-
Thông tin
-
Quiz
Đề cương ôn tập môn triết | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin và rút ra ý nghĩa của định nghĩa? Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho việc khắc phục căn bệnh chủ quan duy ý chí? Phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho việc khắc phục căn bệnh phiến diện? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Triết học Mác-Lênin (philosophy) 99 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Đề cương ôn tập môn triết | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin và rút ra ý nghĩa của định nghĩa? Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho việc khắc phục căn bệnh chủ quan duy ý chí? Phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho việc khắc phục căn bệnh phiến diện? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Triết học Mác-Lênin (philosophy) 99 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:



















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
KHOA TRIẾT HỌC
VẤN ĐỀ ÔN TẬP TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
PHẦN TỰ LUẬN (DÀNH CHO CÁC LỚP
CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN – 4 TÍN CHỈ)
(Kết hợp trắc nghiệm)
CÂU 1: Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin và rút ra ý nghĩa của định nghĩa?
Hoàn cảnh ra đời định nghĩa vật chất của Lênin: cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, xuất hiện nhiều phát minh mới trong khoa học tự nhiên. Những phát minh
đó đã bác bỏ quan niệm cũ về vật chất đồng thời đưa lại những hiểu biết mới về
vật chất, nhưng lại bị chủ nghĩa duy tâm lợi dụng để khẳng định bản chất “ phi
vật chất” của thế giới.
Lênin đã phân tích tình hình phức tạp ấy và chỉ rõ: Không phải vật chất bị
tiêu tan mà chỉ tiêu tan những quan niệm truyền thống về vật chất
* Định nghĩa vật chất của Lenin: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác
của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ảnh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
* Phân tích: Phương pháp định nghĩa: Phương pháp định nghĩa không thông thường
- Thứ 1: Lenin đã sử dụng phương pháp định nghĩa đặc biệt cho phạm trù vật chất
đó là định nghĩa thông qua việc đối lập nó với phạm trù hình thức trên phương
diện nhận thức luận cơ bản, đồng thời chỉ ra những đặc điểm riêng của phạm trù vật chất.
+ Vật chất là một phạm trù triết học – là khái niệm rộng nhất (rộng đến cùng cực,
cho nên không thể có 1 khái niệm nào rộng hơn nữa), khái quát nhất (khái quát
toàn bộ giới tự nhiên )
- Thứ 2: Thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là thực tại
khách quan, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
+ Thực tại khách quan là những gì đang tồn tại thực bên ngoài đầu óc của con
người và không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
=> Là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất với cái không phải là vật chất
+ Vật chất là tất cả những gì đã và đang tồn tại thực sự bên ngoài ý thức của con người.
- Thứ 3: Được đem lại cho con người trong cảm giác
+ Tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên các giác quan => Gây nên cảm giác, ý thức .
+ Vật chất là những cái tồn tại thực và khi nó tác động theo 1 cách nào đó, có
thể trực tiếp or gián tiếp đến các giác quan của con người sẽ đem lại cho con người cảm giác, ý thức.
+ Vật chất (thực tại khách quan) là cái có trước, còn ý thức (cảm giác) là cái có sau.
- Thứ 4: Được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh
+ Có thể nhận thức được => Chép lại, chụp lại, phản ánh lại
=> Vật chất tồn tại không hề thần bí, vô hình mà nó tồn tại thực dưới các dạng, loại cụ thể.
=> Bằng những phương pháp nhận thức khác nhau con người hoàn toàn có thể
nhận thức được mọi đối tượng vật chất. * Ý nghĩa
- Giải quyết 1 cách đúng đắn và triệt để cả 2 mặt vấn đề cơ bản của triết học.
- Khắc phục triệt để hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ, bác bỏ chủ nghĩa duy tâm, bất khả tri.
- Khắc phục được cuộc khủng hoảng vật lý học, đem lại niềm tin trong khoa học tự nhiên.
- Là cơ sở để xây dụng nền tảng vững chắc cho sự liên minh ngày càng chặt chẽ
giữa triết học duy vật biện chứng với các ngành khoa học.
- Tạo tiền đề xây dựng quan điểm duy vật về xã hội, và lịch sử loài người.
CÂU 2: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, trên cơ sở
đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho việc khắc phục căn bệnh chủ quan duy ý chí?.
- Vật chất: là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản
ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
- Ý thức: là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan được sáng tạo lại theo nhu
cầu và mục đích của con người.
* Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
(1) Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức.
- Vật chất có trước, ý thức có sau bởi vì:
+ Ý thức là sản phẩm, là thuộc tính của 1 dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc
con người nên chỉ khi có con người thì mới có ý thức.
+ Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nên chỉ khi nào có thế
giới khách quan (vật chất) thì mới có thể hình thành ý thức.
- Vật chất là nguồn gốc của ý thức
- Vật chất quy định nội dung, bản chất và hình thức biểu hiện của ý thức.
- Vật chất quyết định sự vận động, biến đổi, phát triển của ý thức.
(2) Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất
- Ý thức có tính độc lập tương đối, có tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông
qua hoạt động thực tiễn của con người
+ Thứ 1: Ý thức có thể làm biến đổi hiện thực vật chất khách quan để phục vụ cho nhu cầu của con người
+ Thứ 2: Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được hiện thực khách quan
(thế giới vật chất) mà chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn của con người thì ý
thức mới phát huy được vai trò của nó.
+ Thứ 3: Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo 2 xu hướng:
(1) Tích cực: Nếu ý thức, tư tưởng tiên tiến, phản ánh đúng quy luật khách
quan nó sẽ thúc đẩy hiện thực khách quan (vật chất) phát triển.
(2) Tiêu cực: Nếu ý thức, tư tưởng lạc hậu, phản ánh không đúng quy luật
khách quan nó sẽ kìm hãm sự phát triển của hiện thực khách quan (vật chất)
* Ý thức phương pháp luật của mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.
- Thứ 1: Vì vật chất quyết định ý thức nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
phải tuân theo quan điểm khách quan, tức là:
+ Xuất phát từ hiện thực khách quan, tuân theo các quy luật khách quan và điều
kiện khách quan (xuất phát từ thực tiễn)
+ Loại bỏ yếu tố chủ quan trong đó (chống chủ quan duy ý chí )
- Vì ý thức có thể tác động trở lại vật chất nên cần phải khắc phục bệnh trì trệ, bảo
thủ, chậm đổi mới, phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức.
- Loại bỏ những ý thức tiêu cực, lạc hậu, phát huy những ý thức tích cực, tiến bộ
thông qua việc nâng cao dân trí, tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục.
- Vì tự bản thân ý thức không thể thay đổi hiện thực khách quan mà phải thông qua
hoạt động của con người nên cần phát huy nhân tố con người, giáo dục truyền
thống tốt đẹp để con người trở nên tốt hơn.
CÂU 3: Phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, trên cơ sở đó rút ra ý
nghĩa phương pháp luận cho việc khắc phục căn bệnh phiến diện?.
* Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
* Khái niệm Mối liên hệ: dùng để chỉ sự quy định, tác động và chuyển hóa lẫn
nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của một sự vật hiện tượng trong thế giới.
- Cơ sở của sự liên hệ đó là tính thống nhất vật chất của thế giới.
- Những mối liên hệ được phép biện chứng duy vật tập trung nghiên cứu là những
mối liên hệ phổ biến, tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới.
- Các mối liên hệ riêng biệt, tồn tại trong các bộ phậ khác nhau của thế giới là đối
tượng nghiên cứu của các ngành khoa học khác.
- Vai trò của các mối liên hệ
+ Thông qua các mối liên hệ sự vật mới có thể vận động, phát triển.
+ Thông qua các mối liên hệ mà sự vật bộc lộ bản chất để chúng ta nhận thức. * Tính chất - Tính khách quan:
+ Mối liên hệ là vốn có của sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý muốn
chủ quan của con người và con người chỉ nhận thức sự vật thông qua các mối liên hệ vốn có của nó.
+ Có mối liên hệ giữa các sự vật, vật chất với nhau.Có mối liên hệ giữa hiện tượng
vật chất và tinh thần với nhau. Có mối liên hệ giữa những hiện tượng tinh thần với nhau.
+ Các mối liên hệ suy cho cùng đều là sự quy định, tác động qua lại, chuyển hóa và
phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng. - Tính phổ biến:
+ Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với các sự vật hiện tượng khác
(Không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài các mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác )
+ Từ các sự vật trong giới vô cơ đến các sinh vật sống, con người, xã hội loài
ngoài, và quá trình tư duy của con người đều tồn tại các mối liên hệ.
+ Mối liên hệ không chỉ diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng mà còn diễn ra ngay giữa
các mặt, các yếu tố, cấu thành mỗi sự vật, hiện tượng.
- Tính đa dạng, phong phú:
+ Mỗi 1 sự vật, hiện tượng trong mỗi lĩnh vực nhất định, trong những điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể và trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau thì có những mối
liên hệ khác nhau. ( ví dụ: ở trường mối liên hệ giáo viên, sinh viên; ở nhà có mối
liên hệ với ông bà bố mẹ,...) * Ý nghĩa
* Thứ 1: Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn khi xem xét các sự vật, hiện
tượng phải tuân theo quan điểm toàn diện.
- Nội dung của quan điểm toàn diện:
+ Xem xét tất cả các mặt, các yếu tố cấu thành nên sự vật, hiện tượng cũng như tất
cả các mối liên hệ của chúng
+ Phải tránh chủ nghĩa chiết trung (tức là tránh coi vị trí của các mối liên hệ là như
nhau, cào bằng các mặt, các mối liên hệ, kết hợp 1 cách vô nguyên tắc các mối liên hệ với nhau)
+ Phải tránh sự ngụy biện ( tức là biến những mối liên hệ cơ bản, chủ yếu mang
tính quyết định thành những mối liên hệ không cơ bản, thứ yếu)
+ Trong hoạt động thực tiễn, phải đưa ra những giải pháp đồng bộ, sử dụng nhiều
biện pháp khác nhau nhưng có trọng tâm, trọng điểm để có thể cải tạo sự vật, hiện
tượng 1 cách có hiệu quả.
* Thứ 2: Khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải xem xét trên quan điểm lịch sử- cụ thể.
CÂU 4: Phân tích nguyên lý về sự phát triển, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa
phương pháp luận cho việc khắc phục căn bệnh bảo thủ trì trệ?.
* Nguyên lý về sự phát triển.
Sự phát triển diễn ra như thế nào? Bằng cách nào? Cái gì là nguồn gốc của sự phát triển?
- Quan niệm duy tâm, tôn giáo:
+ Thừa nhận các sự vật, hiện tượng có sự phát triển.
+ Nhưng khi lý giải về nguồn gốc của sự phát triển, họ cho rằng sự phát triển của
các sự vật, hiện tượng chịu sự quy định chi phối của 1 lực lượng siêu nhiên hay ý
thức, cảm giác chủ quan của con người. - Quan điểm siêu hình:
+ Phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi thuần túy về mặt số lượng mà không có
sự thay đổi về chất để dẫn đến sự ra đời sự vật hiện tượng mới
+ Đồng thời, coi sự phát triển là 1 quá trình tiến lên liên tục không có những bước
quanh co, thăng trầm và phức tạp.
- Quan niệm duy vật biện chứng: Phát triển là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ quá
trình vận động theo khuynh hướng đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của các sự vật, hiện tượng
* Tính chất của sự phát triển
- Tính khách quan: Nguồn gốc của sự phát triển do các quy luật khách quan chi
phối mà cơ bản nhất là quy luật mâu thuẫn
- Tính phổ biến: Sự phát triển diễn ra ở trong mọi lĩnh vực cả tự nhiên, xã hội và tư
duy; diễn ra trong mọi sự vật, hiện tượng, mọi quá trình, giai đoạn của chúng và
kết quả là cái mới xuất hiện.
- Tính đa dạng, phong phú: Quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng không hoàn
toàn giống nhau trong những không gian, thời gian khác nhau; quá trình phát triển
đó còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử cụ thể.
- Tính kế thừa: Sự phát triển bao giờ cũng có tính kế thừa những yếu tố tích cực,
tiến bộ, đồng thời loại bỏ những yếu tố lỗi thời, lạc hậu của sự vật cũ để tạo điều
kiện cho sự phát triển tiếp theo của sự vật mới.
* Ý nghĩa phương pháp luận
*Thứ 1: Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải tuân theo quan điểm phát triển.
- Nội dung của quan điểm phát triển:
+ Khi xem xét sự vật, hiện tượng phải luôn đặt nó trong khuynh hướng vận động,
biến đổi, chuyển hóa nhằm phát hiện ra xu hướng biến đổi của sự vật.
+ Xem xét các sự vật, hiện tượng trong tính biện chứng để thấy được tính chất
quanh co, phức tạp của sự phát triển.
+ Biết phát triển và ủng hộ cái mới; chống thái độ bảo thủ, trì trệ, định kiến, kì thị cái mới.
+ Biết kế thừa các yếu tố tích cực, tiến bộ từ sự vật cũ và phát triển sáng tạo chúng
trong điều kiện, hoàn cảnh mới
* Thứ 2: Khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải xem xét trên quan điểm lịch sử- cụ thể.
CÂU 5: Phân tích phạm trù thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận
thức, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận? * Phạm trù thực tiễn
- Thực tiễn: Là phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ hoạt động vật chất có mục
đích, mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
(1) Đặc trưng cơ bản của thực tiễn
- Thứ 1: Thực tiễn là hoạt động vật chất cảm tính
- Thứ 2: Thực tiến là hoạt động vật chất có mục đích.
- Thứ 3: Hoạt động thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử- xã hội.
(2) Các hình thức cơ bản của thực tiễn
- Hoạt động sản xuất vật chất: Là hoạt động đầu tiên và căn bản nhất giúp con
người hoàn thiện cả bản tính sinh học và xã hội.
- Hoạt động chính trị xã hội: Là hoạt động nhằm cải biến các quan hệ xã hội, các
khía cạnh của xã hội mà đỉnh cao nhất là biến đổi các hình thái kinh tế- xã hội.
- Hoạt động thực nghiệm khoa học: Là hoạt động nghiên cứu khoa học sử dụng
những phương tiện vật chất như phòng thí nghiệm, máy móc,.. nhằm chứng minh
những giả thuyết khoa học, tạo ra các vật liệu mới.
=> Mỗi hoạt động có vai trò khác nhau nhưng hoạt động sản xuất vật chất là hoạt
động giữ vai trò quan trọng nhất.
* Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
- Thứ 1: Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức
+ Bằng hoạt động thực tiễn và chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, con người
tác động vào thế giới khách quan, buộc nó “bộc lộ” ra các thuộc tính, quy luật để
con người nhận thức và hình thành nên tri thức của mình về thế giới khách quan
(chính thực tiễn cung cấp vật liệu cho con người nhận thức).
+ Thực tiễn luôn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận
thức, đồng thời, giúp con người rèn luyện các giác quan ngày càng tinh tế hơn,
hoàn thiện hơn để nhận thức được tốt hơn.
+ Hoạt động thực tiễn còn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy móc
mới hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức, từ đó mở rộng khả năng của các
khí quan nhận thức của con người.
- Thứ 2: Thực tiễn là mục đích, động lực của nhận thức
+ Con người nhận thức thế giới nhằm có được sự hiểu biết để phục vụ thực tiễn,
soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn.
+ Mọi tri thức khoa học kết quả của quá trình nhận thức chỉ có ý nghĩa khi nó
được áp dụng vào đời sống thực tiễn 1 cách trực tiếp hay gián tiếp để phục vụ con người.
=> Thực tiễn là mục đích của quá trình nhận thức.
+ Thực tiễn luôn vận động và biến đổi nên nó luôn nảy sinh những vấn đề mới
đòi hỏi con người phải nhận thức để giải quyết những vấn đề nảy sinh đó.
=> Vấn đề mới mà thực tiễn đặt ra chính là động lực thúc đẩy quá trình nhận thức của con người.
VD: Thực tiễn giảng dạy triết học nếu sinh viên thi trượt nhiều, không thích học,
đòi hỏi giảng viên phải nhận thức để tìm cách khắc phục như thế nào?
- Thứ 3: Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
+ Tri thức: Là kết quả của quá trình nhận thức, tri thức đó có thể phản ánh đúng
hoặc không đúng hiện thực, cho nên để biết được cái tri thức đó đúng hay sai thì
phải đem tri thức đó kiểm tra trong thực tiễn.
+ Thực tiễn có nhiều hình thức nên khi kiểm tra kết quả của quá trình nhận thức
cũng có nhiều hình thức kiểm tra có thể bằng thực nghiệm khoa học or vận dụng lý
luận xã hội vào quá trình cải biến xã hội.. tùy theo từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
+ Cần phải quán triệt quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động để khắc
phục bệnh giáo điều, sách vở.
* Ý nghĩa phương pháp luận
Trong quá trình nhận thức phải luôn thấy rõ vai trò của hoạt động thực tiễn, không
được xa rời thực tiễn.
Trong hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học phải kết hợp với họat động sản
xuất thực tiễn theo phương châm học đi đôi với hành =>học mới có kết quả.
CÂU 6: Phân tích các yếu tố cấu thành Hình thái kinh tế - xã hội và làm rõ vai
trò của từng yếu tố, liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay?
- Hình thái kinh tế xã hội: là một phạm trù của CNDVLS dùng để chỉ xã hội ở từng
giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu QHSX đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp
với một trình độ nhất định của LLSX, và với một KTTT tương ứng được xây dựng
trên những quan hệ sản xuất ấy.
* Yếu tố cấu thành Hình thái kinh tế- xã hội
HTKT - XH là một hệ thống hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong đó có các mặt
cơ bản là LLSX, QHSX và KTTT. Mỗi mặt của HTKT - XH có vị trí riêng và tác
động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau.
(1) Lực lượng sản xuất và các yếu tố cấu thành
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá
trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất, con người kết hợp với sức lao động của
mình với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động tạo thành sức mạnh khai
thác giới tự nhiên, làm ra sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của mình.
=> Lực lượng sản xuất là năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người
nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của mình.
Người lao động: là yếu tố đầu tiên chủ yếu của mọi quá trình sản xuất, bao gồm các nhân tố:
+ Nhu cầu sinh sống tự nhiên của con người. Nhu cầu thúc đẩy hoạt động.
+ Sức lao động của người lao động: sức thần kinh, sức thần kinh, sức cơ bắp mà
con người vận dụng để sử dụng, điều khiển công cụ lao động (như mang, vác, đẩy...)
+ Kinh nghiệm và kỹ năng lao động: là sự hiểu biết về đối tượng lao động, tính
năng, tác dụng của công cụ lao động, môi trường, sự thành thạo ít hay nhiều trong
việc sử dụng công cụ lao động, khả năng cải tiến công cụ...
=> Toàn bộ những nhân tố đó kết hợp trong người lao động làm thành yếu tố người lao động.
Tư liệu sản xuất: Bao gồm: tư liệu lao động và đối tượng lao động
+ Tư liệu lao động: • Công cụ lao động (búa, rìu, cuốc, máy móc...)
• Những phương tiện, vật liệu khác dùng để tăng cường, hỗ trợ
cho tác động của công cụ lao động lên đối tượng (nhà kho, sân bay, đường sá, cầu cống...)
+ Đối tượng lao động: là toàn bộ những khách thể tự nhiên, hoặc những vật liệu tự
nhiên đã được con người làm biến đổi nhưng chưa thành sản phẩm.
Ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tức
trở thành yếu tố trực tiếp của lực lượng sản xuất, khác với trước đây việc ứng dụng
và sáng tạo những thành tựu khoa học ở cách xa sản xuất.
Trong những yếu tố của lực lượng sản xuất thì người lao động giữ vai trò quyết
định. Vì con người không chỉ tạo ra lực lượng sản xuất mà còn sử dụng nó. Lực
lượng sản xuất chỉ là biểu hiện những năng lực của bản thân con người.
(2) Quan hệ sản xuất và ba mặt của quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình sản xuất. Đó
là quan hệ tất yếu khách quan được hình thành trong quá trình sản xuất của các cá nhân với nhau.
- Quan hệ sản xuất bao gồm 3 mặt:
+ Quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất
+ Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức và quản lý sản xuất.
+ Quan hệ giữa người với người trong việc phân phối sản phẩm xã hội
- Ba mặt của quan hệ sản xuất có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó quan hệ sở
hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với những quan hệ khác. Trong hệ
thống sản xuất xã hội người sở hữu tư liệu sản xuất quyết định quá trình tổ chức,
phân công lao động, phân phối sản phẩm xã hội vì lợi ích của mình, còn người
không sở hữu thì phục tùng sự phân công nói trên.
(3) Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền,
triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật… cùng với những thiết chế xã hội tương
ứng như nhà nước, đảng phát, giáo hội… được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định.
Kết cấu: Gồm các yếu tố chính trị, tư tưởng, luật pháp, tôn giáo, nghệ thuật, triết
học, đạo đức và các thể chế xã hội tương ứng (Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội)
* Vai trò của các yếu tố cấu thành nên hình thái kinh tế xã hội.
- Lực lượng sản xuất: là nền tảng vật chất - kỹ thuật của mối hình thái kinh tế xã
hội. HTKT - XH khác nhau có LLSX khác nhau. Suy đến cùng, sự phát triển của
LLSX quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội.
- Các QHSX tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội và quyết định tất cả mọi quan hệ
xã hội khác. Mỗi một HTKT - XH có một kiểu QHSX đặc trưng cho nó. QHSX là
tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội.
- KTTT được hình thành và phát triển phù hợp với cơ sở hạ tầng, nhưng nó lại là
công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó.
Ngoài các mặt cơ bản nêu trên, các HTKT - XH còn có quan hệ gia đình, dân tộc
và các quan hệ xã hội khác. Các quan hệ đó đều gắn bó chặt chẽ với QHSX, biến
đổi cùng với sự biến đổi của QHSX.
CÂU 7: . Phân tích quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay?. 1. Các khái niệm:
a. Khái niệm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất.
* Lực lượng sản xuất và các yếu tố cấu thành
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá
trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất, con người kết hợp với sức lao động của
mình với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động tạo thành sức mạnh khai
thác giới tự nhiên, làm ra sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của mình.
=> Lực lượng sản xuất là năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người
nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của mình.
Người lao động: là yếu tố đầu tiên chủ yếu của mọi quá trình sản xuất, bao gồm các nhân tố:
+ Nhu cầu sinh sống tự nhiên của con người. Nhu cầu thúc đẩy hoạt động.
+ Sức lao động của người lao động: sức thần kinh, sức thần kinh, sức cơ bắp mà
con người vận dụng để sử dụng, điều khiển công cụ lao động (như mang, vác, đẩy...)
+ Kinh nghiệm và kỹ năng lao động: là sự hiểu biết về đối tượng lao động, tính
năng, tác dụng của công cụ lao động, môi trường, sự thành thạo ít hay nhiều trong
việc sử dụng công cụ lao động, khả năng cải tiến công cụ...
=> Toàn bộ những nhân tố đó kết hợp trong người lao động làm thành yếu tố người lao động.
Tư liệu sản xuất: Bao gồm: tư liệu lao động và đối tượng lao động + Tư liệu lao động:
• Công cụ lao động (búa, rìu, cuốc, máy móc...)
• Những phương tiện, vật liệu khác dùng để tăng cường, hỗ trợ cho tác động của
công cụ lao động lên đối tượng (nhà kho, sân bay, đường sá, cầu cống...)
+ Đối tượng lao động: là toàn bộ những khách thể tự nhiên, hoặc những vật liệu tự
nhiên đã được con người làm biến đổi nhưng chưa thành sản phẩm.
Ngày nay khoa học kỹ thuật ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tức
trở thành yếu tố trực tiếp của lực lượng sản xuất, khác với trước đây việc ứng dụng
và sáng tạo những thành tựu khoa học ở cách xa sản xuất.
Trong những yếu tố của lực lượng sản xuất thì người lao động giữ vai trò quyết
định. Vì con người không chỉ tạo ra lực lượng sản xuất mà còn sử dụng nó. Lực
lượng sản xuất chỉ là biểu hiện những năng lực của bản thân con người.
* Quan hệ sản xuất và ba mặt của quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình sản xuất. Đó
là quan hệ tất yếu khách quan được hình thành trong quá trình sản xuất của các cá nhân với nhau.
- Quan hệ sản xuất bao gồm 3 mặt:
+ Quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất
+ Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức và quản lý sản xuất.
+ Quan hệ giữa người với người trong việc phân phối sản phẩm xã hội
- Ba mặt của quan hệ sản xuất có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó quan hệ sở
hữu về tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với những quan hệ khác. Trong hệ
thống sản xuất xã hội người sở hữu tư liệu sản xuất quyết định quá trình tổ chức,
phân công lao động, phân phối sản phẩm xã hội vì lợi ích của mình, còn người
không sở hữu thì phục tùng sự phân công nói trên. 2. Nội dung quy luật:
Quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ biện chứng,
biểu hiện thành quy luật cơ bản nhất của sự vận động của xã hội - quy luật về sự
phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
* Trình độ của lực lượng sản xuất: là khái niệm dùng để chỉ khả năng của con
người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến giới
tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình.
- Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ của công cụ lao động; trình độ
tổ chức lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất; kinh nghiệm và
kỹ năng lao động của con người; trình độ phân công lao động.
*Tính chất của lực lượng sản xuất, gồm có tính chất cá nhân và tính chất xã hội hóa
- Khi lực lượng sản xuất ở trình độ thủ công, lực lượng sản xuất chủ yếu là mang tính chất cá nhân.
- Khi lực lượng sản xuất đạt trình độ cơ khí hóa, lưc lượng sản xuất đòi hỏi phải
được vận động trong sự hợp tác xã hội rộng rãi, khi đó lực lượng sản xuất mang
tính xã hội hóa ngày càng cao.
Trên thực tế, tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất không tách biệt nhau,
trình độ nào thì tính chất ấy, trình độ thủ công gắn với tính chất cá nhân, trình độ
cơ khí hóa, hiện đại hóa gắn với tính chất xã hội hóa.
- LLSX quyết định quan hệ sản xuất.
+ LLSX là nội dung còn QHSX là hình thức của PTSX. Nội dung quyết định hình thức.
+ LLSX là yếu tố động, cách mạng trong PTSX. Vì trong quá trình lao động con
người không ngừng cải tiến công cụ do kinh nghiệm luôn được tích luỹ, do nhu cầu
sản xuất không ngừng tăng lên. Trong khi đó, QHSX có khuynh hướng bảo thủ ổn
định. Do đó, những thay đổi của PTSX đều bắt nguồn sâu xa, trước hết từ sự biến đổi của LLSX.
+ LLSX quyết định sự phân công lao động xã hội, do đó, quyết định quan hệ giữa
các tập đoàn người về mặt sở hữu tư liệu sản xuất, thông qua đó quyết định quá
trình tổ chức lao động xã hội và phân phối sản phẩm.
+ Khi LLSX phát triển mâu thuẫn với QHSX cũ đang kìm hãm nó, thì nó đòi hỏi
phải được thay thế bằng QHSX mới phù hợp để cho sản xuất phát triển. Như vậy,
sự thay thế QHSX này bằng QHSX khác do LLSX quy định, chứ không phải do QHSX.
+ Khi QHSX mới thay thế quan hệ sản xuất cũ thì PTSX cũ kết thúc và PTSX mới ra đời.
- QHSX có tính độc lập tương đối và tác dộng trở lại sự phát triển của LLSX
QHSX không chịu sự tác động của LLSX một cách thụ động, mà có tác động
ngược trở lại đối với LLSX
+ Trước hết, QHSX là mặt không thể thiếu của PTSX. LLSX không thể tồn tại và
phát triển ở bên ngoài QHSX, quan hệ sản xuất có thể tác động thúc đẩy hoặc kìm
hãm sự phát triển của LLSX.
+ Khi QHSX phù hợp với LLSX thì nó mở đường cho LLSX phát triển, bằng cách
nó sắp xếp các yếu tố của LLSX đúng vị trí, chức năng, tác dụng của chúng.
Nhưng khi QHSX không phù hợp với LLSX thì nó trở thành siềng xích trói buộc
đối với LLSX, làm cho chúng không phát huy được tác dụng...Sự không phù hợp
của QHSX với LLSX có thể xảy ra theo 2 xu hướng: vượt quá hoặc lạc hậu hơn so với LLSX.
+ QHSX xác định mục đích xã hội của nền sản xuất, tức là sản xuất được tiến hành
vì lợi ích của tập đoàn xã hội nào, tổ chức sản xuất vì lợi ích nào và phân phối sản
phẩm có lợi cho ai. Như thế có nghĩa là, mọi mặt của QHSX đều ảnh hưởng tích
cực hay tiêu cực đến LLSX.
3. Ý nghĩa phương pháp luận :
- Ở giai đoạn cuối mỗi phương thức sx, khi LLSX & QHSX mâu thuẫn gay gắt
với nhau thì phải tiến hành cách mạng XH để xóa bỏ QHSX cũ, xây dựng QHSX mới phù hợp.
- Trong quá trình xây dựng XH mới , trước hết phải quan tâm pt LLSX, đồng thời
phải kịp thời điều chỉnh những yếu tooskhoong phù hợp trong QHSX.
4. Liên hệ thực tiễn Việt Nam :
* Thời kỳ trước đổi mới , việc vận dụng quy luật này mắc nhiều sai lầm, Đảng chủ trương :
- Thiết lập chế độ công hữu về TLSX, không thực hiện đa dạng háo các hình thức sở hữu.
- Thực hiện cơ chế tập chung quan liêu bao cấp
- Phân phối sản phẩm mang tính bình quân, cào bằng,….
=> QHSX này không phù hợp với trình độ , LLSX ở nước ta vốn còn nhiều hạn
chế, do vậy LLSX bị kìm hãm.
* Trong thời kỳ đổi mới , việc vận dụng quy luật cơ bản là đúng đắn :
- Về LLSX : Đảng chủ trương CNH-HĐH, pt nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng Kh vào SX,..
- Về QHSX: Đảng chủ trương :
+ Đa dạng hóa các hình thức sở hữu , pt nền KT nhiều thành phần.
+ Vận hành cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN.
+ Phân phối theo kết quả lao động & hiệu quả KT, theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác,..
= > QHSX này phù hợp với trình độ sx ở nước ta vốn còn nhiều hạn chế,pt không
đồng đều, do vậy nó đã thúc đẩy LLSX phát triển
CÂU 8: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng, liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay?. 1. Các khái niệm:
a. Cơ sở hạ tầng và cấu trúc của cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng: là toàn bộ những quan hệ sản xuất họp thành cơ cấu kinh tế của xã
hội trong một giai đoạn nhất định. - Kết cấu của CSHT:
Bao gồm Quan hệ sản xuất thống trị, Quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội và Quan
hệ sản xuất mầm mống của phương thức sản xuất mới.
+ QHSX thống trị là QHSX đặc trưng nhất,tiêu biểu nhất nó chiếm địa vị thống trị
so với các QHSX khác cùng tồn tại trong giai đoạn lịch sử ấy
+QSX tàn dư của phương thức sản xuất cũ là QHSX cũ tồn tại dai dẳng chưa mất
hẳn trong chế độ xã hội hiện tại
+QHSX mầm mống của phương thức sản xuất mới là QHSX mới mầm mống của
phương thức sản xuất ở chế độ xã hội tương lai
+Ví dụ:trong xã hội Phong kiến
QHSX thống trị là QHSX Phong kiến địa chủ bóc lột nông dân
QHSX tàn dư vẫn còn quan hệ chủ-nô ở chế độ chiếm hữu nô lệ
QHSX mầm mống tương lai là QHSX tư bản, tư bản- người làm thuê
b. Kiến trúc thượng tầng và cấu trúc của kiến trúc thượng tầng:
-Khái niệm: KTTT là toàn bộ những quan điểm chính trị,đạo đức,tôn giáo,nghệ
thuật cùng với các thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước,đảng phái,giáo hội,các
đoàn thể xa hội được hình thành trên CSHT nhất định + Cấu trúc của KTTT:
Quan điểm tư tưởng: Chính trị
Thiết chế xã hội: Đảng, Nhà nước
Pháp quyền: Tòa án, viện kiểm sát
Triết học: Hội triết học Tôn giáo: Giáo hội
Trong đó Chính trị là yếu tố quan trọng nhất,đặc biệt là nhà nước. Vì chỉ có nhà
nước mới có bộ máy cưỡng chế,bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị nó lập ra vầ các thiết chế còn lại - Vai trò:
+ Mỗi yếu tố của KTTT có đặc điểm riêng, quy luật riêng nhưng chúng liên hệ với
nhau, tác động lẫn nhau và hình thành từ cơ sở hạ tầng
+ Các yếu tố khác nhau thì có vai trò, vị trí, quan hệ khác nhau đối với cơ sở hạ
tầng: Các yếu tố quan hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng như chính trị, pháp luật; các
yếu tố quan hệ gián tiếp với cơ sở hạ tầng như triết học, tôn giáo, nghệ thuật.
+ Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp sâu sắc.
2. Mối quan hệ biến chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
- Vị trí quy luật: Đây là 1 trong 2 quy luật cơ bản của sự vận động và phát triển lịch
sử xã hội loài người. (cụ thể là quy luật liên quan đến kinh tế và chính trị trong 1 xã hội nhất định )
Cơ sở hạ tầng > Có mối quan hệ biện chứng > Kiến trúc thượng tầng
2.1 Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
- Vì sao cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng?
+ Xuất phát từ việc quan hệ vật chất quyết định quan hệ tinh thần
+ Xuất phát từ tính tất yếu kinh tế xét đến cùng bao giờ cũng quyết định tính tất yếu chính trị- xã hội - Nội dung quyết định:
+ Cơ sở hạ tầng quyết định sự ra đời của KTTT
+ CSHT quyết định cơ cấu KTTT
+ CSHT quyết định tính chất của KTTT
+ CSHT quyết định sự vận động phát triển của KTTT
- Thứ 1: Mỗi CSHT sẽ sản sinh ra 1 KTTT tương ứng, có tác dụng bảo vệ CSHT
đó, bảo vệ cho quan hệ sản xuất thống trị.
VD: CSHT phong kiến: cơ cấu kinh tế phong kiến dựa trên tư liệu sản xuất
chủ yếu là ruộng đất đóng vai trò chủ đạo từ đó sinh ra KTTT phong kiến cốt lõi là
hệ tư tương phong kiến và nhà nước phong kiến.
- Thứ 2: Cơ sở hạ tầng quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác: giai cấp nào
thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinh
thần của xã hội, các giai cấp còn lại vào vị trí bị trị.
VD: Trong xã hội phong kiến, giai cấp địa chủ, quý tộc phong kiến nắm
trong tay tư liệu chủ yếu là ruộng đất nên giai cấp địa chủ, quý tộc phong kiến giữ
địa vị thống trị về chính trị, xã hội.
- Thứ 3: Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn, kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo.
+ Khi CSHT mới ra đời thay thế cho CSHT cũ thì 1 bộ phận của KTTT sẽ ra
đời ngay, còn 1 bộ phận KTTT cũ vẫn còn tồn tại trong KTTT mới
=> Những yếu tố của KTTT thay đổi nhanh chóng như: Nhà nước, pháp luật,..
=> Những yếu tố thay đổi chậm như tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật.
=> Thực chất của mối quan hệ giữa CSHT và KTTT xét đến cùng là mối quan hệ
giữa kinh tế và chính trí (trong đó kinh tế là nội dung, chính trị là hình thức, kinh tế
giữ vai trò quyết định chính trị)
2.2. Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng.
- KTTT do CSHT sinh ra, song nó cũng có tính độc lập tương đối, tác động trở lại CSHT.
+ KTTT sẽ duy trì, củng cố và phát triển CSHT sinh ra nó (địa vị của giai cấp
thống trị về kinh tế càng trở nên vững chắc)
+ KTTT phải bảo vệ cơ sở hạ tầng bằng pháp luật
- Các yếu tố khác nhau của KTTT có tác động khác nhau đến CSHT, trong đó, yếu
tố tác động mạnh mẽ nhất, trực tiếp nhất đến CSHT là Nhà nước.
- Các yếu tố khác của KTTT như đạo đức, nghệ thuật,.. Thường tác động đến
CSHT 1 cách gián tiếp, thông qua Nhà nước, nhờ đó mà các yếu tố này mới phát
huy được vai trò thực tế của nó.
VD: Chương trình Táo Quân- Gặp nhau cuối năm : Nghệ thuật không thay đổi
được kinh tế nhưng nó phản ánh sự phát triển kinh tế qua hình tượng nghệ thuật =>
Nhà nước mới nắm bắt thông tin để có chủ trương, chính sách điều chỉnh về kinh tế.
* Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với CSHT diễn ra theo 2 xu hướng
- Tích cực: Nếu KTTT phù hợp với CSHT sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy xã hội
phát triển. Pháp luật nghiêm minh thì thúc đẩy xã hội phát triển và ngược lại
- Tiêu cực: Nếu KTTT không phù hợp với CSHT sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội.
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận
- Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
là cơ sở khoa học cho việc nhận thức 1 cách đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải thấy được vai trò quyết định của cơ
sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng, của kinh tế đối với chính trị.
- Không được tuyệt đối hóa vai trò đó vì như vậy sẽ rơi vào chủ nghĩa duy vật tầm
thường, chủ nghĩa duy kinh tế.
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, cũng phải nhận thức rõ vai trò to lớn của chính trị với kinh tế.
- Tránh tuyệt đối hóa vai trò của chính trị với kinh tế vì như vậy sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm, duy ý chí.
3. Liên hệ thực tiễn đến Việt Nam hiện nay:
*CSHT ở nước ta hiện nay là nền kinh tế nhiều thành phần: kinh tế nhà nước,kinh
tế tư nhân,kinh tế tập thể,kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài...Trong đó kinh tế nhà
nước đóng vai trò chủ đạo,vận hành theo cơ chế thị trường,có sự quản lý của nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
*KTTT ở nước ta hiện nay là hệ thống chính trị được xây dựng dựa trên nền tảng
chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam;các tổ chức,đoàn thể nhân dân...Trong đó Đảng CSVN đóng vai
trò lãnh đạo; nhà nước quản lý,nhân dân làm chủ..
*Để thiết lập một KTTT phù hợp với CSHT Đảng ta chủ trương: không ngừng đổi
mới hệ thống chính trị nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng,nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước,phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
CÂU 9. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội,
liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay? 1. Các khái niệm:
- Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.
- Tồn tại xã hội bao gồm các yếu tố cơ bản: +Phương thức sản xuất + Điều kiện tự nhiên
+ Dân số (mật độ dân số)
- Trong đó, phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản nhất.
- Ý thức xã hội là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội phản ánh tồn tại xã hội
trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
+ Cần thấy rõ sự khác nhau tương đối giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân. Ý thức
cá nhân phản ánh tồn tại xã hội với mức độ khác nhau, vì vậy, nó cũng mang tính
xã hội, nhưng không phải bao giờ cũng biểu hiện đầy đủ ý thức xã hội.
+ Ý thức xã hội và ý thức cá nhân tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với
nhau và làm phong phú cho nhau.
2. Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
2.1. Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
- Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội trước hết thể hiện ở chỗ:
+ Tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội tương ứng như vậy. Đời sống vật
chất và các điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội quyết định sự nảy sinh, phát
triển đời sống tinh thần của xã hội.
+ Khi tồn tại xã hội thay đổi, nhất là sự thay đổi về phương thức sản xuất thì
toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội (chính trị, triết học, pháp quyền, đạo
đức...) cùng với các hiện tượng tâm lý xã hội sớm muộn cũng thay đổi theo. Cho
nên, ở các thời đại lịch sử khác nhau có những quan điểm lý luận khác nhau thì đó
là do sự khác nhau về tồn tại xã hội quy định.
=> Như vậy, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội là cái phản ánh
của tồn tại xã hội. Từ đó, chúng ta thấy: muốn giải thích các hiện tượng nảy sinh,
biến đổi ở ý thức xã hội, trước hết phải xuất phát từ tồn tại xã hội, từ những điều
kiện vật chất hiện có, chứ không được căn cứ vào ý muốn chủ quan của con người,
và muốn tạo ra sự biến đổi căn bản trong đời sống tinh thần của xã hội, trước hết
phải tạo ra sự biến đổi căn bản trong đời sống vật chất.
- Ý thức xã hội do tồn tại xã hội quyết định, nhưng sau khi đã hình thành, phát
triển ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và có sự tác động trở lại đối với toàn
bộ đời sống kinh tế xã hội.
2.2.Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội
Ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội theo 2 hướng:
+ Nếu ý thức xã hội phản ánh đúng quy luật vận động của hiện thực khách quan,
của tồn tại xã hội, sẽ góp phần thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển.
+ Nếu ý thức xã hội phản ánh không đúng quy luật vận động của hiện thực khách
quan, của tồn tại xã hội, sẽ kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội.
Mức độ tác động của ý thức xã hội đối với sự phát triển của tồn tại xã hội phụ
thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể, vào những quan hệ kinh tế xã hội và khả năng
mở rộng, thâm nhập của ý thức xã hội vào quần chúng nhân dân, lực lượng xã hội
cơ bản sáng tạo ra lịch sử.
3. Ý nghĩa phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và thực tiễn
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, khi nhận thức các hiện tượng của đời
sống tinh thần xã hội (ý thức xã hội) phải căn cứ vào tồn tại xã hội đã làm nảy sinh ra nó
- Trong thực tiễn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới cần phải được tiến hành
đồng thời trên cả hai mặt TTXH và YTXH, trong đó việc thay đổi TTXH cũ là
điều kiện cơ bản nhất để thay đổi YTXH cũ.
- Muốn phát triển xã hội thì phải đầu tư để biến đổi TTXH với những chính sách
làm thay đổi cơ sở vật chất và tinh thần cho xã hội. 4. Liên hệ ở Việt Nam
Trong xã hội Việt Nam hiện nay, bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp của
dân tộc, có không ít vấn đề đặt ra đòi hỏi phải giải quyết. Đó là cuộc đấu tranh giữa
hai lối sống; một bên là lối sống có lý tưởng, lành mạnh, trung thực; một bên là lối
sống thực dụng, ích kỷ, dối trá. Vì vậy, giáo dục đạo đức mới cho mọi người, làm
lành mạnh đời sống tinh thần là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công
cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin trong cách
mạng tư tưởng và văn hóa, xây dựng con người mới và nền văn hóa mới, Đảng ta
cho rằng “nền văn hóa mới vừa kết tinh và nâng lên một tầm cao mới những gì đẹp
đẽ nhất trong truyền thống bốn ngàn năm của dân tộc Việt Nam, của văn hóa Việt
Nam, vừa hấp thụ có chọn lọc những thành quả của văn minh loài người, những
thành tựu văn minh loài người, những thành tự văn hóa, khoa học hiện đại...”
CÂU 10: Phân tích quan điểm triết học Mác – Lênin về bản chất con người
và ý nghĩa đối với việc phát triển con người ở Việt Nam hiện nay. a. Khái niệm
Con người: là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội có sự thống nhất biện
chứng giữa tính sinh vật và tính xã hội.
- Tính sinh vật (bản năng sinh học):
+ Con người là một bộ phận của giới tự nhiên.
+ Là kết quả của sự tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên.
+ Không có môi trường tự nhiên, không có yếu tố bản năng sinh học, sinh lý
con người không thể tồn tại được. - Tính xã hội:
+ Chính là sự phát triển tư duy, ý thức thông qua hoạt động thực tiễn (hoạt động
sản xuất vật chất) của con người.
+ Tạo nên các mối quan hệ xã hội của co người.
b. Bản chất của con người
Trong tính hiện thực của nó bản chất của con người là tổng hòa những quan hệ xã hội.
- Xem xét con người “trong tính hiện thực của nó” nghĩa là:
+ Không xem xét con người chung chung, trừu tượng.
+ Mà chỉ xem xét con người trong giai đoạn lịch sử cụ thể, quan hệ xã hội cụ
thể: con người thuộc giai cấp nào, dân tộc nào, sống trong thời đại nào, tham gia
vào quan hệ xã hội nào.
- Bản chất con người là “tổng hòa các quan hệ xã hội” nghĩa là:
+ Bản chất con người được hình thành do sự tổng hợp biện chứng tất cả các quan hệ xã hội.
+ Trong các quan hệ xã hội đó quan hệ cơ bản là quan hệ lợi ích, quan hệ kinh tế.
c. Ý nghĩa đối với việc phát triển con người ở Việt Nam
Thấm nhuần tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê nin về con người, trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định:
“Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển.
Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích
của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Kết hợp và phát huy đầy đủ
vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và
cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu
nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ, lao động
giỏi; sống có văn hoá, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính”
--------------- Hết ----------------