-
Thông tin
-
Quiz
Đề cương Quản lý hành chính công | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trình bày các yếu tố cấu thành nền hành chính công ở Việt Nam hiện nay? Trình bày các hình thức quản lý hành chính công? Phân tích các yêu cầu với nội dung và hình thức của quyết định quản lý hành chính công? Quyết định quản lý hành chính nhà nước ngoài việc giải quyết các nhiệm vụ hiện tại còn phải có tính dự báo cho tướng lai. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Quản lý hành chính công 1 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Đề cương Quản lý hành chính công | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Trình bày các yếu tố cấu thành nền hành chính công ở Việt Nam hiện nay? Trình bày các hình thức quản lý hành chính công? Phân tích các yêu cầu với nội dung và hình thức của quyết định quản lý hành chính công? Quyết định quản lý hành chính nhà nước ngoài việc giải quyết các nhiệm vụ hiện tại còn phải có tính dự báo cho tướng lai. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Quản lý hành chính công 1 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:










Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
ĐỀ CƯƠNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
Câu 1 Trình bày các yếu tố cấu thành nền hành chính công ở Việt Nam hiện nay ?
Trong cuốn "Tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện Đại hội LX của Đảng" đã giải
thích khái niệm Nền hành chính nhà nước "là tổng thể các tổ chức và thể chế hoạt
động của bộ máy thực thi quyền hành pháp từ Trung ương đến cơ sở; thực hiện những
chức năng và nhiệm vụ quản lý nhà nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại để thoả mãn các nhu cầu hợP pháp của công dân”)
Nền hành chính nhà nước Việt Nam có các yếu tố cấu thành:
- Thể chế hành chính nhà nước: Hệ thống thể chế để quản lý xã hội theo luật pháp bao
gồm các văn bản của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và các văn bản pháp quy
của cơ quan hành chính, gọi tắt là thể chế của nền hành chính.
- Thiết chế hành chính nhà nước: Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành
chính các cấp, các ngành từ Chính phủ tới các cấp chính quyền địa phương.
- Nhân sự hành chính: Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hành chính bao gồm
những người thực thi công vụ trong bộ máy hành chính công quyền, những công
chức được nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm, hoặc giao giữ một công cụ thường
xuyên, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cũng giống như bất kỳ nền hành chính nào, ở nước ta cũng rất chú ý đến các điều kiện
đảm bảo cho hoạt động hành chính. Đó là việc bố trí và quản lý công sở, công sản (nơi
công chức làm việc và nguồn tài sản của cơ quan) và tài chính công (chi phí cho hoạt động hành chính).
Câu 2 : Trình bày các hình thức quản lý hành chính công ?
- khái niệm : hình thức quản lý hành chính nhà nước là những biểu hiện ra bên ngoài
mang tính tổ chức - pháp lý của những hoạt động cụ thể cùng loại về nội dung , tính
chất và phương thức tác động do các chủ thể quản lý hành chính nhà nước thực hiện
đối với tổ chức , cá nhân thuộc đôi tượng quản lý
- các hình thức quản lý nhà nước +
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính
● Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban
hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tụ, thủ tục quy định trong luật này. Ví dụ:
Luật giao thông đường bộ; Nghị định của Chính phủ....
● Văn bản quy phạm pháp luật hành chính là văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan
hành chính nhà nước ban hành. Ví dụ:
✓ Chính phủ: ban hành Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
✓ Các bộ và cơ quan ngang bộ: ban hành Thông tư; Thông tư liên tịch.
✓ UBND: ban hành Quyết định.
● Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính là hình thức pháp lý
quan trọng nhất trong hoạt động của các chủ thểquản lý nhà nước nhằm thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của mình.
● Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính chỉ được tiến hành bởi
những chủ thể nhất định có thẩm quyền mà không phải là tất cả các chủ thể quản lý nhà nước.
● Bởi hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính là hình thức pháp
lý quan trọng nhất, vì vậy các chủ thể quản lý nhà nước khi sử dụng hình thức này cần tuân thủ các yêu cầu:
✓ Đảm bảo phạm vi của hoạt động lập quy không được vượt quá giới hạn cho phép
của hoạt động lập pháp;
✓ Toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật hành chính đều phải phù hợp với pháp luật.
Ban hành những văn bản áp dụng quy phạm pháp luật hành chính (văn bản hành chính cá biệt):
● Hoạt động ban hành những văn bản áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là
hình thức hoạt động chủ yếu của các cơ quan hành chính nhà nước. (Vì nó phản
ánh nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật;
hoạt động chấp hành - điều hành nhà nước).
● Văn bản áp dụng quy phạm pháp luật là phương tiện đưa các văn bản quy phạm
pháp luật vào thực tiễn đời sống, làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ cụ thể của
các chủthể trong những tình huống nhất định.
● Số lượng các văn bản áp dụng quy phạm pháp luật hành chính được ban hành lớn
hơn nhiều so với các văn bản quy phạm pháp luật (do yêu cầu của hoạt động chấp
hành - điều hành nhà nước của các cơ quan hành chính)
● Ví dụ: Anh A - CSGT xử phạt vi phạm hành chính đối với anh B vì tham gia giao
thông không đội mũ bảo hiểm: Khi tiến hành xử phạt, anh A sẽ phải tiến hành lập biên
bản và ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh B. Quyết định
xửphạt mà anh A ban hành chính là ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật hành chính.
+ Thực hiện những hoạt động mang tính chất pháp lý khác trong quản o lý:
● Được tiến hành khi phát sinh những điều kiện tương ứng được định trước trong quy
phạm pháp luật nhưng không cần ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật.
● Áp dụng các hình thức nhằm ngăn chặn và phòng ngừa vi phạm pháp luật (Ví dụ:
CSGT tuýt còi kiểm tra người tham gia giao thông có hành vi lạng lách đánh võng)
● Đăng ký những sự kiện nhất định (Ví dụ: Đăng ký giấy khai sinh)
● Lập và cấp một số giấy tờ nhất định (Ví dụ: Cơ quan thẩm quyền cấp đăng ký xe máy đối với chủ thể)
● Công chứng (Ví dụ: Cơ quan thẩm quyền công chứng bằng tốt nghiệp cho chủ thểmuốn công chứng)
+ Tiến hành những biện pháp tổ chức - xã hội trực tiếp trong quản lý:
● Những hoạt động tổ chức - xã hội trực tiếp là những hoạt động không có tính pháp
lý, không phản ánh quyền lực nhà nước.
● Được thực hiện một cách cụ thể và trực tiếp.
● Có thể thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia.
● Ví dụ: Trong thời gian trước đại dịch Covid hoành hành, cơ quan quản lý nhà nước về
y tế đã thực hiện nhiều biện pháp tổ chức - xã hội trực tiếp như đưa ra các chỉ dẫn
người dân sử dụng khẩu trang, thực hiện các biện pháp phòng tránh dịch.
+ Thực hiện các hoạt động mang tính chất tác nghiệp về nghiệp vụ - kỹ thuật trong quản lý:
● Đây là hoạt động nhằm sử dụng kiến thức nghiệp vụ, áp dụng những thành tựu khoa
học, kỹ thuật vào quá trình quản lý hành chính nhà nước như chuẩn bị tài liệu, thông
tin cho việc ban hành các quyết định...
● Việc sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại trong quản lý giúp nâng cao hiệu suất
hoạt động, góp phần tinh giảm bộ máy hành chính.
+ Hình thức hợp đồng hành chính
● Hợp đồng hành chính do Luật Hành chính quy định.
● Nhằm phục vụ lợi ích công
● Những tranh chấp phát sinh trong hợp đồng hành chính thường thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa hành chính.
● Hợp đồng hành chính được ký kết giữa một bên bắt buộc phải là một pháp nhân
công với bên còn lại là các cơ quan, doanh nghiệp, tổchức, cá nhân khác.
● Các bên tham gia hợp đồng hành chính không bình đẳng với nhau, ưu thế thuộc về
pháp nhân công và một bên thực hiện hợp đồng có thể được trả thù lao hoặc các
khoản phí với mức thỏa thuận trước với pháp nhân công.
● Ví dụ: Hợp đồng hợp tác: Văn bản hợp tác giữa đại diện chính quyền cơ sở và doanh
nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp cam kết trợgiúp việc xây dựng sửa chữa các công trình
công cộng. Hay hợp đồng về việc canh gác, bảo đảm an ninh trật tự cho kỳ thi tuyển
sinh đại học được ký kết giữa một trường đại học công lập với cơ quan công an
➢ Trong các hình thức quản lý hành chính nhà nước thì:
● 3 hình thức đầu tiên là hình thức quản lý hành chính nhà nước có tính pháp lý, tức là
được pháp luật quy định chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục.
● 3 hình thức sau là hình thức quản lý hành chính nhà nước không có tính pháp lý, tức
là không được pháp luật quy định chặt chẽ vềthẩm quyền trình tự, thủ tục.
● Và trong các hình thức quản lý hành chính nhà nước thì hình thức đầu tiên là quan
trọng nhất vì nó là cơ sở để thực hiện các hình thức còn lại.
CÂU 3TRÌNH BÀY CHẾ ĐỊNH HƯU TRÍ , KHEN THƯỞNG , THÔI VIỆC , XỬ LÝ KỶ LUẬT
CÁN BỘ CÔNG CHỨC , VIÊN CHỨC.
Cán bộ, công chức, viên chức có đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đóng bảo
hiểm xã hội theo quy định của Bộ luật
Lao động thì được hưởng chế độ hưu trí và các chế độ khác theo quy định của Bộ
luật Lao động. Trường hợp do yêu cầu công việc được kéo dài thời gian công tác
nhưng không được quá 05 năm, nếu đặc biệt thì thời hạn này có thể kéo dài thêm.
Nhưng việc kéo dài thời gian công tác của cán bộ, công chức, viên chức phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ, công chức, viên chức thực sự có nhu cầu; ⁃
cán bộ , công chức , viên chức tự nguyện ⁃
Cán bộ , công chức , viên chức có đủ sức khoẻ để tiếp tục đảm nhiệm công việc
3.5.2. Chế định thôi việc * Công chức
Công chức được hưởng chế độ thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: ⁃ Do sắp xếp tổ chức; ⁃
Theo nguyện vọng và được cấp có thẩm quyền đồng ý; ⁃
Công chức 02 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ.
Công chức xin thôi việc theo nguyện vọng thi phải làm đơn gửi cơ quan, tổ chức,
đơn vị có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày
nhận đơn, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản, nếu
không đồng ý cho thôi việc thì phải nêu rõ lý do; trường hợp chưa được cơ quan,
tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đồng ý mà tự ý bỏ việc thì không được hưởng chế
độ thôi việc và phải bồi thường chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của pháp luật.
Không giải quyết thôi việc đối với công chức đảng trong thời gian xem xét kỷ luật
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự;
Không giải quyết thôi việc đối với công chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con
dưới 36 tháng tuổi , trừ trường hợp xin thôi việc theo nguyện vọng • viên chức Viên chức
Khi chấm dứt hợp đồng làm việc, viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp
mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao
động và pháp luật về bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp không được hưởng trợ cấp thôi việc.
Viên chức không được hưởng trợ cấp thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau: ⁃ Bị buộc thôi việc; ⁃
Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà vi phạm quy định của pháp luật
về đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của Luật Viên chức; ⁃
Chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định tại khoản 5 Điều 28 của Luật Viên chức. 4.1. Khen thưởng
Khen thưởng là hình thức đặc biệt của sự công nhận chính thức thành tích của cán
bộ, công chức, viên chức. Khen thưởng được Nhà nước sử dụng như một phương
tiện khuyến khích về vật chất hay tinh thần đối với cán bộ, công chức, viên chức
khi họ hoàn thành tốt nghĩa vụ phục vụ của mình, có thành tích trong phong trào thi
đua, có sáng kiến cải tiến công tác, nâng cao năng suất lao động...
Cán bộ, công chức, viên chức có thành tích trong việc thực hiện nhiệm vụ - công
vụ được xét thưởng theo các hình thức sau đây: ⁃ Danh hiệu thi đua; ⁃ Giấy khen; ⁃ Bằng khen; ⁃
Danh hiệu vinh dự nhà nước; ⁃ Huy chương; ⁃ Huân chương.
Cán bộ, công chức, viên chức được khen thưởng do có thành tích xuất sắc hoặc
công trạng thì được nâng lương trước thời hạn, được ưu tiên khi xem xét bổ nhiệm
chức vụ cao hơn nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu. 4.2. Xử lý kỷ luật
- Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm quy định của
Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các quy định khác của pháp luật có liên
quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật sau đây:
+ Các hình thức kỷ luật đối với cán bộ: Khiển trách;
cảnh cáo; cách chức; bãi nhiệm.
+ Các hình thức kỷ luật đối với công chức: Khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương;
giáng chức; cách chức; buộc thôi việc.
Các hình thức kỷ luật đối với viền chức: Khiển trách;
cảnh cáo; cách chức; buộc thôi việc.
- Người có thẩm quyền xử lý kỷ luật cần chú ý những vấn đề sau:
Thứ nhất, thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm, khi
hết thời hạn đó thì cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm không bị xem xét xử lý kỷ luật.
Thứ hai, thời hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức là khoảng thời
gian từ khi phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức đến khi có
quyết định xử lý kỷ luật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Thời hạn xử lý kỷ luật không quá 02 tháng; trường hợp vụ việc có những tình tiết
phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn
xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 04 tháng.
Thư ba, trường hợp cá nhân đã bị khởi tố. , truy tô hoặc
đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết
định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm
kỷ luật thì bị xử lý kỷ luật; trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ
điều tra, đình chỉ vụ án, người ra quyết định phải gửi quyết định và hồ sơ vụ việc
cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xử lý kỷ luật.
Thứ tư, tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ, công chức, viên chức có thể ra quyết định
tạm đình chỉ công tác trong thời gian xem xét, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên
chức nếu để cán bộ, công chức, viên chức đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn
cho việc xem xét, xử lý. Thời hạn tạm đình chỉ công tác không quá 15 ngày, trường
hợp cần thiết có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 15 ngày; nếu cán bộ,
công chức, viên chức bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét
xử thì thời gian tạm giữ, tạm giam được tính là thời gian nghỉ việc có lý do; hết thời
hạn tạm đình chỉ công tác nếu cán bộ, công chức, viên chức không bị xử lý kỷ luật
thì được tiếp tục bố trí làm việc ở vị trí cũ.
Trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho
công tác điều tra, truy tố, xét xử, cán bộ, công chức, viên chức được hưởng lương
theo quy định của Chính phủ.
Thứ năm, cán bộ, công chức bị khiển trách hoặc cảnh cáo thì thời gian nâng lương
bị kéo dài 06 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; nếu bị giáng chức,
cách chức thì thời gian nâng lương bị kéo dài 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực.
Viên chức bị khiển trách thì thời hạn nâng lương bị kéo dài 03 tháng; bị cảnh cáo
thì thời hạn nâng lương bị kéo dài 06 tháng. Trường hợp viên chức bị cách chức
thì thời hạn nâng lương bị kéo dài 12 tháng, đồng thời đơn vị sự nghiệp công lập
bố trí vị trí việc làm khác phù hợp.
Cán bộ, công chức, viên chức bị kỷ luật từ khiến trách đến cách chức thì không
thực hiện việc nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng,
kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; hết thời hạn này, nếu cán bộ, công chức,
viên chức không vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì tiếp tục thực hiện nâng
ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm theo quy định của pháp luật.
Thứ sáu, cán bộ, công chức, viên chức đang trong thời gian bị xem xét kỷ luật,
đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì không được ứng cử, đề cử, bổ nhiệm, điều
động, luân chuyển, biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng, thi nâng ngạch, giải quyết nghỉ hưu hoặc thôi việc.
Thứ bảy, cán bộ, công chức, viên chức bị kỷ luật cách chức do tham nhũng thì
không được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý.
Thứ tám, cán bộ, công chức, viên chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được
hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng thì bị buộc thôi việc,
kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Cán bộ, công chức, viên chức quản lý bị Tòa án tuyên phạm tội thì đương nhiên
thôi giữ chức vụ quản lý, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Thứ chín, việc kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức được lưu vào hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức.
Câu 4 :Phân tích các yêu cầu với nội dung và hình thức của quyết định quản lý hành chính công ?
Các quyết định pháp luật nói chung và quyết định quản lý hành chính nhà nước nói
riêng chỉ có hiệu quả khi chúng đảm bảo tính hợp pháp và tính hợp lý. Các yêu cầu
về tính hợp pháp và tính hợp lý đề ra không chỉ đối với nội dung quyết định quản lý
hành chính nhà nước mà đối với cả hình thức quyết định quản lý hành chính nhà nước.
3.1. Các yêu cầu về tính hợp pháp
Quyết định quản lý hành chính nhà nước xét về tính chất là quyết định dưới luật.
Tính dưới luật về nội dung và hình
thức của quyết định quản lý hành chính nhà nước thể hiện trước hết trong các yêu cầu chung sau: ⁃
Quyết định quản lý hành chính nhà nước phải được ban hành trong phạm vi
thẩm quyền của các chủ thể có thẩm quyền. Yêu cầu này có nghĩa là một chủ
thể chỉ có quyền ban hành quyết định giải quyết nhũng vấn đề xác định mà
pháp luật đã trao quyền. ⁃
Các quyết định quản lý hành chính nhà nước phải phù hợp với nội dung và
mục đích của luật có nghĩa là quyết định quản lý hành chính nhà nước ban
hành để thi hành luật, các quyết định của cấp trên nên phải phù hợp với nội
dung cụ thể và mục đích của các quyết định đó. ⁃
Quyết định quản lý hành chính phải được ban hành xuất phát từ những lý do
xác thực, từ thực tế khách quan của việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành
chính nhà nước, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của chủ thể ra quyết định. ⁃
Quyết định quản lý hành chính nhà nước phải được ban hành theo đúng trình
tự, thủ tục và hình thức do luật định, tức là phải phù hợp với quy định của
pháp luật cả về hình thức pháp lý và hình thức thể hiện. Những sai sót về hình
thức cũng làm cho quyết định quản lý hành chính nhà nước trở thành quyết
định không hợp pháp nhưng nhìn chung có thể sửa chữa vì sai sót này
thường do nguyên nhân kĩ thuật
Ngoài các yêu cầu chung về tính hợp pháp kể trên thì có rất nhiều các yêu cầu
riêng đối với từng loại quyết định
3.2. Các yêu cầu về tính hợp lý
Các yêu cầu về tính hợp lý là những yêu cầu tuy rất quan trọng, có ảnh hưởng trực
tiếp tới hiệu quả tổ chức thực hiện quyết định quản lý hành chính nhà nước nhưng
do tính chất đặc biệt của chúng nên không thể quy định chặt chẽ, rõ ràng trong
pháp luật. Có thể tìm hiểu một số yêu cầu chính về tính hợp lý như sau: ⁃
Quyết định quản lý hành chính nhà nước phải vừa có tính cụ thể và vừa có
tính phân hóa theo từng vấn để, theo chủ thể ban hành và đối tượng thực hiện. ⁃
Quyết định quản lý hành chính nhà nước phải phù hợp với lợi ích của Nhà
nước, công dân, không được tách rời giữa lợi ích của Nhà nước và nguyện
vọng của nhân dân. Đây là yêu cầu pháp chế đặc biệt bởi vì có thể có nhiều
quyết định quản lý hành chính nhà nước mâu thuẫn với lợi ích của Nhà nước,
công dân nhưng không phải là vi phạm pháp luật bởi lý do pháp luật không thể
dự liệu được toàn bộ các vân đề nảy sinh trong xã hội. ⁃
Quyết định quản lý hành chính nhà nước ngoài việc giải quyết các nhiệm vụ
hiện tại còn phải có tính dự báo cho tương lai. ⁃
- Ngôn ngữ, cách trình bày phải rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn. Ngôn ngữ thành
văn sử dụng trong các quyết định quản lý hành chính nhà nước phải chính xác, không đa nghĩa. ⁃
Quyết định quản lý hành chính nhà nước muốn đem lại hiệu quả cao thì phải
đáp ứng những yêu cầu về tính hợp pháp, hợp lý. Nếu chỉ đảm bảo được tính
hợp pháp mà không hợp lý thì quyết định đó khó thực hiện được hoặc không
thực hiện được. Ngược lại, nếu đảm bảo tính hợp lý mà không đảm bảo được
tính hợp pháp thì quyết định quản lý hành chính nhà nước đó sẽ bị đình chỉ,
sửa đổi hoặc bãi bỏ theo quy định của pháp luật ⁃
CÂU 5 TRÌNH BÀY CÁC Đặc ĐIỂM Của thủ tục hành chính ⁃ ⁃
khái niệm : có thể đưa ra khái niệm thủ tục hành chính là trình tực, trật tự thực
hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc của cá nhân, tổ
chức được ủy quyền hành pháp trong việc giải quyết các công việc của Nhà
nước, các yêu cầu, kiến nghị chính đáng của công dân hoặc tổ chức nhằm thi
hành nghĩa vụ hành chính, đảm bảo công vụ nhà nước và phục vụ nhân dân. 1.2. Đặc điểm
Thứ nhất, thủ tục hành chính có đặc điểm là được Luật hành chính quy định rất
chặt chẽ, các hoạt động không được quy phạm thủ tục hành chính quy định thì
không phải là thủ tục hành chính.
Thứ hai, trong thủ tục hành chính thì nguyên tắc chủ thể có quyền xem xét và ta
quyết định theo trình tự mà luật
thủ tục hành chính quy định là cơ quan quản lý hành chính nhà nước (cơ quan
quản lý hành chính nhà nước hiểu theo nghĩa rộng).
Thứ ba, các quy phạm thủ tục hành chính không chỉ quy định trình tự thực hiện quy
phạm vật chất (quy phạm nội dung) của Luật hành chính mà còn quy định trình tự
nhằm thực hiện quy phạm vật chất của các ngành luật khác. thủ tục hành chính
CÂU 7 TRÌNH BÀY PHƯƠNG PHÁP THUYẾT PHỤC VÀ CƯƠCNG CHẾ TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
Quản lý là sự tác động đến nhận thức và hành vi của con người trong những điều
kiện nhất định. Trên thực tế, có hai khả năng tác động là thuyết phục để con người
tự giác thực hiện và buộc con người phải tuân theo những hành vi xử sự nhất định
nhằm đạt được mục đích đề ra.
Do vậy, có thể tiến hành bằng nhiều phương pháp quản lý hành chính nhà nước
khác nhau áp dụng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng có thể khái quát
thành một số phương pháp chủ yếu sau:
2.2.1. Phương pháp thuyết phục
Thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ việc mình cần phải làm và những
việc không được làm. Trong các kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa, lợi ích của chủ
thể quản lý và đối tượng quản lý về cơ bản là nhất trí với nhau, hoạt động quản lý
hành chính nhà nước thể hiện ý chí và phục vụ lợi ích nhân dân lao động. Vì vậy,
thuyết phục là phương pháp quản lý hành chính nhà nước được sử dụng chủ yếu.
Thực tế cho thấy rằng, những nhiệm vụ và mục tiêu của quản lý hành chính nhà
nước không thể đạt được nếu thiếu sự ủng hộ tích cực của đông đảo quần chúng.
Hoạt động quản lý chỉ có thể đạt hiệu quả cao trên cơ sở động viên và tạo điều
kiện cho quần chúng tham gia giải quyết những nhiệm vụ đặt ra trong bộ máy
hành chính nhà nước, những nhiệm vụ này không ngoài mục tiêu vì lợi ích của nhân dân lao động.
Bằng phương pháp thuyết phục, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước, trước
hết là các cơ quan hành chính nhà nước, giáo dục cho mọi công dân nhận thức
đúng đắn về kỷ cương xã hội, kỷ luật nhà nước để họ tự giác thực hiện nghĩa vụ
đối với Nhà nước và xã hội. Phương pháp thuyết phục là giáo dục, giải thích, tổ
chức, cung cấp thông tin, tuyên truyền vận động các hình thức tự quản xã hội, tổ
chức thi đua khen thưởng, phổ biến kinh nghiệm tiên tiến...
2.2.2. Phương pháp cưỡng chế
Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với cá nhân hoặc tố chức trong những trường hợp pháp luật quy định về
vật chất hay tinh thần nhằm buộc cá nhân hoặc tố chức đó phải thực hiện hoặc
không thực hiện những hành vi nhất định.
Phương pháp cưỡng chế trong quản lý hành chính nhà nước là phương pháp sử
dụng những quyết định bắt buộc đơn phương đối với đối tượng quản lý, tức là
không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể được áp dụng. Cưỡng chế là một phương.
pháp có vị trí quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước, nếu không có cưỡng
chế thì kỷ cương nhà nước được bảo đảm không cao, pháp chế xã hội chủ nghĩa
không được nghiêm minh , tạo điều kiện thuận lợi cho các tệ nạn xã hội phát triển
Tuy nhiên, cưỡng chế nhà nước xã hội chủ nghĩa là cưỡng chế của đa số người
dân trong xã hội đối với thiểu số và được áp dụng trên cơ sở quy định của pháp
luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công dân hoặc tổ chức. Cưỡng chế nhà nước bao gồm: ⁃
Cưỡng chế hình sự: Là biện pháp cưỡng chế do các cơ quan tư pháp áp
dụng đối với những người có hành vi phạm tội. ⁃
Cưỡng chế dân sự: Là biện pháp cưỡng chế do cơ quan tư pháp áp dụng đối
với cá nhân hoặc tổ chức có hành vi vi phạm các quy phạm pháp luật dân sự,
gây thiệt hại cho Nhà nước, tập thể hoặc công dân. ⁃
Cưỡng chế kỷ luật: Là biện pháp cưỡng chế do các cơ quan nhà nước áp
dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên... có hành vi vi
phạm kỷ luật lao động và kỷ luật nội bộ cơ quan, trường học. ⁃
Cưỡng chế hành chính: Là biện pháp cưỡng chế do cơ quan và người có
thẩm quyền quyết định áp dụng đối với cá nhân hoặc tổ chức có hành vi vi
phạm hành chính hoặc với mục đích ngăn chặn, phòng ngừa vì lý do an ninh,
quốc phòng hoặc vì lợi ích quốc gia.
Cưỡng chế hành chính bao gồm: Nhóm các biện pháp phòng ngừa hành chính;
các biện pháp ngăn chặn hành chính;
các biện pháp trách nhiệm hành chính (xử phạt vi phạm hành chính chính); các
biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra, các biện pháp
cưỡng chế thi hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính; các biện pháp xử
lý vi phạm hành chính khác. Gác biện pháp được áp dụng trong trường hợp thật
cần thiết vì lý do an ninh, quốc phòng và phục vụ lợi ích quốc gia.
CÂU 6 TRÌNH BÀY CÁC NỘI DUNG CẢI CÁCH NỀN HÀNH CHÍNH ỦA NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY PHÂN 2 CÂU HỎI 3 ĐIỂM
CÂU 2 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH ĐẾN THỂ CHẾ NỀN HÀNH
CHÍNH CÔNG NHÀ NƯỚC HIỆN NAY ?
Khái niệm: Nền hành chính nhà nước là tổng thể các tổ chức và thể chế hoạt
động của bộ máy thực thi quyền hành pháp từ TW đến cơ sở, thực hiện những
chức năng và nhiệm vụ quản lý nhà nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
quốc phòng, an ninh, đối ngoại để thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của công dân.
- Các yêu tố cấu thành nền hành chính nhà nước:
+ Thể chế của nền hành chính nhà nước;
+ Thiết chế hành chính nhà nước;
+ Nhân sự hành chính nhà nước.
- Ngoài ra, cũng cần xem xét tới hai yếu tố khác được xem là điều kiện (hay
cơ sở vật chất) đảm bảo cho nền hành chính hoạt động có hiệu lực và hiệu quả: + Công sở và công sản; + tài chính công
Nền hành chính nhà nươc Việt Nam có các yếu tố cấu thành ⁃
thể chế hành chính nhà nước : hệ thống thể chế đề quản lý xã hội theo pháp
luật bao gồm các văn bản của Quốc Hội ,, Uỷ ban thường vụ quốc hội và các
văn bản pháp quy của cơ quan hành chính, gọi tắt là thể chế của nền hành chính.
- Thiết chế hành chính của nhà nước: Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của
bộ máy hành chính các cấp, các ngành từ Chính phủ tới các cấp chính quyền địa phương.
- Nhân sự hành chính: Gồm đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hành chính
bao gồm những người thực thi công vụ trong bộ máy hành chính công quyền,
những công chức được nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một
công vụ thường xuyên, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
-Ở nhà nước ta cũng rất chú ý đến các điều kiện đảm bảo cho hoạt động hành
chính, đó là việc bố trí và quản lý công sở, công sản (nơi công chức làm việc
và nguồn tài sản của cơ quan) và tài chính công (chi phí cho hoạt động hành chính).
CÂU 6 PHÂN TÍCH CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Có thể đưa ra khái niệm thủ tục hành chính là trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền
của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc của cá nhân, tổ chức được ủy quyền
hành pháp trong việc giải quyết các công việc của Nhà nước, các yêu cầu, kiến
nghị chính đáng của công dân hoặc tổ chức nhằm thi hành nghĩa vụ hành chính,
đảm bảo công vụ nhà nước và phục vụ nhân dân. 1.2. Đặc điểm
Thứ nhất, thủ tục hành chính có đặc điểm là được Luật hành chính quy định rất
chặt chẽ, các hoạt động không được quy phạm thủ tục hành chính quy định thì
không phải là thủ tục hành chính.
Thứ hai, trong thủ tục hành chính thì nguyên tắc chủ thể có quyền xem xét và ra
quyết định theo trình tự mà luật
thủ tục hành chính quy định là cơ quan quản lý hành chính nhà nước (cơ quan
quản lý hành chính nhà nước hiểu theo nghĩa rộng).
Thứ ba, các quy phạm thủ tục hành chính không chỉ quy định trình tự thực hiện quy
phạm vật chất (quy phạm nội dung) của Luật hành chính mà còn quy định trình tự
nhằm thực hiện quy phạm vật chất của các ngành luật khác.
CÂU 4 PHÂN TÍCH CÁC YÊU CẦU VỀ TÍNH HỢP PHÁP TRONG QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
Các quyết định pháp luật nói chung và quyết định quản lý hành chính nhà nước nói
riêng chỉ có hiệu quả khi chúng đảm bảo tính hợp pháp và tính hợp lý. Các yêu cầu
về tính hợp pháp và tính hợp lý đề ra không chỉ đối với nội dung quyết định quản lý
hành chính nhà nước mà đối với cả hình thức quyết định quản lý hành chính nhà nước.
3.1. Các yêu cầu về tính hợp pháp
Quyết định quản lý hành chính nhà nước xét về tính chất là quyết định dưới luật.
Tính dưới luật về nội dung và hình thức của quyết định quản lý hành chính nhà
nước thể hiện trước hết trong các yêu cầu chung sau: ⁃
Quyết định quản lý hành chính nhà nước phải được ban hành trong phạm vi
thẩm quyền của các chủ thể có thẩm quyền. Yêu cầu này có nghĩa là một chủ
thể chỉ có quyền ban hành quyết định giải quyết những vấn đề xác định mà
pháp luật đã trao quyền. ⁃
Các quyết định quản lý hành chính nhà nước phải phù hợp với nội dung và
mục đích của luật có nghĩa là quyết định quản lý hành chính nhà nước ban
hành để thi hành luật, các quyết định của cấp trên nên phải phù hợp với nội
dung cụ thể và mục đích của các quyết định đó. ⁃
Quyết định quản lý hành chính phải được ban hành xuất phát từ những lý do
xác thực, từ thực tế khách quan của việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành
chính nhà nước, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của chủ thể ra quyết định. ⁃
Quyết định quản lý hành chính nhà nước phải được ban hành theo đúng trình
tự, thủ tục và hình thức do luật định, tức là phải phù hợp với quy định của
pháp luật cả về hình thức pháp lý và hình thức thể hiện. Những sai sót về hình
thức cũng làm cho quyết định quản lý hành chính nhà nước trở thành quyết
định không hợp pháp nhưng nhìn chung có thể sửa chữa được vì sai sót này
thường do nguyên nhân kỹ thuật . Ngoài yêu cầu chung về tính hợp pháp kể
trên thì có rất nhiều các yêu cầu riêng đối vs từng loại quyết định
CÂU 5 PHÂN TÍCH CÁC YÊU CẦU VỀ TÍNH HỢP LÝ TRONG QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
Các yêu cầu về tính hợp lý là những yêu cầu tuy rất quan trọng, có ảnh hưởng trực
tiếp tới hiệu quả tổ chức thực hiện quyết định quản lý hành chính nhà nước nhưng
do tính chất đặc biệt của chúng nên không thể quy định chặt chẽ, rõ ràng trong
pháp luật. Có thể tìm hiểu một số yêu cầu chính về tính hợp lý như sau: ⁃
Quyết định quản lý hành chính nhà nước phải vừa có tính cụ thể và vừa có
tính phân hóa theo từng vấn đề, theo chủ thể ban hành và đối tượng thực hiện. ⁃
Quyết định quản lý hành chính nhà nước phải phù hợp với lợi ích của Nhà
nước, công dân, không được tách rời giữa lợi ích của Nhà nước và nguyện
vọng của nhân dân. Đây là yêu cầu pháp chế đặc biệt bởi vì có thể có nhiều
quyết định quản lý hành chính nhà nước mâu thuẫn với lợi ích của Nhà nước,
công dân nhưng không phải là vi phạm pháp luật bởi lý do pháp luật không thể
dự liệu được toàn bộ các vấn đề nảy sinh trong xã hội.
- Quyết định quản lý hành chính nhà nước ngoài việc giải quyết các nhiệm vụ hiện
tại còn phải có tính dự báo cho tướng lai.
- Ngôn ngữ, cách trình bày phải rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn. Ngôn ngữ thành văn
sử dụng trong các quyết định quản lý hành chính nhà nước phải chính xác, không đa nghĩa.
Quyết định quản lý hành chính nhà nước muốn đem lại hiệu quả cao thì phải đáp
ứng những yêu cầu về tính hợp pháp, hợp lý. Nếu chỉ đảm bảo được tính hợp
pháp mà không hợp lý thì quyết định đó khó thực hiện được hoặc không thực hiện
được. Ngược lại, nếu đảm bảo tính hợp lý mà không đảm bảo được tính hợp pháp
thì quyết định quản lý hành chính nhà nước đó sẽ bị đình chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ
theo quy định của pháp luật.