VẤN ĐỀ ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
PHẦN TỰ LUẬN (DÀNH CHO CÁC LỚP THÍ ĐIỂM CHƯƠNG TRÌNH
KHÔNG CHUYÊN – 3 TÍN CHỈ)
1. Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin. Ý nghĩa phương pháp luận
2. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận
3. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Ý nghĩa phương pháp luận
4. Nguyên lý về sự phát triển. Ý nghĩa phương pháp luận
5. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
6. Hình thái kinh tế - hội vai trò của từng yếu tố. Liên hệ với thực tiễn
Việt Nam hiện nay
- Quy luật QHSV phù hợp với trình độ sản xuất rút ra vấn đề phương
pháp luận liên quan đến phát triển nền kinh tế thị trươngf định hướng
hội chủ nghĩa
+ nền kinh tế thị trường là gì? ….: …. tương ứng 1 trình độ sản xuất
+ TƯƠNG ỨNG 1 TTXX phải nhiều QHSX cũng nghĩa nhiều
PTSX, phải có sự quản lý của nhà nước và lãnh đạo của đảng
- MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CSHT VÀ KTTT
+ Vai trò của nhà nước, đảng trong quản lí KTHX
+ Tại sao ĐẢNG là nhân tố quyết định thắng lợi
7. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay
8. Mối quan hệ biện chứng giữa sở hạ tầng kiến trúc thượng tầng. Liên
hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay.
9. Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại hội ý thức hội. Liên hệ với
thực tiễn Việt Nam hiện nay.
10. Quan điểm triết học Mác Lênin về bản chất con người. Liên hệ với việc
phát triển con người ở Việt Nam hiện nay.
------------- Hết ---------------
BÀI LÀM
1. Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin. Ý nghĩa phương pháp luận
** Quan niệm về vật chất trong triết học lịch sử
a) Quan niệm trước của Mác
- Các nhà duy vật đã khẳng định dứt khoát “vật chất” cái trước, luôn
vận động để từ đó sinh ra mọi vật.
- Quan niệm quy vật chất về vật thể : vật chất ớc (Talet), lửa (Hêraclit),
nguyên tử (trường phái nguyên tử) => có sức sống khá bền lâu
- P. Hônbách: vật chất tất cả những cái tác động theo một cách nào đó
đến con người “ => được C. Mác, Ph.Ăngghen tiếp nhận
b) Quan niệm của C.Mác – Ph.Ăngghen
- Chưa xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh về vật chất, nhưng những quan
niệm ấy là vô cùng quan trọng và là tiền đề chỉ dẫn để sau này V.I.Lênin khái
quát ra phạm trù về “vật chất”.
- Nội dung:
“ Vật chất” tồn tại khách quan, không do ai sáng tạo ra và không thể bị
tiêu diệt
“Vật chất” là một phạm trù triết học,kết quả sáng tạo của tư duy, do
đó vật chất k tồn tại cảm tính
Vật chất khác với vật thể, vật chất là tổng số các vật thể
Vật chất tất cả nhữngtác động theo một cách nào đó đến các giác
quan của con người.
** Hoàn cảnh: Một loạt các phát minh mới của khoa học tự nhiên ra đời
đã tác động trực tiếp vào quan niệm về vật chất trước Mác khiến cho quan
niệm này rơi vào khủng hoảng. Các nhà các nhà khoa học tự nhiên lúng
túng, bế tắc, vật học rơi vào cuộc khủng hoảng cuối thế kỷ XIX. Chủ
nghĩa duy tâm lợi dụng hội này để tấn công chủ nghĩa duy vật
tuyên bố rằng “vật chất biến mất” . Để bảo vệ phát triển chủ nghĩa duy
vật V.I. Lênin đã đưa đã kế thừa những tưởng của Mác ăngghen về vật
chất, từ đó định nghĩa vật chất của Lênin ra đời.
*** Định nghĩa vật chất của Lê Nin
“Vật chất một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép
lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Phân tích định nghĩa :
+ “Vật chất 1 phạm ttriết học”, khác với vật chất trong khoa học
tự nhiên và trong đời sống hàng ngày:
Vật chất trong KHTN, trong đời sống hàng ngày các dạng vật chất
cụ thể, tồn tại hữu hình, hữu hạn; sinh ra mất đi, chuyển hóa từ
dạng này sang dạng khác. Chúng bao gồm vật chất dưới dạng hạt,
trường, trong TN, XH, dưới dạng vĩ mô, vi mô rất phong phú đa dạng.
Vật chất với tính cách 1 phạm trù triết học tức vật chất đã được
khái quát từ tất cả các sinh vật cụ thể. Do đó, tồn tại cùng
tận, không có khởi đầu, không kết thúc, không được sinh ra, không
bị mất đi; đây phạm trù rộng nhất, thế không thể quy vào
các vật cụ thể để hiểu nó.
+ Vật chất “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác”. Nghĩa vật chất tất cả những gì tồn tại thực, tồn tại khách quan ở bên
ngoài, độc lập với cảm giác, ý thức con người, không lệ thuộc vào cảm giác, ý
thức. Đây thuộc tính quan trọng nhất, bản nhất của vật chất, tiêu chuẩn
để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không là vật chất.
+ Vật chất “ được đem lại cho con người trong cảm giác”, được hiểu: vật
chất những cái tồn tại thực, tác động theo một cách nào đó, hoặc trực
tiếp hoặc gián tiếp đến các giác quan của con người để gây nên cảm giác, ý
thức. Điều đó khẳng định vật chất có trước, cảm giác ý thức có sau, vật chất
là nguồn gốc khách quan của cảm giác, của ý thức.
+ Vật chất tồn tại không huyền “thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép
lại, chụp lại, phản ánh”. Điều này khẳng định con người có khả năng nhận
thức thế giới vật chất, chỉ những điều chưa biết chứ không thể những
điều không biết.
***Ý nghĩa phương pháp luận
Định nghĩa này đã bao quát cả 2 mặt của vấn đề bản của triết học, thể
hiện rõ lập trường duy vật biện chứng. Lê-nin đã giải đáp toàn bộ vấn đề
bản của triết học đứng trên lập trường của Chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Một , coi vật chất trước, ý thức sau, vật chất nguồn gốc khách
quan của cảm giác, ý thức, ý thức con người sự phản ánh của thực tại
khách quan đó. Con người khả năng nhận thức thế giới. Định nghĩa này
bác bỏ quan điểm duy tâm về phạm trù vật chất. (Vật chất trước, ý thức
có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức).
Hai , định nghĩa này khắc phục tính chất siêu hình, máy móc trong quan
niệm về vật chất của CNDV trước Mac (quan niệm vật chất về các vật thể cụ
thể, về nguyên tử, không thấy vật chất trong đời sống xã hội là tồn tại).
Định nghĩa vật chất của Nin bác bỏ quan điểm của CNDV tầm
thường về vật chất (coi ý thức cũng là 1 dạng vật chất)
Định nghĩa này bác bỏ thuyết không thể biết.
Định nghĩa này đã liên kết CNDV biện chứng với CNDV lịch sử
thành một thể thống nhất. (vật chất trong TN, vật chất trong hội
đều những dạng cụ thể của vật chất thôi, đều thực tại khách
quan).
Mở đường cổ vũ cho khoa học đi sâu khám phá ra những kết cấu phức
tạp hơn của thế giới vật chất.
(Định nghĩa này không quy vật chất về vật thể cụ thể, thế sẽ tạo ra kẻ hở
cho CNDT tấn công, cũng không thể quy vật chất vào 1 khái niệm nào rộng
hơn để định nghĩa nó, không khái niệm nào rộng hơn khái niệm vật
chất. thế chỉ định nghĩa bằng cách đối lập với ý thức để định nghĩa
vạch rõ tính thứ nhất và tính thứ 2, cái có trước và cái có sau).
2. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất ý thức. Ý nghĩa phương pháp
luận
🡺Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
- Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng mà trong đó
vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết
định ý thức nhưng không thụ động mà có thể tác động trở lại vật chất qua
hoạt động của con người.
- Theo Lê-nin thì vật chất là một phạm trù triết học để chỉ thực tại khách
quan, đem đến cho con người trong cảm giác, được cảm giác của con
người chép lại, chụp lại, phản ánh lại và không tồn tại lệ thuộc vào cảm
giác.
- Đặc điểm của vật chất:
Vật chất tồn tại bằng vận động và thể hiện sự tồn tại thông qua vận động.
Không có vận động ngoài vật chất và không có vật chất không có vận động;
Vật chất vận động trong không gian và thời gian;
Không gian và thời gian là thuộc tính chung vốn có của các dạng vật chất cụ
thể và là hình thức tồn tại của vật chất.
- Bên cạnh vật chất, ý thức là kết quả của quá trình phát triển tự nhiên và
lịch sử xã hội. Ý thức mang bản chất là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan, chính là sự phản ánh tích cực, tự giác, chủ động thế giới
khách quan và bộ não con người thông qua hoạt động thực tiễn.
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng.
Thứ nhất: Vật chất quyết định ý thức
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: Vật chất là cái có trước, ý thức là
cái có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, nội dung này được
hiểu theo hai ý sau đây:
+ Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau:
Ý thức là ý thức của con người, không tách rời con người, nhưng sự ra đời
của con người cũng có giới hạn còn thế giới vật chất thì tồn tại vĩnh viễn, vô
hạn. Do đó có thể khẳng định rằng thế giới vật chất là cái có trước con
người, vì vậy thế giới vật chất phải có trước ý thức.
Con người xuất hiện trên trái đất này chỉ có lịch sử hơn 6 triệu năm, bản
thân thế giới vật chất vĩ mô hơn con người có lịch sử 4,5 tỷ năm. Trong khi
đó quan điểm về thế giới vật chất là vô cùng, vô tận không do ai sinh ra,
cũng không ai làm mất đi thế giới khách quan, chúng ta không thể nào đếm
được điểm khởi đầu của thế giới vật chất cũng như dự đoán được điểm kết
thúc của thế giới vật chất. Vì những lý lẽ trên cho thấy thế giới vật chất phải
có trước ý thức, vũ trụ phải có trước trái đất, trái đất phải có trước con người
và có con người rồi mới có ý thức.
Vì vậy, vai trò của vật chất với ý thức được thể hiện ở chỗ vật chất là cái có
trước, ý thức là cái có sau.
+ Vật chất là nguồn gốc của ý thức:
Nguồn gốc của ý thức bao gồm cả nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
Trong đó nguồn gốc tự nhiên của ý thức gồm có bộ não người và thế giới
khách quan cùng với quá trình phản ánh năng động, sáng tạo giữa chúng,
tác động qua lại giữa chúng. Nguồn gốc xã hội của ý thức đó chính là lao
động và ngôn ngữ.
Khi phân tích nguồn gốc của ý thức, chúng ta thấy bộ óc người thực ra là
một dạng vật chất có tổ chức cao, chứa đựng trong nó hàng tỷ noron thần
kinh có khả năng sao lại, chụp lại, chép lại và phản ánh thế giới khách quan
bằng một cách năng động, sáng tạo. Như vậy, yếu tố tạo nên ý thức là bộ
não người là một dạng vật chất.
Thế giới khách quan thực chất là thế giới vật chất. Bản chất của ý thức chỉ là
sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc con
người. Nếu không có thế giới khách quan, bộ óc con người sẽ không có đối
tượng để phản ánh và do đó chắc chắn không có ý thức.
- Lao động chính là hoạt động vật chất, mang tính tất yếu nhằm đảm bảo sự
tồn tại và phát triển của con người. Nhờ lao động mà con người có thể chủ
động, tác động vào thế giới khách quan làm cho nó bộc lộ những thuộc tính,
kết cấu bản chất, quy luật vận động qua đó phản ánh vào bộ óc người, hình
thành những tri thức về tự nhiên, về xã hội.
- Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất nhưng mang nội dung ý thức. Ngôn
ngữ chính là lớp vỏ vật chất của tư duy.
- Vật chất quyết định nội dung và mọi sự biến đổi của ý thức.
Thứ hai: Vai trò của ý thức đối với vật chất
- Ý thức có tính độc lập tương đối và có thể tác động ngược trở lại vật chất thông
qua hoạt động thực tiễn của con người. Ý thức tác động vào vật chất theo hai
hướng:
- Hướng tích cực khi con người có tri thức đúng đắn, có nghị lực, ý chí và tình cảm
tích cực thì con người có khả năng hành động hợp quy luật khách quan.
- Hướng tiêu cực khi con người không có tri thức đúng đắn, thiếu tình cảm, ý chí
cách mạng sẽ nhận thức sai lầm và hành động trái quy luật.
dụ: Trước khi thực hiện một trận đánh chung ta làm quyết tâm thư; thực
hiện tự phê bình phê bình; rút ra các nhược điểm để tiến bộ, khắc phục
những mặt tiêu cực. Thực hiện giáo dục nhận thức thông qua các phong trào,
thực tiễn tư tưởng cục bộ địa phương và đạo đức giả.
Hay, giữa vật chất ý thức chỉ những mặt đối lập tuyệt đối trong phạm
vi nhận thức luận. Bên ngoài lĩnh vực đó, sự phân biệt tương đối. vậy
một chính sách đúng đắn là cơ sở để kết hợp hai điều này.
🡺Ý nghĩa của phương pháp luận:
- Phải luôn xuất phát từ hiện thực khách quan trong mọi hoạt động.
- Tri thức con người thu nhận được sẽ thông qua chu trình học tập, nghiên
cứu từ các hoạt động quan sát, phân ch để tác động vào đối tượng vật chất
và buộc những đối tượng đó phải thể hiện những thuộc tính, quy luật.
- Để cải tạo thế giới khách quan đáp ứng nhu cầu của mình, con người phải
căn cứ vào hiện thực khách quan để có thể đánh giá, xác định phương hướng
biện pháp, kế hoạch mới có thể thành công.
- Bên cạnh đó cần phải tránh xa những thói quen chỉ căn cứ vào nhu cầu, niềm
tin mà không nghiên cứu đánh giá tình hình đối tượng vất chất.
- Phát huy tính năng động, sáng tạo, sức mạnh to lớn của yếu tố con người.
- Con người muốn ngày càng tài năng, hội ngày càng phát triển thì phải
luôn chủ động, phát huy khả năng của mình luôn tìm tòi, sáng tạo cái
mới. Bên cạnh đó, con người phải thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, nâng
cao năng lực và không bỏ cuộc giữa chừng.
- Con người tuyệt đối không được thụ động, lại trong mọi trường hợp để
tránh việc sa vào lười suy nghĩ, lười lao động.
3. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Ý nghĩa phương pháp luận
- Mối liên hệ: khái niệm dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại
vàchuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các
yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới. Hiểu một cách khái quát
thì:
+ “sự quy định” sự lệ thuộc vào nhau giữa các sự vật (hay hiện tượng) A
và B.
+ “tác động qua lại” là tác động hai chiều (A B); A tác động vào B, đồng
thời B cũng tác động vào A.
+ “chuyển hóa lẫn nhau” A “biến” thành một phần hay toàn bộ B
ngược lại.
- Mối liên hệ phổ biến: khái niệm nói lên rằng mọi sự vật, hiện tượng
trong thế giới (cả tự nhiên, hội duy) đa dạng phong phú, nhưng
đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. sở của mối
liên hệ này là tính thống nhất vật chất của thế giới.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, các mối liên hệ ba tính chất
cơ bản:
+ Tính chất khách quan: mối liên hệ luôn mang tính khách quan,không phụ
thuộc vào ý thức của con người.
+ Tính phổ biến: Mối liên hệ phổ biến diễn ra cả trong tự nhiên, xãhội và tư
duy.
+ Tính đa dạng phong phú: Thời gian, không gian khác nhau mốiliên hệ
khác nhau.
- Khi khái quát từ những biểu hiện cụ thể của mối liên hệ xảy ra trongcác lĩnh
vực khác nhau của thế giới, nguyên về mối liên hệ phổ biếnđược phát
biểu như sau:
+ Một là, mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới đều tồntại trong
muôn vàn mối liên hệ ràng buộc qua lại lẫn nhau.
+ Hai là, trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của sự vật,hiện
tượng, quá trình trong thế giớimối liên hệ phổ biến. Mối liên hệ phổ biến
tồn tại khách quan phổ biến, chi phối một cách tổng quát sự vận động
và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới.
- Từ việc nghiên cứu nguyên về mối liên hệ phổ biến của các sự vật,hiện
tượng, chúng ta rút ra quan điểm toàn diện quan điểm lịch sử– cụ thể
trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
- Về quan điểm toàn diện: Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong nhiều mối liên
hệ, tác động qualại với nhau, do vậy khi nghiên cứu đối tượng cụ thể cần
tuân thủ nguyên tắc toàn diện.
+ Thứ nhất, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt trong chỉnh thể thống nhất
của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, thuộc tính, các mối liên hệ của
chỉnh thể đó.
+ Thứ hai, xem xét các mối liên hệ tất yếu của đối tượng đó nhậnthức
chúng trong sự thống nhất hữu nội tại để phản ánh đầy đủ sựtồn tại khách
quan với nhiều thuộc tính mối liên hệ, quan hệ tác động qua lại của đối
tượng.
+ Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác
với môi trường xung quanh, kể cả trực tiếp, gián tiếp, trong không gian,
thời gian nhất định, nghiên cứu cả những mối liên hệtrong quá khứ, hiện tại
và phán đoán tương lai.
+ Thứ tư, tránh quan điểm phiến diện, một chiều khi xem xét sự vật,hiện
tượng. Tức chỉ thấy mặt này không thấy mặt khác, hoặc chú ý đến
nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải, không thấy cái bản chất, cái quan
trọng nhất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật nguỵ biện, chủ nghĩa chiết
trung.
- Về quan điểm lịch sử – cụ thể: Cần xét đến những tính chất đặc thù của đối
tượng nhận thức tình huống giải quyết khác nhau trong thực tiễn. Xác
định vị trí vai trò khác nhau của mỗi liên hệ để giải pháp đúng đắn
hiệu quả. Như vậy, trong nhận thức thực tiễn không những cần phải tránh
khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hình còn phải tránh quan điểm
chiết trung, nguỵ biện.
4. Nguyên lý về sự phát triển. Ý nghĩa phương pháp luận
Theo quan điểm siêu hình: phát triển chỉ sự tăng lên, giảm thuần túy về
lượng, không sự thay đổi về mặt chất của sự vật; hoặc nếu sự thay
đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép
kín, chứ không sự sinh thành ra cái mới với những chất mới. Đồng thời,
xem sự phát triển như một quá trìnhtiến lên liên tục, không bước
quanh co, phức tạp. Quan điểm siêu hình cho rằng nguồn gốc của sự phát
triển là do bên ngoài quy định.
Theo quan niệm biện chứng: sự phát triển dùng để chỉ quá trìnhvận
động của sự vật, quá trình tiến lên từ thấp đến cao. Quá trình đódiễn ra dần
dần, nhảy vọt đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ, không phải lúc
nào sự phát triển cũng diễn ra theo đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp,
thậm chí những bước lùi tạm thời. Sự phát triển kết quả của quá trình
thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra
theo đường xoáy ốc hết mỗi chu sự vật lặp lại dường như sự vật ban
đầu nhưng ở cấp độ cao hơn. Quan điểm biện chứng cũng khẳng định nguồn
gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật. Phát triển cũng là quá trình
phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng;
quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực kế thừa, nâng
cao nhân tố tích cực từ sựvật, hiện tượng trong hình thái của sự vật, hiện
tượng mới.
2) Tính chất của sự phát triển
Các quá trình phát triển đều tính khách quan, tính phổ biến nh
đadạng, phong phú.
- Tính khách quan : biểu hiện ở chỗ, nguồn gốc của nó bắt nguồn từ bản thân
sự vật, hiện tượng; không phụ thuộc vào ý thức của con người.
- Tính phổ biến: các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên,
xã hội và tư duy.
- Tính kế thừa, chọn lọc: sự vật, hiện tượng mới ra đời từ sự vật, hiện tượng
cũ; giữ lại, chọn lọc cải tạo các yếu tố còn tác dụng, còn thích hợp với
chúng; đồng thời, gạt bỏ mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của sự vật, hiện tượng
cũ gây cản trở sự phát triển sự vật, hiện tượng mới.
- Tính đa dạng, phong phú: phát triển khuynh hướng chung của mọi sự
vật. hiện tượng, song mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không
giống nhau.Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển phụ thuộc vào không
gian và thời gian, các yếu tố, điều kiện tác động lên sự phát triển đó….
Sự tác động đó thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật,hiện
tượng, thậm chí thể làm cho sự vật, hiện tượng thụt lùi tạm thời, thể
dẫn tới sự phát triển về mặt này và thoái hóa ở mặt khác...
Tóm tắt nội dung nguyên lý
Khi khái quát từ những biểu hiện cụ thể của sự phát triển xảy ra trongcác
lĩnh vực khác nhau của thế giới, nguyên về sự phát triển được phát biểu
như sau:
+ Một là, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều không ngừng vậnđộng
phát triển.
+ Hai là, phát triển mang tính khách quan phổ biến, khuynh hướngvận
động tổng hợp tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém
hoàn thiện đến hoàn thiện của một hệ thống vật chất do việc giải quyết mâu
thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra, hướng theo xu thế phủ định
của phủ định.
3. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về sự phát triển
- Thứ nhất, khi xem xét các sự vật, hiện tượng, ta phải đặt trong sự vận
động và phát triển. Bởi sự vật không chỉ như cái đang có,đang hiện
hữu trước mắt còn cần phải nắm được hiểu đượckhuynh hướng
phát triển, khả năng chuyển hóa của nó.
- Thứ hai, không dao động trước những quanh co, phức tạp của sự pháttriển
trong thực tiễn.
Ta cần phải nhận thức rằng phát triển quá trình trải qua nhiềugiai
đoạn, mỗi giai đoạn đặc điểm tính chất, hình thức khác nhau nên
cần tìm phương pháp phù hợp để thức đẩy hay kìmhãm sự phát triển
đó.
- Thứ ba, sớm phát hiện ủng hộ đối tượng mới hợp quy luật, tạo điều kiện
cho nó phát triển, chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến
- Ta phải tích cực, chủ động nghiên cứu, tìm ra những mâu thuẫntrong mỗi sự
vật, hiện tượng. Từ đó, xác định biện pháp phù hợp giải quyết mâu thuẫn để
thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển.Việc xác định những biện pháp cũng
cần căn cứ vào từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể của sự vật, hiện tượng.
sự phát triển diễn ra theo nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ kém hoàn
thiệnđến hoàn thiện hơn.
- Quan điểm phát triển hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định
kiến. Tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó về sự vật cóđược trong một hoàn
cảnh lịch sử nhất định, xem đó là nhận thức
5. Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
- Khái niệm thực tiễn: Thực tiễn phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ
hoạt động vật chất mục đích, mang tính lịch sử - hội của con ngưởi
nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
- Thực tiễn của con người rất đa dạng phong phú, nhưng về bản gồm 3
hình thức sau:
+ Hoạt động sản xuất: đóhoạt động con người sử dụng công cụ lao động
tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu tồn
tại và phát triển xã hội. Ví dụ như hoạt động sản xuất nông nghiệp.
+ Hoạt động cải tạo chính trị - xã hội: đó là hoạt động của con người nhằm
cải biến những quan hệ hội, các khía cạnh khác nhau của hội, dụ
như hoạt động cải cách hành chính nhà nước hay cách mạng xã hội.
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học: đó hoạt động nghiên cứu khoa học
sử dụng những phương tiện vật chất như phòng thí nghiệm, máy móc đo
lường nhằm chứng minh những giả thuyết khoa học. dụ như thí nghiệm
chứng minh tính chất sóng của ánh sáng.
- Khái niệm nhận thức: nhận thức quá trình phản ánh biện chứng hiện
thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động,
sáng tạo trên cơ sở thực tiễn. Sự nhận thức của con người vừa ý thức, vừa
thức, vừa cụ thể, vừa trừu tượng và mang tính trực giác.
** Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
Thứ nhất, thực tiễn sở, mục đích, động lực chủ yếu trực tiếp
của nhận thức
+ sao lại nói thực tiễn sở của nhận thức? Xuất phát từ sự thật rằng
mọi tri thức trực tiếp hay gián tiếp đối với bất đối tượng con người
nào, bất trình độ kinh nghiệm hay luận đều bắt nguồn từ thực tiễn.
Thực tiễn cung cấp tài liệu cho quá trình nhận thức, cho mọi luận. Thông
qua những hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới bên ngoài,
buộc chúng phải bộc lộ những thuộc tính, những quy luật để con người
thể nhận thức được chúng. Con người vốn quan hệ với thế giới bên ngoài
bằng thực tiễn chứ không phải bằng luận. Chính từ trong quá trình hoạt
động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức ở con người được hình thành
phát triển. Lúc đầu con người thường thu nhận tài liệu một cách chủ quan,
sau đó tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa... để phản ánh
bản chất, quy luật vận động của các sự vật, hiện tượng để xây dựng thành
khoa học, lý luận.
+ Thực tiễn còn mục đích của nhận thức. Bởi lẽ nhận thức về vấn đề,
khía cạnh hay lĩnh vực nào đi chăng nữa thì cũng phải quy về phục vụ thực
tiễn. Do vây, kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn. Nếu
luận, khoa học không vận dụng được để cải tạo thực tiễn thì khôngbất cứ
ý nghĩa nào.
+ Thực tiễn động lực chủ yếu trực tiếp của nhận thức. Thực tiễn giúp
con người nhận thức toàn diện hơn về thế giới. Những nhu cầu, nhiệm vụ
phương hướng phát triển của nhận thức kết quả của thực. Trong quá trình
hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giơi, con người cũng không ngừng biến
đổi theo. Từ đó con người ngày càng đi sâu vào nhận thức khám phá thế
giới, làm sâu sắc phong phú vốn tri thức của mình về thế giới xung
quanh. Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải luôn luôn làm mới nguồn tri thức, biết
cách tổng kết kinh nghiệm, khái quảt luận để từ đó thúc đẩy sự ra đời
phát triển của các ngành khoa học. Hoạt động thực tiễn của con người cần
tới khoa học - từ đó dẫn đến sự ra đời của khoa học.
Thứ hai, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
Quan điểm của triết học Mác - Lênin đã từng cho rằng: "vấn đề tìm hiểu
xem duy con người thể đạt tới chân khách quan hay không hoàn
toàn không phải một vấn đề luận, một vấn đề thực tiễn. Chính
trong thực tiễn con người phải chứng minh chân lý. Nhận thức khoa học
tiêu chuẩn logic riêng tuy nhiên chúng không thể thay thế hoàn toàn cho
tiêu chuẩn thực tiễn xét đến cùng còn phụ thuộc tiêu chuẩn thực
tiễn.
+ Thực tiễn tiêu chuẩn của chân lý vừa tuyệt đối cũng vừa tương đối.
Tuyệt đối đây bởi thực tiễn chính tiêu chuẩn khách quan để kiểm
nghiệm chân lý. Không phải tất cả thực tiễn thể kiểm nghiệm được chân
còn phải dựa vào thực tiễn mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau. Tính
tương đối của thực tiễn thể hiện chỗ thực tiễn không ngừng biến đổi
phát triển. Thực tiễn cũng không tránh khỏi yếu tố chủ quan bởi lẽ thực tiễn
cũng một quá trình được thực hiện bởi con người. Chính sự biến đổi
không ngừng của thực tiễn đã ngăn cản những tri thức của con người biến
thành chân tuyệt đối cuối cùng. Những tri thức liên tục bị kiểm nghiệm
bởi các giai đoạn của thực tiễn thể thực tiễn trong quá khứ, hiện tại hay
thậm chí tương lai. Để từ đó nhận thức của con người được bổ sung, điều
chỉnh và phát triển toàn diện nhất.
6. Hình thái kinh tế - hội vai trò của từng yếu tố. Liên hệ với thực tiễn
Việt Nam hiện nay
* Hình thái kinh tế - xã hội
- Khái niệm: Hình thái kinh tế hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật
lịch sử dùng để chỉ hội những giai đoạn lịch sử hội nhất định, với
những quan hệ sản xuất của nó, trong đó một kiểu quan hệ sản xuất đặc
trưng cho hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản
xuất, với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những
quan hệ sản xuất ấy.
- Kết cấu của hình thái kinh tế - xã hội
+ Quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó
+ Lực lượng sản xuất
+ Kiến trúc thượng tầng tương ứng
- Vai trò của từng yếu tố
+ Một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho hội đó nền tảng vật chất
kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế xã hội
+ Một trình độ sản xuất nhất định của lực lượng sản xuất tạo thành sở hạ
tầng của xã hội và quyết định tất cả các mối quan hệ khác
+ Một kiến trúc thượng tầng tương ứng là công cụ để bảo vệ, duy trì phát
triển cơ sở hạ tầng đó
* Sự vận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội ở Việt Nam
- Vận dụng chủ nghĩa Mác Lê-nin nói chung học thuyết hình thái kinh tế -
hội nói riêng, ĐCS Việt Nam chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra quy luật
riêng cho cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
hội
- Nước ta hiện nay đang trong giai đoạn quá độ gián tiếp lên HT KT - XH
Cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội
- Việt Nam xây dựng CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN nhưng vẫn kế
thừa những thành tựu nhân loại đạt được trong thời kỳ TBCN đặc biệt
khoa học – kỹ thuật
- Việc thiết lập các yếu tố cơ bản của HT KT – XH được Đảng ta xác định;
+ Về lực lượng sản xuất:
Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Phát triển, nâng cao trình độ nguồn nhân lực
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học – kỹ thuật vào sản xuất
+ Về quan hệ sản xuất
Đa dạng hóa các hình thức sở hữu
Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, định hướng XHCN
Thực hiện phân phối sản phẩm lao động theo kết quả lao động hiệu
quả KT
+ Về kiến trúc thượng tầng
Lấy chủ nghĩa Mác Lênin tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động
Không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, nhằm nâng cao vai trò lãnh
đạo, hiệu quả quản của nhà ớc phát huy quyền làm chủ của
nhân dân
7. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất. Liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay
- Khái niệm quan hệ sản xuất: quan hệ sản xuất khái niệm chỉ quan hệ
giữa người với người trong quá trình sản xuất gồm3 mặtbản: quan hệ
về sở hữu đối với tư liệu sản xuất; quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất;
quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động.
- Khái niệm lực lượng sản xuất: lực lượng sản xuất khái niệm chỉ mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất, thể hiện năng
lực thực tiễn của con người, được tạo thành từ sự kết hợp giữa con người với
tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội.
- Lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất được xem hai khía cạnh của
phương thức sản xuất, giữa chúng tồn tại mối quan hệ biện chứng chặt chẽ
vớinhau. Chúng phụ thuộc tác động lẫn nhau tạo thành quy luật hội
bảncủa lịch sử loài người. Quy luật thể hiện động lực xu thế phát triển
của lịchsử.
+ Tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất.
Tính chất của lực lượng sản xuất tính chất của liệu sản xuất của
người lao động. tính cá thể hoặc xã hội, thể hiện sự đòi hỏi trong nền sản
xuất.Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện qua trình độ chuyên
môn, kỹ năng lao động của con người, sự phát triển của các công cụ lao
động, trình độphân công lao động tổ chức quản lao động hội, quy
mô của nền sản xuất.
Tính chất trình độ của lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời phát
triểncủa quan hệ sản xuất, hình thành quan hệ chặt chẽ giữa người lao động
với nhau.
+ Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất thì lực
lượng sản xuất đóng vai trò quyết định sự hình thành, phát triển biến đổi
của quan hệ sản xuất. chỉ làm biến đổi cục bộ chứ không thể thay đổi
toàn diện bởi quy luật này thể hiện sự cân đối hài hòa của bản chất mối quan
hệ trên. Lực lượng sản xuất được xem nội dung của quá trình sản xuất
xu hướng phát triển biến đổi thường xuyên, còn quan hệ sản xuất hình
thức hội của sản xuất yếu tố ơng đối ổn định bảo thủ, khi nội
dung thay đổi làm hình thức thay đổi theo. Sự phù hợp giữa chúng tạo động
lực giúp cho sản xuất phát triển cân đối, hiệu quả giữa các yếu tố, làm
tăng năng suất lao động đồng thời giảm chi phí và thời gian sản xuất.
+ Sự tác động trở lại của Quan hệ sản xuất đối với Lực lượng sản xuất.
Trong mối quan hệ biện chứng, quan hệ sản xuất giữ vai trò hình thức kinh
tế của quá trình sản xuất, tiền đề tạo ra mục tiêu thích hợp cho lực lượng
sản xuất. Do đó quan hệ sản xuất đã tác động trở lại, quy định mục đích,
cách thức sản xuất phân phối những lợi ích từ quá trình sản xuất, gây ra
tác động trực tiếp tới thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng cũng
như hiệu quả của quá trình sản xuất cải tiến công cụ lao động ngược
lại. Từ đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Sự phù hợp giữa giữa lựcợng sản xuất quan hệ sản xuất tạo động lực
và điều kiện giúp thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
- Ngược lại, khi quan hệ sản xuất lỗi thời do nh chất ổn định không còn
phù hợp với tính chất vận động của lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm, thậm
chí phá hoại lực lượng sản xuất, điều này thường xảy ra trong lịch sử do sự
vận động của hội. Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong điều kiện
nhất định mức giới hạn quy định. Đây được xem quy luật bản, chi
phối sự vận động của hội loài người không ngừng phát triển phá vỡ sự
phù hợp. Khi cả hai không đồng nhất, phù hợp với nhau sẽ tạo ra mâu thuẫn
về mặt xã hội được gọi là mâu thuẫn giai cấp và chỉ mang tính chất tạm thời,
khi đó mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới quan hệ sản xuất sẽ
được giải quyết bằng cách thay thế quan hệ sản xuất cũbằng quan hệ sản
xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất.
- Ý nghĩa của phương pháp luận.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất ý nghĩa cùng quan trọng, việc nhận thức đúng đắn quy luật này
giúp cho việc nắm bắt quan điểm, hoạch định đường lối, chính sách, là cơ sở
khoa học để nhận thức sự đổi mới trong duy kinh tế của Đảng Nhà
nước ta.Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa sự phát triển của lực lượng sản
xuất với sự lạc hậu của quan hệ sản xuất thì cần phải những cuộc cải
cách, đổi mới cao hơn một cuộc cách mạng chính trị để thể giải
quyết được mâu thuẫn, từ đó từng bước khôi phục, tạo lập sự phù hợp giữa
chúng.
*** Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam
Sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất hình
thành nên các quy luật về sự phù hợp, đây được xem là quy luật cơ bản nhất,
phổ biến nhất chi phối sự vận động phát triển của hội loài người,
không những thế còn tác động đến nền kinh tế của mỗi quốc gia trên thế
giới. Điều này đòi hỏi chúng ta muốn phát triển kinh tế đất nước cần phải
một quá trình đổi mới song song với việc giải quyết những luận đã
đang được đặt ra, cần nhận thức đúng đắn để hành động phù hợp, đẩy nhanh
tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Từ lý luận thực tiễn, chúng ta nhận thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ
thể phát triển khi một quan hệ sản xuất phù hợp với nó. Còn quan hệ
sản xuất lạc hậu hơn hay tiên tiến hơn so với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lựcợng sản xuất. Đứng trước
hoàn cảnh đó Đảng Nhà nước ta đã nhận thức lại, cần phải đổi mới trước
hết đổi mới về duy. một cách toàn diện trong đó phải lấy đổi mới kinh
tế làm trọng tâm từng bước đổi mới về chính trị hội. Do đó trong giai
đoạn từ năm 1986 trở lại đây, Đảng nhà nước ta đã nhận thức được rằng
cần phải đổi mới toàn diện nền kinh tế, từng bước đổi mới về chính trị, cụ
thể chúng ta cần đẩy mạnh phát triển lực lượng, thực hiện công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước từ đó xây dựng sở vật chất kỹ thuật, đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, phát triển nền
kinh tế tri thức, nâng cao mức cạnh tranh thị trường. Tiếp tục thực hiện cải
tạo quan hệ sản xuất, nhất về quan hệ sở hữu, chúng ta thực hiện đa dạng
hóahình thức sở hữu bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu
nhân sở hữu hỗn hợp. Về kinh tế, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh
tế hàng hóa đa thành phần, chuyển dịch theo chế thị trường với sự quản
của nhà ớc theo định hướng hội chủ nghĩa. Nhà nước ta chủ
trương phát triển nền kinh tế theo định hướng XHCN. Doanh nghiệp
hàng hoá dịch vụ chủ động hội nhập quốc một cách tích cực, lĩnh hội những
thành tựu về khoa học công nghệ. Bên cạnh đó, về mặt tổ chức quản
chúng ta đã xóa bỏ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp
chuyển sang chế thị trường, quá trình sản xuất kinh doanh đều tuân theo
các quy luật của thị trường và do thị trường điều chứ không dựa vào ý muốn
chủ quan để thay cho các quy luật của thị trường. Về mặt phân phối, từ khi
đổi mới hiện nay, nước ta đã thực hiện nhiều hình thức phân phối trong đó
lấy phân phối theo lao động làm bản tđó đẩy mạnh phát triển lực lượng
sản xuất, từng bước cải tạo quan hệ sản xuất dẫn tới quan hệ sản xuất dần
dần phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất làm cho kinh tế
ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, mức sống của nhân
dân ngày càng được cải thiện. Điều đó cho thấy rằng quy luật giữa quan hệ
sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cần phải căn cứ vào
điều kiện hoàn cảnh thực tiễn củaViệt Nam để xây dựng phát triển sao
cho phù hợp. Đây được coi một trong những quy luật quan trọng nhất
chính sự vận động nội tại của quy luật này làm cho các hình thái kinh tế
hội vận động thay thế nhau từ thấp đến cao vậy nên cần phải nhận thức
đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp vớitrình độ phát triển của lực
lượng sản xuất để vận dụng vào quá trình đổi mới kinh tế, xã hội ở nước ta.
- GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ.
Để đất nước chúng ta tiếp tục phát triển đi lên, đạt nhiều thành quả tốt
đẹp trong việc xây dựng, phát triển toàn diện kinh tế - hội của quốc gia,
em xin đưa ra một vài ý kiến đóng góp sau. Cần xác định phương hướng
phát triển lượng sản xuất song song hoàn thiện quan hệ sản xuất. Thực hiện
hiệu quả quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất thông qua việc nâng cao trình độ học vấn, đào tạo tay nghề
cho người lao động , đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước, đầu xây dựng sở vật chất, thiết bị thuật, trang bị máy móc
hiện đại theo kịp sự phát triển của khoa học thuật. Phát triển nền kinh kế
đa dạng thành phần theo định hướng hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế
tri thức hội nhập với nền kinh tế quốc tế đa phương. Phát huy tích cực vai t
quản lí, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta trong mọi vấn đề xã hội cũng như
trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế thị trường, đổi mới về chínhtrị
xã hội, ổn định đời sống của nhân dân.
- KẾT LUẬN.
Sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất hình
thànhnên các quy luật về sự phù hợp, đây được xem quy luật bản nhất,
phổ biến nhất chi phối sự vận động phát triển của hội loài người,
không những thếmà còn tác động đến nền kinh tế của mỗi quốc gia trên thế
giới. Quy luật này ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng, việc nhận
thức đúng đắn giúp quán triệt, xác lập quan điểm, hoàn thiện đường lối,
chính sách, là cơ sở khoa học để nhận thức sâu sắc sự đổi mới tư duy kinh tế
của Đảng nhà nước ta. Điều này đòi hỏi chúng ta muốn phát triển kinh tế
đất nước cần phải một quá trình đổi mới song song với việc giải quyết
những lý luận đã đang được đặt ra, cần nhận thức đúng đắn để hành động
phù hợp, giúp đẩy nhanh tiến trình xây dựng chủ nghĩa hội Việt Nam.
Muốn đất nước phát triển toàn diện cần đầu tư, nâng cao trình độ của lực
lượng sản xuất đi đôi với việc xây dựng quan hệ sản xuất sao cho phù hợp
luôn là yếu tố tất yếu của một chế độ xã hội, kinh tế quốc gia.
8. Mối quan hệ biện chứng giữa sở hạ tầng kiến trúc thượng tầng.
Liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay.
- Cơ sở hạ tầng: là toàn bộ những quan hệ sản xuất (QHSX) hợp thành cơ cấu
kinh tế của một hình thái kinh tế- xã hội nhất định.