Đề cương ôn tập Triết học | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Phân tích điều kiện tiền đề ra đời của triết học Mác. Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin và rút ra ý nghĩa của định nghĩa. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho việc khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Thông tin:
24 trang 19 giờ trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Đề cương ôn tập Triết học | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Phân tích điều kiện tiền đề ra đời của triết học Mác. Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin và rút ra ý nghĩa của định nghĩa. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho việc khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

5 3 lượt tải Tải xuống
ĐỀ CƯƠNG TRIẾT HỌC
Câu 1: Phân tích điều kiện tiền đề ra đời của triết học Mác.
- Điều kiện khách quan:
+ Điều kiện kinh tế - xã hội: Triết học Mác ra đời khoảng năm 1840 do sự phát triển của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (phát triển do áp dụng thành tựu cuộc cách mạng khoa
học - kĩ thuật lần 1 - 1760), PTSXTBCN phát triển đã gây ra mâu thuẫn trong lòng CNTB,
được biểu hiện : Mâu thuẫn giữa LLSX mang tính xã hội hóa cao với : (1)Về mặt kinh tế
QHSX dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản về TLSX. : là mâu (2)Về chính trị - xã hội
thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Khi phát triển CNTB thì giai cấp công nhân
cũng xuất hiện và ngày càng trưởng thành lớn mạnh với tư cách là lực lượng chính trị xã hội
độc lập và bị áp bức bóc lột ----> phong trào công nhân nổ ra mạnh mẽ nhưng lần lượt thất bại
hoặc không đạt được mục đích đề ra ------> đòi hỏi phải có một lý luận tiên tiến soi đường đưa
phong trào công nhân đến thắng lợi -----> chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng được yêu cầu này
và chính phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân là cơ sở thực tiễn để Mác và Ăngghen
khái quát thành lý luận ----> sự ra đời của triết học Mác là tất yếu khách quan.
+ Điều kiện lý luận:
(1) Triết học cổ điển Đức: Kế thừa có chọn lọc, phê phán phép biện chứng của Heegen ( phê
phán bởi vì ông là nhà duy tâm khách quan), chủ nghĩa duy vật của Phoi ơ bắc ----> tìm ra
được chủ nghĩa duy vật lịch sử.
(2) Kinh tế chính trị học cổ điển Anh: Kế thừa tư tưởng kinh tế của Ađam Smith và Đaaymit
Jcano ----> xây dựng nền kinh tế chính học Mác, tìm ra được học thuyết giá trị thặng dư.
(3) Chủ nghĩa xã hội không tưởng Anh: Kế thừa có chọn lọc tư tưởng xã hội chủ nghĩa của
Xanh xi mông, Ôoen,…----> xây dựng nên chủ nghĩa xã hội khoa học----> phát hiện ra sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
+ Điều kiện khoa học tự nhiên:
(1) Học thuyết tiến hóa
(2) Học thuyết tế bào
(3) Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
----> 3 phát minh có tính chất vạch thời đại (Ăngghen) tức là mở ra thời đại mới, thời đại của
chủ duy vật và khoa học. Sự ra đời của 3 phát minh này đã phê phán chủ nghĩa duy tâm tôn
giáo và bảo vệ cho chủ nghĩa duy vật. Làm rõ ý nghĩa triết học của 3 điều kiện trên ?
- Điều kiện chủ quan:
(1) Tuy xuất thân từ tầng lớp trên (Mác - gia đình trí thức; Ăngghen - gia đình tư bản) nhưng
Mác và Ăngghen đều tích cực tham gia hoạt động thực tiễn gắn liền với phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế: Mác sáng lập ra quốc tế 1, Ăngghen sáng lập ra quốc tế 2, Lênin sáng lập ra
quốc tế 3 ----> trí tuệ uyên bác, không chỉ hoạt động thực tiễn mà còn tích cực nghiên cứu khoa
học, đóng góp cho nhân loại 3 phát kiến lớn (CNDVLS, học thuyết GTTD, sứ mệnh lịch sử của
GCCN trong CNXHKH).
(2) Yêu thương người lao động, hiểu biết sâu sắc cuộc sống khốn khổ của giai cấp công nhân
trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ---> đứng hẳn về phía giai cấp công nhân, bảo vệ lợi ích
của GCCN , tinh thần nhân văn. GCCN trong lòng tư bản chủ nghĩa bị bóc lột vô cùng nặng
nề, bị áp bức lao động 14 - 16 tiếng một ngày (vì lúc này chủ nghĩa tư bản muốn thu được
nhiều giá trị thặng dư thì chỉ có cách kéo dài thời gian lao động, tăng cường độ lao động).
(3) C. Mác và Ăngghen đều tích cực tham gia hoạt động thực tiễn, từ hoạt động đấu tranh trên
báo chí đến tham gia phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, tham gia thành lập và hoạt
động trong các tổ chức công nhân,…
(4) Xây dựng hệ lý luận cung cấp cho giai cấp công nhân một công cụ sắc bén để nhận thức và
cải tạo thế giới ( chủ nghĩa Mác…).
Câu 2. Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin và rút ra ý nghĩa của định nghĩa.
“ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ được đem lại cho con thực tại khách quan
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta và tồn tại chép lại, chụp lại, phản ánh
không lệ thuộc vào cảm giác” .
- Phân tích định nghĩa:
+ Khái niệm vật chất dưới góc độ triết học dùng để chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận,
không sinh ra, không mất đi, còn các dạng vật chất mà các khoa học cụ thể nghiên cứu để có
giới hạn, có sinh ra, mất đi, chuyển hóa thành cái khác.
+ Thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất (nguyên tử, điện tử, thế giới vi
mô, vĩ mô mà con người đã biết hoặc chưa biết) có thuộc tính là tồn tại khách quan (tồn tại,
bên ngoài, độc lập và không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, cho dù con người
có nhận thức hay không nhận thức được nó).
+ Vật chất - thực tại khách quan, dưới những dạng khách quan cụ thể của nó là cái có thể gây
nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động tác động đến các giác quan
của con người, do đó vật chất là cái có trước, cảm giác, ý thức là cái có sau. Ý thức là sự phản
ánh đối với vật chất, vật chất là cái được ý thức phản ánh.
+ Ý thức là sự phản ánh của vật chất, chịu sự quyết định của vật chất trên các hiện tượng tinh
thần (cảm giác, tư duy, ý thức…) luôn có nguồn gốc từ các hiện tượng vật chất, nội dung của
chúng cũng là phản ánh các sự vật, hiện tượng đang tồn tại với tính cách là hiện thực khách
quan. Về nguyên tắc, con người có thể nhận thức được thế giới vật chất.
- Ý nghĩa:
+ Đứng trên lập trường duy vật biện chứng, Lênin đã giải quyết đúng đắn và triệt để 2 mặt vấn
đề cơ bản của triết học.
+ Cung cấp nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận khoa học, đấu tranh chống chủ
nghĩa duy tâm, thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vậy siêu hình và mọi biểu hiện của chúng.
+ Cơ sở khoa học để xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội, góp phần tạo nền tảng lý luận
khoa học cho việc phân tích các vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
+ Là cơ sở xây dựng nền tảng vững chắc cho sự liên minh ngày càng chặt chẽ giữa triết học
duy vật biện chứng với khoa học.
Câu 3: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trên cơ sở đó rút ra ý
nghĩa phương pháp luận cho việc khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí.
* Vật chất: Theo LêNin “ Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh lại và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
* Ý thức : Là một dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao là bộ óc con người. Bộ óc người là cơ
quan vật chất của ý thức còn ý thức là chức năng của bộ óc con người vì vậy không thể tách rời
ý thức ra khỏi bộ óc. Ý thức có 2 nguồn gốc chính: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
- Nguồn gốc tự nhiên:
• Óc người là cơ quan vật chất của ý thức là kết quả quá trình tiến hóa lâu dài của vật chất.
• Sự tiến hóa của các hình thức phản ánh phụ thuộc vào những cấp độ phát triển khác
nhau của vật chất. Phản ánh tâm lý ở động vật cấp cao và sự chuyển hóa của phản ánh tâm lý
thành phản ánh ý thức của con người.
- Nguồn gốc xã hội : ý thức hình thành thông qua quá trình lao động, ngôn ngữ và những quan
hệ xã hội của loài người.
* Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
- Vật chất và ý thức quan hệ qua lại và chuyển hóa lẫn nhau :Vật chất có trước ý thức có sau,
vật chất quyết định ý thức, vật chất là nguồn gốc, là tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển
của ý thức. Hay nói cách khác vật chất thế nào thì ý thức như thế ấy, vật chất thay đổi đến đâu
thì ý thức thay đổi đến đó.
- Ý thức là do vật chất sinh ra nhưng 1 khi ý thức ra đời nó có tác dụng tích cực trở lại với vật
chất sinh ra nó theo 2 trường hợp:
+ Nếu ý thức tiến bộ: phản ánh phù hợp với thực tế thì có tác dụng thúc đẩy xã hội phát
triển.
+ Nếu ý thức lạc hậu: phản ánh không phù hợp với quy luật khách quan thì có tác dụng
kìm hãm xã hội phát triển.
- Ý thức thuần túy: ý thức này dù tiến bộ hay lạc hậu thì bản thân chúng cũng không làm thay
đổi điều kiện hiện thực mà ý thức đó phải thông qua hành động thực tiễn của con người thì mới
trở thành hiện thực.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nếu thừa nhận vật chất có trước ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức thì trong hành động
nhận thức cũng như hành động thực tiễn của con người phải luôn luôn xuất phát từ thực tế
khách quan tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
- Ý thức có tác động tích cực trở lại vật chất sinh ra nó cho nên ta phải biết phát huy tính năng
động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố chủ quan của con người.
- Cần chống bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh bảo thủ, trì trệ, ỷ lại, ngồi chờ.
Câu 4: Phân tích nguyên lí về mối liên hệ phổ biến trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương
pháp luận cho việc khắc phục căn bệnh phiến diện.
* Khái niệm :
- Trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, “mối liên hệ phổ biến” là khái niệm chỉ sự quy định, tác
động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt của một sự
vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
- Theo nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thực tế đều
tác động đến nhau. Không có sự vật, hiện tượng nào tách biệt hoàn toàn với các sự vật, hiện
tượng khác.
* Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng
duy vật, trong đó liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự liên quan tác động, ràng
buộc, quy định và chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng
(SVHT) hoặc giữa các SVHT với nhau. Mọi SVHT trong thế giới khách quan đều tồn tại trong
những mối liên hệ tác động lẫn nhau, sự vật này thay đổi kéo theo sự vật kia thay đổi và không
có một SVHT nào tồn tại một cách cô lập, tách rời, do đó mối liên hệ giữa các SVHT mang
tính phổ biến. Mối liên hệ này còn mang tính khách quan do đây là cái vốn có từ bên trong
SVHT chứ không phải do áp đặt từ bên ngoài, nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế
giới vật chất của thế giới, từ sự tồn tại và phát triển của chính SVHT. Các SVHT trong thế giới
vật chất rất đa dạng nên mối liên hệ giữa chúng cũng đa dạng. Căn cứ vào tính chất, phạm vi,
trình độ có thể phân biệt các mối liên hệ thành các dạng như sau : liên hệ bên trong và bên
ngoài, chung và riêng, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, không gian và thời gian,
trực tiếp và gián tiếp… Sự phân loại này là tương đối vì mối liên hệ đó chỉ là bộ phận trong
toàn bộ mối liên hệ phổ biến nói chung, tuy nhiên sự phân biệt các mối liên hệ là cần thiết vì
chúng có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của các SVHT
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- đòi hỏi khi xem xét, đánh giá sự vật hiện tượng, ta phải đặt chúngQuan điểm toàn diện
vào mối quan hệ với các SVHT khác, xem xét các SVHT trong mối quan hệ qua lại giữa các
bộ phận, các yếu tố các thuộc tính khác nhau của chính bản thân SVHT và giữa SVHT đó với
những SVHT khác (kể cả trực tiếp, gián tiếp). Thực chất của quan điểm toàn diện là trong khi
chú ý xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành của sự vật, tư duy phải
phát hiện được, phản ánh được những mặt chủ yếu, bản chất, quan trọng nhất, rút ra được cái
trọng tâm, trọng điểm, cơ bản, cốt lõi .. chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật, không xem
xét dàn trãi, đánh đồng các mối liên hệ . Từ quan điểm toàn diện khi sự xem xét các SVHT dẫn
đến nguyên tắc đồng bộ trong hành động thực tiễn, có nghĩa là để cải tạo một SVHT bao giờ
chúng ta cũng phải áp dụng đồng bộ một hệ thống nhiều biện pháp, nhiều phương tiện khác
nhau để biến đổi những mối liên hệ nội tại của sự vật . Tuy nhiên như đã nói ở trên, “đồng bộ”
không có nghĩa là giàn đều, bình quân mà trong từng bước, từng giai đoạn phải nắm đúng khâu
then chốt. Thực hiện quan điểm toàn diện góp phần khắc phục bệnh phiến diện một chiều hoặc
chống chủ nghĩa chiết trung mà đặc trưng của nó là nhân danh quan điểm toàn diện do tỏ ra
chú ý đến nhiều mặt nhưng không nhìn thấy được mặt bản chất của sự vật. Quan điểm toàn
diện cũng góp phần khắc phục lối suy nghĩ giản đơn, duy ý chí
- Quan điểm lịch sử cụ thể là một quan điểm được rút ra từ nguyên lý mối liên hệ phổ
biến. Quan điểm này đòi hỏi khi xem xét mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra hoặc khi đánh giá một
SVHT, để nhìn thấy được bản chất của sự vật hiện tượng chúng ta gắn nó với không gian và
thời gian cụ thể, với những điều kiện, những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự tồn tại của sự vật,
không được đánh giá chung. Tư duy của chúng ta chỉ có thể chân thực khi chúng ta theo sát sự
thay đổi của những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự vật. Quan điểm hoàn cảnh lịch sử cụ thể
đòi hỏi khi vận dụng những nguyên tắc lý luận vào thực tiễn không được dừng lại ở những
công thức chung, sơ đồ chung mà phải tính đến những điều kiện lịch sử cụ thể của sự vận
dụng. Nói cách khác, khi xem xét một luận điểm, một chân lý nào đó phải gắn với những hoàn
cảnh lịch sử cụ thể của luận điểm, của chân lý đó, bởi vì chân lý sẽ trở thành sai lầm nếu nó bị
đẩy ra ngoài giới hạn tồn tại của nó, trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định
của nó. Lênin nói “Bản chất linh hồn sống của Chủ nghĩa Mác là phân tích cụ thể một tình hình
cụ thể, điều kiện cụ thể”.
=> Quán triệt quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể, chúng ta cần khắc phục và
nghiêm khắc phê phán căn bệnh phiến diện.
- Bệnh phiến diện xuất phát từ việc xem xét một SVHT chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà
không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những SVHT ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật
ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh
của sự việc ấy mà quên mất sự vận động của sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng.
Ngoài ra, khi xem xét SVHT, mặc dù có chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ nhưng nếu ta
đánh giá ngang nhau những mặt, những mối liên hệ đó thì ta cũng rơi vào bệnh phiến diện.
Câu 5: Phân tích nguyên lí về sự phát triển, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp
luận cho việc khắc phục căn bệnh bảo thủ trì trệ.
*Phân tích:
* Khái niệm về sự phát triển
- Theo quan điểm siêu hình, phát triển chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về mặt lượng, chỉ là sự
tuần hoàn, lặp đi, lặp lại mà không có sự thay đổi về chất, không có sự ra đời của sự vật, hiện
tượng mới và nguồn gốc của sự “phát triển” đó nằm ngoài chúng.
- Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển được coi là sự vận động đi lên, là quá trình tiến lên
thông qua bước nhảy; sự vật hiện tượng cũ mất đi, sự vật hiện tượng mới ra đời thay thế; phát
triển là đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng. Các sự vật hiện tượng của
thế giới tồn tại trong sự vận động, phát triển và chuyển hóa không ngừng.
→ Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ
chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn. Vận động nào theo khuynh hướng đi lên mới là phát
triển.
* Tính chất của sự phát triển
- Tính khách quan: Nguồn gốc của sự phát triển nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng,
không phải do tác động từ bên ngoài và không phụ thuộc vào ý thích, ý muốn chủ quan của con
người.
- Tính phổ biến: Sự phát triển có mặt ở khắp mọi nơi trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy
+ Trong tự nhiên : Tăng cường khả năng thích nghi cơ thể trước sự biến đổi của môi trường.
+ Trong xã hội: Nâng cao năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, tiến tới mức độ càng
ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người.
+ Trong tư duy: Khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn với tự nhiên và
xã hội.
- Tính đa dạng, phong phú:
+ Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tựng, song mỗi sự vật, hiện tượng,
mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không giống nhau.
+ Do tồn tại ở thời gian, không gian khác nhau, sự vật sẽ phát triển khác nhau.
* Phương pháp luận:
- Tuân theo những đòi hỏi đó của quan điểm phát triển sẽ góp phần khắc phục bệnh bảo thủ
trì trệ và bệnh giáo điều trong tư duy cũng như trong hành động thực tiễn. Bệnh bảo thủ trì trệ
là tình trạng ỷ lại, chậm đổi mới, ngại thay đổi, dựa dẫm, chờ đợi, thậm chí cản trở cái mới,
bằng lòng thỏa mãn với cái đã có. Đôi khi bệnh bảo thủ biểu hiện qua những định kiến. Quan
điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật hoàn toàn đối
lập với quan điểm bảo thủ tri trễ định kiến và bệnh giao điều. Trên cơ sở hiểu rõ quy luật phát
triển của sự vật một cách biện chứng, ta có thể khắc phục được bệnh bảo thủ tri tệ thông qua
việc từ bỏ lỗi nghiên cứu áp dụng lý luận một cách kinh viện, thuần túy, chống lại tư duy bắt
chước, sao chép rập khuôn; từ bỏ những định kiến, đấu tranh với sức ý trong nhận thức và hành
động, tăng cường tổng kết thực tiễn từ quá trình vận động của các SVHT để bổ sung phát triển
lý luận. Trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước, Đảng ta luôn đấu tranh phê phán với
quan điểm bảo thủ, tri trẻ, định kiến. Văn kiện Đại hội Đảng lần IX có viết : “.. Xóa bỏ mặc
cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở,
tin tưởng lần nhau hướng tới tương lai”
- Xét về khía cạnh tư tưởng, quan điểm phát triển cũng đòi hỏi không chỉ thấy sự vật như là
cái đang có mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó. Trong quá
trình phát triển sự vật thường có sự biến đổi tiền lên nhưng cũng có cả những biến đổi thụt lùi.
Quan điểm phát triển đúng đần về sự vật chỉ có được khi băng tư duy khoa học, ta có thể khái
quát được xu hướng chủ đạo của tất cả những biến đổi khác nhau đồng thời thấy được tính
quanh có phức tạp của quá trình phát triển, bước lùi của một sự vật hiện tượng trong giai đoạn
nào đó cũng là tất yếu trên con đường phát triển. Nhận thức đúng được xu hướng phát triển, ta
có thể tránh được những bi quan dao động trước sự thất bại tạm thời của cái mới, tạo được
niềm tin vào sự thắng lợi của cái mới, cái tiến bộ.
Câu 6: Phân tích phạm trù thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức trên cơ sở
đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận.
* Khái niệm:
Thực tiễn là hoạt động khi con người sử dụng công cụ tác động vào đối tượng vật chất
làm cho đối tượng đó thay đổi theo mục đích của mình.
Nhận thức: Nhận thức là sự hiểu biết của con người đối với hiện thực khách quan, là quá
trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan, bản chất nhận thức là
quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào óc con
người trên cơ sở thực tiễn.
* Phạm trù của thực tiễn: có 3 hình thức cơ bản.
Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động có sớm nhất, cơ bản và quan trọng nhất. là
hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn. Đây là hoạt động mà con người sử dụng những công
cụ lao động tác động vào thế giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết
nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. Sản xuất vật chất cũng là cơ sở cho sự tồn tại
các hình thức thực tiễn khác cũng như tất cả các hoạt động sống khác của con người.
Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của các cộng đồng người, các tổ chức khác
nhau trong xã hội nhằm cải biên, cải tạo, phát triển những thiết chế xã hội, quan hệ chính trị -
xã hội thông qua các hoạt động như đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tôc, đấu tranh
vì hòa bình, dân chủ với mục đích chung để thúc đẩy xã hội phát triển.
Hoạt động thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, được tiến hành
trong những điều kiện do con người tạo ra, những cái không có sẵn trong tự nhiên; gần giống,
giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định những quy luật biến
đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu. Dạng hoạt động này có vai trò trong sự phát triển của
xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.
* Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
-Thực tiễn là cơ sở, mục đích, là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức: Xuất phát từ sự
thật rằng mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối với bất kì đối tượng con người nào, ở bất kì
trình độ kinh nghiệm hay lý luận đều bắt nguồn từ thực tiễn.
+ Thực tiễn còn là mục đích của nhận thức. Bởi lẽ nhận thức dù về vấn đề, khía cạnh hay lĩnh
vực nào đi chăng nữa thì cũng phải quy về phục vụ thực tiễn. Do vây, kết quả nhận thức phải
hướng dẫn và chỉ đạo thực tiễn. Nếu lý luận, khoa học không vận dụng được để cải tạo thực
tiễn thì không có bất cứ ý nghĩa nào.
+ Thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức. Thực tiễn giúp con người nhận
thức toàn diện hơn về thế giới. Những nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận
thức là kết quả của thực. Trong quá trình hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giơi, con người
cũng không ngừng biến đổi theo.
-Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vừa tuyệt đối mà cũng
vừa tương đối. Tuyệt đối ở đây là bởi thực tiễn chính là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm
chân lý. Không phải tất cả thực tiễn có thể kiểm nghiệm được chân lý mà còn phải dựa vào
thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau. Tính tương đối của thực tiễn thể hiện ở chỗ thực
tiễn không ngừng biến đổi và phát triển.
* Ý nghĩa phương pháp luận: Vai trò của phương pháp luận triết học đối với nhận thức và
thực tiễn thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo sự tìm kiếm, xây dựng; lựa chọn và vận dụng các phương
pháp để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn; đóng vai trò định hướng trong quá trình
tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp.
- Nhờ có thực tiễn mà bản chất của nhận thức được làm rõ, thực tiễn là cơ sở động lực mục
đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý cho nên mọi nhận thức đều xuất phát từ thực
tiễn.
- Phải thường xuyên quán triệt những quan điểm thực tiễn luôn đi sâu đi sát thực tiễn tiến hành
nghiên cứu tổng kết thực tiễn một cách nghiêm túc.
- Việc quán triệt tính biện chứng của tiêu chuẩn thực tiễn giúp chúng ta tránh khỏi những chủ
quan sai lầm như chủ nghĩa chủ quan, giáo điều bảo thủ, CN tương đối, chủ nghĩa xem lại.
Câu 7: Phân tích các yếu tố cấu thành của hình thái kinh tế xã hội. Làm rõ vai trò của
từng yếu tố. Liên hệ thực tiễn Việt Nam.
1. Hình thái kinh tế - xã hội:
- Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở
từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù
hợp với trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng
được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.
- Hình thái kinh tế xã hội gồm ba yếu tố: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc
thượng tầng. Ba yếu tố đó tác động qua lại nhau tạo thành sự vận động tổng hợp của hai quy
luật cơ bản, chung nhất của sự tồn tại và phát triển xã hội.
2. Lực lượng sản xuất:
- Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên trong quá trình sản
xuất tạo ra của cải vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển, là thước đo quan trọng trong
sự tiến bộ của xã hội loài người. Trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau, lực lượng sản
xuất sẽ có tính chất và trình độ khác nhau.
- Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất:
+ : Là chủ thể của quá trình lao động sản xuất với sự vận dụng trí tuệ, năng lựcNgười lao động
và kinh nghiệm của con người vào tư liệu sản xuất để tạo ra vật chất.
+ : Là toàn bộ điều kiện vật chất cần thiết để con người tiến hành quá trình Tư liệu sản xuất
lao động sản xuất, đây được xem là yếu tố thiết yếu của lực lượng sản xuất. Nó bao gồm tư liệu
lao động và đối tượng lao động
Đối tượng lao động: Không phải toàn bộ giới tự nhiên mà chỉ một bộ phận của giới tự nhiên
được con người đưa vào sản xuất để tạo ra của cải. Bao gồm cả những cái có sẵn trong tự nhiên
vả cả dạng nhân tạo bởi trong quá trình sản xuất cần những đối tượng lao động mới để mở rộng
khả năng sản xuất của con người
Tư liệu lao động: Là vật thể hay phức hợp vật thể mà con người đặt dưới mình với đối tượng
lao động, giúp con người tác động lên đối tượng lao động. Tư liệu lao động và đối tượng lao
động là những yếu tố vật chất của quá trình lao động sản xuất tạo nên tư liệu sản xuất. Do con
người tạo ra như phương tiện lao động và công cụ lao động. Công cụ lao động được xem như
hệ thống "chủ lực" của sản xuất, thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người, kết nối
trung gian giữa người và tư liệu sản xuất làm giảm áp lực và tăng năng xuất lao động của con
người.
=> Trong toàn bộ yếu tố của lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố không thể thiếu, là
chủ thể sáng tạo có vai trò quyết định nhất, sử dụng trí tuệ để chế tạo và vận dụng công cụ lao
động vào quá trình sản xuất.
3. Quan hệ sản xuất
- Quan hệ sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất,
cũng giống như lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực đời sống xã hội. Nó có
tính khách quan và tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của con người, thể hiện sự đặc trưng
của mỗi hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Quan hệ sản xuất bao gồm các kết cấu sau:
+ Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
+ Quan hệ tổ chức quản lí
+ Quan hệ phân phối sản phẩm lao động
=> Ba mặt nói trên có mối quan hệ biện chứng thống nhất với nhau, mỗi mặt đều có tác động
thúc đẩy hoặc kìm hãm qua lại, trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết
định đối với những quan hệ khác.
- Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người tồn tại hai loại hình sở hữu cơ
bản về tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sơ hữu công cộng
+ là loại hình sở hữu thể hiện mối quan hệ thống trị và bóc lột giữa người với Sở hữu tư nhân
người trong sản xuất và đời sống xã hội khi mà tư liệu sản xuất chỉ tập trung trong tay số ít
người.
+ là loại hình sở hữu mả tư liệu sản xuất thuộc về cộng đồng, nhờ đó mà Sở hữu công cộng
quan hệ xã hội trở nên bình đẳng, công bằng.
- Quan hệ tổ chức và quản lý có tác động lớn đối với quá trình sản xuất, là nhân tố ảnh hưởng
trực tiếp đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất và quyết định quy mô, tốc độ của nền
kinh tế.
- Quan hệ phân phối sản phẩm lao động bị chi phối bởi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và
quan hệ tổ chức quản lí nhưng lại đóng vai trò là chất xúc tác trực tiếp đến lợi ích và thái độ
của con người trong quá trình lao động sản xuất, nó có thể thúc đẩy hoặc cản trở sản xuất phát
triển.
3.2 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
- Trong mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản
xuất đóng vai trò quyết định. Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản
xuất thể hiện những nội dung dưới đây:
+ , với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất sẽ hình thành nên một quan hệ Thứ nhất
sản xuất tương ứng. Những quan hệ sản xuất này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của
các lực lượng vật chất”, “những quan hệ sản xuất mới cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện
trước khi những kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng của bản
thân xã hội cũ” điều
+ , khi lực lượng sản xuất thay đổi thì quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo. C. Mác đã Thứ hai
chỉ ra rằng: “Có được những lực lượng sản xuất mới, con người cũng thay đổi phương thức sản
xuất của mình, và cùng với phương thức sản xuất thì họ cũng thay đổi tất cả các quan hệ kinh
tế đã từng là những quan hệ tất yếu chỉ đối với phương thức sản xuất nhất định đã tồn tại”.
Thực tế lịch sử đã chứng minh, khi lực lượng sản xuất chuyển từ trình độ thủ công đồ sắt sang
trình độ công nghiệp thì đó cũng là lúc quan hệ sản xuất phong kiến mất đi, thay vào đó là
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa,
=> Lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định vì nó là nội dung vật chất của quá trình sản
xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình đó. Trong mối quan hệ giữa nội
dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức. Nghĩa là, trình độ của lực lượng sản xuất
quy định cách thức con người quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất vật chất.
3.3 Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối, tác động trở lại lực lượng sản xuất
- Quan hệ sản xuất không hoàn toàn thụ động, nó có khả năng tác động mạnh mẽ trở lại lực
lượng sản xuất. Sự tác động đó thể hiện như sau:
+ , quan hệ sản xuất thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng sản xuất phát triển nếu nó phù hợp Thứ nhất
(thống nhất) với lực lượng sản xuất. Sự phù hợp này là một trạng thái mà ở đó quan hệ sản xuất
là "hình thức phát triển" tất yếu của lực lượng sản xuất, nó tạo điều kiện tối ưu cho việc sử
dụng và kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, khi đó lực lượng sản xuất có cơ sở để
phát huy, phát triển hết khả năng của nó. Sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất thường được biểu hiện ra ở sự năng động, tự giác, tích cực của người lao động; tư liệu sản
xuất được khai thác hiệu quả, từ đó làm cho năng suất lao động tăng cao.
+ quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất nếu nó không phù Thứ hai,
hợp (mâu thuẫn) với lực lượng sản xuất. Sự không phù hợp này xuất phát từ sự phải triển
không ngừng của lực lượng sản xuất, trong khi đó quan hệ sản xuất lại có tính ổn định, chậm
biến đổi. Do vậy, "tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật
chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có... trong đó từ trước đến nay các
lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất,
những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời
đại một cuộc cách mạng xã hội".
- Tuy nhiên, trong thực tiễn, vì nhiều lý do khác nhau, thường là do mong muốn chủ quan,
người ta có thể tạo ra những quan hệ sản xuất vượt trước trình độ của lực lượng sản xuất, dẫn
đến sự không phù hợp với quan hệ sản xuất. Cả quan hệ sản xuất lạc hậu và quan hệ sản xuất
vượt trước trình độ của lực lượng sản xuất đều không phù hợp với lực lượng sản xuất và đều có
tác dụng kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
3.4 Ý nghĩa phương pháp luận
- Ở giai đoạn cuối mỗi phương thức sản xuất, khi lực lượng sản xuất đã thay đổi về chất và
mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất thì phải tiến hành cách mạng xã hội để xóa bỏ quan hệ
sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp.
- Trong quá trình xây dựng xã hội mới, trước hết phải quan tâm phát triển lực lượng sản xuất,
đồng thời phải kịp thời phát hiện, điều chỉnh những yếu tố không phù hợp trong quan hệ sản
xuất theo nguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất.
4. Kiến trúc thượng tầng
- Trong phần "lời tựa" của tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, khi nói về cơ sở
hạ tầng, C. Mác quan niệm: đó là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của
xã hội.
- Kiến trúc thượng tầng bao gồm hệ thống các hình thái ý thức xã hội (như chính trị, tôn giáo,
nghệ thuật,...) và hệ thống các thiết chế tương ứng với các hình thái ý thức xã hội đó (như
chính đảng, nhà nước, giáo hội,...). Trong số các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng thì yếu
tố chính trị, đặc biệt là nhà nước là yếu tố quan trọng nhất, là sự biểu hiện tập trung nhất của
kinh tế. Do vậy, nói đến kiến trúc thượng tầng, trước hết người ta nói đến chính trị, nhà nước.
- Như vậy, có thể khái quát kiến trúc thượng tầng chính là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng
cùng với các thiết chế tương ứng, được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
4.2 Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
- C. Mác viết: "Toàn bộ những quan hệ sản xuất ly hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là
cái cơ sở hiện thực trên đồ dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những
hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ BY hiện thực đó".
- Có thể khái quát vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng như sau:
+ Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ sản sinh ra một kiến trúc thượng tầng tương ứng, có tác dụng bảo vệ cơ
sở hạ tầng đó.
+ Cơ sở hạ tầng quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác. Giai cấp nào thống trị về kinh tế thì
cũng chiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinh thần của xã hội, các giai cấp còn
lại ở vào địa vị bị thống trị.
+ Các mâu thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định các mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị
tư tưởng, cuộc đấu tranh giai cấp về chính trị tư tưởng là biểu hiện những đối kháng trong đời
sống kinh tế,
+ Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn, kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo.
=> Như vậy, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng kiến trúc thượng tầng chỉ là sự
phản ánh cơ sở hạ tầng, phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng.
4.3 Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
- Thông thường, sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng làm cho cơ sở hạ
tầng sinh ra nó được củng cổ, duy trì và phát triển, do đó làm cho địa vị của giai cấp thống trị
trong kinh tế càng trở nên vững chắc. Tuy nhiên, trong thực tế, sự tác động của kiến trúc
thượng tầng đến cơ sở hạ tầng thường mang tính đa chiều.
- Ph. Ăngghen chỉ rõ, tác động ngược lại của quyền lực nhà nước đối với sự phát triển kinh tế
theo ba hướng, đó là tác động theo cùng một hướng với sự phát triển kinh tế và ở trường hợp
này sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh hơn; trường hợp thứ hai là tác động ngược trở lại
hướng phát triển kinh tế; trường hợp thứ ba là nó có thể ngăn cản một vài hướng phát triển nào
đấy của nền kinh tế và thúc đẩy sự phát triển đó theo những hướng khác. Theo Ph. Ăngghen,
hai trường hợp sau quyền lực chính trị có thể gây thiệt hại lớn cho sự phát triển kinh tế.
=> Như vậy, kiến trúc thượng tầng không hoàn toàn thụ động trái lại, nó có khả năng tác động
mạnh mẽ đến cơ sở hạ tầng
4.4 Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức và hành động, phải thấy được vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với
kiến trúc thượng tầng, của kinh tế đối với chính trị. Tuy nhiên, không được tuyệt đối hóa vai
trò đó vì như vậy sẽ rơi vào chủ nghĩa duy kinh tế.
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, cũng phải nhận thức rõ vai trò to lớn của chính trị
với kinh tê, song không thể tuyệt đối hóa vai trò của chính trị với kinh tế vì như vậy sẽ rơi vào
chủ nghĩa duy ý chí.
5. Sự vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội trong quá trình đổi mới kinh tế và đổi
mới chính trị ở Việt Nam hiện nay
- Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã được C. Mác vận dụng vào phân tích xã hội tư bản,
vạch ra các quy luật vận động, phát triển của xã hội đó và đã đi đến dự báo về sự ra đời của
hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, đó là hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà giai
đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Dự báo của C. Mác đã trở thành hiện thực với thắng lợi của cuộc
Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
- Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội nói riêng
vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã tìm ra quy luật của cách mạng
Việt Nam là: cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng vô sản, độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội. Việc Đảng ta kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với
xu hướng của thời đại và điều kiện cụ thể của nước ta.
- Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là kiểu quá độ gián tiếp, tức là quá độ lên chủ nghĩa xã
hội từ một nước lạc hậu, tiền tư bản, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Việc phát
triển bỏ qua hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa được Đảng ta xác định như sau: “Bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và
kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại
đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển
nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.
- Quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta có điểm xuất phát thấp, từ một nước nông nghiệp
lạc hậu, thuộc địa nửa phong kiến, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, phức tạp,
với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất trung gian, quá độ.
- Trong những năm thực hiện đường lối đổi mới, việc thiết lập các yếu tố cơ bản của hình thái
kinh tế - xã hội mới được xác định:
+ Về lực lượng sản xuất: do trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta còn nhiều hạn chế, cho
nên, để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội,
phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phát triển nguồn nhân lực, đầy mạnh
ứng dụng khoa học vào sản xuất,...
+ Về quan hệ sản xuất: trên cơ sở xác định rõ lực lượng sản xuất còn nhiều hạn chế, phát triển
không đồng đều, đan xen nhiều trình độ, cần thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở nước ta, kinh tế thị trường định hưởng xã hội
chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững
chắc. Quan điểm vừa nêu được thực hiện nhất quán trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
thể hiện rõ tính đúng đắn của Đảng ta trong việc vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ
sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây thực chất là cốt lõi của vấn đề về
đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
+ Về kiến trúc thượng tầng: Đảng ta chủ trương lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nhằm không ngừng nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân;
phát triển giáo dục đào tạo nhằm nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài; không ngừng đổi mới
hệ thống chính trị nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng, phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quá trình đổi mới hệ
thống chính trị ở nước ta hiện nay về thực chất là nhằm làm cho kiến trúc thượng tầng thực sự
phù hợp với cơ sở hạ tầng ở nước ta hiện nay. Đây thực chất là cối lõi của vấn đề về đổi mới
chính trị ở Việt Nam hiện nay.
=> Như vậy, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung và sự nghiệp đổi mới ở nước ta
30 năm qua luôn được căn cứ vào những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng
thời cũng luôn được căn cứ vào tình hình thực tiễn Việt Nam. Đây chính là những tiền đề căn
bản để chúng ta tiếp tục giành được những thành tựu ngày càng to lớn hơn nữa để đưa Việt
Nam sớm trở thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, nền tảng cho việc thực
hiện được mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng
văn minh”.
Câu 8: Phân tích quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất. Liên hệ thực tiễn VN hiện nay.
- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được xem là hai khía cạnh của phương thức sản xuất
giữa chúng tồn tại mối quan hệ biến chứng chặt chẽ với nhau. Chúng phụ thuộc và tác động lẫn
nhau tạo thành quy luật xã hội cơ bản của lịch sử loài người. Quy luật thể hiện động lực và xu
thể phát triển của lịch sử.
1. Tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất.
- là tính chất của tư liệu sản xuất và của người lao động. Có Tính chất của lực lượng sản xuất
tính cá thể hoặc xã hội, thể hiện sự đòi hỏi trong nền sản xuất.
- Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện qua trình độ chuyên môn kỹ năng lao động của
con người, sự phát triển của các công cụ lao động trình độ phân công lao động và tổ chức quản
lí lao động xã hội, quy mô của nền sản xuất.
- Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời và phát triển của quan hệ
sản xuất, hình thành quan hệ chặt chẽ giữa người lao động với nhau.
2. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
- Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng
vai trò quyết định sự hình thành phát triển và biến đổi của quan hệ sản xuất. Và chỉ làm biến
đổi cục bộ chứ không thể thay đổi toàn diện bởi quy luật này thể hiện sự cân đối hài hòa của
bản chất mối quan hệ trên.
- Lực lượng sản xuất được xem là nội dung của quá trình sản xuất có xu hướng phát triển và
biến đổi thường xuyên, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất có yếu tố tương
đối ổn định và bảo thủ, khi nội dung thay đổi làm hình thức thay đổi theo. Sự phù hợp giữa
chúng tạo động lực giúp cho sản xuất phát triển cân đối có hiệu quả giữa các yếu tố làm tăng
năng suất lao động đồng thời giảm chi phí và thời gian sản xuất.
3. Sự tác động trở lại của Quan hệ sản xuất đối với Lực lượng sản xuất.
- Trong mối quan hệ biện chứng quan hệ sản xuất giữ vai trò hình thức kinh tế của quá trình
sản xuất, là tiền đề tạo ra mục tiêu thích hợp cho lực lượng sản xuất. Do đó quan hệ sản xuất đã
tác động trở lại, quy định mục đích, cách thức sản xuất và phân phối những lợi ích từ quá trình
sản xuất, gây ra tác động trực tiếp tới thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng cũng
như hiệu quả của quá trình sản xuất và cải tiến công cụ lao động và ngược lại. Từ đó có thể
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
- Sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo động lực và điều kiện giúp thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
- Ngược lại, khi quan hệ sản xuất lỗi thời do tính chất ổn định không còn phù hợp với tính chất
vận động của lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất, điều
này thường xảy ra trong lịch sử do sự vận động của xã hội. Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn
ra trong điều kiện nhất định và mức giới hạn quy định.
- Đây được xem là quy luật cơ bản chi phối sự vận động của xã hội loài người và không ngừng
phát triển phá vỡ sự phù hợp. Khi cả hai không đồng nhất, phù hợp với nhau sẽ tạo ra mâu
thuẫn về mặt xã hội được gọi là mâu thuẫn giai cấp và chỉ mang tính chất tạm thời, khi đó mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất cũ sẽ được giải quyết bằng cách thay
thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất.
4. Ý nghĩa của phương pháp luận.
- Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ý nghĩa
vô cùng quan trọng, việc nhận thức đúng đắn quy luật này giúp cho việc nắm bắt quan điểm,
hoạch định đường lối, chính sách là cơ sở khoa học để nhận thức rõ sự đổi mới trong tư duy
kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.
- Khi có xuất hiện mâu thuẫn giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất với sự lạc hậu của quan
hệ sản xuất thì cần phải có những cuộc cải cách, đổi mới mà cao hơn là một cuộc cách mạng
chính trị để có thể giải quyết được mâu thuẫn, từ đó từng bước khôi phục, tạo lập sự phù hợp
giữa chúng.
5. Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay
- Sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hình thành nên các quy luật
về sự phủ hợp, đây được xem là quy luật cơ bản nhất, phổ biến nhất chi phối sự vận động và
phát triển của xã hội loài người, không những thế mà còn tác động đến nền kinh tế của mỗi
quốc gia trên thế giới. Điều này đòi hỏi chúng ta muốn phát triển kinh tế đất nước cần phải có
một quá trình đổi mới song song với việc giải quyết những lý luận đã và đang được đặt ra, cần
nhận thúc đúng đắn để hành động phù hợp, đẩy nhanh tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.
- Từ lý luận và thực tiễn, chúng ta nhận thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi
có một quan hệ sản xuất phù hợp với nó. Còn quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hay tiên tiến hơn so
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Đứng trước hoàn cảnh đó Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức lại, cần phải đổi mới trước hết là
đổi mới về tư duy một cách toàn diện trong đó phải lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm từng
bước đổi mới về chính trị xã hội.
- Do đó trong giai đoạn từ năm 1986 trở lại đây, Đảng và nhà nước ta đã nhận thức được rằng
cần phải đổi mới toàn diện nền kinh tế, từng bước đổi mới về chính trị, cụ thể chúng ta cần đẩy
mạnh phát triển lực lượng, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước từ đó xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn,
phát triển nền kinh tế tri thức, nâng cao mức cạnh tranh thị trường. Tiếp tục thực hiện cải tạo
quan hệ sản xuất, nhất là về quan hệ sở hữu, chúng ta thực hiện đa dạng hóa hình thức sở hữu
bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp.
- Về kinh tế, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa đa thành phần, chuyển dịch
theo cơ chế thị trường với sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Doanh
nghiệp và hàng hoá dịch vụ chủ động hội nhập quốc một cách tích cực, lĩnh hội những thành
tựu về khoa học công nghệ.
- Bên cạnh đó, về mặt tổ chức quản lý chúng ta đã xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu bao cấp và chuyển sang cơ chế thị trường, quá trình sản xuất kinh doanh đều tuân theo các
quy luật của thị trường và do thị trường điều tiết chứ không dựa vào ý muốn chủ quan để thay
cho các quy luật của thị trường.
- Về mặt phân phối, từ khi đổi mới hiện nay, nước ta đã thực hiện nhiều hình thức phân phối
trong đó lấy phân phối theo lao động làm cơ bản từ đó đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất,
từng bước cải tạo quan hệ sản xuất dẫn tới quan hệ sản xuất dần dần phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất làm cho kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được
nâng cao, mức sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. Điều đó cho thấy rằng quy luật
giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cần phải căn cứ vào điều
kiện hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam để xây dựng và phát triển sao cho phù hợp. Đây được
coi là một trong những quy luật quan trọng nhất và chính sự vận động nội tại của quy luật này
mà làm cho các hình thái kinh tế xã hội vận động thay thế nhau từ thấp đến cao, vậy nên cần
phải nhận thức đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất để vận dụng vào quá trình đổi mới kinh tế, xã hội ở nước ta.
Câu 9: Phân tích mqh biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng và liên hệ
Cơ sở hạ tầng là gì?
- Cơ sở hạ tầng (hạ tầng các mối quan hệ vật chất, kinh tế) là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ
những quan hệ sản xuất tạo nên cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định.
- Kiến trúc thượng tầng (thượng tầng các mối quan hệ tư tưởng, chính trị) là:
+) Toàn bộ những quan điểm xã hội (chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ
thuật, khoa học v.v) với
+) Những thiết chế tương ứng (nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội v.v) và
+) Những mối quan hệ nội tại giữa các yếu tố đó của kiến trúc thượng tầng. “Toàn bộ những
quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng
lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý, chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định
tương ứng với cơ sở hạ tầng hiện thực đó”.
Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng
– Cơ sở hạ tầng quy định kiến trúc thượng tầng
+) Tính chất của kiến trúc thượng tầng do tính chất của cơ sở hạ tầng quy định. Trong các quan
hệ xã hội, quan hệ vật chất, kinh tế (cái thứ nhất) quy định quan hệ tinh thần, tư tưởng (cái thứ
hai). Mâu thuẫn trong đời sống vật chất, kinh tế, xét cho đến cùng, quy định mâu thuẫn trong
đời sống tinh thần, tư tưởng.
+) Những biến đổi trong cơ sở hạ tầng sẽ dẫn đến những biến đổi trong kiến trúc thượng tầng.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm biến đổi quan hệ sản xuất, kéo theo sự biến đổi của cơ
sở hạ tầng và thông qua sự biến đổi này, làm biến đổi kiến trúc thượng tầng. Trong đó quan
điểm chính trị, pháp luật v.v thay đổi trước; tôn giáo, nghệ thuật v.v biến đổi sau, thậm chí
chúng còn được kế thừa trong kiến trúc thượng tầng mới. Sự biến đổi đó diễn ra trong từng
hình thái kinh tế – xã hội cụ thể cũng như trong quá trình chuyển hoá từ hình thái kinh tế – xã
hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác, có nghĩa là mỗi hình thái kinh tế – xã hội đều có
kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng của riêng mình (là tính lịch sử – cụ thể của cơ sở hạ tầng
và kiến trúc thượng tầng).
– Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng.
Trong đời sống xã hội, các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều tác động, bằng nhiều hình thức
khác nhau, theo những cơ chế khác nhau, ở mức độ này hay ở mức độ kia, ở vai trò này hoặc
vai trò khác đối với cơ sở hạ tầng.
+) Trong mỗi kiến trúc thượng tầng còn kế thừa một số yếu tố của kiến trúc thượng tầng trước.
Các yếu tố chính trị, pháp luật tác động trực tiếp, còn triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật,
khoa học v.v tác động gián tiếp đối với cơ sở hạ tầng, bị các yếu tố chính trị, pháp luật chi
phối.
+) Trong xã hội có giai cấp, nhà nước là yếu tố vật chất có tác động mạnh nhất đối với cơ sở hạ
tầng. Nhà nước kiểm soát xã hội và sử dụng bạo lực, bao gồm những yếu tố vật chất như cảnh
sát, toà án, nhà tù để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị. Sự tác động tích cực
của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện ở chức năng xã hội của kiến trúc
thượng tầng là bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó; đấu tranh xoá bỏ
cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ. Trong đó, nhà nước, dựa trên hệ tư tưởng, kiểm soát
xã hội và sử dụng bạo lực, bao gồm những yếu tố vật chất như quân đội, cảnh sát, toà án, nhà
tù, để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị.
Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở nước ta
hiện nay:
Dưới chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh, cơ sở hạ tầng và kiến thức thượng tầng thuần nhất và thống
nhất. Vì cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa không có tính chất đối kháng, không bao hàm những
lợi ích kinh tế đối lập nhau. Hình thức sở hữu bao trùm là sở hữu toàn dân và tập thể, hợp tác
tương trợ nhau trong quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm theo lao động, không còn chế độ
bóc lột.
Kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa, vì vậy mà
có sự thống trị về chính trị và tinh thần Nhà nước phải thực hiện biện pháp kinh tế có vai trò
quan trọng nhằm từng bước xã hội hoá nền sản xuất với hình thức và bước đi thích hợp theo
hướng như : kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh
tế tập thể dưới hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các
hình thức xí nghiệp , công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy
được mọi tiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở kinh tế hợp lý. Các thành
phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, vừa thống nhất với nhau trong một cơ
cấu kinh tế quốc dân thống nhất mà còn cạnh tranh nhau, liên kết và bổ xung cho nhau.
Để định hướng xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế này, nhà nước phải sử dụng
tổng thể các biện pháp kinh tế hành chính và giáo dục, trong dó thì biện pháp kinh tế là quan
trọng nhất nhằm từng bước xã hội hóa nền sản xuất với hình thức và thích hợp theo hướng kinh
tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới
hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các hình thức xí
nghiệp, công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy được mọi tiềm
năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng kinh tế hợp lý.
Kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa, vì vậy mà
có sự thống trị về chính trị và tinh thần Nhà nước phải thực hiện biện pháp kinh tế có vai trò
quan trọng nhằm từng bước xã hội hoá nền sản xuất với hình thức và bước đi thích hợp theo
hướng như : kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh
tế tập thể dưới hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các
hình thức xí nghiệp , công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy
được mọi tiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở kinh tế hợp lý. Các thành
phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, vừa thống nhất với nhau trong một cơ
cấu kinh tế quốc dân thống nhất mà còn cạnh tranh nhau, liên kết và bổ xung cho nhau.
Để định hướng xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế này, nhà nước phải sử dụng
tổng thể các biện pháp kinh tế hành chính và giáo dục, trong dó thì biện pháp kinh tế là quan
trọng nhất nhằm từng bước xã hội hóa nền sản xuất với hình thức và thích hợp theo hướng kinh
tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới
hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các hình thức xí
nghiệp, công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy được mọi tiềm
năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng kinh tế hợp lý
Câu 10: Phân tích mqh biện chứng giữa tt xh và ý thức xh và liên hệ vs thực tiễn vn hiện
nay.
1. Tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Tồn tại xã hội là khái niệm dùng để chỉ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất
của xã hội, là mối quan hệ vật chất- xã hội giữa con người với tự nhiên và giữa con người với
nhau; trong đó quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hê vật chất, kinh tế giữa con người
với nhau là quan hệ cơ bản. Những mối quan hệ này xuất hiện trong quá trình hình thành xã
hội loài người và không phụ thuộc vào ý thức xã hội. Tồn tại xã hội gồm các thành phần chính
như: phương thức sản xuất vật chất; điều kiên tự nhiên- môi trường địa lý; dân số và mật độ
dân số.. trong đó phương thức sản xuất vật chất là thành phần cơ bản nhất.
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm tình cảm, tập quán, truyền thống,
quan điểm, tư tưởng, lý luận,... nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tai xã hội trong
những giai đoạn phát triển khác nhau. Hiểu đơn giản, ý thức xã hội là những quan hệ tinh thần
giữa con người với nhau, là mặt tinh thần trong quá trình lịch sử. ý thức xã hội có cấu trúc bên
trong xác định, bao gồm những mức độ khác nhau( ý thức xã hội thông thường và ý thức lý
luận( khoa học); tâm lý xã hội và hệ tư tưởng) và các hình thái của ý thức xã hội.( ý thức chính
trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, nghê thuật, triết học, khoa học...)
2. Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Thứ nhất: Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
Theo quan điểm thế giới quan duy vật thì vật chất có trước, nó sinh ra và quyết định ý thức.
Trong lĩnh vực xã hội thì quan hệ này đươc biểu hiện là: tồn tại xã hội có trước, nó sinh ra và
quyết định ý thức xã hội, điều đó được thể hiện cụ thể là:
- Tồn tại xã hội nào thì sinh ra ý thức xã hội ấy. Tức là người ta không thể tìm nguồn gốc tư
tưởng ấy trong đầu óc con người, mà phải tìm nó trong chính tồn tại xã hội. Do đó, tồn tại xã
hội để lý giải cho ý thức xã hội.
| 1/24

Preview text:

ĐỀ CƯƠNG TRIẾT HỌC
Câu 1: Phân tích điều kiện tiền đề ra đời của triết học Mác.
- Điều kiện khách quan:
+ Điều kiện kinh tế - xã hội: Triết học Mác ra đời khoảng năm 1840 do sự phát triển của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (phát triển do áp dụng thành tựu cuộc cách mạng khoa
học - kĩ thuật lần 1 - 1760), PTSXTBCN phát triển đã gây ra mâu thuẫn trong lòng CNTB,
được biểu hiện: (1)Về mặt kinh tế: Mâu thuẫn giữa LLSX mang tính xã hội hóa cao với
QHSX dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản về TLSX. (2)Về chính trị - xã hội: là mâu
thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Khi phát triển CNTB thì giai cấp công nhân
cũng xuất hiện và ngày càng trưởng thành lớn mạnh với tư cách là lực lượng chính trị xã hội
độc lập và bị áp bức bóc lột ----> phong trào công nhân nổ ra mạnh mẽ nhưng lần lượt thất bại
hoặc không đạt được mục đích đề ra ------> đòi hỏi phải có một lý luận tiên tiến soi đường đưa
phong trào công nhân đến thắng lợi -----> chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng được yêu cầu này
và chính phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân là cơ sở thực tiễn để Mác và Ăngghen
khái quát thành lý luận ----> sự ra đời của triết học Mác là tất yếu khách quan.
+ Điều kiện lý luận:
(1) Triết học cổ điển Đức: Kế thừa có chọn lọc, phê phán phép biện chứng của Heegen ( phê
phán bởi vì ông là nhà duy tâm khách quan), chủ nghĩa duy vật của Phoi ơ bắc ----> tìm ra
được chủ nghĩa duy vật lịch sử.
(2) Kinh tế chính trị học cổ điển Anh: Kế thừa tư tưởng kinh tế của Ađam Smith và Đaaymit
Jcano ----> xây dựng nền kinh tế chính học Mác, tìm ra được học thuyết giá trị thặng dư.
(3) Chủ nghĩa xã hội không tưởng Anh: Kế thừa có chọn lọc tư tưởng xã hội chủ nghĩa của
Xanh xi mông, Ôoen,…----> xây dựng nên chủ nghĩa xã hội khoa học----> phát hiện ra sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
+ Điều kiện khoa học tự nhiên:
(1) Học thuyết tiến hóa (2) Học thuyết tế bào
(3) Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
----> 3 phát minh có tính chất vạch thời đại (Ăngghen) tức là mở ra thời đại mới, thời đại của
chủ duy vật và khoa học. Sự ra đời của 3 phát minh này đã phê phán chủ nghĩa duy tâm tôn
giáo và bảo vệ cho chủ nghĩa duy vật. Làm rõ ý nghĩa triết học của 3 điều kiện trên ?
- Điều kiện chủ quan:
(1) Tuy xuất thân từ tầng lớp trên (Mác - gia đình trí thức; Ăngghen - gia đình tư bản) nhưng
Mác và Ăngghen đều tích cực tham gia hoạt động thực tiễn gắn liền với phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế: Mác sáng lập ra quốc tế 1, Ăngghen sáng lập ra quốc tế 2, Lênin sáng lập ra
quốc tế 3 ----> trí tuệ uyên bác, không chỉ hoạt động thực tiễn mà còn tích cực nghiên cứu khoa
học, đóng góp cho nhân loại 3 phát kiến lớn (CNDVLS, học thuyết GTTD, sứ mệnh lịch sử của GCCN trong CNXHKH).
(2) Yêu thương người lao động, hiểu biết sâu sắc cuộc sống khốn khổ của giai cấp công nhân
trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ---> đứng hẳn về phía giai cấp công nhân, bảo vệ lợi ích
của GCCN , tinh thần nhân văn. GCCN trong lòng tư bản chủ nghĩa bị bóc lột vô cùng nặng
nề, bị áp bức lao động 14 - 16 tiếng một ngày (vì lúc này chủ nghĩa tư bản muốn thu được
nhiều giá trị thặng dư thì chỉ có cách kéo dài thời gian lao động, tăng cường độ lao động).
(3) C. Mác và Ăngghen đều tích cực tham gia hoạt động thực tiễn, từ hoạt động đấu tranh trên
báo chí đến tham gia phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, tham gia thành lập và hoạt
động trong các tổ chức công nhân,…
(4) Xây dựng hệ lý luận cung cấp cho giai cấp công nhân một công cụ sắc bén để nhận thức và
cải tạo thế giới ( chủ nghĩa Mác…).
Câu 2. Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin và rút ra ý nghĩa của định nghĩa.
“ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác” .
- Phân tích định nghĩa:
+ Khái niệm vật chất dưới góc độ triết học dùng để chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận,
không sinh ra, không mất đi, còn các dạng vật chất mà các khoa học cụ thể nghiên cứu để có
giới hạn, có sinh ra, mất đi, chuyển hóa thành cái khác.
+ Thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất (nguyên tử, điện tử, thế giới vi
mô, vĩ mô mà con người đã biết hoặc chưa biết) có thuộc tính là tồn tại khách quan (tồn tại,
bên ngoài, độc lập và không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, cho dù con người
có nhận thức hay không nhận thức được nó).
+ Vật chất - thực tại khách quan, dưới những dạng khách quan cụ thể của nó là cái có thể gây
nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động tác động đến các giác quan
của con người, do đó vật chất là cái có trước, cảm giác, ý thức là cái có sau. Ý thức là sự phản
ánh đối với vật chất, vật chất là cái được ý thức phản ánh.
+ Ý thức là sự phản ánh của vật chất, chịu sự quyết định của vật chất trên các hiện tượng tinh
thần (cảm giác, tư duy, ý thức…) luôn có nguồn gốc từ các hiện tượng vật chất, nội dung của
chúng cũng là phản ánh các sự vật, hiện tượng đang tồn tại với tính cách là hiện thực khách
quan. Về nguyên tắc, con người có thể nhận thức được thế giới vật chất. - Ý nghĩa:
+ Đứng trên lập trường duy vật biện chứng, Lênin đã giải quyết đúng đắn và triệt để 2 mặt vấn
đề cơ bản của triết học.
+ Cung cấp nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận khoa học, đấu tranh chống chủ
nghĩa duy tâm, thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vậy siêu hình và mọi biểu hiện của chúng.
+ Cơ sở khoa học để xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội, góp phần tạo nền tảng lý luận
khoa học cho việc phân tích các vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
+ Là cơ sở xây dựng nền tảng vững chắc cho sự liên minh ngày càng chặt chẽ giữa triết học
duy vật biện chứng với khoa học.
Câu 3: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trên cơ sở đó rút ra ý
nghĩa phương pháp luận cho việc khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí.
* Vật chất:
Theo LêNin “ Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh lại và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
* Ý thức : Là một dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao là bộ óc con người. Bộ óc người là cơ
quan vật chất của ý thức còn ý thức là chức năng của bộ óc con người vì vậy không thể tách rời
ý thức ra khỏi bộ óc. Ý thức có 2 nguồn gốc chính: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
- Nguồn gốc tự nhiên:
• Óc người là cơ quan vật chất của ý thức là kết quả quá trình tiến hóa lâu dài của vật chất.
• Sự tiến hóa của các hình thức phản ánh phụ thuộc vào những cấp độ phát triển khác
nhau của vật chất. Phản ánh tâm lý ở động vật cấp cao và sự chuyển hóa của phản ánh tâm lý
thành phản ánh ý thức của con người.
- Nguồn gốc xã hội : ý thức hình thành thông qua quá trình lao động, ngôn ngữ và những quan
hệ xã hội của loài người.
* Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
- Vật chất và ý thức quan hệ qua lại và chuyển hóa lẫn nhau :Vật chất có trước ý thức có sau,
vật chất quyết định ý thức, vật chất là nguồn gốc, là tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển
của ý thức. Hay nói cách khác vật chất thế nào thì ý thức như thế ấy, vật chất thay đổi đến đâu
thì ý thức thay đổi đến đó.
- Ý thức là do vật chất sinh ra nhưng 1 khi ý thức ra đời nó có tác dụng tích cực trở lại với vật
chất sinh ra nó theo 2 trường hợp:
+ Nếu ý thức tiến bộ: phản ánh phù hợp với thực tế thì có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển.
+ Nếu ý thức lạc hậu: phản ánh không phù hợp với quy luật khách quan thì có tác dụng
kìm hãm xã hội phát triển.
- Ý thức thuần túy: ý thức này dù tiến bộ hay lạc hậu thì bản thân chúng cũng không làm thay
đổi điều kiện hiện thực mà ý thức đó phải thông qua hành động thực tiễn của con người thì mới trở thành hiện thực.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nếu thừa nhận vật chất có trước ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức thì trong hành động
nhận thức cũng như hành động thực tiễn của con người phải luôn luôn xuất phát từ thực tế
khách quan tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
- Ý thức có tác động tích cực trở lại vật chất sinh ra nó cho nên ta phải biết phát huy tính năng
động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố chủ quan của con người.
- Cần chống bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh bảo thủ, trì trệ, ỷ lại, ngồi chờ.
Câu 4: Phân tích nguyên lí về mối liên hệ phổ biến trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương
pháp luận cho việc khắc phục căn bệnh phiến diện. * Khái niệm :
- Trong chủ nghĩa duy vật biện chứng, “mối liên hệ phổ biến” là khái niệm chỉ sự quy định, tác
động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt của một sự
vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
- Theo nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thực tế đều
tác động đến nhau. Không có sự vật, hiện tượng nào tách biệt hoàn toàn với các sự vật, hiện tượng khác.
* Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng
duy vật, trong đó liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự liên quan tác động, ràng
buộc, quy định và chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng
(SVHT) hoặc giữa các SVHT với nhau. Mọi SVHT trong thế giới khách quan đều tồn tại trong
những mối liên hệ tác động lẫn nhau, sự vật này thay đổi kéo theo sự vật kia thay đổi và không
có một SVHT nào tồn tại một cách cô lập, tách rời, do đó mối liên hệ giữa các SVHT mang
tính phổ biến. Mối liên hệ này còn mang tính khách quan do đây là cái vốn có từ bên trong
SVHT chứ không phải do áp đặt từ bên ngoài, nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế
giới vật chất của thế giới, từ sự tồn tại và phát triển của chính SVHT. Các SVHT trong thế giới
vật chất rất đa dạng nên mối liên hệ giữa chúng cũng đa dạng. Căn cứ vào tính chất, phạm vi,
trình độ có thể phân biệt các mối liên hệ thành các dạng như sau : liên hệ bên trong và bên
ngoài, chung và riêng, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, không gian và thời gian,
trực tiếp và gián tiếp… Sự phân loại này là tương đối vì mối liên hệ đó chỉ là bộ phận trong
toàn bộ mối liên hệ phổ biến nói chung, tuy nhiên sự phân biệt các mối liên hệ là cần thiết vì
chúng có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của các SVHT
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quan điểm toàn diện đòi hỏi khi xem xét, đánh giá sự vật hiện tượng, ta phải đặt chúng
vào mối quan hệ với các SVHT khác, xem xét các SVHT trong mối quan hệ qua lại giữa các
bộ phận, các yếu tố các thuộc tính khác nhau của chính bản thân SVHT và giữa SVHT đó với
những SVHT khác (kể cả trực tiếp, gián tiếp). Thực chất của quan điểm toàn diện là trong khi
chú ý xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành của sự vật, tư duy phải
phát hiện được, phản ánh được những mặt chủ yếu, bản chất, quan trọng nhất, rút ra được cái
trọng tâm, trọng điểm, cơ bản, cốt lõi .. chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật, không xem
xét dàn trãi, đánh đồng các mối liên hệ . Từ quan điểm toàn diện khi sự xem xét các SVHT dẫn
đến nguyên tắc đồng bộ trong hành động thực tiễn, có nghĩa là để cải tạo một SVHT bao giờ
chúng ta cũng phải áp dụng đồng bộ một hệ thống nhiều biện pháp, nhiều phương tiện khác
nhau để biến đổi những mối liên hệ nội tại của sự vật . Tuy nhiên như đã nói ở trên, “đồng bộ”
không có nghĩa là giàn đều, bình quân mà trong từng bước, từng giai đoạn phải nắm đúng khâu
then chốt. Thực hiện quan điểm toàn diện góp phần khắc phục bệnh phiến diện một chiều hoặc
chống chủ nghĩa chiết trung mà đặc trưng của nó là nhân danh quan điểm toàn diện do tỏ ra
chú ý đến nhiều mặt nhưng không nhìn thấy được mặt bản chất của sự vật. Quan điểm toàn
diện cũng góp phần khắc phục lối suy nghĩ giản đơn, duy ý chí
- Quan điểm lịch sử cụ thể là một quan điểm được rút ra từ nguyên lý mối liên hệ phổ
biến. Quan điểm này đòi hỏi khi xem xét mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra hoặc khi đánh giá một
SVHT, để nhìn thấy được bản chất của sự vật hiện tượng chúng ta gắn nó với không gian và
thời gian cụ thể, với những điều kiện, những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự tồn tại của sự vật,
không được đánh giá chung. Tư duy của chúng ta chỉ có thể chân thực khi chúng ta theo sát sự
thay đổi của những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự vật. Quan điểm hoàn cảnh lịch sử cụ thể
đòi hỏi khi vận dụng những nguyên tắc lý luận vào thực tiễn không được dừng lại ở những
công thức chung, sơ đồ chung mà phải tính đến những điều kiện lịch sử cụ thể của sự vận
dụng. Nói cách khác, khi xem xét một luận điểm, một chân lý nào đó phải gắn với những hoàn
cảnh lịch sử cụ thể của luận điểm, của chân lý đó, bởi vì chân lý sẽ trở thành sai lầm nếu nó bị
đẩy ra ngoài giới hạn tồn tại của nó, trong những điều kiện không gian và thời gian nhất định
của nó. Lênin nói “Bản chất linh hồn sống của Chủ nghĩa Mác là phân tích cụ thể một tình hình
cụ thể, điều kiện cụ thể”.
=> Quán triệt quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể, chúng ta cần khắc phục và
nghiêm khắc phê phán căn bệnh phiến diện.
- Bệnh phiến diện xuất phát từ việc xem xét một SVHT chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà
không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những SVHT ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật
ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong của sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh
của sự việc ấy mà quên mất sự vận động của sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng.

Ngoài ra, khi xem xét SVHT, mặc dù có chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ nhưng nếu ta
đánh giá ngang nhau những mặt, những mối liên hệ đó thì ta cũng rơi vào bệnh phiến diện.
Câu 5: Phân tích nguyên lí về sự phát triển, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp
luận cho việc khắc phục căn bệnh bảo thủ trì trệ. *Phân tích:
* Khái niệm về sự phát triển
- Theo quan điểm siêu hình, phát triển chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về mặt lượng, chỉ là sự
tuần hoàn, lặp đi, lặp lại mà không có sự thay đổi về chất, không có sự ra đời của sự vật, hiện
tượng mới và nguồn gốc của sự “phát triển” đó nằm ngoài chúng.
- Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển được coi là sự vận động đi lên, là quá trình tiến lên
thông qua bước nhảy; sự vật hiện tượng cũ mất đi, sự vật hiện tượng mới ra đời thay thế; phát
triển là đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng. Các sự vật hiện tượng của
thế giới tồn tại trong sự vận động, phát triển và chuyển hóa không ngừng.
→ Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ
chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn. Vận động nào theo khuynh hướng đi lên mới là phát triển.
* Tính chất của sự phát triển
- Tính khách quan
: Nguồn gốc của sự phát triển nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng,
không phải do tác động từ bên ngoài và không phụ thuộc vào ý thích, ý muốn chủ quan của con người.
- Tính phổ biến: Sự phát triển có mặt ở khắp mọi nơi trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy
+ Trong tự nhiên : Tăng cường khả năng thích nghi cơ thể trước sự biến đổi của môi trường.
+ Trong xã hội: Nâng cao năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, tiến tới mức độ càng
ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người.
+ Trong tư duy: Khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn với tự nhiên và xã hội.
- Tính đa dạng, phong phú:
+ Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tựng, song mỗi sự vật, hiện tượng,
mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không giống nhau.
+ Do tồn tại ở thời gian, không gian khác nhau, sự vật sẽ phát triển khác nhau. * Phương pháp luận:
- Tuân theo những đòi hỏi đó của quan điểm phát triển sẽ góp phần khắc phục bệnh bảo thủ
trì trệ và bệnh giáo điều trong tư duy cũng như trong hành động thực tiễn. Bệnh bảo thủ trì trệ
là tình trạng ỷ lại, chậm đổi mới, ngại thay đổi, dựa dẫm, chờ đợi, thậm chí cản trở cái mới,
bằng lòng thỏa mãn với cái đã có. Đôi khi bệnh bảo thủ biểu hiện qua những định kiến. Quan
điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật hoàn toàn đối
lập với quan điểm bảo thủ tri trễ định kiến và bệnh giao điều. Trên cơ sở hiểu rõ quy luật phát
triển của sự vật một cách biện chứng, ta có thể khắc phục được bệnh bảo thủ tri tệ thông qua
việc từ bỏ lỗi nghiên cứu áp dụng lý luận một cách kinh viện, thuần túy, chống lại tư duy bắt
chước, sao chép rập khuôn; từ bỏ những định kiến, đấu tranh với sức ý trong nhận thức và hành
động, tăng cường tổng kết thực tiễn từ quá trình vận động của các SVHT để bổ sung phát triển
lý luận. Trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước, Đảng ta luôn đấu tranh phê phán với
quan điểm bảo thủ, tri trẻ, định kiến. Văn kiện Đại hội Đảng lần IX có viết : “.. Xóa bỏ mặc
cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở,
tin tưởng lần nhau hướng tới tương lai”
- Xét về khía cạnh tư tưởng, quan điểm phát triển cũng đòi hỏi không chỉ thấy sự vật như là
cái đang có mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó. Trong quá
trình phát triển sự vật thường có sự biến đổi tiền lên nhưng cũng có cả những biến đổi thụt lùi.
Quan điểm phát triển đúng đần về sự vật chỉ có được khi băng tư duy khoa học, ta có thể khái
quát được xu hướng chủ đạo của tất cả những biến đổi khác nhau đồng thời thấy được tính
quanh có phức tạp của quá trình phát triển, bước lùi của một sự vật hiện tượng trong giai đoạn
nào đó cũng là tất yếu trên con đường phát triển. Nhận thức đúng được xu hướng phát triển, ta
có thể tránh được những bi quan dao động trước sự thất bại tạm thời của cái mới, tạo được
niềm tin vào sự thắng lợi của cái mới, cái tiến bộ.
Câu 6: Phân tích phạm trù thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức trên cơ sở
đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận. * Khái niệm:

Thực tiễn là hoạt động khi con người sử dụng công cụ tác động vào đối tượng vật chất
làm cho đối tượng đó thay đổi theo mục đích của mình. •
Nhận thức: Nhận thức là sự hiểu biết của con người đối với hiện thực khách quan, là quá
trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan, bản chất nhận thức là
quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào óc con
người trên cơ sở thực tiễn.
* Phạm trù của thực tiễn: có 3 hình thức cơ bản.
Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động có sớm nhất, cơ bản và quan trọng nhất. là
hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn. Đây là hoạt động mà con người sử dụng những công
cụ lao động tác động vào thế giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết
nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. Sản xuất vật chất cũng là cơ sở cho sự tồn tại
các hình thức thực tiễn khác cũng như tất cả các hoạt động sống khác của con người. •
Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của các cộng đồng người, các tổ chức khác
nhau trong xã hội nhằm cải biên, cải tạo, phát triển những thiết chế xã hội, quan hệ chính trị -
xã hội thông qua các hoạt động như đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tôc, đấu tranh
vì hòa bình, dân chủ với mục đích chung để thúc đẩy xã hội phát triển. •
Hoạt động thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, được tiến hành
trong những điều kiện do con người tạo ra, những cái không có sẵn trong tự nhiên; gần giống,
giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định những quy luật biến
đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu. Dạng hoạt động này có vai trò trong sự phát triển của
xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại.
* Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
-Thực tiễn là cơ sở, mục đích, là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức: Xuất phát từ sự
thật rằng mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối với bất kì đối tượng con người nào, ở bất kì
trình độ kinh nghiệm hay lý luận đều bắt nguồn từ thực tiễn.
+ Thực tiễn còn là mục đích của nhận thức. Bởi lẽ nhận thức dù về vấn đề, khía cạnh hay lĩnh
vực nào đi chăng nữa thì cũng phải quy về phục vụ thực tiễn. Do vây, kết quả nhận thức phải
hướng dẫn và chỉ đạo thực tiễn. Nếu lý luận, khoa học không vận dụng được để cải tạo thực
tiễn thì không có bất cứ ý nghĩa nào.
+ Thực tiễn là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức. Thực tiễn giúp con người nhận
thức toàn diện hơn về thế giới. Những nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận
thức là kết quả của thực. Trong quá trình hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giơi, con người
cũng không ngừng biến đổi theo.
-Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vừa tuyệt đối mà cũng
vừa tương đối. Tuyệt đối ở đây là bởi thực tiễn chính là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm
chân lý. Không phải tất cả thực tiễn có thể kiểm nghiệm được chân lý mà còn phải dựa vào
thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau. Tính tương đối của thực tiễn thể hiện ở chỗ thực
tiễn không ngừng biến đổi và phát triển.
* Ý nghĩa phương pháp luận: Vai trò của phương pháp luận triết học đối với nhận thức và
thực tiễn thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo sự tìm kiếm, xây dựng; lựa chọn và vận dụng các phương
pháp để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn; đóng vai trò định hướng trong quá trình
tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp.
- Nhờ có thực tiễn mà bản chất của nhận thức được làm rõ, thực tiễn là cơ sở động lực mục
đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý cho nên mọi nhận thức đều xuất phát từ thực tiễn.
- Phải thường xuyên quán triệt những quan điểm thực tiễn luôn đi sâu đi sát thực tiễn tiến hành
nghiên cứu tổng kết thực tiễn một cách nghiêm túc.
- Việc quán triệt tính biện chứng của tiêu chuẩn thực tiễn giúp chúng ta tránh khỏi những chủ
quan sai lầm như chủ nghĩa chủ quan, giáo điều bảo thủ, CN tương đối, chủ nghĩa xem lại.
Câu 7: Phân tích các yếu tố cấu thành của hình thái kinh tế xã hội. Làm rõ vai trò của
từng yếu tố. Liên hệ thực tiễn Việt Nam.
1. Hình thái kinh tế - xã hội:
- Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở
từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù
hợp với trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng
được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.
- Hình thái kinh tế xã hội gồm ba yếu tố: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc
thượng tầng. Ba yếu tố đó tác động qua lại nhau tạo thành sự vận động tổng hợp của hai quy
luật cơ bản, chung nhất của sự tồn tại và phát triển xã hội.
2. Lực lượng sản xuất:
- Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên trong quá trình sản
xuất tạo ra của cải vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển, là thước đo quan trọng trong
sự tiến bộ của xã hội loài người. Trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau, lực lượng sản
xuất sẽ có tính chất và trình độ khác nhau.
- Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất:
+ Người lao động: Là chủ thể của quá trình lao động sản xuất với sự vận dụng trí tuệ, năng lực
và kinh nghiệm của con người vào tư liệu sản xuất để tạo ra vật chất.
+ Tư liệu sản xuất: Là toàn bộ điều kiện vật chất cần thiết để con người tiến hành quá trình
lao động sản xuất, đây được xem là yếu tố thiết yếu của lực lượng sản xuất. Nó bao gồm tư liệu
lao động và đối tượng lao động
Đối tượng lao động: Không phải toàn bộ giới tự nhiên mà chỉ một bộ phận của giới tự nhiên
được con người đưa vào sản xuất để tạo ra của cải. Bao gồm cả những cái có sẵn trong tự nhiên
vả cả dạng nhân tạo bởi trong quá trình sản xuất cần những đối tượng lao động mới để mở rộng
khả năng sản xuất của con người
Tư liệu lao động: Là vật thể hay phức hợp vật thể mà con người đặt dưới mình với đối tượng
lao động, giúp con người tác động lên đối tượng lao động. Tư liệu lao động và đối tượng lao
động là những yếu tố vật chất của quá trình lao động sản xuất tạo nên tư liệu sản xuất. Do con
người tạo ra như phương tiện lao động và công cụ lao động. Công cụ lao động được xem như
hệ thống "chủ lực" của sản xuất, thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người, kết nối
trung gian giữa người và tư liệu sản xuất làm giảm áp lực và tăng năng xuất lao động của con người.
=> Trong toàn bộ yếu tố của lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố không thể thiếu, là
chủ thể sáng tạo có vai trò quyết định nhất, sử dụng trí tuệ để chế tạo và vận dụng công cụ lao
động vào quá trình sản xuất.
3. Quan hệ sản xuất
- Quan hệ sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất,
cũng giống như lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực đời sống xã hội. Nó có
tính khách quan và tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của con người, thể hiện sự đặc trưng
của mỗi hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Quan hệ sản xuất bao gồm các kết cấu sau:
+ Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
+ Quan hệ tổ chức quản lí
+ Quan hệ phân phối sản phẩm lao động
=> Ba mặt nói trên có mối quan hệ biện chứng thống nhất với nhau, mỗi mặt đều có tác động
thúc đẩy hoặc kìm hãm qua lại, trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết
định đối với những quan hệ khác.
- Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người tồn tại hai loại hình sở hữu cơ
bản về tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sơ hữu công cộng
+ Sở hữu tư nhân là loại hình sở hữu thể hiện mối quan hệ thống trị và bóc lột giữa người với
người trong sản xuất và đời sống xã hội khi mà tư liệu sản xuất chỉ tập trung trong tay số ít người.
+ Sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mả tư liệu sản xuất thuộc về cộng đồng, nhờ đó mà
quan hệ xã hội trở nên bình đẳng, công bằng.
- Quan hệ tổ chức và quản lý có tác động lớn đối với quá trình sản xuất, là nhân tố ảnh hưởng
trực tiếp đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất và quyết định quy mô, tốc độ của nền kinh tế.
- Quan hệ phân phối sản phẩm lao động bị chi phối bởi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và
quan hệ tổ chức quản lí nhưng lại đóng vai trò là chất xúc tác trực tiếp đến lợi ích và thái độ
của con người trong quá trình lao động sản xuất, nó có thể thúc đẩy hoặc cản trở sản xuất phát triển.
3.2 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
- Trong mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản
xuất đóng vai trò quyết định. Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản
xuất thể hiện những nội dung dưới đây:
+ Thứ nhất, với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất sẽ hình thành nên một quan hệ
sản xuất tương ứng. Những quan hệ sản xuất này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của
các lực lượng vật chất”, “những quan hệ sản xuất mới cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện
trước khi những kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng của bản thân xã hội cũ” điều
+ Thứ hai, khi lực lượng sản xuất thay đổi thì quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo. C. Mác đã
chỉ ra rằng: “Có được những lực lượng sản xuất mới, con người cũng thay đổi phương thức sản
xuất của mình, và cùng với phương thức sản xuất thì họ cũng thay đổi tất cả các quan hệ kinh
tế đã từng là những quan hệ tất yếu chỉ đối với phương thức sản xuất nhất định đã tồn tại”.
Thực tế lịch sử đã chứng minh, khi lực lượng sản xuất chuyển từ trình độ thủ công đồ sắt sang
trình độ công nghiệp thì đó cũng là lúc quan hệ sản xuất phong kiến mất đi, thay vào đó là
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa,
=> Lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định vì nó là nội dung vật chất của quá trình sản
xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình đó. Trong mối quan hệ giữa nội
dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức. Nghĩa là, trình độ của lực lượng sản xuất
quy định cách thức con người quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất vật chất.
3.3 Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối, tác động trở lại lực lượng sản xuất
- Quan hệ sản xuất không hoàn toàn thụ động, nó có khả năng tác động mạnh mẽ trở lại lực
lượng sản xuất. Sự tác động đó thể hiện như sau:
+ Thứ nhất, quan hệ sản xuất thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng sản xuất phát triển nếu nó phù hợp
(thống nhất) với lực lượng sản xuất. Sự phù hợp này là một trạng thái mà ở đó quan hệ sản xuất
là "hình thức phát triển" tất yếu của lực lượng sản xuất, nó tạo điều kiện tối ưu cho việc sử
dụng và kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, khi đó lực lượng sản xuất có cơ sở để
phát huy, phát triển hết khả năng của nó. Sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất thường được biểu hiện ra ở sự năng động, tự giác, tích cực của người lao động; tư liệu sản
xuất được khai thác hiệu quả, từ đó làm cho năng suất lao động tăng cao.
+ Thứ hai, quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất nếu nó không phù
hợp (mâu thuẫn) với lực lượng sản xuất. Sự không phù hợp này xuất phát từ sự phải triển
không ngừng của lực lượng sản xuất, trong khi đó quan hệ sản xuất lại có tính ổn định, chậm
biến đổi. Do vậy, "tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật
chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có... trong đó từ trước đến nay các
lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất,
những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời
đại một cuộc cách mạng xã hội".
- Tuy nhiên, trong thực tiễn, vì nhiều lý do khác nhau, thường là do mong muốn chủ quan,
người ta có thể tạo ra những quan hệ sản xuất vượt trước trình độ của lực lượng sản xuất, dẫn
đến sự không phù hợp với quan hệ sản xuất. Cả quan hệ sản xuất lạc hậu và quan hệ sản xuất
vượt trước trình độ của lực lượng sản xuất đều không phù hợp với lực lượng sản xuất và đều có
tác dụng kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
3.4 Ý nghĩa phương pháp luận
- Ở giai đoạn cuối mỗi phương thức sản xuất, khi lực lượng sản xuất đã thay đổi về chất và
mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất thì phải tiến hành cách mạng xã hội để xóa bỏ quan hệ
sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp.
- Trong quá trình xây dựng xã hội mới, trước hết phải quan tâm phát triển lực lượng sản xuất,
đồng thời phải kịp thời phát hiện, điều chỉnh những yếu tố không phù hợp trong quan hệ sản
xuất theo nguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất.
4. Kiến trúc thượng tầng
- Trong phần "lời tựa" của tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, khi nói về cơ sở
hạ tầng, C. Mác quan niệm: đó là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội.
- Kiến trúc thượng tầng bao gồm hệ thống các hình thái ý thức xã hội (như chính trị, tôn giáo,
nghệ thuật,...) và hệ thống các thiết chế tương ứng với các hình thái ý thức xã hội đó (như
chính đảng, nhà nước, giáo hội,...). Trong số các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng thì yếu
tố chính trị, đặc biệt là nhà nước là yếu tố quan trọng nhất, là sự biểu hiện tập trung nhất của
kinh tế. Do vậy, nói đến kiến trúc thượng tầng, trước hết người ta nói đến chính trị, nhà nước.
- Như vậy, có thể khái quát kiến trúc thượng tầng chính là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng
cùng với các thiết chế tương ứng, được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
4.2 Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
- C. Mác viết: "Toàn bộ những quan hệ sản xuất ly hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là
cái cơ sở hiện thực trên đồ dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những
hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ BY hiện thực đó".
- Có thể khái quát vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng như sau:
+ Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ sản sinh ra một kiến trúc thượng tầng tương ứng, có tác dụng bảo vệ cơ sở hạ tầng đó.
+ Cơ sở hạ tầng quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác. Giai cấp nào thống trị về kinh tế thì
cũng chiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinh thần của xã hội, các giai cấp còn
lại ở vào địa vị bị thống trị.
+ Các mâu thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định các mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị
tư tưởng, cuộc đấu tranh giai cấp về chính trị tư tưởng là biểu hiện những đối kháng trong đời sống kinh tế,
+ Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn, kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo.
=> Như vậy, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng kiến trúc thượng tầng chỉ là sự
phản ánh cơ sở hạ tầng, phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng.
4.3 Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
- Thông thường, sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng làm cho cơ sở hạ
tầng sinh ra nó được củng cổ, duy trì và phát triển, do đó làm cho địa vị của giai cấp thống trị
trong kinh tế càng trở nên vững chắc. Tuy nhiên, trong thực tế, sự tác động của kiến trúc
thượng tầng đến cơ sở hạ tầng thường mang tính đa chiều.
- Ph. Ăngghen chỉ rõ, tác động ngược lại của quyền lực nhà nước đối với sự phát triển kinh tế
theo ba hướng, đó là tác động theo cùng một hướng với sự phát triển kinh tế và ở trường hợp
này sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh hơn; trường hợp thứ hai là tác động ngược trở lại
hướng phát triển kinh tế; trường hợp thứ ba là nó có thể ngăn cản một vài hướng phát triển nào
đấy của nền kinh tế và thúc đẩy sự phát triển đó theo những hướng khác. Theo Ph. Ăngghen,
hai trường hợp sau quyền lực chính trị có thể gây thiệt hại lớn cho sự phát triển kinh tế.
=> Như vậy, kiến trúc thượng tầng không hoàn toàn thụ động trái lại, nó có khả năng tác động
mạnh mẽ đến cơ sở hạ tầng
4.4 Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức và hành động, phải thấy được vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với
kiến trúc thượng tầng, của kinh tế đối với chính trị. Tuy nhiên, không được tuyệt đối hóa vai
trò đó vì như vậy sẽ rơi vào chủ nghĩa duy kinh tế.
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, cũng phải nhận thức rõ vai trò to lớn của chính trị
với kinh tê, song không thể tuyệt đối hóa vai trò của chính trị với kinh tế vì như vậy sẽ rơi vào chủ nghĩa duy ý chí.
5. Sự vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội trong quá trình đổi mới kinh tế và đổi
mới chính trị ở Việt Nam hiện nay
- Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã được C. Mác vận dụng vào phân tích xã hội tư bản,
vạch ra các quy luật vận động, phát triển của xã hội đó và đã đi đến dự báo về sự ra đời của
hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, đó là hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà giai
đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Dự báo của C. Mác đã trở thành hiện thực với thắng lợi của cuộc
Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
- Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội nói riêng
vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã tìm ra quy luật của cách mạng
Việt Nam là: cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng vô sản, độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội. Việc Đảng ta kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với
xu hướng của thời đại và điều kiện cụ thể của nước ta.
- Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là kiểu quá độ gián tiếp, tức là quá độ lên chủ nghĩa xã
hội từ một nước lạc hậu, tiền tư bản, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Việc phát
triển bỏ qua hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa được Đảng ta xác định như sau: “Bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và
kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại
đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển
nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.
- Quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta có điểm xuất phát thấp, từ một nước nông nghiệp
lạc hậu, thuộc địa nửa phong kiến, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, phức tạp,
với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất trung gian, quá độ.
- Trong những năm thực hiện đường lối đổi mới, việc thiết lập các yếu tố cơ bản của hình thái
kinh tế - xã hội mới được xác định:
+ Về lực lượng sản xuất: do trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta còn nhiều hạn chế, cho
nên, để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội,
phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phát triển nguồn nhân lực, đầy mạnh
ứng dụng khoa học vào sản xuất,...
+ Về quan hệ sản xuất: trên cơ sở xác định rõ lực lượng sản xuất còn nhiều hạn chế, phát triển
không đồng đều, đan xen nhiều trình độ, cần thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở nước ta, kinh tế thị trường định hưởng xã hội
chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững
chắc. Quan điểm vừa nêu được thực hiện nhất quán trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
thể hiện rõ tính đúng đắn của Đảng ta trong việc vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ
sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây thực chất là cốt lõi của vấn đề về
đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
+ Về kiến trúc thượng tầng: Đảng ta chủ trương lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nhằm không ngừng nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân;
phát triển giáo dục đào tạo nhằm nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài; không ngừng đổi mới
hệ thống chính trị nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng, phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quá trình đổi mới hệ
thống chính trị ở nước ta hiện nay về thực chất là nhằm làm cho kiến trúc thượng tầng thực sự
phù hợp với cơ sở hạ tầng ở nước ta hiện nay. Đây thực chất là cối lõi của vấn đề về đổi mới
chính trị ở Việt Nam hiện nay.
=> Như vậy, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung và sự nghiệp đổi mới ở nước ta
30 năm qua luôn được căn cứ vào những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng
thời cũng luôn được căn cứ vào tình hình thực tiễn Việt Nam. Đây chính là những tiền đề căn
bản để chúng ta tiếp tục giành được những thành tựu ngày càng to lớn hơn nữa để đưa Việt
Nam sớm trở thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, nền tảng cho việc thực
hiện được mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh”.
Câu 8: Phân tích quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất. Liên hệ thực tiễn VN hiện nay.
- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được xem là hai khía cạnh của phương thức sản xuất
giữa chúng tồn tại mối quan hệ biến chứng chặt chẽ với nhau. Chúng phụ thuộc và tác động lẫn
nhau tạo thành quy luật xã hội cơ bản của lịch sử loài người. Quy luật thể hiện động lực và xu
thể phát triển của lịch sử.
1. Tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất.
- Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất và của người lao động. Có
tính cá thể hoặc xã hội, thể hiện sự đòi hỏi trong nền sản xuất.
- Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện qua trình độ chuyên môn kỹ năng lao động của
con người, sự phát triển của các công cụ lao động trình độ phân công lao động và tổ chức quản
lí lao động xã hội, quy mô của nền sản xuất.
- Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời và phát triển của quan hệ
sản xuất, hình thành quan hệ chặt chẽ giữa người lao động với nhau.
2. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
- Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng
vai trò quyết định sự hình thành phát triển và biến đổi của quan hệ sản xuất. Và chỉ làm biến
đổi cục bộ chứ không thể thay đổi toàn diện bởi quy luật này thể hiện sự cân đối hài hòa của
bản chất mối quan hệ trên.
- Lực lượng sản xuất được xem là nội dung của quá trình sản xuất có xu hướng phát triển và
biến đổi thường xuyên, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất có yếu tố tương
đối ổn định và bảo thủ, khi nội dung thay đổi làm hình thức thay đổi theo. Sự phù hợp giữa
chúng tạo động lực giúp cho sản xuất phát triển cân đối có hiệu quả giữa các yếu tố làm tăng
năng suất lao động đồng thời giảm chi phí và thời gian sản xuất.
3. Sự tác động trở lại của Quan hệ sản xuất đối với Lực lượng sản xuất.
- Trong mối quan hệ biện chứng quan hệ sản xuất giữ vai trò hình thức kinh tế của quá trình
sản xuất, là tiền đề tạo ra mục tiêu thích hợp cho lực lượng sản xuất. Do đó quan hệ sản xuất đã
tác động trở lại, quy định mục đích, cách thức sản xuất và phân phối những lợi ích từ quá trình
sản xuất, gây ra tác động trực tiếp tới thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng cũng
như hiệu quả của quá trình sản xuất và cải tiến công cụ lao động và ngược lại. Từ đó có thể
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
- Sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo động lực và điều kiện giúp thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
- Ngược lại, khi quan hệ sản xuất lỗi thời do tính chất ổn định không còn phù hợp với tính chất
vận động của lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất, điều
này thường xảy ra trong lịch sử do sự vận động của xã hội. Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn
ra trong điều kiện nhất định và mức giới hạn quy định.
- Đây được xem là quy luật cơ bản chi phối sự vận động của xã hội loài người và không ngừng
phát triển phá vỡ sự phù hợp. Khi cả hai không đồng nhất, phù hợp với nhau sẽ tạo ra mâu
thuẫn về mặt xã hội được gọi là mâu thuẫn giai cấp và chỉ mang tính chất tạm thời, khi đó mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất cũ sẽ được giải quyết bằng cách thay
thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất.
4. Ý nghĩa của phương pháp luận.
- Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ý nghĩa
vô cùng quan trọng, việc nhận thức đúng đắn quy luật này giúp cho việc nắm bắt quan điểm,
hoạch định đường lối, chính sách là cơ sở khoa học để nhận thức rõ sự đổi mới trong tư duy
kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.
- Khi có xuất hiện mâu thuẫn giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất với sự lạc hậu của quan
hệ sản xuất thì cần phải có những cuộc cải cách, đổi mới mà cao hơn là một cuộc cách mạng
chính trị để có thể giải quyết được mâu thuẫn, từ đó từng bước khôi phục, tạo lập sự phù hợp giữa chúng.
5. Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay
- Sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hình thành nên các quy luật
về sự phủ hợp, đây được xem là quy luật cơ bản nhất, phổ biến nhất chi phối sự vận động và
phát triển của xã hội loài người, không những thế mà còn tác động đến nền kinh tế của mỗi
quốc gia trên thế giới. Điều này đòi hỏi chúng ta muốn phát triển kinh tế đất nước cần phải có
một quá trình đổi mới song song với việc giải quyết những lý luận đã và đang được đặt ra, cần
nhận thúc đúng đắn để hành động phù hợp, đẩy nhanh tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Từ lý luận và thực tiễn, chúng ta nhận thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi
có một quan hệ sản xuất phù hợp với nó. Còn quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hay tiên tiến hơn so
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Đứng trước hoàn cảnh đó Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức lại, cần phải đổi mới trước hết là
đổi mới về tư duy một cách toàn diện trong đó phải lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm từng
bước đổi mới về chính trị xã hội.
- Do đó trong giai đoạn từ năm 1986 trở lại đây, Đảng và nhà nước ta đã nhận thức được rằng
cần phải đổi mới toàn diện nền kinh tế, từng bước đổi mới về chính trị, cụ thể chúng ta cần đẩy
mạnh phát triển lực lượng, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước từ đó xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn,
phát triển nền kinh tế tri thức, nâng cao mức cạnh tranh thị trường. Tiếp tục thực hiện cải tạo
quan hệ sản xuất, nhất là về quan hệ sở hữu, chúng ta thực hiện đa dạng hóa hình thức sở hữu
bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp.
- Về kinh tế, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa đa thành phần, chuyển dịch
theo cơ chế thị trường với sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Doanh
nghiệp và hàng hoá dịch vụ chủ động hội nhập quốc một cách tích cực, lĩnh hội những thành
tựu về khoa học công nghệ.
- Bên cạnh đó, về mặt tổ chức quản lý chúng ta đã xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu bao cấp và chuyển sang cơ chế thị trường, quá trình sản xuất kinh doanh đều tuân theo các
quy luật của thị trường và do thị trường điều tiết chứ không dựa vào ý muốn chủ quan để thay
cho các quy luật của thị trường.
- Về mặt phân phối, từ khi đổi mới hiện nay, nước ta đã thực hiện nhiều hình thức phân phối
trong đó lấy phân phối theo lao động làm cơ bản từ đó đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất,
từng bước cải tạo quan hệ sản xuất dẫn tới quan hệ sản xuất dần dần phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất làm cho kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được
nâng cao, mức sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. Điều đó cho thấy rằng quy luật
giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cần phải căn cứ vào điều
kiện hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam để xây dựng và phát triển sao cho phù hợp. Đây được
coi là một trong những quy luật quan trọng nhất và chính sự vận động nội tại của quy luật này
mà làm cho các hình thái kinh tế xã hội vận động thay thế nhau từ thấp đến cao, vậy nên cần
phải nhận thức đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất để vận dụng vào quá trình đổi mới kinh tế, xã hội ở nước ta.
Câu 9: Phân tích mqh biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng và liên hệ
Cơ sở hạ tầng là gì?

- Cơ sở hạ tầng (hạ tầng các mối quan hệ vật chất, kinh tế) là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ
những quan hệ sản xuất tạo nên cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định.
- Kiến trúc thượng tầng (thượng tầng các mối quan hệ tư tưởng, chính trị) là:
+) Toàn bộ những quan điểm xã hội (chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học v.v) với
+) Những thiết chế tương ứng (nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội v.v) và
+) Những mối quan hệ nội tại giữa các yếu tố đó của kiến trúc thượng tầng. “Toàn bộ những
quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng
lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý, chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định
tương ứng với cơ sở hạ tầng hiện thực đó”.
Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng
– Cơ sở hạ tầng quy định kiến trúc thượng tầng
+) Tính chất của kiến trúc thượng tầng do tính chất của cơ sở hạ tầng quy định. Trong các quan
hệ xã hội, quan hệ vật chất, kinh tế (cái thứ nhất) quy định quan hệ tinh thần, tư tưởng (cái thứ
hai). Mâu thuẫn trong đời sống vật chất, kinh tế, xét cho đến cùng, quy định mâu thuẫn trong
đời sống tinh thần, tư tưởng.
+) Những biến đổi trong cơ sở hạ tầng sẽ dẫn đến những biến đổi trong kiến trúc thượng tầng.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm biến đổi quan hệ sản xuất, kéo theo sự biến đổi của cơ
sở hạ tầng và thông qua sự biến đổi này, làm biến đổi kiến trúc thượng tầng. Trong đó quan
điểm chính trị, pháp luật v.v thay đổi trước; tôn giáo, nghệ thuật v.v biến đổi sau, thậm chí
chúng còn được kế thừa trong kiến trúc thượng tầng mới. Sự biến đổi đó diễn ra trong từng
hình thái kinh tế – xã hội cụ thể cũng như trong quá trình chuyển hoá từ hình thái kinh tế – xã
hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác, có nghĩa là mỗi hình thái kinh tế – xã hội đều có
kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng của riêng mình (là tính lịch sử – cụ thể của cơ sở hạ tầng
và kiến trúc thượng tầng).
– Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng.
Trong đời sống xã hội, các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều tác động, bằng nhiều hình thức
khác nhau, theo những cơ chế khác nhau, ở mức độ này hay ở mức độ kia, ở vai trò này hoặc
vai trò khác đối với cơ sở hạ tầng.
+) Trong mỗi kiến trúc thượng tầng còn kế thừa một số yếu tố của kiến trúc thượng tầng trước.
Các yếu tố chính trị, pháp luật tác động trực tiếp, còn triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật,
khoa học v.v tác động gián tiếp đối với cơ sở hạ tầng, bị các yếu tố chính trị, pháp luật chi phối.
+) Trong xã hội có giai cấp, nhà nước là yếu tố vật chất có tác động mạnh nhất đối với cơ sở hạ
tầng. Nhà nước kiểm soát xã hội và sử dụng bạo lực, bao gồm những yếu tố vật chất như cảnh
sát, toà án, nhà tù để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị. Sự tác động tích cực
của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện ở chức năng xã hội của kiến trúc
thượng tầng là bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó; đấu tranh xoá bỏ
cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ. Trong đó, nhà nước, dựa trên hệ tư tưởng, kiểm soát
xã hội và sử dụng bạo lực, bao gồm những yếu tố vật chất như quân đội, cảnh sát, toà án, nhà
tù, để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị.
Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở nước ta hiện nay:
Dưới chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh, cơ sở hạ tầng và kiến thức thượng tầng thuần nhất và thống
nhất. Vì cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa không có tính chất đối kháng, không bao hàm những
lợi ích kinh tế đối lập nhau. Hình thức sở hữu bao trùm là sở hữu toàn dân và tập thể, hợp tác
tương trợ nhau trong quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm theo lao động, không còn chế độ bóc lột.
Kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa, vì vậy mà
có sự thống trị về chính trị và tinh thần Nhà nước phải thực hiện biện pháp kinh tế có vai trò
quan trọng nhằm từng bước xã hội hoá nền sản xuất với hình thức và bước đi thích hợp theo
hướng như : kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh
tế tập thể dưới hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các
hình thức xí nghiệp , công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy
được mọi tiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở kinh tế hợp lý. Các thành
phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, vừa thống nhất với nhau trong một cơ
cấu kinh tế quốc dân thống nhất mà còn cạnh tranh nhau, liên kết và bổ xung cho nhau.
Để định hướng xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế này, nhà nước phải sử dụng
tổng thể các biện pháp kinh tế hành chính và giáo dục, trong dó thì biện pháp kinh tế là quan
trọng nhất nhằm từng bước xã hội hóa nền sản xuất với hình thức và thích hợp theo hướng kinh
tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới
hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các hình thức xí
nghiệp, công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy được mọi tiềm
năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng kinh tế hợp lý.
Kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa, vì vậy mà
có sự thống trị về chính trị và tinh thần Nhà nước phải thực hiện biện pháp kinh tế có vai trò
quan trọng nhằm từng bước xã hội hoá nền sản xuất với hình thức và bước đi thích hợp theo
hướng như : kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh
tế tập thể dưới hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các
hình thức xí nghiệp , công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy
được mọi tiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở kinh tế hợp lý. Các thành
phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, vừa thống nhất với nhau trong một cơ
cấu kinh tế quốc dân thống nhất mà còn cạnh tranh nhau, liên kết và bổ xung cho nhau.
Để định hướng xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế này, nhà nước phải sử dụng
tổng thể các biện pháp kinh tế hành chính và giáo dục, trong dó thì biện pháp kinh tế là quan
trọng nhất nhằm từng bước xã hội hóa nền sản xuất với hình thức và thích hợp theo hướng kinh
tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới
hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các hình thức xí
nghiệp, công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát huy được mọi tiềm
năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng kinh tế hợp lý
Câu 10: Phân tích mqh biện chứng giữa tt xh và ý thức xh và liên hệ vs thực tiễn vn hiện nay.
1. Tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Tồn tại xã hội là khái niệm dùng để chỉ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất
của xã hội, là mối quan hệ vật chất- xã hội giữa con người với tự nhiên và giữa con người với
nhau; trong đó quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hê vật chất, kinh tế giữa con người
với nhau là quan hệ cơ bản. Những mối quan hệ này xuất hiện trong quá trình hình thành xã
hội loài người và không phụ thuộc vào ý thức xã hội. Tồn tại xã hội gồm các thành phần chính
như: phương thức sản xuất vật chất; điều kiên tự nhiên- môi trường địa lý; dân số và mật độ
dân số.. trong đó phương thức sản xuất vật chất là thành phần cơ bản nhất.
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm tình cảm, tập quán, truyền thống,
quan điểm, tư tưởng, lý luận,... nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tai xã hội trong
những giai đoạn phát triển khác nhau. Hiểu đơn giản, ý thức xã hội là những quan hệ tinh thần
giữa con người với nhau, là mặt tinh thần trong quá trình lịch sử. ý thức xã hội có cấu trúc bên
trong xác định, bao gồm những mức độ khác nhau( ý thức xã hội thông thường và ý thức lý
luận( khoa học); tâm lý xã hội và hệ tư tưởng) và các hình thái của ý thức xã hội.( ý thức chính
trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, nghê thuật, triết học, khoa học...)
2. Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Thứ nhất: Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
Theo quan điểm thế giới quan duy vật thì vật chất có trước, nó sinh ra và quyết định ý thức.
Trong lĩnh vực xã hội thì quan hệ này đươc biểu hiện là: tồn tại xã hội có trước, nó sinh ra và
quyết định ý thức xã hội, điều đó được thể hiện cụ thể là:
- Tồn tại xã hội nào thì sinh ra ý thức xã hội ấy. Tức là người ta không thể tìm nguồn gốc tư
tưởng ấy trong đầu óc con người, mà phải tìm nó trong chính tồn tại xã hội. Do đó, tồn tại xã
hội để lý giải cho ý thức xã hội.