-
Thông tin
-
Quiz
Đề cương Triết học Mác Lênin | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Định nghĩa vật chất của V.I.Lenin, các phương thức tồn tại của vật chất? Nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức và môi quan hệ giữa vật chất và ý thức. Trình bày nguyên lí về mối liên hệ phổ biến, nguyên lí về sự phát triển. Ý nghĩa rút ra từ hai nguyên lí này? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Triết học Mác-Lênin (philosophy) 99 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Đề cương Triết học Mác Lênin | Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Định nghĩa vật chất của V.I.Lenin, các phương thức tồn tại của vật chất? Nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức và môi quan hệ giữa vật chất và ý thức. Trình bày nguyên lí về mối liên hệ phổ biến, nguyên lí về sự phát triển. Ý nghĩa rút ra từ hai nguyên lí này? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Triết học Mác-Lênin (philosophy) 99 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
ĐỀ CƯƠNG TRIẾT HỌC MÁC LENIN
Câu 1: Định nghĩa vật chất của V.I.Lenin, các phương thức tồn tại của vật chất? 1.1.
Định nghĩa vật chất của V.I.Lenin
1.1.1. Lý do ra đời của định nghĩa vật chất Lenin
Trước bối cảnh Ph. Ăng ghen và C. Mác chưa đưa ra được định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất, nhiều phát
minh mới của khoa học tự nhiên ra đời như: năm 1895, nhà bác học Rơnghen của nước Anh phát hiện ra
tia X; năm 1986, Béccoren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ;.. khiến cho chủ nghĩa duy vật rơi vào lúng
túng, bế tắc; chủ nghĩa duy tâm đả kích, tấn công. Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật, V.I.Lenin đã
kế thừa những tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về vật chất, chắt lọc những quan niệm đúng về vật
chất để phát biểu định nghĩa khoa học về vật chất.
1.1.2. Định nghĩa về vật chất của V.I.Lenin.
“ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong
cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
1.1.3. Nội dung cơ bản của định nghĩa.
Một là, vật chất là cái tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người (dù con người có nhận thức hay
không nhận thức được nó)
Do đó phải chú ý đến cả 2 khía cạnh là tính trừu tượng và tính cụ thể của vật chất. Nếu chỉ thấy tính trừu
tượng, thổi phồng tính trừu tượng, sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm. Ngược lại, nếu chỉ thấy tính cụ thể của
vật chất, sẽ đồng nhất vật chất với vật thể, dễ sa vào siêu hình.
Ý nghĩa là đã khắc phục được sai lầm của chủ nghĩa duy vật trước Mác, là cơ sở khoa học để nhận thức
vật chất dưới dạng xã hội, đó là những quan hệ xã hội, các quy luật xã hội, các tồn tại xã hội.
Hai là, thực tại khách quan được đem lại cho con người ta trong cảm giác và không lệ thuộc vào cảm giác.
Thực tại khách quan (tức vật chất) là cái có trước, không phụ thuộc vào ý thức. Cảm giác (tức ý thức) là
cái có sau và phụ thuộc vào vật chất. Vật chất là nội dung, là nguồn gốc khách quan của tri thức, ý thức.
Ý nghĩa là chống lại mọi lí luận sai lầm của chủ nghĩa duy tâm (cả khách quan, chủ quan và nhị nguyên
luận) – là chủ nghĩa cố luận giải ý thức, tinh thần là cái quyết định mọi thứ trên thế giới.
Ba là, thực tại khách quan được chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh.
V.I.Lenin muốn chứng minh rằng:
Vật chất tồn tại khách quan dưới dạng sự vật, hiện tượng cụ thể mà con người nhờ các giác quan có thể
trực tiếp hay gián tiếp cảm nhận được.
Ngoài ra, vật chất còn có một tính chất quan trọng khác là tính có thể nhận thức được. Về nguyên tắc,
không vật chất nào không thể nhận thức được, chỉ có vật chất chưa được nhận thức mà thôi.
Ý nghĩa là bác bỏ thuyết không thể biết, cổ vũ các nhà khoa học đi sâu vào thế giới vật chất, phát hiện ra
những kết cấu mới, những thuộc tính mới và quy luật vận động và phát triển của thế giới, từ đó làm giàu
thêm kho tàng tri thức của nhân loại. 1.2.
Các phương thức tồn tại của vật chất.
Vật chất tồn tại thông qua vận động, gắn với không gian, thời gian. Vận động, không gian, thời gian chính
là các phương thức và hình thức tồn tại của vật chất 1.2.1. Vận động
Khái niệm vận động: Một cách khái quát nhất, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vận động là
“mọi sự biến đổi nói chung”. Ph. Ăngghen viết:”Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất – tức được hiểu là
một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất – bao gồm tất cả mọi sự trao
đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự trao đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự
thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”.
Dựa trên thành tựu khoa học của thời đại mình, Ăng ghen đã phân chia vận động thành năm hình thức cơ
bản: vận động cơ học, vật lý, hóa học, sinh học và xã hội.
Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất luôn vận động, do đó vận động là tuyệt đối, là vĩnh viễn. Tuy
nhiên chủ nghĩa duy vật biện chứng không phủ nhận trạng thái đứng im của các đối tượng vật chất trên
thế giới,..Nếu vận động là tuyệt đối thì đứng im là tương đối.
1.2.2. Không gian và thời gian.
Không gian là phạm trù triết học chỉ hình thức tồn tại của vật chất xét về quảng tính, kết cáu hay quy mô,
vị trí tương đối của các vật thể.
Thời gian là phạm trù triết học chỉ hình thức tồn tại của vật chất xét về độ dài diễn biến, sự kế tiếp của các quá trình.
Ăngghen viết:” Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì
cũng hết sức vô lý như tồn tại ngoài không gian”. Như vậy, vật chất, không gian, thời gian không tách rời
nhau; không có vật chất tồn tại ngoài không gian và thời gian; cũng không có không gian, thời gian tồn tại
ngoài vật chất vận động.
Là những hình thức tồn tại của vật chất, không tách khỏi vật chất nên không gian, thời gian có những tính
chất chung như những tính chất của vật chất, đó là tính khách quan, tính vĩnh cửu, tính vô tận và vô hạn.
Ngoài ra, không gian có thuộc tính ba chiều còn thời gian chỉ có một chiều. tính ba chiều của không gian
và một chiều của thời gian biểu hiện hình thức tồn tại về quảng tính và quá trình diễn biến của vật chất vận động.
Câu 2: Nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức và môi quan hệ giữa vật chất và ý thức.
1.1. Nguồn gốc của ý thức.
1.1.1. Quan niệm trước Mác về ý thức.
Cũng như vật chất, ý thức là trọng tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật
trong lịch sử triết học. Trên lập trường duy vật, ngay từ thời cổ đại, các triết gia duy vật đã tìm cách lí giải
về hiện tượng này, cách lí giải vô cùng thô sơ, mộc mạc, chẳng hạn, ý thức – linh hồn con người cũng là
do lửa (theo Hẻaclit), hay do nguyên tử đặc biệt cấu thành (theo Đêmocrit). Chủ nghĩa duy tâm xuyên
suốt từ thời cổ đại đến hiện đại đều “kiên định” một quan niệm về ý thức có trước con người, về những ý
thức bẩm sinh có trong đầu óc,..
1.1.2. Quan niệm duy vật biện chứng.
1.1.2.1. Nguồn gốc tự nhiên
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức được thể hiện qua sự hình thành của bộ óc con người và hoạt động của bộ
óc đó cùng với mối quan hệ của con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác
động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh sáng tạo, năng động.
Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kết
quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc. Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc
càng có hiệu quả, ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc.
Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo:
Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan là quan hệ tất yếu ngay từ khi con người xuất hiện.
Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan, thông qua hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ
óc người, hình thành nên quá trình phản ánh.
1.1.2.2. Nguồn gốc xã hội
Nguồn gốc tự nhiên mới là những tiền đề cần thiết ( điều kiện cần ) cho sự ra đời của ý thức là những tiền
đề, yếu tố xã hội, đó là lao động.
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào thế giới tự nhiên nhằm thay đổi giới tự
nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi
giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên. Đây cũng là quá trình làm thay đổi cấu trúc
cơ thể, đem lại dáng đi thẳng bằng hai chân, giải phóng hai tay, phát triển khí quan, phát triển bộ não, ...
của con người. Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm cho thế giới
khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của nó, biểu hiện thành
những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được. Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt
động của các giác quan, tác động vào bộ óc người, thông qua hoạt động của bộ não người, tạo ra khả năng
hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói chung.
Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trình lao động.
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ, ý
thức không thể tồn tại và thể hiện.
Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động. Lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể. Mối quan hệ
giữa các thành viên trong lao động nảy sinh ở họ nhu cầu phải có phương tiện để biểu đạt. Nhu cầu này
làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá trình lao động. Nhờ ngôn ngữ con người đã không chỉ
giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư
tưởng từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Như vậy, nguồn gốc trự tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động. Sau
lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai chất kích thích chủ yếu làm cho bộ óc vượn dần
dần chuyển hóa thành bộ óc người, khiễn cho tâm lý động vật dần chuyển hóa thành ý thức. ng và ngôn ngữ.
1.2. Bản chất của ý thức.
Dựa trên lý luận phản ánh, chủ nghĩa duy vật biện chứng quan niệm bản chất của ý thức là sự phản ánh
hiện thực khách quan một cách năng động sáng tạo bởi bộ óc người.
Bản chất của ý thức được hiểu trên các nội dung sau:
Thứ nhất, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan. Ý thức là sự phản ánh, là cái phản ánh; thế giới vật
chất khách quan là cái được phản ánh. Như vậy, thế giới khách quan như thế nào sẽ được ý thức “chép lại,
chụp lại” như thế, hay nói cách khác, nội dung của ý thức là phụ thuộc vào thế giới khách quan, do thế
giới khách quan quy định. Thế giới khách quan là cái có trước và quyết định sự ra đời cũng như nội dung của ý thức.
Thứ hai, phản ánh ý thức là phản ánh năng động, sáng tạo đối với thế giới khách quan. Phản ánh của ý
thức là loại phản ánh đặc biệt, diễn ra trong quá trình con người lao động, cải tạo thế giới. Tinh năng
động, sáng tạo phản ánh ý thức được hiểu: một là, đây là sự phản ánh chủ động, tích cực, tự giác, có mục
đích của con người đối với thế giới, khác với sư phản ánh có tính chấ bản năng, thụ động của động vật;
hai là, phản ánh ý thức là phản ánh có chọn lọc đối với thế giới, lựa chọn phản ánh, “chép lại” những gì
có ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn của mình; ba là, phản ánh ý thức có tính sáng tạo, trên cơ sở những
cái đã có, ý thức có thể tạo ra những tri thức mới về sự vật , có thể tưởng tưởng ra nhũng cái không có
trong thực tế, có thể tiên đoán, dự báo tương lai.
Thứ ba, ý thức là một hiện tượng xã hội, ngay từ đầu đã là một sản phẩm xã hội. Như C. Mác đã khẳng
định :”ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”.
1.3. Kết cấu của ý thức.
1.3.1. Kết cấu của ý thức theo lát cắt ngang. 1.3.1.1. Tri thức.
Là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới . Ý thức của con người bao giờ cũng đều có nội
dung tri thức ở mức độ nhất định. Ý thức mà không bao hàm tri thức, không dựa vào tri thức thì đó là sự
trừu tượng trống rỗng.
Tri thức là nội dung căn bản, cốt lõi và quy định mọi thành tố khác của ý thức. 1.3.1.2. Tình cảm
Là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong ý thức. Tình cảm phản ánh mối quan hệ giữa người với người và
quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, là sự khái quát những cảm xúc của con người trong các
mối quan hệ đó. Tình cảm trở thành yếu tố phát huy sức mạnh và là động lực quan trọng trong hoạt động của con người. 1.3.1.3. Ý chí
Là một yếu tố quan trọng của ý thức. Ý chí là sự biểu hiện sức mạnh của mỗi người nhằm vượt qua những
khó khăn, cản trở trong quá trình thực hiện mục đích của mình. Ý chí thể hiện sự tự đấu tranh với chính
mình và ngoại cảnh để thực hiện được mục đích đã chọn. Ý chí có tác dụng điều khiển, điều chỉnh hành
vi, giúp con người làm chủ bản thân và quyết đoán trong hành động theo quan điểm của mình.
1.3.2. Kết cấu ý thức theo lát cắt dọc.
Theo chiều sâu của thế giới nội tâm con người , có các hình thức của ý thức như tự ý thức, vô thức, tiềm thức.
1.3.2.1. Tự ý thức
Trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh, con người cũng tự nhận thức bản thân mình. Tự ý thức là
ý thức về chính bản thân mình. Trình độ tự ý thức biểu hiện trình độ phát triển của cá nhân và xã hội,
trình độ phát triển của nhân cách, trình độ làm chủ bản thân. Gắn với tự ý thức là khả năng tự điều chỉnh
bản thân theo những yêu cầu, chuẩn mực chung của xã hội. Tự ý thức, do đó có vai trò rất quan trọng
trong quá trình hoạt động của con người. 1.3.2.2. Vô thức
Là những hiện tượng tâm lí không phải do lí trí điều khiển, có những hành vi do bản năng chi phối hoặc
do những động tác được lặp đi lặp lại nhiều lần trở thành thói quen tới mức chúng có thể tự động xảy ra
ngay cả khi không có sự chỉ đạo của lí trí. Vô thức có chức năng giải tỏa những ức chế trong hoạt động
tinh thần của con người nhất là những ham muốn bản năng có thể không được phép bộc lộ và thực hiện
trong đời sống cộng đồng. Như vậy, trên một mức độ nhất định, vô thức góp phần đảm bảo cho hoạt đọng
tinh thần của con người luôn trong trạng thái cân bằng, hài hòa, tránh những trạng thái căng thẳng không cần thiết.
Mặt khác, không nên hiểu vô thức là hiện tượng tâm lí hoàn toàn tách biệt với ý thức và điều kiện xã hội.
Vô thức cũng là hiện tượng tâm lí của con người có ý thức và cũng bị quy định bởi hoàn cảnh sống, bị chi
phối, điều khiển bởi ý thức, cho dù có ý thức được về điều đó hay không. 1.3.2.3. Tiềm thức
Là những hoạt động tâm lí tự động diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của chủ thể. Nghĩa là tiềm thức cũng tự
động xảy ra khi không có sự kiểm soát, kiểm tra, tính toán của lí trí. Nhưng khác với vô thức, tiềm thức là
những tri thức mà chủ thể đã có từ trước, trở thành bản năng, kĩ năng nằm trong tầng sâu của ý thức chủ thể.
Tiềm thức cũng có vai trò quan trọng , có thể làm giảm sự quá tải của đầu óc trong quá trình nhận thức và
hoạt động khoa học của con người.
1.4. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.
1.4.1. Vật chất quyết định ý thức.
Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất trong mối quan hệ với ý thức có vai trò quyết định.
Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng, được xem là nguyên tắc xuất phát điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được hiểu trên những nội dung:
Thứ nhất, vật chất là nguồn gốc sinh ra ý thức. Nếu không có các yếu tố như bộ óc người, thế giới khách
quan tác động vào bộ óc người, hoạt động lao động, cơ chế phản ánh, ngôn ngữ thì ý thức không được hình thành.
Thứ hai, vật chất quy định nội dung, bản chất của ý thức. Ý thức là sự tự phản ánh của vật chất, vì thế
điều kiện vật chất, hoàn cảnh sinh sống, các mối quan hệ xã hội...của con người đều được phản ánh, đều
được chép lại, chụp lại trong ý thức, nghĩa là điều kiện vật chất quy định nội dung và bản chất của ý thức.
Thứ ba, vật chất không chỉ quy định nội dung mà còn quy định cả hình thức biểu hiện cũng như sự thay
đổi, biến đổi, phát triển của ý thức.
Ý thức luôn là cái phản ánh nên nó do cái bị phản ánh quy định, khi cái bị phản ánh thay đổi thì đương
nhiên kéo theo sự thay đổi của cái phản ánh.
1.4.2. Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất.
Sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập tương đối, có tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt
động thực tiễn của con người. Vai trò tác động trở lại của ý thức thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, ý thức có thể làm biến đổi hiện thực vật chất khách quan để phục vụ cho nhu cầu của con
người. Trong thực tế, con người không thỏa mã với thiên nhiên vốn có, bằng ý thức của mình, thông qua
hoạt động thực tiễn, con người đã cải tạo, chinh phục giới tự nhiên, tạo ra một thiên nhiênthuws hai, thứ
ba,...để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của mình.
Thứ hai, khi nói đến vai trò của ý thức cần phải hiều rằng về thực chất, đó là vai trò của con người. Ý
thức đó phải được trở thành mục đích, kế hoạch, chủ trương, biện pháp,... cho hoạt động của con người,
tiếp đó, thông qua các lực lượng thực tiễn, ý thức mới được cải biến được hiện thực.
Thứ ba, sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất là vô cùng to lớn, nhưng có thể diễn ra theo hai khả
năng: ý thức, tư tưởng tiến tiến, phản ánh đúng quy luật khách quan sẽ thúc đẩy sự phát triển của hiện
thực vật chất và ngược lại, ý thức tư tưởng lạc hậu, lỗi thời, phản ánh không đúng quy luật khách quánex
kìm hãm sự phát triển của hiện thực vật chất.
Câu 3: Trình bày nguyên lí về mối liên hệ phổ biến, nguyên lí về sự phát triển. Ý nghĩa rút ra từ hai nguyên lí này?
1.1. Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến.
Trong thế giới có vô vàn sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác nhau. Vậy giữa chúng có mỗi liên
hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng có mối liên
hệ qua lại thì cái gì quy định mối liên hệ đó?
Về mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng trong thế giới, đã có nhiều quan điểm triết học khác nhau bàn
đến. Điều này sẽ được làm rõ hơn thông qua việc tìm hiểu khái quát về mối liên hệ.
1.1.1. Khái quát về mối liên hệ
Nhiều người theo quan niệm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái
này tồn tại bên cạnh cái kia. NHững người theo chủ nghĩa duy tâm cho rằng cái quy định mối liên hệ, sự
chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng là một lực lượng siêu nhiên hay do ý thức, cảm giác của
con người. Trái lại, những người theo quan điểm biện chứng cho rằng các sự vật, hiện tượng và các quá
trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau.
1.1.2. Các tính chất của mối liên hệ 1.1.2.1. Tính khách quan
Sự vật hiện tượng trong thế giới tồn tại khách quan nên mối liên hệ giữa chúng cũng tồn tại khách quan,
nghĩa là mối liên hệ là cái vốn có của sự vật hiện tượng.
1.1.2.2. Tính phổ biến
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật hiện tượng khác. Tính phổ biến còn thể hiện ở
không những các sự vật liên hệ với nhau mà các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật cũng nằm trong mối liên hệ với nhau.
1.1.2.3. Tính đa dạng
Tính đa dạng của mối liên hệ do tính đa dạng của thế giới quy định. Thế giới vật chất có vô vàn các dạng
vật chất khác nhau vì vậy, chúng nằm chằng chịt các mối liên hệ và mỗi sự vật hiện tượng trong mỗi lĩnh
vực cụ thể, trong những không gian và thời gian cụ thể, trong những không gian, thời gian cụ thể, qua
từng giai đoạn phát triển nhất định, mối liên hệ của chúng có biểu hiện không giống nhau.
1.1.3. Phân loại mối liên hệ
Dựa vào tính đa dạng đó có thể phân chia ra các mối liên hệ khác nhau theo từng cặp: mối liên hệ bên
trong và mối liên hệ bên ngoài.
Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định, sự chuyển hóa lẫn nhau của các yếu tố, các
thuộc tính, các mặt của một sự vật. Mối liên hệ bên trong quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật.
Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Mối liên hệ này không giữ vai trò quyết
định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật. Nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới có thể tác
động đến sự tồn tại, sự vận động và phát triển của sự vật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mối liên hệ
bên ngoài cũng giữ vai trò hết sức quan trọng và trong những điều kiện nhất định có thể giữ vai trò quyết định.
1.1.4. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ nguyên lí mối liên hệ phổ biến.
1.1.4.1. Quan điểm toàn diện
Khi xem xét sự vật hiện tượng phải xem xét các mặt , các mối liên hệ của nó và phải biết được đâu là mối
liên hệ cơ bản chủ yếu để từ đó nắm được bản chất của sự vật, đòi hỏi tránh quan điểm chiết trung, ngụy biện
1.1.4.2. Quan điểm lịch sử cụ thể
Bất cứ sự vật nào cũng đều được sinh ra, tồn tại và phát triển trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ
thể nên khi nhận thức và tác động vào sự vật, phải chú ý đến điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể
1.2. Nguyên lý về sự phát triển.
1.2.1. Khái quát về sự phát triển
Quan niệm siêu hình cho rằng phát triển là sự tăng lên hay giảm đi thuần túy về lượng, không có sự thay
đổi về chất. Họ coi sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục , không có những bước quanh co, thăng trầm và phức tạp.
Một số nhà triết học có quan điểm duy tâm và tôn giáo cũng thừa nhận sự phát triển nhưng họ không tìm
được đúng nguồn gốc của sự phát triển mà lại tìm nguyên nhân ở tinh thần, cho rằng nguồn gốc của phát
triển là do các lực lượng siêu nhiên hay ở ý thức, cảm giác chủ quan của con người.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động
tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.
1.2.2. Tính chất của sự phát triển
1.2.2.1. Tính khách quan
Nghĩa là nguồn gốc phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, đó là do sự đấu tranh của các mặt đối lập
trong bản thân sự vật chứ không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người hay một lực lượng siêu nhiên thần bí nào.
1.2.2.2. Tính phổ biến
Nghĩa là mọi sự vật hiện tượng trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người đều nằm trong
khuynh hướng phát triển, không có sự vật tồn tại trong trạng thái tuyệt đối tĩnh tại
1.2.2.3. Tính đa dạng
Mỗi sự vật hiện tượng ở từng lĩnh vực cụ thể, trong tự nhiên xã hội và tư duy qua từng giai đoạn thì sự
phát triển diễn ra một cách khác nhau. Các sự vật hiện tượng có cấu trúc không giống nhau, tồn tại và
chịu sự tác động của những điều kiện hoàn cảnh khác nhau nên sự phát triển của chúng cũng không giống nhau.
1.2.2.4. Tính kế thừa & Tính phức tạp
1.2.3. Nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ nguyên lí về sự phát triển
Nguyên lí về sự phát triển là cơ sở lí luận của quan điẻm phát triển. Quan điểm này đòi hỏi trong nhận
thức và trong hoạt động thực tiễn, cần chú ý những nội dung sau:
Khi xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong sự vận động, phát triển, vạch ra xu
hướng biến đổi, chuyển hóa chúng.
Quan điểm phát triển không chỉ đòi hỏi nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật, mà còn phải thấy rõ
khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, góp phần chống chủ nghĩa duy ý chí, khắc phục tư
tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Câu 4: Trình bày quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại.
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại chỉ ra
cách thức của sự phát triển của các sự vật.
1.1. Khái niệm chất và lượng.
1.1.1. Khái niệm chất.
Theo quan điểm điểm duy vật biện chứng , chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn
có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải cái khác.
Quan hệ giữa chất và thuộc tính của sự vật: Chất của sự vật là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính,
còn thuộc tính của sự vật là những tính chất, những trạng thái, những yếu tố cấu thành sự vật. Sự vật
không những có một chất mà có vô vàn chất. Và “không có chất lượng tồn tại thuần túy ngoài sự vật mà
chỉ có sự vật có chất lượng hơn nữa, có vô vàn chất lượng mới tồn tại”.
Quan hệ giữa chất và kết cấu của sự vật: Chất của sự vật không những được xác định bởi các yếu tố cấu
thành mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật (kết cấu sự vật). Trong thế giới,
có nhiều sự vật được cấu tạo bởi các yếu tố giống nhau nhưng do kết cấu khác nhau lại tạo thành hai sự vật khác nhau.
1.1.2. Khái niệm lượng.
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng , khối lượng,
quy mô, trình độ, nhịp điệu,... của sự vận động phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó.
Lượng là cái vốn có của sự vật của sự vật, lượng bao giờ cũng là lượng của một chất xác định, khôngcos
lượng thuần túy tồn tại bên trong ngoài chất. Lượng cũng có tính khách quan như chất.
1.2. Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất.
Làm rõ mối quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất thực chất là trình bày, phân
tích mối quan hệ biện chứng hay quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những
sự thay đổi về chất và ngược lại.
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là quy
luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội
và tư duy. Theo quy luật này, phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển là: những sự thay
đổi về chất của sự vật, hiện tượng có cơ sở tất yếu từ những sự thay đôi về lượng của sự vật, hiện tượng
và ngược lại, những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng lại tạo ra những biến đổi mới về lượng của
sự vật, hiện tượng trên các phương diện khác nhau. Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan, phổ biến, lặp đi
lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thuộc mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
1.2.1. Lượng đổi dẫn đến chất đổi
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cùng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng. Hai mặt đó không
tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự
chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên, không phải sự thay đổi về lượng bất kỳ nào
cũng dẫn đển sự thay đổi về chất. Ở một giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sự thay
đổi về chất. Giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ.
Khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới hạn mà trong
đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, trong giới hạn của
độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó, chưa chuyển hóa thành sự vật và hiện tượng khác.
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi về lượng. Khi lượng thay đổi
đền một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn đến những sự thay đổi về chất. Giới hạn đó chính là điểm nút.
Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điếm nút, với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của
chất mới. Đây chính là bước nhảy trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng. Sự thay đổi về chất
diễn ra với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau, được quyết định bởi mâu thuẫn, tính chất và điều kiện
của mỗi sự vật. Đó là các bước nhảy: nhanh và chậm, lớn và nhỏ, cục bộ và toàn bộ, tự phát và tự giác, V.V..
Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển; đồng thời, đó cũng là điểm khởi đầu cho một
giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động, phát triển liên tục của sự vật, hiện tượng. Trong
thế giới luôn luôn diễn ra quá trình biến đổi tuần tự về lượng dẫn đến bước nhảy về chất, tạo ra một
đường nút vô tận. thể hiện cách thức vận động và phát triển cùa sự vật từ thấp đến cao. Ph.Ăngghen khái
quát tính tất yếu này: “Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định sẽ chuyển hóa
thành những sự khác nhau về chất”.
Từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất
Chất và lượng là 2 mặt đối lập, chất tương đối ổn định còn lượng thường xuyên biến đổi xong hai mặt
đó không thể tách rời nhau mà tác động qua lại với nhau một cách biện chứng sự thống nhất giữa chất
và lượng trong một độ nhất định khi sự vật đang tồn tại.
– Độ: Là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm căn bản về chất của sự vật.
Ví dụ về độ: Người sống lâu nhất thế giới từng được biết đến có tuổi thọ 146 tuổi. Nên với dữ kiện này, ta
có thể thấy giới hạn từ 0 – 146 năm là “độ” của con người xét về mặt tuổi. Diễn đạt một cách chính xác
hơn: Sự thống nhất giữa trạng thái còn sống và số tuổi từ 0 – 146 là “độ tồn tại” của con người. (Thuật
ngữ “độ tuổi” mà chúng ta hay dùng cũng ít nhiều liên quan ở đây).
– Điểm nút: Là giới hạn mà tại đó bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng đưa ngay tới sự thay đổi về chất của sự vật.
Ví dụ về điểm nút: Ở những ví dụ đã nêu trên, 0 độ C, 100 độ C, 146 tuổi là những điểm nút.
– Bước nhảy: Dùng để chí sự chuyển hóa về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra.
Ví dụ về bước nhảy: Sự chuyển hóa từ nước lỏng thành hơi nước là một bước nhảy. Có bước nhảy này là
do nước lỏng có sự thay đổi về nhiệt độ và đạt đến 100 độ C.
Các hình thức của bước nhảy:
Bước nhảy đột biến: Là bước nhảy làm thay đổi căn bản về chất nhanh chóng ở
tất cả các bộ phận cấu thành sự vật.
Bước nhảy dần dần: là quá trình thay đổi về chất diễn ra trong thời gian dài.
Bước nhảy toàn bộ: làm thay đổi căn bản về chất của sự vật ở tất cả các mặt các
bộ phận các yếu tố cấu thành nên sự vật.
Bước nhảy cục bộ: là bước nhảy làm thay đổi một số yếu tố 1 số bộ phận của sự vật.
1.2.2. Sự ảnh hưởng của chất mới đến lượng mới
Khi chất mới ra đời lại có sự tác động trở lại lượng của sự vật. Chất mới tác động tới lượng của sự vật,
hiện tượng trên nhiều phương diện: làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động,
phát triển của sự vật, hiện tượng.
Sự thay đổi về chất tác động sự thay đổi về lượng:
Chất mới của sự vật chỉ xuất hiện khi sự thay đổi về lượng đạt đến điểm nút khi sự vật mới ra đời với chất
mới lại có một lượng mới phù hợp tạo nên sự thống nhất mới giữa chất và lượng, sự tác động của chất
mới đối với lượng mới được biểu hiện ở quy mô tồn tại nhịp điệu sự vận động.
Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất vả lượng. Sự
thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút lất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy;
đồng thời, chất mới sẽ tác động trở lại lượng, tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện
tượng. Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phương thức cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động,
phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
1.3.1. Ý nghĩa phương pháp luận
– Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích lũy dần dần về lượng đến một
giới hạn nhất định thực hiện bước nhảy chuyển hóa về chất do đó trong hoạt động thực tiễn về nhận thức
chúng ta từng bước tích lũy về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật tránh tư tưởng chủ quan nóng
vội đốt cháy giai đoạn.
– Phải nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất
và ngược lại tránh tư tưởng tả khuynh và hữu khuynh.
– Cần có thái độ khách quan khoa học và quyết tâm thực hiện các bước nhảy khi có đầy đủ các điều kiện.
Câu 5: Trình bày quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát
triển, được coi là hạt nhân của phép biện chứng. 1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm mặt đối lập
Bất kỳ sự vật hiện tượng nào trên thế giới đều mang tính phân cực, nó chứa đựng những mặt trái ngược
nhau. Sự vật nào cũng là thể thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.
Mặt đối lập là những mặt, những yếu tố, những thuộc tính, những bộ phận có đặc điểm, hoặc có khuynh
hướng vận động, biến đổi trái ngược nhau tồn tại trong cùng một sự vật hay hệ thống sự vật, tác động qua
lại với nhau tạo nên sự vận động và biến đổi của sự vật.
Ví dụ: điện tích âm và điện tích dương trong một nguyên tử; đồng hóa và dị hóa trong một cơ thể,..
Sự tồn tại của các mặt đối lập là khách quan và phổ biến trong tất cả các sự vật.
1.1.2. Khái niệm mâu thuẫn biện chứng
Chính những mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại với nhau tạo nên mâu thuẫn biện chứng.
Mâu thuẫn biện chứng là mâu thuẫn trong đó bao hàm sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
Các mặt đối lập liên hệ với nhau, thâm nhập vào nhau, tác động qua lại với nhau làm tiền đề tồn tại cho
nhau nhưng có khuynh hướng làm bài trừ, phủ định lẫn nhau.
Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan ở trong bản thân các sự vật, các quá trình và có thể
bộc lộ ra dưới hình thức hữu hình
1.1.3. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập.
Theo Ăngghen:”hai mặt đối lập không cùng tồn tại ngoài nhau mà thâm nhập vào nhau, chuyển hóa lẫn
nhau. Sự phân chia giữa các mặt đối lập chỉ là tương đối. Ph.Ăngghen chứng minh luận điểm này bằng
những ví dụ toán học như mối quan hệ đường thẳng với đường cong, giữa vi phân và tích phân,..
Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, ràng buộc lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho
nhau, không có mặt này thì không có mặt kia và ngược lại.
1.1.4. Sự đấu tranh của các mặt đối lập
Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại, xâm nhập vào nhau theo xu hướng bài trừ và phủ
định lẫn nhau giữa các mặt đó.
Lenin khẳng định:’’ sự đấu tranh của các mặt bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển , sự vận động là tuyệt đối”.
1.1.5. Sự chuyển hóa của các mặt đối lập.
Sự chuyển hóa của các mặt đối lập là những mâu thuẫn của sự vật đã được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự
vật mới đối với những mặt đối lập và mâu thuẫn biện chứng mới.
1.2. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Trong quá trình vận động phát triển của sự vật, thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời
nhau. Sự thống nhất gắn liền với đứng im, với trạng thái ổn định tương đối của sự vật. Còn đấu tranh gắn
liền với tính tuyệt đối của sự vận động phát triển. Điều đó nghĩa là: sự thống nhất của các mặt đối lập là
tương đối, còn sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối. Lenin khẳng định: sự thống nhất là có điều
kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối còn sự đấu tranh của các mặt là tuyệt đối.
Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập làm cho các mặt đang tác
động đó cũng biến đổi và làm cho mâu thuẫn phát triển. Lenin khẳng định sự phát triển là một cuộc đấu
tranh giữa các mặt đối lập. Do vậy, mâu thuẫn chính là nguồn gốc, động lực của sự vận động phát triển.
1.3. Phân loại mâu thuẫn.
Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập, có thể chia thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
1.3.1. Mâu thuẫn bên trong và mẫu thuẫn bên ngoài.
Mâu thuẫn bên trong: Là sự liên hệ, tác động qua lại của các mặt đối lập ở trong lòng bản thân sự vật,
hiện tượng. Ví dụ, đồng hóa và dị hóa bên trong cơ thể động vật,..
Mâu thuẫn bên ngoài: là mâu thuẫn giữa các sự vật, hiện tượng với nhau. Ví dụ mâu thuẫn giữa cơ thể
sinh vật với môi trườg. ( tiếp ở trang 97 giáo trình)
1.4. Ý nghĩa phương pháp luận.(trang 100 giáo trình)
Câu 6: Trình bày quy luật phủ định của phủ định.
Trong phép biện chứng duy vật, quy luật phủ định của phủ định là một trong những quy luật cốt lõi,
giúp chúng ta hiểu rõ quá trình phát triển và chuyển hóa không ngừng của sự vật, hiện tượng trong thế
giới tự nhiên và xã hội. Quy luật này không chỉ mô tả sự thay đổi bề ngoài của sự vật mà còn là quá trình
phát triển sâu sắc về chất, phản ánh sự tiến hóa, đi từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp.
I. Khái Niệm Phủ Định và Phủ Định Của Phủ Định
1. Khái niệm phủ định: o
Phủ định là quá trình thay đổi, chuyển hóa của sự vật, hiện tượng từ trạng thái cũ sang
trạng thái mới. Tuy nhiên, sự phủ định không phải là sự hủy diệt hoàn toàn, mà là sự loại
bỏ những yếu tố không còn phù hợp và đồng thời phát triển những yếu tố tích cực, tiến
bộ. Phủ định không làm mất đi tất cả các yếu tố của sự vật cũ mà chỉ thay đổi hình thức,
cấu trúc và bản chất của nó. o
Quá trình này giúp sự vật trở nên mới mẻ, phù hợp hơn với yêu cầu của thời đại.
2. Phủ định của phủ định: o
Phủ định của phủ định là sự phủ định xảy ra sau khi sự vật đã bị phủ định một lần. Tuy
nhiên, điều này không có nghĩa là sự vật sẽ quay trở lại trạng thái ban đầu mà là sự phát
triển của nó lên một cấp độ mới, cao hơn. o
Quy luật phủ định của phủ định không chỉ dừng lại ở một lần thay đổi mà là một chu
trình phát triển liên tục, tuần hoàn. Mỗi lần phủ định lại đưa sự vật đến một trạng thái
mới, tiến bộ hơn, có chất lượng cao hơn.
II. Đặc Điểm Của Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định 1. Tính kế thừa: o
Mỗi lần phủ định tạo ra sự thay đổi, nhưng sự thay đổi này luôn có tính kế thừa. Điều này
có nghĩa là không phải tất cả những yếu tố của sự vật cũ đều bị loại bỏ mà chỉ có những
yếu tố lạc hậu, không còn phù hợp mới bị loại trừ, còn những yếu tố tích cực và tiến bộ sẽ
được giữ lại và phát triển. o
Sự kế thừa trong quá trình phát triển là rất quan trọng, vì nó đảm bảo sự liên tục và ổn
định trong quá trình thay đổi. Mỗi lần phủ định sẽ góp phần tạo ra một sự vật mới, nhưng
không hoàn toàn khác biệt, mà vẫn giữ lại những gì tốt đẹp từ sự vật trước đó.
2. Tính chu kỳ và tuần hoàn: o
Quy luật phủ định của phủ định diễn ra theo chu kỳ, tuần hoàn. Sau mỗi lần phủ định, sự
vật sẽ có những thay đổi căn bản, nhưng sẽ tiếp tục phải đối mặt với những yếu tố mới,
khiến chúng phải tiếp tục trải qua quá trình phủ định tiếp theo. o
Điều này có nghĩa là sự vật không bao giờ dừng lại ở một điểm nhất định mà luôn tiến về
phía trước, không ngừng phát triển. Quá trình phủ định này giống như một chuỗi các giai
đoạn thay đổi có tính kế thừa, phản ánh sự phát triển liên tục của sự vật.
3. Tính tiến bộ và phát triển: o
Mỗi lần phủ định của phủ định không chỉ là sự thay đổi về hình thức mà còn là sự phát
triển về chất. Khi sự vật bị phủ định lần đầu, nó có thể trải qua một sự thay đổi về cấu
trúc, bản chất. Tuy nhiên, sau khi trải qua phủ định của phủ định, sự vật sẽ phát triển lên
một cấp độ cao hơn, hoàn thiện hơn. o
Phủ định của phủ định không chỉ dẫn đến sự thay đổi mà còn mang lại sự tiến bộ, mở
rộng sự hiểu biết và khả năng của con người đối với sự vật, hiện tượng.
III. Mối Quan Hệ Giữa Phủ Định và Phủ Định Của Phủ Định
1. Mối quan hệ giữa phủ định và sự phát triển: o
Phủ định và phủ định của phủ định là những giai đoạn liên tiếp trong quá trình phát triển
của sự vật. Phủ định là sự thay đổi, chuyển hóa từ trạng thái cũ sang trạng thái mới. Tuy
nhiên, sự thay đổi này không phải là sự quay lại trạng thái ban đầu mà là sự phát triển
theo chiều hướng tiến bộ. o
Phủ định của phủ định chính là quá trình chuyển hóa, phát triển mới, giúp sự vật đi từ
trạng thái này sang trạng thái khác với chất lượng cao hơn, giúp sự vật trở nên hoàn thiện và tiến bộ hơn.
2. Mối quan hệ giữa phủ định và phủ định của phủ định: o
Sau mỗi lần phủ định, sự vật sẽ phải trải qua các giai đoạn tiếp theo của sự thay đổi, gọi
là phủ định của phủ định. Mỗi lần phủ định tiếp theo không phải là sự quay lại với trạng
thái cũ mà là sự phát triển, nâng cao chất lượng sự vật lên một mức độ mới. o
Điều này phản ánh một quy luật cơ bản trong sự phát triển của các sự vật, hiện tượng: sự
phát triển không bao giờ đi lùi mà luôn đi lên, hoàn thiện hơn qua mỗi lần phủ định. IV. Ví Dụ Minh Họa
1. Trong lịch sử cách mạng: o
Một ví dụ điển hình về quy luật phủ định của phủ định là trong lịch sử cách mạng. Chế
độ phong kiến ở Pháp bị lật đổ trong cuộc Cách mạng Pháp 1789, đây là một sự phủ định
lớn của xã hội cũ. Tuy nhiên, xã hội mới cũng không thể ổn định mãi mà phải trải qua các
cuộc cách mạng khác (như cách mạng 1830 và 1848), mỗi lần như vậy lại tiếp tục phủ
định một phần trật tự cũ, tiến đến một xã hội mới tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn. o
Quy trình này thể hiện rõ ràng sự phát triển liên tục của xã hội, không dừng lại mà luôn tiến lên. 2. Trong khoa học: o
Trong khoa học, quy luật phủ định của phủ định cũng được thể hiện qua sự phát triển của
các lý thuyết khoa học. Lý thuyết cơ học cổ điển của Newton bị phủ định bởi lý thuyết
tương đối của Einstein và cơ học lượng tử. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là lý
thuyết cơ học của Newton bị hủy bỏ hoàn toàn mà nó được bổ sung và mở rộng bởi các
lý thuyết mới, giúp giải thích các hiện tượng mà lý thuyết cũ không thể giải quyết được. o
Quy trình này cho thấy rằng sự phủ định của lý thuyết cũ đã mở đường cho sự phát triển
khoa học, dẫn đến những khám phá và hiểu biết mới mẻ hơn.
V. Tính Liên Tục và Phát Triển Của Quy Luật
Quy luật phủ định của phủ định không chỉ là một sự kiện duy nhất mà là một quá trình liên tục, không
ngừng nghỉ. Mỗi lần phủ định tạo ra sự thay đổi, nhưng không bao giờ đưa sự vật quay trở lại trạng thái
ban đầu. Thay vào đó, sự phủ định của phủ định luôn dẫn đến một sự phát triển mới, một sự tiến bộ mới,
giúp sự vật, hiện tượng trở nên hoàn thiện hơn.
Quá trình phủ định của phủ định diễn ra theo chu kỳ, trong đó mỗi lần thay đổi sẽ giúp sự vật phát triển
mạnh mẽ hơn. Điều này có nghĩa là sự phát triển không chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn mà là một
quá trình liên tục, không bao giờ dừng lại.
VI. Ý nghĩa phương pháp luận.
Trong hoạt động của mình, chúng ta phải biết phát hiện cái mới, tích cực và ủng hộ nó. Khi mới ra đời cái
mới luôn còn yếu ớt, ít ỏi, vì vậy, chúng ta phải ra sức bồi dưỡng, tạo điều kiện cho nó phát triển.
Tránh thái độ phủ định sạch trơn cái cũ, phủ định hoàn toàn quá khứ, phải biết kế thừa có chọn lọc những
cái vốn là tinh hoa của cái cũ, sử dụng chúng như là tiền đề của sự nảy sinh cái mới tiến bộ hơn, kế thừa
những nhân tố tích cực của cái cũ và sửa đổi cho phù hợp với điều kiện mới. Ví dụ: những giá trị truyền
thống mà dân tộc ta đã bao thế hệ gây dựng nên thì thế hệ đi sau phải biết trân trọng, gìn giữ, kế thừa
trong xã hội đương đại.
Bên cạnh đó, chúng ta phải tránh thái độ bảo thủ, khư khư giữ lại cái lỗi thời, lạc hậu, cản trở sự phát triển
của lịch sử. Điều này rất có ý nghĩa, đặc biệt là trong công tác giáo dục tư tưởng nhằm loại bỏ những hủ
tục lạc hậu, mê tín dị đoan. VI. Kết Luận
Quy luật phủ định của phủ định là một quy luật biện chứng quan trọng trong việc hiểu về sự phát triển của
sự vật và hiện tượng. Quá trình phát triển này không phải là sự thay thế hoàn toàn mà là sự chuyển hóa,
phát triển không ngừng, đi từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp hơn. Quy luật này khẳng định rằng
sự vật, hiện tượng không bao giờ dừng lại ở một điểm mà luôn tiến về phía trước, phát triển và hoàn
thiện. Sự phủ định của phủ định tạo ra những thay đổi sâu sắc, giúp thế giới tự nhiên và xã hội không
ngừng tiến bộ, phát triển bền vững.
Câu 7: Trình bày cặp phạm trù cái chung, cái riêng, hai cặp phạm trù nguyên nhân kết quả.
Trong tư duy và nghiên cứu khoa học, việc hiểu rõ các khái niệm trừu tượng là rất quan trọng. Hai cặp
khái niệm nổi bật, “Cái chung - Cái riêng” và “Nguyên nhân - Kết quả”, không chỉ giúp định hướng trong
việc phân tích các vấn đề phức tạp, mà còn đóng vai trò nền tảng trong lý luận triết học, khoa học tự
nhiên và khoa học xã hội. Việc tìm hiểu bản chất của chúng và mối quan hệ giữa chúng sẽ giúp chúng ta
có cái nhìn sâu sắc hơn về thế giới xung quanh.
1.1. Cái chung và cái riêng. 1.1.1. Khái niệm.
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.
Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung mà không những có
một kết cấu vật chất nhất định mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
Cái đơn nhất là phạm trù dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ có một kết cấu vật chất
và không được lặp lại ở bất cứ một kết cấu vật chất nào khác. 1.1.2.
Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng, cái chung, và cái đơn nhất.
Trước triết học Mác, trong lịch sử triết học đã có những quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa cái
chung và cái riêng. Phái duy thực cho rằng cái riêng chỉ tồn tại tạm thời, thoáng qua, không phải tồn tại
vĩnh viễn, thực sự. Cái chung không phụ thuộc vào cái riêng mà còn sinh ra cái riêng. Phái Duy danh lại
cho rằng chỉ cái riêng tồn tại thực sự, còn cái chung là những tên gọi trống rỗng,..
Theo quan điểm duy vật biện chứng thì cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa
chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau, thể hiện ở nội dung sau:
Thứ nhất là, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện tồn tại của mình, nghĩa
là không có cái chung thuần túy bên ngoài cái riêng vì cái chung được khái quát từ những cái riêng.
Chẳng hạn khi nói phụ nữ VN trong quan hệ với một người phụ nữ cụ thể thì phụ nữ VN là cái chung
nhưng không có phụ nữ chung chung trừu tượng mà cái chung là phụ nữ VN đó sẽ được biểu hiện thông
qua từng người phụ nữ cụ thể.
Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ đưa đến cái chung. Nghĩa là cái riêng tồn tại độc lập
những không có nghĩa là hoàn toàn cô lập với cái khác. Ngược lại nó tham gia vào mối liên hệ đa dạng,
các mối liên hệ này được trải rộng dần ra, gặp gỡ với các mối quan hệ khác qua đó tạo nên mạng lưới các
mối liên hệ mới, trong đó một số liên hệ dẫn tới cái chung nào đó. Ví dụ, con người, động vật, thực vật
đều có những mối liên hệ chung với lực vạn vật hấp dẫn.
Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn cái
riêng vì nó phản ánh nhưgx thuộc tính chung, bản chất, lặp đi lặp lại ở nhiều sự vật. Ví dụ, thủ đô HN (cái
riêng) bên cạnh những đặc điểm chung thì nó có nét văn hóa truyền thống riêng. Còn đã là thủ đô (cái
chung) thì nó phải phản ánh những đặc điểm chung nhất, được lặp đi lặp lại ở mọi thủ đô khác như đông
dân cư, là trung tâm kinh tế xã hội.
Thứ tư, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật. Cái
chung chuyển hóa thành cái đơn nhất, đó là quá trình tồn tại và tiêu vong dần dần của cái cũ. Ngược lại,
cái đơn nhất có thể chuyển hóa thành cái chung, đó là quá trình ra đời và phát triển của cái mới. Chẳng
hạn, có những tư tưởng, tập quán trước dây rất phổ biến trong xã hội nhưng giờ đây nó không còn phù
hợp thì sẽ bị mất dần và trở thanh cái đơn nhất và thậm chí tiêu vong. Ví dụ, tục nhuộm răng đen. 1.1.3.
Ý nghĩa phương pháp luận
Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng nên chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng,
không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng, tránh tình cảm, lợi ích cá nhân.
Vì cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung nên khi xem xét những vấn đề riêng phải đặt
nó trong mối quan hệ với cái chung. V.I.Lenin rút ra ý nghĩa của cái chung, khi vận dụng cái chung phải
tùy từng điều kiện cụ thể của cái riêng.
Trong hoạt động thực tiễn có thể và cần tạo điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con người trở
thành cái chung và cái chung bất lợi thành cái đơn nhất.
1.2. Nguyên nhân và kết quả. 1.2.1. Khái niệm.
Nguyên nhân là phạm trù chỉ tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với
nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó.
Kết quả là những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra.
Mối liên hệ nhân quả mang tính khách quan, phổ biến và tính tất yếu. Tính khách quan nghĩa là mối liên
hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức của con người. Tính phổ biến
nghĩa là mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới trong thế giới đều có nguyên nhân của nó. Tính tất yếu thể
hiện là trong cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết qả giống nhau. 1.2.2.
Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả.
1.2.2.1. Nguyên nhân sinh ra kết quả.
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả nên nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng
xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện và phát sinh tác dụng.
Nguyên nhân sinh ra kết quả nhưng mối quan hệ này còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện và hoàn cảnh
khác nhau mà có những biểu hiện khác nhau. Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Ví dụ, ô
nhiễm môi trường do khí thải công nghiệp, do nước thải,..Một nguyên nhân trong những điều kiện khác
nhau có thể sinh ra nhiều kết quả. Ví dụ, hiện tượng ô nhiễm có thể ảnh hưởng rất nhiều vấn đề như sức
khỏe, sự sống của các loài sinh vật.
Nhiều nguyên nhân cùng tồn tại và tác động cùng chiều thì có sự tác động đến kết quả, ngược lại, nhiều
nguyên nhân tác động theo hướng khác nhau có thể cản trở tác dụng của nhau, ảnh hưởng tiêu cực đến
việc hình thành kết quả.
1.2.2.2. Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân.
Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi xuất hiện kết quả lại có tác động trở lại đối với nguyên
nhân theo hai hướng tích cực hoặc tiêu cực. Chẳng hạn nghèo đói, ít đầu tư cho giáo dục là một trong
những nguyên nhân đưa đến kết quả trình độ dân trí thấp và trình độ dân trí thấp lại tác động không tốt
đến việc thoát khỏi tình trạng tình trạng đói nghèo, thất học.
1.2.2.3. Nguyên nhân và kết quả có thể được thay đổi vị trí cho nhau.
Có nghĩa là một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân những trong mối quan
hệ khác lại là kết quả và ngược lại. Theo Ăngghen, nguyên nhân và kết quả là chuỗi vô cung tận, bởi thế
để hiểu được nguyên nhân và kết quả của những hiện tượng riêng biệt thì phải đặt chúng trong mối quan
hệ xác định, phải tách chúng ra khỏi mối liên hệ phổ biến và nghiên cứu chúng một cách riêng rẽ. 1.2.3.
Phân loại nguyên nhân.
Căn cứ vào phạm vi tác động, tính chất và vai trò của nguyên nhân, có thể chia ra thành nguyên nhân bên
trong – nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân cơ bản – nguyên nhân không cơ bản, nguyên nhân chủ yếu – nguyên nhân thứ yếu.
Nguyên nhân bên trong là sự tác động lẫn nhau giữa những mặt hay yếu tố của cùng một kết cấu vật chất.
Nguyên nhân bên ngoài là sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng khác nhau. Trong đó, nguyên
nhân bên trong giữ vai trò quyết định, nguyên nhân bên ngoài để tác động đến kết quả phải thông qua nguyên nhân bên trong.
Nguyên nhân cơ bản là sự tác động qua lại lẫn nhau của các mặt cơ bản của sự vật. Nó quyết định trực
tiếp quá trình hình thành và phát triển của sự vật. Nó quyết định trực tiếp quá trình hình thành và phát
triển sự vật. Nó quyết định trực tiếp quá trình hình thành và phát triển của sự vật. Nguyên nhân không cơ
bản là sự tác động qua lại lẫn nhau của các mặt không cơ bản của sự vật. Nó ảnh hưởng tới quá trình hình
thành và phát triển sự vật.
Nguyên nhân chủ yếu là sự tác động của các mặt chủ yếu ở một giai đoạn nào đó của quá trình hình thành
và phát triển của sự vật. Nguyên nhân thứ yếu là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt không chủ yếu trong
một giai đoạn nhất định của quá trình hình thành và phát triển của sự vật.
Nguyên nhân khách quan là nguyên nhân xuất hiện và tác động độc lập với ý thức của con người. Nguyên
nhân chủ quan là nguyên nhân xuất hiện và tác động phụ thuộc vào cá nhân, giai cấp, chính đảng. 1.2.4.
Ý nghĩa phương pháp luận.
Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, phổ biến, nghĩa là không có sự vật hiện tượng nào trong thế giới
vật chất lại không có nguyên nhân. Do vậy, nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra được nguyên
nhân để giải thích và cải tạo hiện tượng đó. Muốn tìm nguyên nhân của một hiện tượng nào đó phải tìm
trong những mối liên hệ trước khi hiện tượng đó xuất hiện.
Trong hoạt động thực tiễn ta cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân chủ
yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài và phải nắm được chiều hướng tác động của các
nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp để tạo điều kiện cho nguyên nhân tích cực và hạn chế nguyên
nhân tiêu cực. Khi ta muốn loại bỏ hiện tượng tiêu cực nào đó chúng ta cần tìm ra và loại bỏ nguyên nhân
đưa đến hiện tượng đó.
Cần tạo sức mạnh tổng hợp từ nhiều nguyên nhân cùng chiều đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy
nguyên nhân phát huy tác dụng nhằm đạt được mục đích.
Câu 8: Trình bày hai cặp phạm trù bản chất hiện tượng và tất nhiên ngẫu nhiên.
Trong triết học và lý luận khoa học, hai cặp phạm trù "Bản chất - Hiện tượng" và "Tất nhiên - Ngẫu
nhiên" đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích và phân tích các sự vật, hiện tượng trong thế giới
khách quan. Đây là hai cặp phạm trù không chỉ là cơ sở lý luận mà còn giúp chúng ta hiểu sâu hơn về
cách thức vận hành của thế giới tự nhiên, xã hội và nhận thức của con người. Trong tiểu luận này, tôi sẽ
làm rõ nội dung và sự tương quan giữa hai cặp phạm trù này.
1.1. Bản chất hiện tượng
1.1.1. Khái niệm bản chất hiện tượng
Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật,
quy định sự vận động và phát triển của sự vật.
Hiện tượng là sự biểu hiện ra bên ngoài của bản chất. V.I.Lenin viết:”bản chất hiện ra. Hiện tượng là có tính bản chất”.
Ví dụ: bản chất của giai cấp tư sản là bóc lột giá trị thặng dư nên hiện tượng biểu hiện ra là giai cáp tư sản
dùng mọi cách để kéo dài thời gian lao động, tăng cường độ lao động.
1.1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của bản chất và hiện tượng mà
còn cho rằng giữa bản chất và hiện tượng có quan hệ biện chứng với nhau, vừa thống nhất, gắn bó chặt
chẽ với nhau, vừa có tính mâu thuẫn đối lập nhau.
1.1.2.1. Sự thông nhất giữa bản chất và hiện tượng.
Lenin chỉ ra rằng, hiện tượng là sự biểu hiện của bản chất, bản chất và hiện tượng không thể tách rời
nhau, hiện tượng nào cũng phản ánh bản chất ở mức độ nhất định, và bản chất nào cũng được thể hiện
thông qua các hiện tượng; không phải chỉ riêng hiện tượng là tạm thời, chuyện động, mà bản chất của sự vật cũng như thế.
Bản chất luôn luôn được bộc lộ qua hiện tượng, còn hiện tượng nào cũng là sự biểu hiện của bản chất ở mức độ nhất định.
Bản chất và hiện tượng về căn bản là phù hợp với nhau. Bản chất nào hiện tượng ấy. Bản chất thay đổi thì
hiệ tượng biểu hiện của nó cũng thay đổi theo và bản chất mất đi thì hiện tượng biểu hiện của nó cũng mất theo.
Ví dụ: bản chất của dân tộc ta có lòng yêu nước nồng nàn thì sẽ được bộc lộ qua các hiện tượng nỗ lực
phấn đấu làm việc để phát triển đất nước cũng như đấu tranh chống lại thế lực thù địch.
1.1.2.2. Tính chất mâu thuẫn của sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng.
Bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập, trong đó bao
hàm mâu thuẫn thể hiện ở chỗ:
Bản chất phản ánh cái chung, cái tất yếu, quyết định sự vận động phát triển của sự vật, còn hiện tượng
phản ánh cái riêng cái cá biệt. Lenin nói:’’cái không bản chất, cái bề ngoài, cái trên mặt thường biến mất,
không bám chắc, không ngồi vững bằng bản chất”.
Bản chất là mặt bên trong, ẩn dấu sâu xa của hiện tượng khách quan, còn hiện tượng là biểu hiện bên
ngoài của hiện tượng khách quan đó. Bản chất không biểu hiện ở một hiện tượng mà biểu hiện ở nhiều
hiện tượng. Hiện tượng không biểu hiện hoàn toàn bản chất mà chỉ biểu hiện những khía cạnh của bản
thân, biểu hiện dưới hình thức đã biến đổi, nhiều khi xuyên tạc bản chất
1.1.2.3. Sự thay đổi bản chất của sự vật.
Hiện tượng là phong phú và thường xuyên thay đổi, còn bản chất là sâu sắc, có tính ổn định, bền vững
hơn so với hiện tượng. Song điều đó không có nghĩa bản chất của sự vật là bất biến. Trong quá trình vận
động, bản chất của sự vật cũng có thể thay đổi tuy chậm hơn và ít hơn so với sự thay đổi của hiện tượng.
Khi bản chất của sự vật thay đổi, phương thức tác động của con người vào sự vật cũng cần thay đổi theo.
Ví dụ tội phạm hoàn lương,...
1.1.3. Ý nghĩa phương pháp luận.
Nhận thức không chỉ dừng lại ở hiện tượng mà còn phải tiến tới nhận thức được bản chất của sự vật, còn
trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào bản chất của sự vật để xác định phương thức cải tạo sự vật chứ
không thể dựa vào hiện tượng.
Muốn nhận thức được bản chất của sự vật phải xuất phát từ những sự vật, quá trình thực tế, phải phân
tích, tổng hợp sự biến đổi của nhiều hiện tượng, nhất là những hiện tượng điển hình. C. Mác nói:’’ nếu
hiện tượng trùng bản chất thì mọi khoa học trở nên dư thừa”.
Trong hoạt động thực tiễn, muốn cải tạo bản tính ác hay xấu của con người cần đòi hỏi phải kiên trì.
1.2. Tất nhiên và ngẫu nhiên
1.2.1. Khái niệm tất nhiên và ngẫu nhiên.
Tất nhiên là do những nguyên nhân cơ bản bên trong của sự vật quyết định mà do các nhân tố bên ngoài,
do sự ngẫu hợp nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định. Do đó, nó có thể xuất hiện, có thể không xuất
hiện, có thể xuất hiện như thế này hoặc có thể xuất hiện như thế khác.
Ngẫu nhiên là cái không do mối liên hệ bản chất, bên trong sự vật quyết định mà do các nhân tố bên
ngoài, do sự ngẫu hợp nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định. Do đó, nó có thể xuất hiện, có thể không
xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này hoặc thế khác,.. Ví dụ con người
Cái tất nhiên và ngẫu nhiên đều tuân theo quy luật, cái tất nhiên xảy ra theo quy luật động lực, còn cái
ngẫu nhiên xảy ra theo quy luật thống kê.
1.2.2. Mối liên hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên.
1.2.2.1. Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, đối lập với ý thức của con người
Trong quá trình phát triển của sự vật, không chỉ cái tất nhiên mà cả cái ngẫu nhiên đều có vai trò quan
trọng. Nếu cái tất nhiên có tác dụng chi phối sự phát triển của sự vật thì cái ngẫu nhiên có tác dụng làm
cho sự phát triển của sự phát triển của sự vật diễn ra nhanh hoặc chậm hơn. Ví dụ: chúng ta vẫn nói thời
thế tạo ra anh hùng, nghĩa là trong những điều kiện hoàn cảnh đất nước bế tắc, lâm nguy thì tất yếu đồi
hỏi những anh hùng, những người lãnh đạo còn ai sẽ là anh hùng thì sẽ lại là ngẫu nhiên.
1.2.2.2. Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại nhưng chúng không tồn tại biệt lập dưới dạng thuần túy.
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau. Cái tất nhiên bao giờ cũng thể hiện
tồn tại của mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Còn cái ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của cái tất
nhiên, đồng thời là cái bổ sung cho cái tất nhiên.
1.2.2.3. Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau.
Tất nhiên và ngẫu nhiên không nằm yên ở trạng thái cũ mà thay đổi cùng với sự thay đổi của sự vật và
trong những điều kiện nhất định tất nhiên có thể chuyển hóa thành ngẫu nhiên và ngược lại. Ví dụ: trong
xã hội nguyên thủy thì việc trao đổi hàng hóa là ngẫu nhiên nhưng khi nền sản xuất hàng hóa phát triển
thì việc trao đổi hàng hóa lại là tất nhiên.
1.2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Trong hoạt động thực tiễn chúng ta phải dựa vào cái tất nhiên chứ không thể dựa cái ngẫu nhiên, tuy
nhiên cần phải chú ý đến cái ngẫu nhiên đề phòng nó xảy ra.
Muốn nhận thức được cái tất nhiên thông qua việc nghiên cứu phân tích, so sánh với rất nhiều cái ngẫu
nhiên vì cái tất nhiên không tồn tại biệt lập thuần túy.
Chúng ta cần tạo điều kiện để cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau tuỳ theo yêu cầu của thực tiễn.
Câu 9: Trình bày con đường nhận thức của biện chứng.
Trong triết học, nhận thức luôn là một trong những vấn đề trọng yếu được bàn luận và nghiên cứu sâu
rộng. Con đường nhận thức là quá trình con người tiếp cận và hiểu biết thế giới xung quanh thông qua các
hoạt động nhận thức. Nhận thức không phải là một hành động đơn giản, mà là một quá trình phức tạp,
liên tục, mang tính biện chứng. Biện chứng là phương pháp luận trong triết học, cho rằng mọi sự vật, hiện
tượng đều không tồn tại biệt lập mà luôn gắn liền với sự phát triển, biến đổi và mối quan hệ lẫn nhau. Bài
tiểu luận này sẽ trình bày con đường nhận thức của biện chứng, đồng thời làm rõ những đặc điểm cơ bản
của quá trình nhận thức trong quan điểm biện chứng.
1.1. Khái niệm trực quan sinh động và tư duy trừu tượng. 1.1.1.
Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính)
Nhận thức bắt đầu từ giai đoạn đầu tiên là trực quan sinh động hay nhận thức cảm tính. Đây là giai đoạn
gắn liền với thực tiễn và dựa trên cơ sở thực tiễn. Nhận thức cảm tính gồm có ba hình thức là cảm giác, tri giác và biểu tượng.