











Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ……..0O0…….. TIỂU LUẬN MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI: HÃY PHÂN TÍCH CÁC CHÍNH SÁCH ĐIỀU
TIẾT ĐỘC QUYỀN CỦA NHÀ NƯỚC
Họ và tên sinh viên: Đỗ Hiệp Yến
Lớp: Tài chính doanh nghiệp CLC 64E MSV: 11227051 GVHD: Phạm Văn Minh Hà Nội – 5/2022 Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................1 1.
Khái niệm..............................................................................................2 2.
Nguyên nhân dẫn tới độc quyền:..........................................................2 3.
Hậu quả của độc quyền:.......................................................................3 4.
Thực trạng độc quyền hiện nay.............................................................4 B.
CHÍNH SÁCH ĐIỀU TIẾT ĐỘC QUYỀN CỦA NHÀ NƯỚC.........6 1.
Tiếp tục đổi mới nhận thức về cạnh tranh, phải thống nhất quan điểm
đánh giá vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế............................................6 2.
Cải tổ pháp luật về cạnh tranh để cho cơ chế cạnh tranh được vận
hành đồng nghĩa với việc hạn chế những hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trên thị trường....................................................................................................6 3.
Nhà nước tiến hành xây dựng một cơ quan chuyên trách với mục đích
theo dõi, giám sát các hành vi liên quan đến cạnh tranh và độc quyền............6 4.
Nhà nước điều tiết độc quyền bằng việc kiểm soát giá đối với các
doanh nghiệp độc quyền....................................................................................8
5. Tổ chức lại cơ cấu và kiểm soát độc quyền kể cả độc quyền tự nhiên..8 6.
Ban hành luật pháp và chính sách chống độc quyền, biện pháp chủ
yếu để đấu tranh với các nguy cơ xuất hiện hành vi độc quyền trên thị trường
là sử dụng các chính sách chống độc quyền.....................................................8
KẾT LUẬN......................................................................................................9 LỜI MỞ ĐẦU
Độc quyền và cạnh tranh là hai hiện tượng có liên quan chặt chẽ với nhau.
Khi có chủ trương thúc đẩy cạnh tranh để phát triển thị trường, tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
và đem lại lợi ích cho người tiêu dùng thì độc quyền cần phải được loại bỏ. Tuy
nhiên, trong thực tế của tất cả các quốc gia, độc quyền vẫn tồn tại trong một số
ngành và ở một mức độ nhất định, nó là yếu tố đảm bảo cho cạnh tranh phát
triển và duy trì được hiệu quả kinh tế của toàn xã hội.
Những năm vừa qua, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần ở nước ta đã làm phát sinh nhiều quan hệ kinh tế đa dạng, phức tạp,
trong đó có quan hệ cạnh tranh. Việc thừa nhận quyền tự do kinh doanh theo
quy định của Hiến pháp (Điều 57) và pháp luật đã tạo cơ sở pháp lý khuyến
khích tự do cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, xu hướng phát
triển của cạnh tranh thường dẫn tới độc quyền. Xét về bản chất của cạnh tranh,
nếu không có sự định hướng và điều chỉnh, sẽ phát triển theo quá trình sau: từ
cạnh tranh lành mạnh sang cạnh tranh không lành mạnh, đi tới cạnh tranh mang
tính độc quyền, cuối cùng là xuất hiện độc quyền làm triệt tiêu cạnh tranh trên
thị trường và gây ra những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế và đời sống xã hội
như: hạn chế, kiểm soát mức sản xuất, mức đầu tư cải tiến kỹ thuật, nâng giá thu
lợi nhuận độc quyền... Điều đó đòi hỏi khi xây dựng pháp luật về cạnh tranh ở
nước ta cần phải xây dựng các quy định về kiểm soát độc quyền.
Bài luận này gồm 2 phần. Trước hết là tìm hiểu về độc quyền bao gồm khái
niệm, nguyên nhân, hậu quả và thực trạng độc quyền ở Việt Nam hiện nay.
Phần hai là nêu ra một vài chính sách điều tiết độc quyển của nhà nước.
Trong phần hai, em đã nêu ra sáu giải pháp cho vấn đề điều tiết độc quyền
trong đó hai giải pháp chính là ban hành luật pháp và chính sách chống độc
quyền và kiểm soát giá cả đối với các hàng hoá và dịch vụ do hãng độc quyền cung cấp. 1 A. ĐỘC QUYỀN 1. Khái niệm:
Độc quyền là thuật ngữ trong kinh tế học chỉ về trạng thái thị trường chỉ có
duy nhất một người bán và sản xuất ra sản phẩm không có sản phẩm thay thế
gần gũi. Trong tiếng Anh monopoly có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp monos
(nghĩa là một) và polein (nghĩa là bán). Đây là một trong những dạng của thất
bại thị trường, là trường hợp cực đoan của thị trường thiếu tính cạnh tranh. Mặc
dù trên thực tế hầu như không thể tìm được trường hợp đáp ứng hoàn hảo hai
tiêu chuẩn của độc quyền và do đó độc quyền thuần túy có thể coi là không tồn
tại nhưng những dạng độc quyền không thuần túy đều dẫn đến sự phi hiệu quả
của lợi ích xã hội. Độc quyền được phân loại theo nhiều tiêu thức: mức độ độc
quyền, nguyên nhân của độc quyền, cấu trúc của độc quyền... Độc quyền là hiện
tượng trên thị trường chỉ có một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp
câu kết với nhau chiếm vị trí độc tôn trong việc cung cấp sản phẩm nhất định
nào đó, cho phép họ kiểm soát trọn vẹn giá cả sản phẩm để thu lợi nhuận tối đa
và ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh khác thâm nhập thị trường.
Độc quyền là hậu quả tất yếu của quá trình cạnh tranh không được định
hướng và điều chỉnh: từ cạnh tranh lành mạnh chuyển sang cạnh tranh không
lành mạnh dẫn tới cạnh tranh mang tính độc quyền và cuối cùng xuất hiện độc
quyền. Độc quyền làm tê liệt cạnh tranh lành mạnh, kìm hãm sự phát triển kinh
tế, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người tiêu dùng, tác động xấu đến công
bằng xã hội, tạo sức ì đối với chính bản thân các doanh nghiệp độc quyền.
Cạnh tranh không lành mạnh và độc quyền là những khuyết tật của nền kinh
tế thị trường. Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển sử dụng nhiều biện
pháp khác nhau để kiểm soát độc quyền: chính sách thuế, quản lí giá sản phẩm,
điều chỉnh độc quyền, chống các-ten, tơ-rớt...
2. Nguyên nhân dẫn tới độc quyền:
Độc quyền có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là:
-Độc quyền xuất hiện là kết quả của quá trình cạnh tranh
Quá trình cạnh tranh sẽ làm cho những doanh nghiệp nào kém hiệu quả, có
những quyết định kinh doanh sai lầm sẽ bị những doanh nghiệp khác làm ăn
hiệu quả hơn thôn tính, chiếm lĩnh thị phần và rốt cuộc sẽ bị đào thải ra khỏi cuộc chơi.
Trong trường hợp cực đoan nhất, nếu tất cả các doanh nghiệp khác đều bị
một doanh nghiệp duy nhất đánh bại thì rốt cuộc, cạnh tranh tự do đã để lại một
doanh nghiệp duy nhất trên thương trường và doanh nghiệp đó đương nhiên có
được vị thế độc quyền.
-Do được chính phủ nhượng quyền khai thác thị trường 2
Nhiều hãng trở thành độc quyền là nhờ được chính phủ nhượng quyền khai
thác một thị trường nào đó, ví dụ các địa phương cho phép một công ty duy nhất
cung cấp nưdc sạch trên địa bàn địa phương mình.
Ngoài ra, với những ngành được coi là chủ đạo của quốc gia, chính phủ
thưởng tạo cho nó một cơ chế có thể tồn tại dưới dạng độc quyền nhà nước. Có
lẽ không có ai phản đối rằng, quốc phòng hay công nghiệp sản xuất vũ khí nên
do chính phủ nẵm giữ, vì nó liên quan đến an ninh đất nước.
Nhưng có nhiều ngành khác thì sự độc quyền của nhà nước lại không dễ
thuyết phục đến như vậy. Ví dụ, ngành hàng không ở Việt Nam gần như độc
quyền trong thị trường nội địa (nếu không kể đến sự có mặt rất mờ nhạt của
Pacific Airlines), trong khi nhiều nước khác nó lại có sự góp mặt của nhiều
hãng lớn cạnh tranh gay gắt với nhau.
-Do chế độ bản quyền đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí tuệ
Chế độ bản quyền là một cơ chế bảo vệ quyền lợi của những nhà phát minh,
khuyến khích họ đầu tư công sức, thời gian và tiền của vào hoạt động nghiên
cứu và triển khai, góp phần nâng cao năng suất lao động và đời sống tinh thần cho xã hội.
Nhưng chính những qui định này đã tạo cho người có bản quyền một vị thế
độc quyền lớn, tuy không phải vĩnh cửu (vị thế này còn tuỳ thuộc vào thời hạn
giữ bản quyền được qui định ở từng nước).
-Do sở hữu được một nguồn lực đặc biệt
Việc nắm giữ được một nguồn lực hay một khả năng đặc biệt nào đó cũng sẽ
giúp người sở hữu có được vị thế độc quyền trên thị trường.
Chẳng hạn, vì những mỏ kim cương lớn nhất thế giới tập trung tại Nam Phi
nên quốc gia này đã có một lợi thế gần như độc quyền về khai thác và bán kim
cương mà các quốc gia khác không thể có.
-Do có khả năng giảm giá thành khi mở rộng sản xuất
Do tính chất đặc biệt của ngành có lợi tức tăng dần theo qui mô đã khiến việc
có nhiều hàng cùng cung cấp một dịch vụ trở nên không hiệu quả và hãng nào
đã có mặt trong thị trường từ trước thì có thể liên tục giảm giá khi mở rộng sản
xuất biến đó thành một hàng rào hữu hiệu ngăn cản sự xâm nhập thị trường của
những hãng mới. Trường hợp này còn được gọi là độc quyền tự nhiên.
3. Hậu quả của độc quyền:
Độc quyền là hậu quả tất yếu của quá trình cạnh tranh không được định
hướng và điều chỉnh: từ cạnh tranh lành mạnh chuyển sang cạnh tranh không
lành mạnh dẫn tới cạnh tranh mang tính độc quyền và cuối cùng xuất hiện độc
quyền. Độc quyền làm tê liệt cạnh tranh lành mạnh, kìm hãm sự phát triển kinh 3
tế, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người tiêu dùng, tác động xấu đến công
bằng xã hội, tạo sức ì đối với chính bản thân các doanh nghiệp độc quyền.
Cạnh tranh không lành mạnh và độc quyền là những khuyết tật của nền kinh
tế thị trường. Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển sử dụng nhiều biện
pháp khác nhau để kiểm soát độc quyền: chính sách thuế, quản lí giá sản phẩm,
điều chỉnh độc quyền, chống các-ten, tơ-rớt..
Khác với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, độc quyền không chỉ xâm hại
tới lợi ích của doanh nghiệp khác trên thị trường, của người tiêu tạo ra hoặc
củng cố vị trí ưu thế nhằm ngăn cản, hạn chế về lâu dài cạnh tranh trên thị
trường. Để kiểm tra hậu quả đó, cơ quan
Độc quyền không chỉ xâm hại tới lợi ích của doanh nghiệp khác trên thị
trường, của người tiêu dùng, mà hậu quả nghiêm trọng hơn của nó là xâm hại
trực tiếp đến sự điều tiết cũng như sự hoạt động bình thường của thị trường; hạn
chế, ngăn cản cạnh tranh, làm sai lệch quy luật cạnh tranh trên thị trường liên
quan, tăng sức cạnh tramh tiêu dùng, mà hậu quả nghiêm trọng hơn của nó là
xâm hại trực tiếp đến sự điều tiết cũng như sự hoạt động bình thường của thị trừờng.
4. Thực trạng độc quyền hiện nay:
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh
tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường. Một số yếu tố bất hợp lý của
mô hình kinh tế trước đây vẫn còn tồn tại và đòi hỏi cần phải có những giải
pháp cụ thể để giải quyết trong thời gian tới. Một trong những vấn đề cần giải
quyết là tình trạng độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước. Tồn tại quá nhiều
doanh nghiệp nhànước (rất nhiều trong số đó kinh doanh không hiệu quả) và
việc độc quyền của doanh nghiệp nhà nước trong nhiều lĩnh vực như: điện, nước, xăng, viễn thông
Hiện nay Việt Nam có 2 loại hình độc quyền:
-Kết quả cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
-Kết quả của cơ chế hành chính trước đây và một số
Loại thứ nhất là kết quả cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Trường hợp
công ty Coca Cola được coi là ví dụ về hình thức độc quyền là kết quả của cạnh
tranh trên thị trường nước uống có ga của Việt Nam. Tuy thế, nền kinh tế thị
trường Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển, vì vậy, cho đến
nay chỉ có một vài trường hợp liên quan đến độc quyền là kết quả của cạnh
tranh trong nền kinh tế thị trường. Chắc chắn trong tương lai, loại hình độc
quyền này sẽ phổ biến hơn. 4
Loại thứ hai là loại hình độc quyền được coi là phổ biến nhất ở Việt Nam
hiện nay là độc quyền là kết quả của cơ chế hành chính trước đây và một số quy
định của pháp luật cũng như các chính sách kinh tế hiện hành. Trong nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung cao độ trước đây, chúng ta chỉ thừa nhận hình thức sở
hữu nhà nước và sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân không tồn tại trong thời gian
đó. Chế độ công hữu này đã tạo ra sự độc quyền nhà nước trong tất cả các
ngành kinh tế. Nhà nước thành lập các xí nghiệp quốc doanh để sản xuất và
cung ứng sản phẩm cho tiêu dùng. Cơ chế quản lý kinh tế bằng các mệnh lệnh
hành chính đã hình thành nên các doanh nghiệp nhà nước độc quyền mà một số
vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Hơn nữa, hiện nay còn có xu hướng độc
quyền nhà nước biến thành độc quyền doanh nghiệp. VÍ DỤ:
-Việc nắm giữ đường trục viễn thông quốc gia sẽ tạo lợi thế cho VNPT ngăn
cản các công ty khác tham gia vào thịtrường viễn thông, bởi lẽ nếu các công
ty khác muốn cung cấp dịch vụ viễn thông họ buộc phải sử dụng đường trục
viễn thông quốc gia do VNPT quản lý. Với lợi thế về thị phần sẵn có từ trước
cùng với các quy định của pháp luật, VNPT đã tính giá dịch vụ viễn thông
cung cấp cho người sử dụng cao hơn 30% so với các nước ASEAN .
-Tình trạng này cũng tương tự như ở Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN).
Ở nước ta đã có một số doanh nghiệp sản xuất điện nhưng chỉ EVN được
nắm giữ hệ thống truyền tải điện. Trong thị trường điện lực, việc sản xuất
điện có liên quan mật thiết đến việc truyền tải điện. Điều này làm cho các
doanh nghiệp sản xuất điện phải phụ thuộc vào EVN - một đối thủ cạnh tranh
trên cùng thị trường. Chính vì vậy, độc quyền của EVN đối với việc kinh
doanh điện là điều không thể tránh khỏi.
Nói tóm lại, viêc pháp luật quy định nhà nước nắm độc quyền đối với các
phương tiện thiết yếu như đường trục viễn thông quốc gia, hệ thống dây tải điện
hay các nhà ga sân bay, hệ thống đường sắt nhưng khơng có sự tách biệt rõ ràng
các yếu tố thuộc về cạnh tranh tiềm năng và các yếu tố thuộc về độc quyền tự
nhiên đã làm cho độc quyền nhà nước biến thành độc quyền doanh nghiệp.Vì
thế, các doanh nghiệp tư nhân đang gặp nhiều khó khăn vì khả năngcạnh tranh
thấp do bị "che khuất" bởi những tập đồn, nhóm doanh nghiệp lớn của Nhà
nước, dù có nỗ lực đến mấy cũng chưa có điều kiện để tiếp cận các nguồn lực
kinh tế lớn, nên không thể đầu tư lâu dài để trở thành những doanh nghiệp có
quy mơ đáng kể hơn. Đó là nguyên nhân vì sao cho tới nay các doanh nghiệp tư
nhân quy mô lớn, dựa trên sản phẩm có sức cạnh tranh cao, hay sản phẩm riêng
biệt tạo ra nhiều giá trị gia tang cho xã hội gần như chưa xuất hiện trong nền 5
kinh tế nước ta. Có thể nói rằng: ở một chừng mực nhất định, chính sách kinh tế
đã trở thành rào cản tạo ra độc quyền trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
B. CHÍNH SÁCH ĐIỀU TIẾT ĐỘC QUYỀN CỦA NHÀ NƯỚC
Để duy trì cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền nhà nước nên thực
hiện một số biện pháp sau:
1. Tiếp tục đổi mới nhận thức về cạnh tranh, phải thống nhất quan điểm
đánh giá vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế.
Phải coi cạnh tranh trong nền kinh tế pháp luật hợp thức là động lực của sự
phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Xác định một
cách rõ ràng và hợp lý vai trò của Nhà nước cũng như vai trò chủ đạo của các
doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế, hạn chế bớt những doanh nghiệp Nhà
nước độc quyền kinh doanh. Thúc đẩy nhanh quá trình cải cách doanh nghiệp
Nhà nước, đẩy nhanh quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước. Độc quyền
của các doanh nghiệp Nhà nước cần phải được giảm dần, các rào cản đối với
các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cần được tháo gỡ dần nhằm
giảm giá thành sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh chung của toàn bộ nền kinh
tế, tăng tính hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài, đồng thời giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia.
2. Cải tổ pháp luật về cạnh tranh để cho cơ chế cạnh tranh được vận hành
đồng nghĩa với việc hạn chế những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường.
Nới lỏng các điều kiện ra nhập và rút lui khỏi thị trường để khuyến khích các
nhà đầu tư tham gia sản xuất kinh doanh. Như vậy mới có thể hình thành nên
khung pháp lý chung cho các loại hình kinh doanh thuộc các khu vực kinh tế
khác nhau là điều cần thiết, đồng thời việc cải tổ pháp luật về cạnh tranh cần
phải sửa đổi từ quy trình ban hành pháp luật. Ban hành luật pháp và chính sách
chống độc quyền: Biện pháp chủ yếu để đấu tranh với các nguy cơ xuất hiện
hành vi độc quyền trên thị trường là sử dụng các chính sách chống độc quyền.
Đó là điều luật nhằm ngăn cấm những hành vi nhất định (như cấm các hãng
cấu kết để cùng nhau nâng giá), hoặc hạn chế một số cơ cấu thị trường nhất
định. Biện pháp này thường được sử dụng phổ biến ở các nước có thị trường
phát triển, nhằm điều tiết những hãng lớn, chiếm một thị phần rất lớn.
3. Nhà nước tiến hành xây dựng một cơ quan chuyên trách với mục
đích theo dõi, giám sát các hành vi liên quan đến cạnh tranh và độc quyền. 6
Cũng để rà soát lại và hạn chế bớt số lượng các lĩnh vực độc quyền, kiểm soát
giám sát độc quyền chặt chẽ hơn. Từ đó Nhà nước giám sát chặt chẽ hơn các
hành vi lạm dụng của các doanh nghiệp lớn. Trường hợp cần thiết thì đổi mới
chế độ chứng từ, kế toán kiểm toán để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giám
sát tài chính của các doanh nghiệp.
Trong trường hợp mà hành vi tập trung kinh tế có khả năng gây ảnh hưởng
đến cạnh tranh, thì cơ quan có thẩm quyền có quyền ra quyết định, có nêu rõ lí
do, yêu cầu chấm dứt hành vi tập trung kinh tế đó hoặc yêu cầu sửa đổi dự án
tranh trên thị trường quốc tế... Cơ quan có thẩm quyền cũng có thể đưa ra các
điều kiện cho việc thực hiện dự án, yêu cầu sửa đổi dự án nhằm bảo đảm mức
độ đóng góp của dự án cho việc thúc đẩy tiến bộ kinh tế để bù trừ những ảnh
hưởng, tác động của dự án đến tình hình cạnh tranh trên thị trường. Trong
trường hợp các doanh nghiệp liên quan đến hành vi tập trung kinh tế có hành vi
lạm dụng vị trí ưu thế trên thị trường hoặc thoả thuận nhằm chống lại cạnh tranh
thì sẽ bị xử lí theo quy trường; hạn chế, ngăn cản cạnh tranh, làm sai lệch quy
luật cạnh tranh trên thị trường. Vấn đề giải quyết hậu quả ở đây không chỉ là bồi
thường thiệt hại mà quan trọng hơn là yêu cầu khôi phục lại tự do cạnh tranh, sự
hoạt động bình thường của thị trường. Đây không chỉ là vấn đề mang tính pháp
lý thuần tuý, mà nó còn chứa đựng cả yếu tố kinh tế, thị trường... Vấn đề xác
định nội dung, bản chất và hậu quả của độc quyền gây ra cho cạnh tranh và nền
kinh tế, mà cụ thể là của hành vi lạm dụng vị trí ưu thế và các thoả thuận chống
lại cạnh tranh, đòi hỏi không chỉ có kiến thức pháp lý mà còn phải có kiến thức
và kinh nghiệm thực tiễn về kinh tế, thị trường, nhất là phải tính đến yếu tố cạnh
tranh trên thị trường. Đây thực sự là công việc nằm ngoài khả năng của các cơ
quan quản lý hành chính Nhà nước và Toà dụng ưu thế trên thị trường, thoả
thuận chống lại cạnh tranh và hành vi tập trung kinh tế làm hạn chế, ngăn cản
cạnh tranh, pháp luật về cạnh tranh cần quy định cho cơ quan này thẩm quyền
xử lý các hành vi trên. Để bảo đảm cho nó hoạt động có hiệu quả và tránh chồng
chéo với chức năng xét điều khoản của hợp đồng về các hành vi lạm dụng vị trí
ưu thế, thoả thuận chống lại cạnh tranh đều bị vô hiệu do có nội dung trái pháp
luật; người sản xuất kinh doanh có hành vi vi phạm buộc phải chấm dứt hành vi
vi phạm, nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự;
buộc khôi phục lại tình án.
Thẩm quyền của Uỷ ban cạnh tranh cần được giới hạn trong việc xác định có
hay không có hành vi lạm dụng vị trí ưu thế, thoả thuận chống lại cạnh tranh và
hành vi tập trung kinh tế có nguy cơ dẫn đến độc quyền làm ảnh hưởng tới cạnh
tranh trên thị trường, và xác định các trường hợp được miễn trừ theo quy định
của pháp luật cạnh tranh. 7
4. Nhà nước điều tiết độc quyền bằng việc kiểm soát giá đối với các doanh
nghiệp độc quyền.
Đây được coi là phương án thay thế mà Nhà nước thường sử dụng để điều tiết
độc quyền; quá trình định giá của doanh nghiệp bị Nhà nước kiểm soát chặt chẽ
và khống chế theo những quy tắc phê duyệt giá nhất định. Trong trường hợp
này, doanh nghiệp độc quyền tư nhân vẫn được chấp nhận mà không phải rời bỏ thị trường.
5. Tổ chức lại cơ cấu và kiểm soát độc quyền kể cả độc quyền tự nhiên.
Ví dụ như việc xoá bỏ độc quyền trong kinh doanh, chỉ duy trì độc quyền ở
một số ngành quan trọng phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế như: sản xuất
và truyền tải điện năng, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông, xây dựng cơ sở
hạ tầng… kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp độc quyền thuộc Nhà nước.
6. Ban hành luật pháp và chính sách chống độc quyền, biện pháp chủ yếu
để đấu tranh với các nguy cơ xuất hiện hành vi độc quyền trên thị trường là sử
dụng các chính sách chống độc quyền.
Đó là điều luật nhằm ngăn cấm những hành vi nhất định như cấm các hãng
cấu kết để cùng nhau nâng giá, hoặc hạn chế một số cơ cấu thị trường nhất định.
Nhà nước cần phải có luật cạnh tranh với mục đích đảm bảo và duy trì môi
trường cạnh tranh và đã ban hành Luật cạnh tranh năm 2018 dể quy định rõ về
các chế độ cạnh tranh lành mạnh. Nội dung luật cạnh tranh phải phù hợp với
những biến động của môi trường cạnh tranh trong nước cũng như những yếu tố
liên quan đến nước ngoài.
Kiểm soát giá cả đối với các hàng hóa và dịch vụ do hãng độc quyền cung
cấp là một giải pháp phổ biến khác. Mục đích của nó là buộc hãng độc quyền
phải bán sản phẩm ở mức giá cạnh tranh.
Như vậy, việc thực hiện chế độ độc quyền do nhiều nguyên nhân gây ra đồng
thời cũng gây ảnh hưởng không ít đến việc cạnh tranh không lành mạnh. Chính
vì vậy, để đảm bảo duy trì cạnh tranh lành mạnh và tính độc quyền thì cần phải
có những biện phạm cụ thể áp dụng từ pháp luật đến thực tế thì mới đảm bảo
kiểm soát được tính độc quyền. 8 KẾT LUẬN
Việc nghiên cứu về độc quyền là một việc cần thiết. Nhờ đó mà ta có thể
nhận thức được về nguyên nhân, hậu quả và thực trạng hiện nay ở Việt Nam.
Cùng với đó hiểu về một số những chính sách, giải pháp mà nhà nước đang đặt
ra nhằm điều tiết, hạn chế vấn đề này.
Và cũng có nhiều ý kiến cho rằng, luật chống độc quyền là công cụ duy trì
tính tự do, tính cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần của một nền kinh tế
thị trường. Việt Nam cần một bộ luật chống độc quyền như thế. Nhưng cái khó
hiện nay, là Nhà nước vừa là thiết chế điều hành vĩ mô một nền kinh tế, vừa là
chủ sở hữu của một khu vực kinh tế, nên sẽ chịu rất nhiều sức ép. Một mặt là áp
lực hội nhập quốc tế, khiến sớm muộn, VN phải xây dựng một môi trường kinh
doanh tốt để kinh tế thị trường phát triển lành mạnh. Nhưng mặt khác, các tập
đoàn, doanh nghiệp nhà nước cũng lại phải tồn tại, phát triển như một thành
phần kinh tế mạnh. Điều hành khu vực kinh tế nhà nước rất tốn kém, và hiện
nay, thành phần ấy vẫn tiếp tục tiêu tốn phần lớn năng lượng của toàn bộ nền
kinh tế.Vậy nên, cách mà Việt Nam đang lựa chọn là tìm các giải pháp mềm
dẻo, phù hợp nhưng lại phải có ý nghĩa tích cực cho việc chống độc quyền. Đó
chính là nghệ thuật cải cách ở những nước có nền kinh tế đặc thù như Việt Nam,
vì rõ ràng chúng ta không có nhiều lựa chọn.
Bài tiểu luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế trong quá
trình viết bài. Vậy nên em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy để bài viết
của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! 9