo dục “Thâm nhập” vào những tình huống đa dạng từ đơn giản đến phức
tạp, từ dễ đến khó của cuộc sống thực.
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
+ Tạo cơ hội cho người được giáo dục dựa vào kết quả của tập luyện, lặp đi lặp lại những hành vi đó trong
những tình huống khác nhau của cuộc sống thực để những hành vi đó trở thành thói quen bền vững.
(*)Trình bày và phân tích nội dung của PP luyện tập trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
+ Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra của nhà giáo dục và tự kiểm tra của người được giáo dục .
+ Tổ chức liên tục có hệ thống các hoạt động thông qua tình huống tự nhiên của cuộc sống thực hoặc
tạo ra những tình huống thích hợp nhằm thu hút người được giáo dục tích cực tham gia. lOMoAR cPSD| 61470371
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ
Trách phạt là phương pháp biểu thị sự không đồng tình, sự phản đối, sự phê phán những hành vi sai trái
của người được giáo dục so với các CMXH quy định.
(*)Trình bày và phân tích nội dung của PP khen thưởng trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
Ý nghĩa của việc trách phạt:
Khen thưởng là phương pháp biểu thị sự đồng tình, sự đánh giá tích cực của nhà giáo dục đối với thái độ,
+ Trách phạt sẽ buộc người mắc lỗi trong ứng xử phải ngừng ngay hành vi sai trái một cách tự giác, nâng
hành vi ứng xử của người được giáo dục trong những tình huống nhất định nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
cao ý thức tự kiềm chế trong tương lai không tái phạm nữa mà trái lại có những hành vi đúng đắn, tích cực đặt ra.
phù hợp với các CMXH quy định.
Ý nghĩa của khen thưởng:
+ Tạo cơ hội nhắc nhở những người khác không vi phạm các CMXH, không rơi vào những hành vi sai trái
như người bị trách phạt.
+ Khen thưởng là cách thức để khẳng định hành vi của người được giáo dục là đúng đắn, phù hợp với các CMXH đã quy định.
Các hình thức trách phạt :
+ Qua việc khen thưởng sẽ giúp người được giáo dục tự khẳng định những hành vi tốt của mình, củng cố
Tùy vào từng trường hợp mà nhà giáo dục có thể đưa ra quyết định hình thức, mức độ trách phạt phù hợp
và phát triển niềm tin đối với các CMXH có liên quan đến những hành vi tốt của mình đã thực hiện.
theo mức độ tăng dần như sau: Nhắc nhở (khuyên bảo), chê trách, phê bình, cảnh cáo, buộc thôi học, đuổi học.
+ Khen thưởng sẽ kích thích người được giáo dục duy trì, phát triển những hành vi tích cực đồng thời tránh
được những hành vi tiêu cực không phù hợp các CMXH.
Khi đưa ra quyết định lựa chọn hình thức, mức độ trách phạt đòi hỏi nhà giáo dục cần căn cứ vào các yếu tố sau đây:
Vì vậy có thể nói: khen thưởng là phương pháp rất quan trọng và có ý nghĩa sâu sắc đối với người được giáo
dục, khen thưởng mang lại sức mạnh và niềm tin cho người được giáo dục trong quá trình học tập và rèn luyện
+ Loại hình của hành vi sai lệch là học tập, lao động hay ứng xử ? sẽ có cách trách phạt khác nhau. bản thân.
+ Tính chất của hành vi sai lệch (Nghiêm trọng hay không nghiêm trọng? thường xuyên hay không thường
Các hình thức khen thưởng: Để lựa chọn đưa ra quyết định về hình thức và mức độ khen thưởng phù
xuyên? cố tình hay vô ý?).
hợp với người được giáo dục , đòi hỏi nhà giáo dục cần căn cứ vào: tính chất, mức độ, phạm vi ảnh hưởng,
+ Phạm vi và mức độ tai hại do hành vi sai lệch gây ra (Tai hại nhiều hay ít?, ở diện rộng hay diện hẹp?) Yêu
động cơ, sự nỗ lực của người được giáo dục … đối với hành vi tích cực đó mà nhà giáo dục có hình thức, mức cầu khi trách phạt:
độ khen thưởng phù hợp.
+ Đảm bảo trách phạt phải khách quan: Nhà giáo dục phải thận trọng xem xét đánh giá những hành vi sai
Ví dụ: về các mức độ khen thưởng đối với hành vi tích cực của người được giáo dục (theo chiều tăng
lệch của người được giáo dục, cũng như đưa ra những quyết định về mức độ, hình thức trách phạt sao cho dần):
đúng đắn, chính xác và thỏa đáng. Tránh tình trạng đánh giá sai, không phù hợp với thực tế (Quá cao hay quá
+ Tỏ thái độ đồng tình, ủng hộ những hành vi tốt một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. thấp)
+ Tỏ lời khen với những hành vi tốt.
+ Đảm bảo trách phạt phải công bằng: Nhà giáo dục khi đưa ra quyết định trách phạt cần phải công bằng
+ Biểu dương những hành vi tốt.
với mọi người, tránh thiên vị mà trừng phạt nhẹ, thành kiến mà trừng phạt nặng.
+ Tặng giấy khen, bằng khen có kèm thưởng
+ Đảm bảo khi trách phạt phải làm cho người được giáo dục thấy rõ được sai lầm của mình và
chấp nhận hình thức, mức độ trách phạt đối với mình “Tâm phục, khẩu phục”. Cụ thể: Khi trách phạt phải
Lưu ý: thưởng có thể bằng nhiều hình thức như vật phẩm, tiền mặt, học bổng, chuyến du lịch… Yêu
làm cho người được giáo dục thấy rõ được lý do bị trách phạt, tính tất yếu của sự trách phạt; Người được
cầu khi thực hiện khen thưởng:
giáo dục thể hiện thái độ ân hận về lỗi lầm của mình và chấp nhận tính hợp lý của hình thức và mức độ trách
phạt. Có như vậy người được giáo dục mới quyết tâm sửa chữa sai lầm, không tái phạm.
+ Đảm bảo khen thưởng trên cơ sở hành vi thực tế đạt được của người được giáo dục.
+ Đảm bảo tôn trọng nhân phẩm của người bị trách phạt: Cụ thể: Khi trách phạt nhà giáo dục
VD: Nhà giáo dục cần xem xét hành vi đó thể hiện có phù hợp với các CMXH hay không? Có động cơ
không được làm nhục, không xúc phạm tới thể xác người bị trách phạt; Không dùng trách phạt để trả thù; Phải
đúng đắn không? Có tính phổ biến, tính thường xuyên không?
chỉ ra hướng để giúp cho người bị trách phạt sửa chữa sai lầm một cách tích cực và tự tin; Đồng thời luôn tỏ
+ Đảm bảo khen thưởng phải khách quan, công bằng không vì thiên vị mà đánh giá cao, thành kiến mà đánh
thái độ chân thành, lòng tin tưởng ở sự tiến bộ của họ. giá thấp.
+ Đảm bảo tính cá biệt trong trách phạt: Khỉ trách phạt, nhà giáo dục cần quan tâm tới đặc điểm
+ Đảm bảo khen thưởng phải kịp thời, đúng lúc, đúng chỗ, tránh khen thưởng ở những nơi không thích hợp,
tâm sinh lý (xu hướng, năng lực, vốn kinh nghiệm, tính cách, điều kiện hoàn cảnh…) của từng cá nhân
tuỳ tiện quá sớm hay quá muộn.
người mắc lỗi trong từng bối cảnh cụ thể để có cách thức giáo dục phù hợp.
+ Đảm bảo kết hợp khen thưởng thường xuyên với khen thưởng quá trình.
+ Đảm bảo trách phạt của nhà giáo dục phải tạo được dư luận tập thể đồng tình với sự trách phạt.
Sự đồng tình của dư luận tập thể với việc trách phạt của nhà giáo dục sẽ tạo thêm sức mạnh hỗ trợ người bị
+ Đảm bảo khen thưởng phải gây được dư luận tập thể đồng tình, ủng hộ.
trách phạt quyết tâm nhanh chóng sửa chữa sai lầm đồng thời ngăn chặn những người khác không vi phạm sai
Vì khi dư luận tập thể đồng tình, ủng hộ sẽ làm tăng thêm giá trị, ý nghĩa của hành vi tốt, kích thích người lầm.
được GD tiếp tục phát triển hành vi tốt và kích thích, định hướng cho những người khác noi theo những hành
Sinh viên liên hệ để lấy ví dụ vi tốt.
(*)Trình bày và phân tích nội dung của PP thi đua trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn
(*)Trình bày và phân tích nội dung của phương pháp trách phạt trong giáo dục. Liên hệ thực tiễn lOMoAR cPSD| 61470371
Thi đua là phương pháp thông qua các phong trào hoạt động tập thể nhằm kích thích khuynh hướng tự
Nếu quá đề cao vai trò của nhà giáo dục, coi nhẹ, coi thường vai trò của người được giáo dục. Điều đó
khẳng định ở người được giáo dục, thúc đẩy họ đua tài gắng sức, hăng hái nỗ lực vươn lên ở vị trí hàng đầu
sẽ dẫn đến hiệu quả giáo dục áp đặt mang tính hình thức.
và lôi cuốn những người khác cùng tiến lên giành thành tích cá nhân hay tập thể cao nhất.
Nếu hạ thấp vai trò nhà giáo dục, quá đề cao vai trò người được giáo dục. Điều đó dẫn đến hậu quả
Phong trào thi đua có thể tổ chức trong các hoạt động học tập, lao động, vệ sinh trường lớp, văn hóa văn
người được giáo dục tự do, vô tổ chức trong giáo dục.
nghệ, thể dục, thể thao…của tập thể các lớp, các câu lạc bộ ở nhà trường…VD: “Người đạt điểm cao nhất
trong tháng”, “Người có nhiều đóng góp xây dựng bài nhất trong tháng”…; “Lớp học xanh, sạch, đẹp”….
Câu 13. Nội dung giáo dục
Ý nghĩa của phương pháp thi đua:  Khái niệm:
+ Thi đua kích thích nhu cầu khẳng định bản thân của người được giáo dục. Những người được giáo dục
o NDGD là những kinh nghiệm lịch sử - xh của loài người
sẽ nỗ lực hết mình tham gia vào quá trình hoạt động thi đua để giành thắng lợi cao nhất trên cơ sở đó đạt được
o Không phải kinh nghiệm xh – lịch sử nào của loài người cũng đều trở thành NDGD mà những
các mục tiêu giáo dục đặt ra.
kinh nghiệm đó phải được các nhà sp chế biến và lựa chọn
+ Thi đua tạo môi trường hoạt động tích cực và hiệu quả của những người giáo dục tham gia trên
o Để tổ chức cho ĐTGD chiếm lĩnh, và qua đđạt được các mục tiêu GD
cơ sở đó mục tiêu giáo dục đạt được hiệu quả cao.
 Các NDGD ở phổ thông o GD đạo đức o GD ý thức công dân o
GD thẩm mĩ o GD lao động o GD hướng nghiệp
+ Trong hoạt động thi đua, với sự nỗ lực hết mình của người tham gia, người được giáo dục sẽ tự
nhận thức, đánh giá được bản thân mình trên cở sở đó có sự điều chỉnh kịp thời đối với bản thân. o GD thể chất…
Ngoài ra còn 1 số NDGD mới, ví dụ: GD dân số, sức khoẻ sinh sản; GD môi trường; GD kĩ năng sống, giá trị
- Yêu cầu khi thực hiện phương pháp thi đua: sống…
+ Mục tiêu thi đua phải được xác định: cụ thể, rõ ràng và thiết thực
Câu 14. Nguyên tắc giáo dục
+ Các hoạt động thi đua cần phải động viên được tất cả mọi người được giáo dục hăng hái tham gia với động cơ đúng đắn.
1. Khái niệm nguyên tắc GD
+ Các hình thức hoạt động thi đua phải thể hiện sự sáng tạo, mới mẻ, hấp dẫn người được giáo dục tham gia.
+ Thi đua cần có phương thức đánh giá kết quả thi đua tường minh, công khai kích thích sự tham gia hết mình
Nguyên tắc giáo dục là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lý luận giáo dục, có vai trò định hướng
của các thành viên và cần có so sánh công khai kết quả thi đua mà họ đạt được.
trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục, chỉ dẫn việc lựa chọn nội dung, phương pháp và các hình thức tổ
+ Tiến hành sơ tổng kết các hoạt động thi đua đều đặn để giúp người được giáo dục điều chỉnh kịp
chức nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục và đạt được mục đích giáo dục đề ra.
thời hoạt động của bản thân trên cơ đó đạt hiệu quả cao nhất của hoạt động thi đua.
+ Nhà giáo dục cần biểu dương khen thưởng công bằng, thích đáng các cá nhân và tập thể đạt thành tích cao
2. Hệ thống các nguyên tắc GD
hoặc có nhiều nỗ lực trong thi đua.
1) Đảm bảo tính mục đích trong HĐGD
2) GD gắn với đsxh và lao động
3) Đảm bảo sự thống nhất giữa GD ý thức – tạo lập thói quen hành vi của NĐGD
(*)Trình bày những yêu cầu khi lựa chọn, sử dụng các phương pháp giáo dục
4) GD trong tập thể và bằng tập thể
Không có phương pháp giáo dục nào là vạn năng đối với mọi nhà giáo dục, cho mọi đối tượng giáo
5) Tôn trong nhân cách HS kết hợp với yêu cầu hợp lí
dục, trong mọi tình huống, điều kiện giáo dục…
6) Kết hợp vai trò tổ chức của NGD – tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của NĐGD
Mỗi nhóm phương pháp, mỗi phương pháp giáo dục có ưu, nhược điểm riêng và thực hiện với những
nhiệm vụ giáo dục nhất định. Do đó, trong quá trình giáo dục đòi hỏi nhà giáo dục cần biết lựa chọn, phối hợp
7) Đảm bảo tính hệ thống, kế tục, liên tiếp
các phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu GD đặt ra.
8) Đảm bảo hệ thống giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng trong GD 9) Thống nhất GD gia đình
Mục đích của nhà giáo dục sử dụng các phương pháp giáo dục để giúp người được giáo dục tự chuyển
– nhà trường – xã hội.
hóa yêu cầu của các CMXH quy định thành hành vi và thói quen hành vi ứng xử tương ứng ở họ trên cơ sở đó
thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục. 3. Phân tích
Vì vậy trong hoạt động thực tiễn giáo dục, đòi hỏi nhà giáo dục khi lựa chọn, sử dụng các phương
pháp cần lưu ý những điều sau đây:
3.1. Đảm bảo tính mục đích trong HĐGD
+ Khi lựa chọn phối hợp các phương pháp giáo dục cần dựa trên cơ sở: Mục đích, nhiệm vụ giáo dục 1. Nội dung nguyên tắc
xác định; Nội dung giáo dục cụ thể; Đặc điểm của đối tượng giáo dục ; Năng lực sư phạm của nhà giáo dục;
Những điều kiện, bối cảnh thực tế của vấn đề giáo dục.
 Tính mục đích của HĐGD giúp cho các nhà GD có phương hướng suy nghĩ và hđ đúng đắn. Nó nân
+ Trong quá trình vận dụng các phương pháp giáo dục cần đảm bảo được sự thống nhất giữa hoạt động
gcao tính tư tưởng chỉ đạo trong HĐGD, tránh được những HĐGD tự phát, tuỳ tiện, vô tổ chức hay
giáo dục - vai trò chủ đạo của nhà giáo dục với hoạt động tự giáo dục - vai trò tự giác tích cực, độc lập năng
lệch chiều, chệch hướng.
động của người được giáo dục.
 GD là hđ có mục đích, do đó nd, pp, hình thức tổ chức QTGD đều phải căn cứ vào mục đích và phải
Tuyệt đối tránh 2 xu hướng: lOMoAR cPSD| 61470371
đạt được mục đích GD
giáo dục phải trải qua các thời kì nhận thức, thể nghiệm, luyện tập, rèn luyện để biến các yêu cầu chuẩn
 Bất kỳ một HĐGD nào trong và ngoài nhà trường đều có mục đích là GD thế hệ trẻ trở thành người
mực xã hội thành hành vi, thói quen hành vi tương ứng ở họ
công dân, những người lao động giàu long nhanais, năng động, sáng tạo, biết sống và làm việc theo
 Vì vậy, quá trình giáo dục chỉ đạt được hiệu quả khi các tác động giáo dục phải tác động đồng bộ toàn
hiến pháp và pháp luật, có tiềm năng, thích ứng được với cs đang đổi mới toàn diện, sâu sắc hiện nay.
diện nhân cách bao gồm cả nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi, ý chí của người được giáo dục. 2. Biện pháp thực hiện
 Trong quá trình giáo dục: tác động tới nhận thức của người được giáo dục là quá trình giúp người được 3. Liên hệ
giáo dục nắm vững các quy tắc, chuẩn mực xã hội, hiểu rõ các giá trị, ý nghĩa của các hành vi văn hóa.
Nhận thức là cơ sở để hình thành niềm tin, tình cảm tích cực và những hành vi, thói quen hành vi văn
3.2. GD gắn với đsxh và lao động
hóa phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Hành vi, thói quen hành vi của người được giáo dục là kết quả 1. Nội dung nguyên tắc
của ý thức cá nhân, đồng thời là cơ sở để khẳng định trình độ nhận thức và thái độ người được giáo
dục về các chuẩn mực xã hội
 QTGD góp phần đào tạo cho người công dân, người lao động hoà nhập vào cs xh với hđ lao động.
Chính bản thân cs và hđ lao động lại là mt, phương tiện góp phần tích cực vào sự hình thành pt nhân
 Hành vi, thói quen hành vi là biểu hiện lối sống, phương thức sống của cá nhân trong cuộc sống hàng cách con người
ngày, là biểu hiện nhân cách của họ. Hành vi, thói quen hành vi của mỗi người cũng chính là biểu hiện
trình độ giáo dục của người đó
 Thông qua các hđ hằng ngày của cs thực, hđ lao động vừa sức làm cho con người khoẻ mạnh về mặt
thể chất, thoải mái về tinh thần, thông minh, sáng tạo hơn. Đặc biệt, lđ giúp cho con người nhận ra
 Do vậy, sự thống nhất giữa giáo dục ý thức và hành vi, thói quen hành vi cho người được giáo dục vừa
những gtri cs, biết yêu thương, quý trọng lẫn nhau và quý trọng thành quả lao động. Lao động hình
là mục tiêu, vừa là nguyên tắc chỉ đạo các hoạt động giáo dục.
thành cho thế hệ trẻ thái độ đúng đắn với người lao động, đối cới những sp lao động, có ý thức hợp 2. Biện pháp thực hiện
tác, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau để đạt được kết quả cao nhất. Lao động sáng tạo ra của cải vật chất và
 Chống tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm trong cuộc sống, lao động và học tập hàng ngày.
tinh thần, giúp cải tạo thói hư tật xấu…
 NGD luôn phải là những tấm gương sáng về mọi mặt cho ĐTGD noi theo.
 Vì vậy, GD gắn với đsxh và lao động chính là làm cho thực tiễn vừa là môi trường, vừa là phương tiện
 Cần tổ chức các hình thức hoạt động đa dạng, hấp dẫn, tạo điều kiện cho các ĐTGD luyện tập, trải thực hiện QTGD.
nghiệm nhằm phát triển năng lực trí tuệ, tạo lập thói quen hành vi văn hóa, phẩm chất đạo đức của
người công dân, người lao động hiện đại. 2. Biện pháp thực hiện
 Bên cạnh đó, quá trình giáo dục cần uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những nhận thức, thái độ, hành vi
thói quen không phù hợp với các CMXH và khuyến khích người được giáo dục tự rèn luyện trong
 Tổ chức cho NĐGD có những hiểu biết về cs nói chung, HĐ lao động sáng tạo nói riêng của đất nước
cuộc sống hàng ngày để khẳng định bản thân.
đang trong quá trình đổi mới, từ đó GD cho họ ý thức được vai trò làm chủ đát nước của mình, những 3. Liên hệ
nghĩa vụ, trách nhiệm mà họ phải hoàn thành đvs bản thân, gia đình và cộng đồng.
 Tổ chức thường xuyên những hđ sinh hoạt tập thể, hđ lao động hữu ích cho NĐGD tham gia một cách
vừa sức vào sự nghiệp xd đất nước, xd trật tự, kỷ cương xh trong cộng đồng dân cư… qua đó hình
3.4. GD trong tập thể và bằng tập thể
thành ở họ ý thức và phẩm chất cần thiết của người công dân, người lao động trong tương lai. 1. Nội dung nguyên tắc
 Tập thể là một nhóm người, một cộng đồng người được liên kết với nhau bằng những hoạt động chung có
 Tránh tách rời QTGD khỏi cuộc sống thực tiễn, khỏi sự nghiệp lao động, Vì như vậy dẫn đến hậu quả
tính tổ chức để thực hiện mục đích chung chân chính. Nhờ vậy mà lợi ích chung của tập thể và lợi ích
những NĐGD sẽ trở nên ko hoà nhập vào cs lao động, xd đất nước giàu mạnh, công bằng, văn minh.
riêng của từng cá nhân trong tập thể thống nhất với nhau và thống nhất với mục đích của xã hội.
 Khuyến khích NĐGD tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo tự rèn luyện mình trong các hđ lao động,
 Tập thể học sinh trong nhà trường là nơi học sinh học tập, giao lưu với thầy cô, bạn bè với những hoạt
động chung có tổ chức, có chương trình, kế hoạch chặt chẽ theo chương trình giáo dục quy định, có bộ
hđ sinh hoạt tập thể ở gia đình, nhà trường và cộng đồng xh. Tổ chức tốt các hđ sinh hoạt của đs cá
máy tự quản, có nội quy, kỷ luật chặt chẽ và được mọi người tôn trọng tự giác chấp hành; có dư luận, nhân NĐGD
truyền thống tập thể…
 Với ý nghĩa như vậy, tập thể nói chung, tập thể học sinh nói riêng được coi như là môi trường, phương 3. Liên hệ
tiện để giáo dục con người. Vì thông qua tập thể và bằng tập thể nhân cách mỗi người tác động qua lại với
3.3. Đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục ý thức – tạo lập thói quen hành vi của NĐGD
nhau. Tập thể chính là phương tiện giáo dục từng thành viên trong tập thể đó thông qua: các hoạt động
chung, nội qui, kỉ luật tập thể dư luận tập thể, truyền thống tập thể…) 1. Nội dung nguyên tắc
2. Biện pháp thực hiện nguyên tắc
- Nhà giáo dục luôn chú ý xây dựng tập thể học sinh trở thành một tập thể vững mạnh. Một tập thể học
 Mục đích của quá trình giáo dục là hình thành phẩm chất nhân cách, những thói quen hành vi, nếp
sinh vững mạnh là tập thể phải đảm bảo các yếu tố sau đây:
sống, tình cảm tích cực cho người được giáo dục. Chính trong quá trình giáo dục đòi hỏi người được
o Mục đích của cá nhân, tập thể thống nhất với mục đích của xã hội
Cụ thể: cần coi trọng đúng mức lợi ích cá nhân trong sự thống nhất với lợi ích chung của tập thể,
lợi ích cá nhân chân chính là động lực phát triển trực tiếp đối với sự phát triển cá nhân. Tuyệt đối lOMoAR cPSD| 61470371
tránh các tình trạng cực đoan hoá lợi ích cá nhân hoặc lợi ích chung của tập thể, tạo ra sự đối lập
- Đề ra các yêu cầu ngày càng cao đối với người được giáo dục - Luôn luôn tỏ ra nghiêm khắc nhưng giữa chúng.
chân thành, tin tưởng, thiện trí.
o Có chương trình các hoạt động chung được tổ chức khoa học, đa dạng, phong phú thu hút được
- Kịp thời phát huy ưu điểm của người được giáo dục, trên cơ sở đó kích thích và giúp đỡ họ khác phục
mọi người tham gia với sự tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của những người được giáo dục.
những sai sót trong rèn luyện
o Có hệ thống nguyên tắc hoạt động chung được mọi thành viên ý thức đầy đủ và tự giác thực hiện
- Tránh tình trạng thô bạo, thiếu tin tưởng, định kiến…đối với người được giáo dục, đồng thời cũng
(xây dựng nội quy, kỷ luật cụ thể, chặt chẽ, bao hàm các mặt hoạt động) o Có bộ máy cán bộ tự
tránh tình trạng nuông chiều dễ dãi đối với họ.
quản (cán bộ lớp, đoàn) có năng lực, uy tín, nhiệt tình và bản lĩnh được mọi người yêu quý.
VD: Một số hiện tượng có biểu hiện thiếu tôn trọng học sinh như: nói năng thô bạo, coi thường nhân
o Tạo được dư luận tập thể lành mạnh: hoan nghênh và ủng hộ những nhận thức, thái độ, hành vi
phẩm, dọa nạt, sỉ nhục, đánh đập,…; những định kiến, đố kị, bi quan, thiếu tin tưởng vào khả năng phát triển
tích cực và lên án phê phán những biểu hiện nhận thức, thái độ, hành vi sai trái làm hại tới lợi ích
và hoàn thiện nhân cách của trẻ; những hiện tượng nuông chiều, buông thả dẫn đến học sinh tự do vô kỉ
chung đi ngược với những chuẩn mực xã hội đã qui định.
luật…Cần được khắc phục trong công tác giáo dục
o Phát huy được tinh thần tự quản của học sinh trên cơ sở sự định hướng của nhà giáo dục, tạo cơ 3. Liên hệ
hội và điều kiện cho các thành viên tự rèn luyện, tự kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động rèn luyện
của cá nhân, nhóm, tập thể. -
Lôi cuốn mọi người được giáo dục vào tập thể, tổ chức, kích thích họ liên kết với nhau, cùng tham
gia vào công việc chung một cách cách tự giác với ý thức làm chủ.
3.6. Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tổ chức sư phạm của nhà giáo duc và vai trò tự giác, tích cực, -
Nhà giáo dục luôn ý thức vai trò chủ đạo của mình trong mọi khâu, mọi hoạt động, một mặt của
độc lập, sáng tạo tự giáo dục của NĐGD
công tác giáo dục học sinh. 1. Nội dung nguyên tắc -
Nhà giáo dục lưu ý bên cạnh những tác động chung cần có những tác động riêng phù hợp với từng
 Trong quá trình giáo dục, dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục sẽ giúp cho tính chủ động, độc lập
đối tượng giáo dục trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
sáng tạo của người được giáo dục được hình thành và phát triển. Và ngược lại: khi tính chủ động, độc 3. Liên hệ
lập sáng tạo của người được giáo dục được hình thành và phát triển thì sẽ tạo điều kiện cho nhà giáo
dục phát huy tác dụng chủ đạo của mình ngày càng cao.
 Trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo, tổ chức lãnh đạo quá trình hình thành, phát
3.5. Tôn trong nhân cách HS kết hợp với yêu cầu hợp lí
triển những phẩm chất, hành vi, thói quen ở học sinh, thể hiện:
o Nâng cao ý thức trách nhiệm, vai trò lãnh đạo sư phạm của giáo viên trong việc theo dõi, kiểm 1. Nội dung nguyên tắc
tra, đánh giá quá trình và kết quả hoạt động của tập thể học sinh và của từng học sinh. o Thuyết
 Mỗi con người là một chủ thể hoạt động có ý thức. Mọi tác động từ bên ngoài đều thông qua chủ thể
phục học sinh biết định hướng và quyết tâm phấn đấu đạt những mục đích đã đề ra. o Lựa chọn
hoạt động. Mặt khác, mọi sự nỗ lực của con người là để khẳng định bản thân. Do vậy, con người luôn
các phương pháp, phương tiện để thực hiện các nhiệm vụ giáo dục cho phù hợp.
có niềm tin vào bản thân, có lòng tự trọng, và có nhu cầu được người khác tôn trọng.
2. Biện pháp thực hiện nguyên tắc
 Vì vậy, muốn giáo dục con người thì trước hết phải tôn trọng nhân cách con người. Trong quá trình -
Nhà gd phải có năng lực chung (Thiết kế, tổ chức, giao tiếp, nghiên cứu đối
giáo dục, nhà giáo dục cần phải tôn trọng nhân cách người được giáo dục, coi họ như một chủ thể tự
tượng) và năng lực giáo dục chuyên biệt (Xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương
giáo dục một cách tích cực, độc lập, tin tưởng và lạc quan đối với họ. Có như vậy mới nâng cao được
tiện, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục, kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục)
lòng tự trọng, lòng tự tin vào nghị lực của họ, khích lệ tinh thần cầu tiến, ý thức vươn lên không ngừng -
Tuyệt đối không buông lỏng vai trò chủ đạo của nhà giáo dục. của họ. -
Phải biết ứng xử sư phạm khéo léo
VD: Tôn trọng nhân cách là tôn trọng nhân phẩm, tự do tư tưởng, tự do thể hiện nhu cầu, nguyện vọng và thói -
Người được giáo dục phải tự giác, tự vận động đi lên dưới tác dụng chủ đạo
quen sống của mỗi cá nhân, không ai có quyền xúc phạm đến thân thể, phẩm giá, danh dự của con người.
của nhà giáo dục, tránh rơi vào tình trạng cực đoan coi thường tác dụng chủ đạo của nhà giáo
 Tôn trọng nhân cách con người cũng đồng nghĩa với tin tưởng con người, thể hiện sự mong muốn, tin
dục hoặc thụ động làm theo ý kiến của nhà giáo dục.
tưởng, khuyến khích của các nhà giáo dục đối với người được giáo dục. Tuyệt đối không thành kiến -
Tôn trọng sáng kiến và sự độc lập của học sinh.
với học sinh, ngay cả đối với những học sinh mắc phải những lỗi lầm lớn. Vì nếu có ác cảm, định kiến
với học sinh thì sẽ làm cho các em mất tự tin mặc cảm và xa lánh nhà giáo dục, bạn bè và tập thể nên -
Thu hút sự tham gia tích cực của học sinh vào các hoạt động chung, thường
xuyên theo dõi, động viên uốn nắn những sai lệch một cách kịp thời.
càng mất có hội được giáo dục. -
Phát huy vai trò tự quản của tập thể học sinh, biến những yêu cầu giáo dục
 Song vấn đề cần nhấn mạnh là: càng tôn trọng nhân cách người được GD bao nhiêu thì càng phải đưa
thành những yêu cầu tự giáo dục của tập thể và của từng cá nhân.
ra những yêu cầu hợp lí đối với họ bấy nhiêu. Đặt ra những yêu cầu hợp lý là vừa sức, khả thi đối với -
Lựa chọn các biện pháp và hình thức tổ chức giáo dục, giúp học sinh tự đánh
họ cũng chính là thể hiện niềm tin đối với họ, tạo môi trường hoạt động để người được giáo dục nỗ
giá kết quả rèn luyện của bản thân, của tập thể, từ đó đề ra các mục tiêu phấn đấu mới.
lực thực hiện, rèn luyện trên cơ đó phát triển nhân cách.
 Những yêu cầu hợp lý đối với người được giáo dục phải đảm bảo: yêu cầu phải đáp ứng đòi hỏi của 3. Liên hệ
mục đích giáo dục; Vừa sức, khả thi đối với người được giáo dục; Có tác dụng kích thích người được
giáo dục tự giác tích cực, chủ động thực hiện; Có khả năng mang lại hiệu quả mong muốn.
3.7. Đảm bảo tính hệ thống, kế tiếp, liên tục
2. Biện pháp thực hiện nguyên tắc Quá trình giáo 1. Nội dung nguyên tắc
dục thực hiện nguyên tắc này cần lưu ý:
Nguyên tắc này đòi hỏi: quá trình giáo dục phải được thực hiện các tác động giáo dục theo một
- Nhà giáo dục phải có lòng thương yêu học sinh.
hệ thống đồng bộ thống nhất (từ mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức,
- Nhà giáo dục phải tôn trọng phẩm giá, danh dự, thân thể của học sinh, - Khuyến khích lòng tự trọng
kiểm tra đánh giá, nhà giáo dục…), kế tiếp nhau và liên tục tác động đến nhân cách người được giáo dục ở ở các em.
mọi nơi, mọi lúc trên cơ sở đó mục tiêu giáo dục mới đạt được hiệu quả .
Bởi, trong quá trình giáo dục: lOMoAR cPSD| 61470371 -
Một phẩm chất nhân cách được hình thành là kết quả tổng hợp của nhiều tác động, của 1. Nội dung nguyên tắc
nhiều nhân tố trong một thời gian dài liên tục .
 Nhà trường, gia đình, xã hội là môi trường giáo dục không thể thiếu trong sự phát triển nhân cách. Sự -
Quá trình giáo dục là một quá trình hình thành một hệ thống những phẩm chất nhân
thống nhất ba môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội tạo nên môi trường hoàn chỉnh với những tác
cách của người được giáo dục chứ không phải những phẩm chất riêng lẻ.
động đồng bộ tới sự hình thành, phát triển nhân cách. Trong đó cần nhấn mạnh vai trò của giáo dục nhà -
Quá trình giáo dục diễn ra theo hướng giai đoạn trước đặt nền móng cho giai đoạn sau,
trường là môi trường giáo dục rất quan trọng giữ vai trò chủ đạo.
những giai đoạn sau phải kế tiếp và phát triển những kết quả của giai đoạn trước
 Giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội đều có vai trò chung là góp phần đào tạo thế hệ -
Quá trình giáo dục phải được tổ chức sao cho những phẩm chất nhân cách người được
trẻ, song mỗi lực lượng lại có những sức mạnh giáo dục đặc thù, ở lực lượng giáo dục này có mà ở lực
giáo dục hình thành và phát triển không bị giãn đoạn vì mỗi lần giãn đoạn là một lần chững lại ,
lượng giáo dục khác lại không có. Phối hợp các lực lượng giáo dục chính là khai thác được các sức mạnh
hoặc thụt lùi sự phát triển nhân cách của họ .
giáo dục đặc thù ấy để tạo ra một sức mạnh giáo dục tổng hợp nhằm tác động vào thế hệ trẻ.
2. Biện pháp thực hiện nguyên tắc
 Sự thống nhất các lực lượng giáo dục chính là nhằm xây dựng một môi trường giáo dục, tạo điều kiện
Khi thực hiện nguyên tắc này, quá trình giáo dục cần lưu ý:
thuận lợi để giáo dục học sinh được liên tục, thường xuyên. Sự thống nhất các lực lượng sẽ tạo ra được
- Nội dung giáo dục, những tác động giáo dục, hoạt động giáo dục phải có tính hệ thống, không
một sức mạnh tổng hợp tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Ngược lại, giáo tục tản mạn, rời rạc.
phân tán, không đồng bộ theo các khuynh hướng khác nhau có thể phá vỡ sự toàn vẹn, thống nhất của giáo
- Những kết quả giáo dục, kinh nghiệm giáo dục đã thu được cần được kế thừa có chọn lọc, không
dục, dẫn đến hậu quả khó lường trước được nếu như có hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.
coi thường hay phủ định .
 Trong sự thống nhất, phối hợp giữa các lực lượng giáo dục. Giáo dục nhà trường là cơ quan chuyên trách
đảm nhiệm chức năng giáo dục thế hệ trẻ mà xã hội trao cho. Do đó quá trình giáo dục của nhà trường giữ
- Giáo dục phải được tiếp tục trong mọi không gian, thời gian, không ngắt quãng, giãn đoạn.
vai trò chủ đạo: vai trò chủ động thiết kế, tổ chức các hoạt động phối hợp với giáo dục gia đình và xã hội: 3. Liên hệ
2. Biện pháp thực hiện nguyên tắc
Để thực hiện nguyên tắc này, giáo dục nhà trường cần chú ý:
- Nhà giáo dục cần hiểu rõ đặc điểm giáo dục của từng lực lượng giáo dục ảnh hưởng tới
3.8. Đảm bảo thống nhất giữa tính vừa sức chúng và tính vừa sức riêng của NĐGD
sự phát triển nhân cách người được giáo dục.
- Thống nhất giữa nhà trường với gia đình và xã hội về mục đích, mục tiêu, nội dung, 1. Nội dung nguyên tắc
phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và cách thức liên kết giáo dục.
 Ở mỗi giai đoạn lứa tuổi, nhân cách con người đạt tới một trình độ phát triển nhất định, thậm chí trong
- Liên kết, phối hợp tổ chức các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo
cùng một lứa tuổi sự phát triển nhân cách của mỗi người cũng khác nhau. Mỗi người được giáo dục có
dục học sinh ở mọi lúc, mọi nơi theo những mục tiêu đã từng đặt ra.
những đặc điểm tâm sinh lý, kinh nghiệm, hoàn cảnh, điều kiện sống, học tập, lao động khác nhau. VD:
- Tạo nên mối liên hệ thường xuyên giữa nhà trường và gia đình, giữa cha mẹ học sinh
Sự khác nhau ở những người được giáo dục về : Đặc điểm tâm sinh lí cá nhân (sức khỏe, trình độ nhận và thầy cô giáo.
thức, vốn kinh nghiệm, xúc cảm, tình cảm, lí trí, xu hướng, tính cách, nhu cầu, động cơ…); những đặc
- Khai thác có chọn lọc những tác động tích cực đồng thời góp phần điều chỉnh, ngăn
điểm riêng của đời sống cá nhân (điều kiện kinh tế, văn hóa, giáo dục, các mối quan hệ với gia đình, bạn
chặn những tác động tiêu cực từ gia đình và cộng đồng, xã hội.
bè, người thân…); đặc điểm điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán,…vùng miền nơi họ sinh sống… 3. Liên hệ
 Do vậy trong quá trình giáo dục, bên cạnh những tác động giáo dục đảm bảo tính vừa sức chung thì cần
phải có những tác động giáo dục riêng phù hợp với từng đối tượng trong những điều kiện hoàn cảnh cụ
thể trên cơ sở đó quá trình giáo dục mới mang lại hiệu quả .
2. Biện pháp thực hiện nguyên tắc
Khi thực hiện nguyên tắc này nhà giáo dục cần lưu ý: -
Tìm hiểu, nắm vững đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, đặc điểm giới tính; đặc
điểm về sức khỏe, trình độ được giáo dục, tính cách, nhu cầu, động cơ, điều kiện hoàn cảnh
riêng của từng đối tượng giáo dục. -
Trên cơ sở nắm vững đặc điểm đối tượng giáo dục nhà giáo dục xác định
mục tiêu, nhiệm vụ, lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục cho phù hợp,
có hiệu quả với nhóm đối tượng và từng đối tượng giáo dục cụ thể. -
Quá trình giáo dục cần đa dạng các hình thức tổ chức giáo dục nhằm thu hút
được sự tham gia tích cực của nhiều người được giáo dục và phát triển được tiềm năng đa dạng của các em. -
Cần có thái độ tôn trọng, khuyến khích người được giáo dục tham gia vào
quá trình giáo dục; Tôn trọng sự đa dạng về tiềm năng, nhân cách của đối tượng giáo dục; Đảm
bảo quyền bình đẳng của những người được giáo dục tham gia vào các mối quan hệ ứng xử,
các hoạt động giáo dục… 3. Liên hệ
3.9. Đảm bảo thống nhất GD giữa nhà trường, gia và xã hội lOMoAR cPSD| 61470371
Phần II. Giáo viên chủ nhiệm lớp trong NTPT
 Để thực hiện chức năng quản lí có hiệu quả, giáo viên chủ nhiệm cần nắm vững mục tiêu giáo dục
của lớp học, bậc học và cấp học, hiểu đầy đủ kế hoạch, chương trình dạy học và giáo dục. Đặc biệt,
Câu 14. Vai trò của GVCN lớp trong NTPT
cần phải dựa trên các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những quy định của Bộ Giáo
dục và Đào tạo trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, triển khai các hoạt động giáo dục trong lớp 1. Khái niệm GVCN
học sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn của lớp mình phụ trách. Chức năng quản lí cũng đòi hỏi
GVCN lớp là người có chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm tốt, có kinh nghiệm giáo dục và là người được hiệu
giáo viên chủ nhiệm lớp phải nắm vững đầy đủ nghị quyết, sự chỉ đạo của hiệu trưởng nhà trường đối
trưởng lựa chọn và hội đồng giáo dục nhất trí phân công
với lớp học, phổ biến và triển khai đến các thành viên trong lớp và ngược lại, phản ánh những tâm tư
nguyện vọng, những diễn biến về tư tưởng tình cảm của học sinh đến lãnh đạo nhà trường. Nắm 2. Vai trò
vững các thông tin sẽ giúp cho giáo viên chủ nhiệm tiến hành quản lí hoạt động của học sinh có hiệu
 Là thành viên của tập thể sp và thay mặt Hiệu trưởng, Hội đồng nhà trường, cha mẹ HS để quản lý và quả giáo dục HS 3.2. Chức năng giáo dục
 Là cầu nối giữa tập thể học sinh với giáo viên bộ môn, Ban Giám Hiệu và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường
 Giáo viên chủ nhiệm cần tập hợp được học sinh thành một tập thể tự quản, biết đoàn kết, thương yêu
 Với tập thể học sinh, GVCN là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển và đánh giá toàn diện các mặt
giúp đỡ lẫn nhau, phấn đấu thực hiện mục tiêu chung, giúp mỗi học sinh có ý thức và năng lực tham
học tập và rèn luyện của HS
gia vào quá trình giáo dục thành viên khác và giáo dục chính mình.
 Là cầu nối giữa gia đình, nhà trường và xh
o Muốn làm được việc đó, giáo viên chủ nhiệm lớp cần quan tâm đến việc xây dựng lớp học
thành tập thể tự quản. o Một tập thể tự quản là
Câu 15. Phân tích chức năng, nhiệm vụ của GVCN lớp
 tập thể có đội ngũ cán bộ lớp cán bộ Đoàn Đội gương mẫu, có năng lực và nhiệt tình trong công tác; 1. Khái niệm GVCN
 tạo ra sự đoàn kết, nhất trí giữa các thành viên trong lớp, có dư luận tiến bộ lành mạnh,
GVCN lớp là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm tốt, có kinh nghiệm giáo dục và là người có
hướng về lẽ phải, biết bảo vệ những giá trị chân, thiện, mĩ, biết lên án những thói hư,
uy tín được hiệu trưởng lựa chọn và hội đồng giáo dục nhất trí phân công
tật xấu, những lối sống không lành mạnh;
 là tập thể có khả năng đề ra được mục tiêu phấn đấu và biến chúng thành các kế hoạch
2. Kể tên các chức năng
và hoạt động cụ thể. - Chức năng quản lý
 Xây dựng tập thể gắn liền với việc giáo dục toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ và thể chất cho - Chức năng giáo dục
học sinh trong tập thể. Khắc phục tình trạng học kém, lưu ban và chậm tiến về mặt đạo đức trong tập - Chức năng đại diện
thể. Hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực của con người mới, đáp ứng yêu cầu của mục đích giáo dục.
- Chức năng phối hợp và thống nhất các tác động giáo dục để giáo dục HS
 Trong quá trình xây dựng tập thể và giáo dục toàn diện cho học sinh, giáo viên chủ nhiệm tham gia
- Chức năng kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục toàn diện của học sinh lớp chủ nhiệm
với tư cách là người hướng dẫn, điều khiển các hoạt động của tập thể và các thành viên trong tập thể.
3. Phân tích các chức năng
3.3. Chức năng đại diện 3.1. Chức năng quản lý
Người giáo viên chủ nhiệm lớp đại diện cho hiệu trưởng truyền đạt những nguyêyêu cầu đối với học sinh.
Giáo viên chủ nhiệm lớp còn là đại diện cho quyền lợi chính đáng của học sinh trong lớp, bảo vệ học sinh
 Lớp học là một đơn vị cơ bản trong hệ thống giáo dục của nhà trường, nơi diễn ra các hoạt động dạy
một cách hợp pháp, phản ánh kịp thời với hiệu trưởng, các giáo viên bộ môn, với gia đình học sinh, các đoàn
học và giáo dục toàn diện đối với mỗi học sinh trong lớp. Xét về mặt quyền lực hành chính, giáo viên
thể trong và ngoài nhà trường về những nguyện vọng chính đáng của học sinh và của tập thể lớp để cùng có
chủ nhiệm là người thay mặt hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lí toàn diện học sinh lớp mình phụ
các biện pháp giải quyết phù hợp, kịp thời, có tác dụng giáo dục.
trách. Chức năng quản lí đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm lớp phải tiến hành công việc vừa mang tính
hành chính vừa mang tính khoa học. nghệ thuật. Công tác quản lí của giáo viên chủ nhiệm phải thống
3.4. Chức năng phối hợp và thống nhất các tác động GD để GD học sinh
nhất với công tác quản lí các các khối lớp khác trong nhà trường, chịu sự chỉ đạo của nhà trường và
 Nhân cách được hình thành không chỉ trong lớp học mà diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, trong từng khu
mang tính hệ thống, kế hoạch cao.
phố, thôn xóm và gia đình. lOMoAR cPSD| 61470371
o Trách nhiệm giáo dục toàn diện học sinh trong lớp đòi hỏi giáo viên chủ nhiệm phải chủ động
o Những tiêu chuẩn này phổ biến đến từng học sinh, giúp học sinh biết cách tự đánh giá và hoàn
phối hợp và thống nhất các yêu cầu và các tác động giáo dục trong gia đình, nhà trường và xã thiện bản thân. hội.
o Thống nhất đánh giá của giáo viên chủ nhiệm và của tập thể lớp cũng như tự đánh giá của
o Giáo viên chủ nhiệm lớp là người có vai trò chính, là cầu nối trong sự phối hợp và thống nhất học sinh.
về yêu cầu và tác động giáo dục trong nội bộ nhà trường, giữa nhà trường với gia đình và
giữa nhà trường với các tổ chức xã hội.
Câu 17. Nội dung và phương pháp công tác của GVCN lớp
 Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên liên lạc với các giáo viên bộ môn để nắm tình hình chung của
1. Tìm hiểu, phân loại HS lớp chủ nhiệm
lớp, cùng với họ đề ra các yêu cầu và thống nhất thực hiện các yêu cầu đó với tập thể học sinh. Thực
2. Lập kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp
tế cho thấy, nếu không có sự phối hợp chặt chẽ với các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm
3. XD đội ngũ cán bộ lớp và tập thể HS lớp chủ nhiệm
không thể hoàn thành tốt các chức năng giáo dục của mình.
4. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nội dung GD toàn diện và GD trải nghiệm/ trải nghiệm, hướng
 Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt cho hiệu trưởng nhà trường liên kết và phối hợp với các lực nghiệp
lượng giáo dục ở địa phương, các tổ chức chính trị xã hội để phối hợp và thống nhất trong công tác
5. Liên kết các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường giáo dục học sinh.
6. ĐG kết quả GD học sinh lớp chủ nhiệm
o Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, cần lôi cuốn mọi tầng lớp và các tổ chức xã 7. GD học sinh cá biệt
hội tham gia vào công tác giáo dục.
8. Tổ chức giờ sinh hoạt lớp (định kỳ)
o Công tác giáo dục chỉ có thể thành công khi giáo viên chủ nhiệm biết tập hợp, khai thác và
9. Lập hồ sơ chủ nhiệm lớp
phối hợp các sức mạnh giáo dục của tập thể cán bộ công nhân viên trong trường, các lực
lượng giáo dục xã hội và gia đình học sinh.
Giáo viên chủ nhiệm là người chuyển tải những chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước đến
các tổ chức xã hội và đến cha mẹ học sinh, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm giáo dục thế hệ trẻ
3.5. Chức năng KTĐG kết quả GD toàn diện của HS lớp chủ nhiệm
 Để tiến hành các hoạt động giáo dục, giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên cập nhật những thông
tin về học sinh, tiến hành kiểm tra và đánh giá sự phấn đấu toàn diện của mỗi học sinh và tập thể lớp.
Nếu giáo viên nắm được những đặc điểm cơ bản về tâm lí, tư tưởng, chính trị đạo đức và các mối
quan hệ của học sinh với tập thể và những người xung quanh... thì sẽ thấy được mặt mạnh và yếu của
học sinh và tập thể, qua đó có nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp. Theo sát từng bước phát
triển của mỗi học sinh và tập thể lớp, phát hiện ra những yếu tố tích cực và hạn chế của mỗi học sinh
sẽ giúp cho giáo viên chủ nhiệm nâng cao vai trò tự quản của tập thể học sinh.
 Là người quản lí, giáo dục và chịu trách nhiệm về tập thể học sinh trước hiệu trưởng, giáo viên chủ
nhiệm phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình học sinh để báo cáo cho hiệu trưởng và hội
đồng giáo dục của nhà trường về kết quả tu dưỡng, rèn luyện của học sinh.
o Để đưa ra được những nhận định và đánh giá đúng mức, khách quan, giáo viên chủ nhiệm cần
có sự liên kết các giáo viên bộ môn, tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ quản lí
lớp..., tham khảo ý kiến của họ.
o Việc thu thập thông tin phải được cập nhật thường xuyên, ghi chép cẩn thận và nên sử dụng
nhiều phương pháp và từ các nguồn khác nhau để thu thập thông tin.
o Khi tiến hành đánh giá học sinh, giáo viên chủ nhiệm cần đảm bảo tính khách quan, công bằng,
công khai. o Đánh giá học sinh cần dựa vào những tiêu chuẩn nhất định. lOMoAR cPSD| 61470371
Phần III. Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong
viên có thể nêu những tình huống có vấn đề, nêu các sân khấu tương tác, trò chơi, các hđ nhóm, dự án để
học sinh có thể thể hiện được kỹ năng, kinh nghiệm và những gì mình học được ở những bước trên nhà trường phổ thông 5. Đánh giá
Câu 18. Khái quát về hoạt động trải nghiệm (HĐTN) (20_HĐTN)
Là rất quan trọng, giúp cho HS nhìn lại những gì mình làm được hoặc chưa được để từ đó thu thập thông tin
và xd những kế hoạch tiếp theo cho phù hợp với HS hơn; giáo viên cần phải thông qua nhiều kênh thông tin
1. Vị trí, đặc điểm 2. Quan điểm xd chương trình 3. Mục tiêu chương trình 4. Yêu cầu cần đạt 5. Nôi
và hình thức đánh giá khác nhau để đưa ra những nhận định ĐG đúng đăn và phù hợp.
dung 6. Phương thức tổ chức 7. Đánh giá kết quả
Câu 19. Nêu quy trình thiết kế hoạt động trải nghiệm – hoạt động trải nghiệm, hương nghiệp trong nhà trường
Câu bổ sung 1: XD các chủ điểm GD hàng tháng cho các hoạt giáo dục ngoài giờ lên lớp phổ thông
cho nhà trường phổ thông 1. Lựa chọn chủ đề
Thanh niên rèn luyện, học tập vì sự nghiệp CNH, HĐH đất Tháng 9 nước
Chủ đề phải thể hiện được rõ ràng thông điệp của hđ; phải được diễn đạt một cách ngắn gọn, rõ ràng, chính
xác, tạo được ấn tượng và gây được sự hấp dẫn với học sinh
Tháng 10 Thanh niên với tình bạn, tình yêu và gia đình
2. Xđ các yêu cầu cần đạt
Tháng 11 Thanh niên với truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo
Trả lời câu hỏi: các hđ trong chủ đề hướng tới yêu cầu nào, hướng tới những mục tiêu nào; các mục tiêu cần
phải được diễn đạt bằng những hđ để có thể đo lường đánh giá được để dễ thực hiện, dễ kiểm tra
Tháng 12 Thanh niên với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc 3. Chuẩn bị
Tháng 1 Thanh niên với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
4. Tỏ chức các hoạt động
5. Đánh giá kết quả hoạt động
Tháng 2 Thanh niên với lý tưởng cách mạng
Câu 20. Nêu quy trình tổ chức hđ trải nghiệm – hđ trải nghiệm, hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông
Tháng 3 Thanh niên với vấn đề lập nghiệp 1. Khám phá
Tháng 4 Thanh niên với vấn đề hòa bình, hữu nghị và hợp tác
Xđ kỹ năng, kinh nghiệm nhận thức của học sinh có liên quan tới chủ đề; giáo viên cần tạo bầu không khí vui
vẻ thoải mái tạo tâm lý thân thiện, gần gũi và cởi mở để hs sẵn sàng tham gia trải nghiệm
Tháng 5 Thanh niên với Bác Hồ
2. Chiêm nghiệm – kết nối kinh nghiệm Tháng
HS đánh giá lại những hđ, kinh nghiệm mình đã trải qua, trải nghiệm; đồng thời khái quát lại những kinh
Mùa hè tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng 6,7,8
nghiệm mình đã trải qua đó kết nối với những gì mình đã trải nghiệm ngày hôm nay để từ đó liên tưởng với
những sự việc, sự kiện để rút ra bài học; giáo viên có thể sử dụng những hoạt động gợi mở, phỏng vấn ngắn Phần tự chọn
kết hợp với sự tương tác hỏi đáp, thảo luận nhóm, đóng vai, thực hiện tiểu phẩm, tạo cơ hội để HS chia sẻ.
Tổ chức các câu lạc bộ theo từng chuyên đề 3. Rèn luyện kỹ năng
Các hoạt động vui chơi...
Đây là bước rất quan trọng để HS thể hiện những gì mình biết, mình cảm nhận thông qua hành động để rèn
Các hoạt động giáo dục khác
luyện và pt những kỹ năng cần thiết mà chủ đề đã đặt ra; giáo viên có thể tổ chức những hđ để HS tham gia
Việc tổ chức hoạt động này thể hiện ở chỗ giáo viên chủ nhiệm tổ chức các tiết sinh hoạt lớp, các hoạt động
như hướng dẫn mẫu, quan sát và làm theo mẫu, hđ mô phỏng, hỏi đáp, trò chơi tương tác hoặc là xử lý tình
ngoại khóa về văn hóa thể thao (hội thao), các hoạt động tham quan, dã ngoại, hoạt động giáo dục hướng huống nghiệp… cho học sinh 4. Vận dụng/ mở rộng
Đây là bước giúp HS có cơ hội được thực hành, vận dụng những kiến thức và kỹ năng mới, vào một bối
cảnh thực tế và những đk thực tế có ý nghĩa trong đs của HS => giúp cho HS phát huy sự sáng tạo trong tư
duy và liên hệ vào chính đs của HS để đưa ra những bước ứng phó với những tình huống mà cs đặt ra; giáo