-
Thông tin
-
Quiz
Đề cương Triết học | Học viện báo chí và tuyên truyền
Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin. Ý nghĩa phương pháp luận. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ mối quan hệ đó. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Ý nghĩa phương pháp luận. Nguyên lý về sự phát triển. Ý nghĩa phương pháp luận. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Triết học Mác-Lênin (philosophy) 99 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Đề cương Triết học | Học viện báo chí và tuyên truyền
Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin. Ý nghĩa phương pháp luận. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ mối quan hệ đó. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Ý nghĩa phương pháp luận. Nguyên lý về sự phát triển. Ý nghĩa phương pháp luận. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Triết học Mác-Lênin (philosophy) 99 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:














Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
Câu 1: Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin. Ý nghĩa phương pháp luận. - Định nghĩa:
"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác" (Lênin tt18, tr151). - Phân tích định nghĩa:
1) “Vật chất là một phạm trù triết học”:
Với tư cách là một phạm trù triết học, vật chất không tồn tại một cách trực quan, cảm tính mà
là sản phẩm khái quát của tư duy trừu tượng. Do vậy, không được đồng nhất vc với những
dạng tồn tại cụ thể của vc (vật thể).
2) “chỉ thực tại khách quan”: nghĩa là vật chất là tất cả những gì tồn tại khách quan, ở bên
ngoài và độc lập với ý thức, cảm giác của con người dù con người có nhận thức được hay
không. Đây là thuộc tính cơ bản của vc và là tiêu chuẩn để phân biệt vc với ý thức.
3) “được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”:
+ Vật chất tuy trừu tượng nhưng tồn tại dưới dạng những sự vật vật chất cụ thể, khi chúng tác
động lên các giác quan của con người thì được các giác quan này chép lại, phản ánh, từ đó
hình thành nên cảm giác. Điều đó cho thấy con người có thể nhận thức được thế giới.
+ Cảm giác của chúng ta chỉ là sự chép lại, phản ánh thế giới vật chất. Cho nên cảm giác, ý
thức là cái có sau và lệ thuộc vào thế giới vật chất. Thế giới vật chất chất là cái có trước, quyết
định cảm giác, ý thức của con người.
- Ý nghĩa của định nghĩa: Định nghĩa về vật chất của Lênin có ý nghĩa to lớn về cả lý luận và thực tiễn:
+ Một là, bằng khẳng định vật chất tồn tại khách quan, không phụ thuộc cảm giác, định nghĩa
đã bác bỏ mọi quan điểm duy tâm trong quan niệm về vật chất
+ Hai là, bằng quan niệm vật chất là một phạm trù triết học, định nghĩa đã khắc phục tính trực
quan, máy móc, siêu hình của CNDV cũ - quy vật chất về một vật thể nào đó.
+ Ba là, bằng việc khẳng định về nguyên tắc con người hoàn toàn có thể nhận thức được thế
giới khách quan đã bác bỏ thuyết “bất khả tri" đồng thời khắc phục những khiếm khuyết trong
các quan điểm máy móc, siêu hình về thế giới, cũng như định hướng đối với khoa học cụ thể
trong việc tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vật thể trong thế giới.
+ Bốn là, trong lĩnh vực xã hội, định nghĩa về vật chất của Lênin cho phép xác định cái gì là
vật chất. Cái gì đang tồn tại khách quan trong xã hội thì đó chính là vật chất.
Câu 2: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ mối quan hệ đó 1.
Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức
- Vật chất có trước, ý thức có sau:
+ Ý thức là sản phẩm, là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người
nên chỉ khi có con người thì mới có ý thức.
+ Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nên chỉ khi nào có thế giới khách
quan (vc) thì mới có thể hình thành ý thức.
- Vật chất là nguồn gốc của ý thức.
+ Bởi vì ý thức được hình thành từ nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc XH, tất cả các nguồn gốc này đều là VC.
- Vật chất quyết định nội dung và các hình thức biểu hiện của ý thức.
+ Bởi vì ý thức chỉ là sự phản ánh thế giới VC, cho nên nội dung của nó lệ thuộc vào đối
tượng phản ánh, tức thế giới khách quan (VC), do TGKQ quyết định. 1
- Vật chất quyết định các mọi sự biến đổi của ý thức:
+ Bởi vì, mọi sự vận động ý thức đều bị các yếu tố của lĩnh vực VC quy định, đó là các quy
luật sinh học, quy luật khách quan của xã hội và môi trường sống.
2. Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất
- Ý thức có thể tác động trở lại vật chất, sự tác động đó phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
- Sự tác động đó là một quá trình biện chứng, thông qua các khâu:
+ Ý thức trang bị cho con người tri thức về đối tượng cần cải tạo, cần tác động, tức thế giới khách quan.
+ Trên cơ sở những tri thức đó, con người xác định mục tiêu, đề ra phương hướng,
xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, phương tiện,…để thực hiện mục tiêu của mình,
cải biến hiện thực khách quan.
- Mức độ tác động trở lại của ý thức đối với vật chất tùy thuộc vào năng lực của con người,
do vậy sự tác động đó có thể diễn ra theo 2 hướng: tích cực và tiêu cực.
+ Tích cực: Nếu nhận thức đúng, có tri thức KH, hành động theo quy luật KQ thì sẽ
làm thay đổi hiện thực KQ theo hướng tích cực, có lợi cho con người.
+ Tiêu cực: trong trường hợp ngược lại, sẽ làm thay đổi hiện thực khách quan theo
hướng tiêu cực, có hại cho con người.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Những bài học có tính chất phương pháp luận rút ra từ mối quan hệ giữa Vật chất và Ý thức có
vai trò vô cùng quan trọng cho con người trong Nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của họ.
Quan điểm khách quan: là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong nhận thức và hoạt động của
con người. Quan điểm khách quan yêu cầu:
- Thứ nhất, khi xem xét, nhận thức sự vật:
+ Phải xuất phát từ chính sự vật, phải phản ánh sự vật trung thành như nó vốn có, phải tôn
trọng sự thật, không được lấy ý chí chủ quan áp đặt cho sự vật.
+ Những yêu cầu này không phức tạp và khó thực hiện nhưng trong thực tế nó lại rất hay bị con người vi phạm
+ Do đó mà không đạt được nhận thức đúng đắn về sự vật hoặc không có được những chủ
trương hoạt động thực tiễn phù hợp.
- Thứ hai, nhận thức và hoạt động thực tiễn
+ Phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
+ Mọi mục đích hành động, kế hoạch, chủ trương, biện pháp hành động của con người phải
dựa trên việc phân tích cặn kẽ, thấu đáo hoàn cảnh thực tế khách quan, các chủ trương chính
sách của con người phải phản ánh được những nhu cầu đã chín muồi của điều kiện thực tế.
+ Mặt khác, các quy luật tự nhiên, xã hội, tư duy tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý
thức, thực tế chứng tỏ rằng nếu làm trái quy luật, con người sẽ phải hứng chịu những hậu quả.
+ Do đó, phải nhận thức các quy luật, hành động phù hợp với quy luật.
Phát huy tính năng động chủ quan của ý thức:
- Ý thức, tư tưởng, với tính năng động sáng tạo của nó có vai trò to lớn, do đó cần phát
huy yếu tố tích cực của ý thức, cũng có nghĩa là phát huy vai trò của nhân tố con
người trong hoạt động cải tạo hiện thực.
- Cần nâng cao không ngừng khả năng nhận thức và vận dụng quy luật của con người.
Muốn vật, đồi hỏi con người phải tích cực học tập làm chủ các tri thức khoa học, vận
dụng các tri thức trong hoạt động thực tiễn của mình. 2
- Cần tự giác rèn luyện nhân sinh quan cách mạng, tiến bộ để thúc đẩy sự phát triển
theo hướng tích cực, tiến bộ của xã hội.
Khắc phục bệnh trì trệ, thụ động, chủ quan duy ý chí: Trong sự vận động đa dạng của xã
hội, xuất hiện những xu hướng cần khắc phục và loại trừ
- Xu hướng thứ nhất: bảo thủ, trì trệ, thụ động, ỷ lại, trông chờ vào sự biến đổi của hiện
thực, không tích cực và tự giác biến đổi hiện thực ấy
- Xu hướng thứ hai: chủ quan duy ý chí, không căn cứ vào thực tế khách quan để hành
động mà lại lấy ý muốn chủ quan, tình cảm, nguyện vọng cá nhân làm điểm xuất phát
cho chủ trương/chính sách.
Cả hai xu hướng này - xét về bản chất - đều là CHỦ NGHĨA DUY TÂM TRONG
NHẬN THỨC VÀ HÀNH ĐỘNG, đều cản trở sự vận động của hiện thực và đều cần
khắc phục trong hoạt động của con người. Chương 3:
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Câu 3: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Ý nghĩa phương pháp luận.
a. Khái niệm mối liên hệ
- Khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự
vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của một sự vật, hiện tượng trong thế giới.
- Cơ sở của sự liên hệ: đó là tính thống nhất vật chất của thế giới.
- Những mối liên hệ được pbc duy vật tập trung nghiên cứu: là những mối liên hệ phổ biến,
tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới.
- Các mối liên hệ riêng biệt, tồn tại trong các bộ phận khác nhau của thế giới là đối tượng
nghiên cứu của các ngành khoa học khác.
- Vai trò của các mối liên hệ:
+ Thông qua các mối liên hệ sự vật mới có thể vận động, phát triển.
+ Thông qua các mối liên hệ mà sự vật bộc lộ bản chất để chúng ta nhận thức.
b. Các tính chất của mối liên hệ Tính khách quan
- Mối liên hệ là cái vốn có của sự vật hiện tượng. Để tồn tại và phát triển, các sự vật
hiện tượng buộc phải liên hệ, ràng buộc, tác động qua lại, ảnh hưởng, chuyển hóa lẫn
nhau, điều này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất cứ cá nhân nào hay thần linh thượng đế…
- VD: Con người dù muốn hay không cũng luôn luôn bị tác động của các sự vật, hiện
tượng khác và các yếu tố ngay trong chính bản thân mình. Con người không thể tách
rời, cô lập bản thân mình ra khỏi cộng đồng xã hội loài người hay cũng không thể tồn
tại nếu không liên hệ với tự nhiên. Tính phổ biến
- Thế giới rất đa dạng, phong phú, vô vàn các sự vật hiện tượng khác nhau nhưng
không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ. Bất cứ sự vật hiện tượng nào
cũng liên hệ với sự vật hiện tượng khác. Mối liên hệ này thể hiện trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Tính phổ biến còn thể hiện ở không những các sự vật liên hệ với nhau mà các mặt,
các yếu tố cấu thành sự vật cũng nằm trong mối liên hệ với nhau. Trong thế giới,
không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại biệt lập, hoàn toàn tách rời với sự vật khác.
- VD: Trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào không có quan hệ, liên hệ với
các quốc gia khác. Chính vì thể, hiện nay, trên thế giới đã xuất hiện xu hướng toàn
cầu hóa, khu vực hoá mọi mặt đời sống xã hội. Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn 3
đề toàn cầu, tác động đến hầu hết các quốc gia như: đói nghèo, bệnh tật, môi trường
sinh thái, dân số và kế hoạch hoá gia đình, chiến tranh và hòa bình… Tính đa dạng
- Tính đa dạng của mối liên hệ do tính đa dạng của thế giới quy định. Thế giới vật chất
có vô vàn các dạng vật chất khác nhau vì vậy, chúng nằm trong chằng chịt các mối liên hệ.
- Mỗi sự vật hiện tượng trong mỗi lĩnh vực, không gian, thời gian, giai đoạn phát triển
nhất định, mối liên hệ của chúng có biểu hiện không giống nhau.
- VD: Mối quan hệ của Việt Nam với Mỹ trong thời kỳ chiến tranh và trong thời hòa
bình, hội nhập hiện nay cũng biểu hiện không giống nhau.
c. Phân loại mối liên hệ
- Dựa vào tính đa dạng đó có thể phân chia ra các Mối liên hệ khác nhau theo từng cặp:
+ Mối liên hệ bên trong và Mối liên hệ bên ngoài
+ Mối liên Hệ chủ yếu và Mồi liên hệ thứ yếu
+ Mối liên hệ bản chất và Mối liên hệ không bản chất
+ Mối liên hệ tất nhiên và Mối liên hệ ngẫu nhiên
+ Mồi liên hệ trực tiếp và Mối liên hệ gián tiếp
+ Mối liên hệ giữa các sự vật và Mối liên hệ giữa các mặt hay giữa các giai đoạn phát triển
của một sự vật để tạo thành lịch sử phát triển của sự vật.
- Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định, sự chuyển hoá lẫn nhau
của các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật. Mối liên hệ bên trong quy định
sự tồn tại và phát triển của sự vật
- Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Nó thường phải
thông qua mối liên hệ bên trong mới có thể tác động đến sự tồn tại, sự vận động và
phát triển của sự vật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mối liên hệ bên ngoài cũng
giữ vai trò hết sức quan trọng và trong những điều kiện nhất định có thể giữ vai trò quyết định.
d. Ý nghĩa phương pháp luận
- Quan điểm toàn diện:
+ Quan điểm này đòi hỏi phải nhận thức sự vật trong mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố, bộ
phận của chính sự vật và trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác.
Trên cơ sở đó, làm nổi bật lên những cái cơ bản, rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại,
phát triển của sự vật.
+ Quán triệt quan điểm toàn diện đòi hỏi phải tránh và khắc phục cách xem xét dàn trải; quan
điểm phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, thuật ngụy biện.
+ Vận dụng quan điểm toàn diện vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải biết kết hợp chặt chẽ giữa
“chính sách dàn đều” và “chính sách có trọng điểm” mà Lênin đã chỉ ra.
- Quan điểm lịch sử - cụ thể:
Quan điểm này đòi hỏi khi nhận thức sự vật hoặc khi giải quyết các vấn đề thực tiễn, phải chú
ý đến hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, bối cảnh hiện thực mà sự vật, vấn đề đó nảy sinh, tồn tại và phát triển.
Câu 4: Nguyên lý về sự phát triển. Ý nghĩa phương pháp luận
a. Khái niệm phát triển 4
- Theo Quan điểm siêu hình nói chung, phủ nhận sự phát triển tuyệt đối hóa mặt ổn
định của svht. Chỉ là tăng giảm về mặt lượng, tuần hoàn lặp đi lặp lại mà k có sự thay
đổi về chất, không có sự ra đời sự vật hiện tượng mới và nguồn gốc nằm ngoài sự vật
- Quan điểm CNDV biện chứng:
Là sự vận động đi lên qua bước nhảy
Qtr diễn ra dần dần, vừa có những bước nhảy vọt..làm cho sự ptr mang tính quanh
co, phức tạp, có thể có những bước thụt lùi tương đối trong sự tiến lên.
Nguồn gốc bên trong của sự vđ, ptr là đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng.
Khuynh hướng chung của sự phát triển là tính tiến lên theo đường xoáy ốc, có kế
thừa, sự lặp lại stt cũ trên cơ sở cao hơn.
Vận động có nội dung hàm rộng hơn, chỉ duy có đi lên thì mới là phát triển, do đó
ptr chỉ là 1 TH đặc biệt của vận động, mới thay đổi cũ KHÁC VỚI Phát triển ( là
khuynh hướng chung của svht đều ptr, ví dụ các thành phần kinh tế VN những
năm qua khuynh hướng chung là phát triển nhưng điều đó ko có nghĩa tất cả đều
phát triển đi lên, có phá sản thua lỗ,..)
- Khái niệm: phát triển là khái niệm dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện.
b. Biểu hiện và tính chất của sự phát triển
- Trong những lĩnh vực khác nhau, sự phát triển biểu hiện rất khác nhau:
Trong tự nhiên: sự phát triển biểu hiện ở khả năng thích nghi của cơ thế trước sự
biến đối của môi trường, ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ cao hơn,...
Trong xã hội: sự phát triển biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội
của con người để đưa xã hội tiến đến những trình độ ngày càng cao hơn.
Trong tư duy: sự phát triển biểu hiện ở khả năng tư duy ngày càng sâu sắc hơn,
đầy đủ hơn, đúng đắn hơn.
- Tính chất của sự phát triển:
Tính khách quan: nguồn gốc nằm trong chính svht, ko tác động từ bên ngoài và ko
phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
Tính phô biên: sự ptr diễn ra ở mọi sự vật, ht trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xh và tư duy
Tính đa dạng, phong phú: các sv,ht khác nhau có qtr ptr ko giống nhau, điều kiện,
hoàn cảnh khác nhau thì sự phtr diễn ra khác nhau. o
VD: sự ptr của thựuc vật khác động vật, cây đặt trong bóng tối khác vứi cây đặt ngoài trời)
Tính kế thừa: svht mới ra đời từ cũ, có chọn lọc và cải tạo các yếu tố thích hợp bỏ
tiêu cực, cản trở phát triển
c. Ý nghĩa phương pháp luận -Quan điểm phát triển:
+ Quan điểm này đòi hỏi khi xem xét các sự vật hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động,
phát triển và phải thấy được xu hướng biến đổi, phát triển của nó. Đồng thời, phải nhận
thức được những tính chất quanh co, phức tạp và sự thụt lùi tạm thời trong quá trình phát triển của sự vật. 5
+ Quán triệt quan điểm này, đòi hỏi chúng ta phải tránh tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến,
tức là quan điểm chỉ dựa vào một nhận thức nào đó về sự vật và xem đó là nhận thức duy
nhất đúng về toàn bộ sự vật trong quá trình phát triển tiếp theo của nó.
- Nguyên lý về sự phát triển cho thấy, quá trình phát triển của sự vật luôn chịu sự tác động
của điều kiện lịch sử - cụ thể, do vậy, để nhận thức đúng sự vật, đòi hỏi chúng ta cũng
phải có quan điểm lịch sử - cụ thể. Chương 4:
LÝ LUẬN NHẬN THỨC
Câu 5: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
1. Thực tiễn và các hình thức cơ bản của thực tiễn
- Khái niệm thực tiễn theo quan niệm Mácxít:
“Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người
nhằm cải biến tự nhiên và xã hội”.
- Các hình thức cơ bản của thực tiễn:
+ Hoạt động sản xuất vật chất.
+ Hoạt động chính trị - xã hội. + Thực nghiệm khoa học.
=> Các hình thức trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, SXVC là hoạt động cơ
bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác.
2. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
- Thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức, bởi vì:
+ Con người tác động vào thế giới khách quan, buộc chúng bộc lộ những thuộc tính, quy luật,
đem lại những tài liệu để con người nhận thức.
VD: hđ SXNN: Con ng tác động vào tự nhiên-> nhận thức đất, khí hậu tốt phù hợp giống cây trồng vật nuôi
+ Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức, thúc đẩy sự
hình thành và phát triên của các ngành khoa học.
VD: Ra đời toán học hình học-> nhu cầu con người đo đạc diện tích ruộng đất bên dòng sông
sau mùa lũ…đo lường sức chứa bình, tính toán thời gian
+ Quá trình hoạt động thực tiễn cũng luôn nảy sinh những vấn đề, những yêu cầu mới đòi hỏi
con người phải nhận thức để giải quyết.
+ Hoạt động thực tiễn giúp các giác quan của con người ngày càng được hoàn thiện; năng lực
tư duy không ngừng được phát triên; các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại. => tạo
điêu kiện thuận lợi cho con người trong việc nhận thức thế giới.
VD: kính hiển vi, thiên văn, máy vi tính giúp cpn người nhận thức được thế giới nhiều hơn..
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức.
+ nhận thức phải phục vụ thực tiễn, kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo và cải tạo thực tiễn.
+ LLKH có ý nghĩa thực sự khi vận dụng vào thực tiễn
VD: Khám phá và giải mã về biểu đồ gen từ chính hđ thực tiễn, nhu cầu mục đích chữa bệnh nan y …
- Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý, kiểm tra kết quả của quá trình nhận thức.
+ Là thước đo giá trị của tri thức.
+ Khi có tri thức trải qua nhận thức phải qua thực tiễn mới có thể kết luận tri thức có đúng đắn hay không 6
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nhận thức phải gắn với thực tiễn, dựa trên thực tiễn lam tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá
- Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều; nếu tuyệt
đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào kinh nghiệm chủ nghĩa.
VD: Trong giáo dục: học phải đi đôi với hành: có kiến thức sách vở chưa đủ, vd vào công
việc, nghề nghiệp tuyển dụng xem bằng cấp, làm thử việc… Chương: 5
HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
Câu 6: Hình thái kinh tế - xã hội và vai trò của từng yếu tố. Liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay.
1. Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội - Khái niệm
+ Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của CNDVLS dùng để chỉ xã hội ở từng giai
đoạn lịch sử nhất định với một kiểu QHSX đặc trưng cho xh đó
+ Phù hợp với một trình độ nhất định của LLSX và một KTTT dựa trên những QHSX ấy.
- Các yếu tố cơ bản của HTKT-XH:
LLSX: ở một trình độ phát triển nhất định, đóng vai trò nền tảng vật chất- kỹ thuật của xh đó,
là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các thời đại kinh tế khác, là sự vận động ptr HTKT-XH
QHSX (cơ sở hạ tầng): là quan hệ khách quan, cơ bản chi phối và quyết định mọi qhxh, hình
thành trên cơ sở thực trạng pt LLSX, đóng vai trò hình thức kinh tế LLSX đó; hợp thành cơ
cấu kt-xh, đóng vai trò CSHT kinh tế xác lập trên KTTT nhất định, quan trọng nhất phân biệt
bản chất các chế độ x
Kiến trúc thượng tầng: thể hiện mqh người với người trong lv tinh thần x ác lập trên CSHT
kte, vai trò chính trị, pháp luật, đạo đức..các qh sản xuất xh
=> Các yếu tố này có vai trò, vị trí khác nhau trong mỗi hình thái ktxh. Sự tác động lẫn nhau
giữa các yếu tố này tạo thành những quy luật khách quan chi phối sự vận động, phát triển của xã hội.
2. Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
- Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hôi, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện
cụ thể của nước ta, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã tìm ra quy luật của cách mạng VN: cách
mạng giải phòng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
- Quá độ ở nước ta là kiểu quá độ gián tiếp: quá độ lên CNXH từ một nước lạc hậu, kinh tế kém phát triển.
"Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tức là
bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN,
nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc
biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế
hiện đại.’’ (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX).
- Tuy nhiên, quá trình đi lên CNXH ở nước ta có điểm xuất phát thấp, từ một nước nông
nghiệp lạc hậu, thuộc địa nửa phong kiến, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với
nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất trung gian, quá độ. 7
- Việc thiết lập các yếu tố cơ bản của hình thái KT-XH mới được Đảng ta xác định:
+ Về lực lượng sản xuất: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nguồn
nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa học vào sản xuất, …
+ Về quan hệ sản xuất: phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trên cơ sở đa dạng hóa các loại
hình sở hữu, vận hành cơ chế thị trường, thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế,...
+ Về kiến trúc thượng tầng:
+ Đảng ta lấy CN Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho hành động; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ; phát triển giáo
dục nhằm nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài ; …
-> Không ngừng đổi mới hệ thống chính trị nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu
của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, nâng cao vai trò của các tổ chức quần
chúng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chương 5:
HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
Câu7: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay.
* Khái niệm lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
- Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là khái niệm dùng để biểu thị mối quan hệ giữa con người với tự nhiên
trong quá trình sản xuất, thể hiện năng lực thực tiễn của con người, được tạo thành từ sự kết
hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất trong quá trình thực hiện việc sản xuất xã hội. - Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, bao gồm quan hệ
sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức - quản lý sản xuất và quan hệ trong
phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó.
.1 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
a. Vai trò quyết định của llsx đối với qhsx
- Với một trình độ nhất định của llsx sẽ hình thành nên một qhsx tương ứng, qhsx lệ thuộc vào trình độ của llsx.
- LLSX luôn vận động, phát triển không ngừng, khi lực lượng sản xuất thay đổi thì quan hệ
sản xuất cũng thay đổi theo.
- Lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định vì nó là nội dung vật chất của quá trình sản
xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình đó. Trong mối quan hệ giữa nội
dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức. Nghĩa là, trình độ của llsx quy định cách
thức con người quan hệ với nhau trong quá trình sx.
b, Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối, tác động trở lại llsx:
- Qhsx thúc đẩy mạnh mẽ llsx phát triển nếu nó phù hợp (thống nhất) với llsx.
+Sự phù hợp này là một trạng thái mà ở đó quan hệ sản xuất tạo điều kiện sử dụng và kết hợp
một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất, do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để
phát triển, phát huy hết khả năng của nó.
- Qhsx kìm hãm sự phát triển của llsx nếu nó không phù hợp (mâu thuẫn) với llsx, cả qhsx lạc
hậu và qhsx vượt trước trình độ của llsx đều có tác dụng kìm hãm sự phát triển của llsx.
c, Mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX là động lực cơ bản của sự phát triển của PTSX -
LLSX và QHSX là 2 mặt đối lập trong một PTSX: 8
+ LLSX là nội dung, QHSX là hình thức của quá trình SX;
+ LLSX luôn vận động phát triển không ngừng, còn QHSX có tính ổn định tương đối.
=> Vì vậy, mối quan hệ này có thể chuyển từ phù hợp sang mâu thuẫn gay gắt với nhau, đòi
hỏi phải giải quyết bằng một cuộc CMXH.
- Khi CMXH thành công, PTSX mới ra đời, mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX lại tiếp
diễn, tạo nên sự vận động phát triển không ngừng của các PTSX.
2. Liên hệ thực tiễn Việt Nam
- Thời kỳ trước đổi mới, việc vận dung quy luật này mắc nhiều sai lầm, Đảng chủ trương:
+ Thiết lập chế độ công hữu về TLSX, không thực hiện đa dạng hóa các hình thức sở hữu;
+ Thực hiện cơ chế tập trung quan liêu bao cấp;
+ Phân phối sản phẩm mang tính bình quân, cào bằng;...
=> Việc vận dung quy luật mắc nhiều sai lầm, thiết lập nên một qhsx không phù hợp với llsx, do vậy llsx bị kìm hãm.
- Trong thời kỳ đổi mới, việc vận dụng quy luật nhìn chung là đúng đắn
+ Về LLSX: Đảng chủ trương CNH-HĐH, phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng KH vào SX,...
+ Về qhsx: Đảng chủ trương đổi mới phù hợp với trình độ của llsx. Đa dạng hóa các
hình thức sở hữu, phát triển nền KT nhiều thành phần.
. Vận hành cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN.
. Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả KT, theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác,...
=> QHSX này phù hợp với trình độ của LLSX ở nước ta vốn còn nhiều hạn chế, phát triển
không đồng đều, nên đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của LLSX.
Câu 8: Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Liên hệ
thực tiễn Việt Nam hiện nay.
* Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
- Khái niệm cơ sở hạ tầng dùng để chỉ toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh
tế của một xã hội nhất định.
- Khái niệm kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ toàn bộ những quan điểm, tư tưởng cùng với
các thiết chế tương ứng, được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
1. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và sự tác động trở lại của kiến trúc
thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
a) Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
- Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ sản sinh ra một kiến trúc thượng tầng tương ứng, có tác dụng bảo vệ cơ sở hạ tầng đó.
- Cơ sở hạ tầng quyết định mọi quan hệ xã hội khác, Giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng
chiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinh thần xã hội, các giai cấp còn lại ở địa vị bị thống trị.
- Các mâu thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định các mâu thuẫn trong lĩnh vực chính
trị tư tưởng, cuộc đấu tranh giai cấp về chính trị tư tưởng là biểu hiện những đối kháng trong đời sống kinh tế.
- Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn, kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo.
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng ; kiến trúc thượng tầng chỉ là sự phản ánh
cơ sở hạ tầng, phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng. 9
b) Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT: Cả C.Mác và Ăngghen đều cho rằng, sự
vận động kinh tế tiến triển theo con đường của nó, và “xét cho cùng quy định sự phát triển
của lịch sử", những KTTT (quan điểm tư tưởng, nhà nước,...) lại có tính độc lập tương đối và
có tác động mạnh mẽ trở lại đối với kinh tế.
- Đầu tiên, khi nói về sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT, Ăngghen khẳng định: Tất
cả yếu tố cấu thành KTTT đều có tác động đến CSHT.
- Thứ hai, bàn về vai trò của KTTT, C.Mác và Ăngghen đặc biệt nhấn mạnh đến KTTT về Chính trị, Nhà nước.
+ Trong các XH có nhà nước thì nhà nước là yếu tố có tác động trực tiếp và mạnh nhất đối với CSHT
+ Bởi lẽ, nhà nước là thiết chế duy nhất có sức mạnh KT, có quyền ban hành và tổ chức
thực hiện các chính sách, pháp luật KT
+ Trong các XH có nhà nước, các yếu khác của KTTT tác động đến CSHT một cách gián
tiếp thông qua Nhà nước.
- Thứ ba, sự tác động của KTTT làm cho CSHT sinh ra nó được củng cố, duy trì và phát triển,
đồng thời chống lại mọi nguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại chế độ kinh tế đó.
- Thứ tư, tuy KTTT có tác động mạnh mẽ đối với CSHT, nhưng sự tác động này thường
mang tính đa chiều. KTTT không tự tạo ra CSHT, do đó nếu KTTT kìm hãm sự phát triển
của CSHT thì KTTT cũ cũng sẽ được thay thế bằng KTTT mới, tiến bộ hơn để thúc đẩy CSHT phát triển.
2. Liên hệ với thực tiễn Việt Nam
- CSHT ở nước ta hiện nay là nền kinh tế nhiều thành phần (kinh tế thì kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo), vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhừ nước theo định
hướng XHCN (Kinh tế thị trường định hướng XHCN).
- KTTT ở nước ta hiện nay là hệ thống chính trị được xây dựng dựa trên nền tảng chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Để thiết lập một KTTT phù hợp với CSHT, Đảng ta chủ trương: không ngừng đổi mới hệ
thống chính trị nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nâng cao hiệu quả
quản lý của nhừ nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Chương 9: Ý THỨC XÃ HỘI
Câu 9: Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay. * Tồn tại xã hội
- Khái niệm: tồn tại xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và những điều kiện
sinh hoạt vật chất của xã hội.
- Các yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội:
+ Phương thức sản xuất vật chất:
+ Điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý. + Điều kiện dân cư. * Ý thức xã hội
- Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt tinh thần của đời sống xã hội,
nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xh trong những giai đoạn phát triển nhất định.
- Kết cấu của ý thức xh: 10
+ Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hình thái
khác nhau: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, triết học, ...
+ Theo trình độ phản ánh, ý thức xã hội gồm ý thức xh thông thường và ý thức lý luận.
+ Theo trình độ và phương thức phản ánh gồm có: tâm lý xh và hệ tư tưởng.
1. Mối quan hệ biện chứng...Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và tính độc lập
tương đối của ý thức xh
* Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
- Tồn tại xã hội là nguồn gốc, là cơ sở nảy sinh ý thức xã hội; đời sống vật chất là nền tảng
nảy sinh đời sống tinh thần.
- Tồn tại xã hội quyết định nội dung của ý thức xã hội, ý thức xã hội chỉ là sự phản ánh của
tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội (ở những thời điểm lịch sử khác nhau có những
quan điểm tư tưởng khác nhau là do những điều kiện khác nhau của đời sống vật chất quyết định).
- Mỗi khi tồn tại xã hội biến đổi thì ý thức xh sớm muộn sẽ biến đổi theo.
- TTXH quyết định YTXH thường qua các khâu trung gian. Do vậy, chỉ khi nào xét
đến cùng thì mới thấy rõ những mối quan hệ kinh tế được phản ánh trong các tư tưởng ấy.
2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
- Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội, nguyên nhân:
+ Sự biến đổi của tồn tại xã hội thường diễn ra với tốc độ nhanh mà ý thức xã hội có thể
không phản ánh kịp và trở nên lạc hậu.
+ Ý thức xã hội là cái phản ánh tồn tại xã hội nên nói chung chỉ biến đổi sau khi có sự biến
đổi của tồn tại xã hội.
+ Do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán cũng như do tính lạc hậu, bảo thủ của
một số hình thái ý thức xã hội.
+ Những tư tưởng cũ, lạc hậu thường được các lực lượng xã hội phản tiến bộ lưu giữ và
truyền bá nhằm chống lại các lực lượng xã hội tiến bộ.
- Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội:
+ Trong những điều kiện nhất định, tư tưởng của con người có thể vượt trước sự phát triển
của tồn tại xã hội, dự báo được tương lai và có tác dụng chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người.
+ Điều đó không có nghĩa là ytxh không còn bị ttxh quyết định nữa, mà trái lại nó phản ánh chính xác, sâu sắc ttxh
- Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình:
+ Tính kế thừa trong sự phát triển của ytxh thể hiện ở chỗ: những quan điểm lý luận của mỗi
thời đại có sự kế thừa những tài liệu lý luận của các thời đại trước.
+ Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển, nên khi giải thích một tư tưởng nào đó
chúng ta không chỉ dựa vào điều kiện kinh tế - xã hôi hiện tại mà còn phải chú ý đến các giai
đoạn phát triển tư tưởng trước đó.
+ Trong xã hội có giai cấp, tính chất kế thừa của ý thức xã hội gắn với tính chất giai cấp của nó.
- Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng:
+ Thông thường ở mỗi thời đại, có những hình thái ý thức nào đó nổi lên hàng đầu và tác
động mạnh đến sự phát triển của các hình thái ý thức xã hội khác.
+ Trong sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý thức, ý thức chính trị có vai trò đặc biệt
quan trọng, tác động mạnh đến các hình thái ý thức khác, nhất là trong giai đoạn hiện nay.
- Ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội: 11
+ Ý thức xã hội khoa học, tiến bộ, được sử dụng vì sự tiến bộ xã hội có khả năng thúc đẩy
mạnh mẽ sự phát triển của tồn tại xã hội.
+ Ý thức xã hội sai lầm, lạc hậu sẽ kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội.
* Mức độ ảnh hưởng của YTXH đối với sự phát triển của ttxh phụ thuộc vào những điều kiện, yếu tố sau:
+ Những điều kiện lịch sử cụ thể;
+ Vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng;
+ Mức độ phản ánh đúng đắn của tư tưởng đối với các nhu cầu phát triển xã hội;
+ Mức độ mở rộng của tư tưởng trong quần chúng;…
* Liên hệ thực tiễn Việt Nam :
+ Phải coi trọng cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, phát huy vai trò tích cực của ý thức xã hội khoa học, tiến bộ đối với tồn tại xã hội.
+ Tránh tái phạm sai lầm chủ quan duy ý chí trong việc xây dựng văn hoá, xây dựng con người mới.
+ Để xây dựng được đời sống tinh thần của CNXH, cần phải cải tạo triệt để phương thức sinh
hoạt vật chất tiểu nông truyền thống và xác lập, phát triển được một phương thức sản xuất
mới trên cơ sở thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chương 8:
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI
Câu 10: Quan điểm triết học Mác – Lênin về bản chất con người. Liên hệ với việc phát
triển con người ở Việt Nam hiện nay.
* Bản chất của con người
- Con người là thực thể thống nhất giữa mặt SINH HỌC và mặt XÃ HỘI
+ Tự nhiên: là thể xác, cơ thể sinh học và mối liên hệ hữu cơ của nó đối với giới tự nhiên
+ Xã hội: là hoạt động lao động, liên hệ của con người lẫn nhau và là tất cả những gì hình
thành trên cơ sở liên hệ ấy (VD: Nhà nước, Khoa học, Nghệ thuật, Tôn giáo, Ý thức,...)
Hai mặt này liên hệ hữu cơ với nhau trong thực thể “con người".
Đây không phải hai mặt tách rời và đối lập mà ngược lại, có quan hệ chặt chẽ với nhau
(mặt TN là ĐK cần và mặt XH là ĐK đủ)
Bằng HĐ thực tiễn, con người hình thành nên những phẩm chất đặc thù không có ở loài
vật khác - PHẨM CHẤT XÃ HỘI.
- Bản chất của con người trong tính hiện thực của nó là TỔNG HÒA CỦA NHỮNG QUAN HỆ XÃ HỘI
+ Bản chất của con người không phải cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt, mà là
tổng hòa của những quan hệ XH; tồn tại trong mọi tồn tại, SH,... → QUAN ĐIỂM DUY
VẬT TRONG XEM XÉT BẢN CHẤT CON NGƯỜI.
+ Sự tác động lẫn nhau giữa người với người:
Trong quá trình LĐ: con người lấy từ tự nhiên với tư cách là một thực thể SV tự nhiên
Trong quá trình HĐ thực tiễn: LĐ sản xuất vật chất → qua đó con người biến
thuộc tính tự nhiên của mình thành bản chất xã hội → tạo môi trường sống mới: môi trường xã hội
+ Trong quá trình lao động sản xuất, con người không chỉ tác động vào tự nhiên, mà còn
tác động lẫn nhau → hình thành nên các quan hệ xã hội, trong đó hạt nhân của tính hiện
thực ấy chính là tổng hòa các quan hệ xã hội. 12
+ Xét bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội tức là xem con người với tất cả
các quan hệ xã hội của nó trong đó con người đang sống mà cả những quan hệ xã hội
hiện có đã có từ trước kia
Trong lịch sử của mình, con người phải kế thừa những di sản, những truyền thống
đã thúc đẩy con người vươn tới hoặc ngược lại.
Theo C. Mác, bản chất xã hội của con người luôn luôn thay đổi cùng với năm
phương thức sản xuất lớn với những chế độ chính trị khác nhau.
Mỗi con người dù muốn hay không, vừa cất tiếng khóc chào đời đã bị khoác bởi
cái áo xã hội họ đang sống, đó là những mối quan hệ xã hội.
+ Trong một xã hội có nhiều quan hệ xã hội.
Quan hệ về mặt xã hội: quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, gia đình, quan hệ giữa
các liên minh, giữa các cá nhân và xã hội, giữa các cộng đồng xã hội...
Quan hệ về mặt tổ chức và kỹ thuật: sự tương tác của con người trong quá trình
lao động trực tiếp, trao đổi các hoạt động.
Quan hệ về mặt vật chất: các quan hệ sản xuất.
Quan hệ về mặt tư tưởng: quan hệ chính trị, các quan hệ đạo đức, các quan hệ
thẩm mỹ, các quan hệ pháp quyền, các quan hệ tôn giáo khác... + Bản chất con người
Là một sự tổng hòa mang tính biện chứng do các quan hệ xã hội đưa lại
Trong đó quan hệ cơ bản là quan hệ lợi ích, quan hệ kinh tế.
Tóm lại, bằng hoạt động thực tiễn và lao động sản xuất, cải tạo giới tự nhiên, con người
không tách rời khỏi môi trường tự nhiên, càng không thể tách khỏi môi trường lịch sử - xã hội.
Khác với những sinh vật thuần tuý bản năng, con người là một sinh vật xã hội,
đỉnh cao của sự tiến hóa giống loài.
Là một sinh vật, con người cũng có bản năng như những sinh vật khác.
Song là một sinh vật - xã hội, con người có ý thức, có năng lực tự giác và sáng tạo
- sức mạnh mà chỉ riêng con người mới có.
Bằng hoạt động thực tiễn, con người đã cải tạo giới tự nhiên, đời sống xã hội và qua đó,
phát triển và hoàn thiện chính bản thân mình.
Con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình phát triển lịch sử.
Con người làm nên lịch sử của chính mình.
Lịch sử là lịch sử của con người, do con người và vì con người.
LIÊN HỆ VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Vâ Ÿn dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã nhận thức
một cách đúng đắn về chiến lược phát triển con người và khẳng định bằng Nghị
quyết, chủ trương và chính sách thật sự coi trọng con người, coi con người là nhân
tố có tính quyết định để xây dựng thành công xã hội mới. Đảng ta rất chú trọng
đến việc phát huy nhân tố con người và coi đây là mục tiêu động lực của toàn bộ sự nghiệp cách mạng.
Đại hội VI – Đại hội đổi mới
Đảng ta đã chú trọng đến quyền làm chủ của nhân dân lao động
Đào tạo con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong
phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực mạnh mẽ nhất để xây
dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Đại hội VII 13
Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục, đào tạo, khoa
học, công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con
người – động lực trực tiếp của sự phát triển”.
Đại hội VIII - Đất nước chuyển hẳn sang thời kỳ phát triển mới.
Tư tưởng chủ đạo của chiến lược phát triển con người của Đại hội VIII là
thực hiện “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực
to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội”.
Vấn đề con người và chiến lược phát triển con người đã được Đại hội VIII
của Đảng cụ thể hoá thành các chính sách nhằm phát huy nguồn lực con
người và thực hiện công bằng xã hội.
Mục đích cao nhất của hệ thống chính sách này nhằm phát triển trí tuệ của
người Việt Nam - nguồn vốn quyết định nhất, quý giá nhất của chúng ta
trong sự nghiệp đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Khi công cuộc đổi mới đất nước đang đi dần vào chiều sâu và phải giải
quyết những nhiệm vụ hết sức to lớn và phức tạp thì Đảng ta chủ trương
bằng mọi giá phải “Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật
cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra
khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa học và công nghệ”. Đại hội IX:
Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ nhân thực sự của xã hội, là
chủ thể của mọi hoạt động kinh tế, văn hoá xã hội và mục tiêu của toàn bộ
sự nghiệp cách mạng là phục vụ nhân dân.
Quan điểm đúng đắn đó được thể hiện ở chủ trương “Phát triển giáo dục
đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người –
yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Đại hội X, XI, XII:
Văn hoá trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế
thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý
chí tự lực tự cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
“Xây dựng con người Viê Ÿt Nam phát triển toàn diê Ÿn phải trở thành mục tiêu
của chiến lược phát triển”.
Như vậy, có thể khẳng định rằng suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, đặc biệt
trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến
vấn đề con người và phát huy nhân tố con người. Nhờ vậy, sau 30 năm đổi mới toàn diện
“đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Hiện nay, đất nước ta đang
đứng trước những thời cơ phát triển lớn; song bên cạnh đó còn không ít những khó khăn,
thách thức phải vượt qua. Để tiếp tục phát huy nhân tố con người một cách hợp lý, hiệu
quả, phù hợp với thực tiễn cách mạng đang đặt ra hiện nay, cần phải có một hệ thống các giải pháp đồng bộ. 14