TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP NHÓM
ĐỀ TÀI: Nâng cao ý thức của người dân vùng cao trong việc
phòng tránh thiên tai bão lũ
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Đặng Thị Lệ Xuân
Môn : Theo giõi & Đánh giá phát triển
Lớp học phần : PTCC1129(124)
Nhóm trình bày : 6
STT Họ và tên Mã sinh viên
1 Ngũ Trọng Tuấn Đạt 11221241
2 Phan Nhật Anh 11220573
3 Lâm Mạnh Đức 11221360
4 Nguyễn Trung Hiếu 11222338
5 Phạm Tuấn Minh 11224298
6 Hồ Nam Long 11223893
Hà Nội, 2024
Mở đầu
Trong 20 năm vừa qua, các khu vực trên cả nước ta đã phải hứng chịu hầu hết các loại
hình thiên tai (trừ sóng thần), gây tổn thất nặng nề về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, tác
động đến môi trường sống, hoạt động sản xuất kinh doanh. ảnh hưởng lớn đến sự phát
triển bền vững của đất nước (trung bình mỗi năm thiên tai làm trên 400 người chết và
mất tích, thiệt hại vật chất khoảng 1-1,5% GDP). Tình hình thiên tai có những diễn
biến bất thường, trái quy luật, ngày càng nghiêm trọng hơn cả về cường độ và tần suất.
Thiên tai xảy ra nhiều hơn ở các vùng, miền trước đây ít xảy ra. Rủi ro thiên tai một
số vùng tăng do phát triển kinh tế nhanh, quy mô lớn nhưng cơ sở hạ tầng thiếu bền
vững. Riêng các tỉnh miền núi phía Bắc xảy ra trên 300 trận lũ quét, sạt lở đất với quy
mô và phạm vi ngày càng lớn, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Năm 2017, lũ
quét, sạt lở đất đặc biệt nghiêm trọng trên diện rộng tại các tỉnh miền núi phía Bắc,
làm 71 người chết và mất tích, 4.109 ngôi nhà bị sập, bị cuốn trôi.
Dưới đây là phần trình bày của nhóm 6 về phần cây vấn đề, cây mục tiêu và khung
theo giõi cơ bản của dự án: Nâng cao ý thức người dân vùng cao trong việc phòng
tránh thiên tai bão lũ. Trong quá trình làm, các cá nhân đã nỗ lực hết sức để hoàn
thành bài, nếu còn sai sót mong cô chỉ bảo và bỏ qua.
A. Cây vấn đề ( Hình 1)
I. Tăng gánh nặng cho hệ thống cứu trợ và trợ cấp xã hội
Thiên tai thường xuyên xảy ra tại các vùng núi cao như Tây Bắc và miền Trung Việt
Nam, khiến chính phủ và các tổ chức cứu trợ phải chi trả nguồn kinh phí lớn để khắc
phục hậu quả. Tuy nhiên, do thiếu sự dự phòng và nguồn lực lâu dài, ngân sách dành
cho cứu trợ thường chỉ đáp ứng nhu cầu cấp bách trước mắt mà không giải quyết được
các vấn đề về dài hạn. Việc này dẫn đến "vòng lặp cứu trợ," khi người dân sau mỗi
thiên tai đều quay lại tình trạng khó khăn, phụ thuộc vào hỗ trợ từ chính phủ và các tổ
chức phi chính phủ (NGO), làm tăng gánh nặng lên hệ thống phúc lợi xã hội. Đối với
các địa phương có mức thu nhập bình quân thấp và cơ cấu kinh tế chưa phát triển
mạnh, việc dành một phần lớn ngân sách cho cứu trợ làm suy yếu các kế hoạch phát
triển bền vững.
II. Gia tăng thiệt hại về người và tài sản
Ở các vùng núi cao như Hà Giang, Sơn La, hay Quảng Nam, cấu trúc hạ tầng và nhà ở
của người dân chủ yếu là nhà bán kiên cố hoặc tạm bợ, thường không có khả năng
chống chịu với bão lũ và sạt lở đất. Hệ thống đường giao thông bị đứt gãy và cô lập là
nguyên nhân làm chậm quá trình tiếp cận cứu trợ khi thiên tai xảy ra. Ngoài ra, nhiều
hộ gia đình sống gần sông suối hoặc ở triền núi dốc, là những nơi có nguy cơ lũ quét
và sạt lở cao. Chính vì vậy, khi xảy ra thiên tai, thiệt hại về tài sản và người là rất
nghiêm trọng và việc phục hồi sau thiên tai gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực tài
chính và kỹ thuật tái thiết.
III.Ý thức của người dân trong việc chống bão lũ thiên tai
Ý thức của người dân đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu tác động của thiên
tai. Tuy nhiên, người dân ở các vùng núi thường có trình độ học vấn thấp, và nhiều
người chủ yếu sinh sống dựa vào nông nghiệp truyền thống, thiếu kiến thức về quản lý
rủi ro thiên tai. Họ ít khi chú ý đến việc dự trữ thực phẩm, nhu yếu phẩm hay chuẩn bị
vật dụng cứu hộ vì thiếu nhận thức về tầm quan trọng của việc này, dẫn đến sự phụ
thuộc cao vào sự trợ giúp từ bên ngoài khi thiên tai xảy ra.
Thông tin không được phổ biến rộng rãi kịp thời
Ở nhiều khu vực vùng núi cao, hệ thống truyền thông chưa phát triển mạnh, sóng điện
thoại và Internet yếu hoặc không có. Điều này khiến các thông tin dự báo thời tiết
không được phổ biến kịp thời đến người dân. Trong khi tại vùng đồng bằng, người
dân có thể dễ dàng nhận được các cảnh báo thời tiết qua nhiều kênh, người dân ở vùng
cao chỉ dựa vào các hình thức truyền thống như truyền miệng hoặc loa phát thanh tại
các trụ sở xã, dẫn đến sự thiếu thông tin và phản ứng chậm trễ trước thiên tai.
Ở các vùng núi nông thôn, thiếu cơ sở vật chất đón nhận thông tin về bão lũ thiên
tai
Không có kênh chuyên biệt dành cho vùng núi:
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ, lãnh đạo Đài Truyền hình Việt Nam,
sau một thời gian phát thử nghiệm chương trình truyền hình tiếng dân tộc, ngày
10/2/2002, kênh VTV5 chính thức phát sóng chương trình đầu tiên. Sự kiện này đánh
dấu lần đầu tiên tại Việt Nam, đồng bào dân tộc thiểu số được xem các chương trình
thiết kế riêng bằng chính ngôn ngữ của dân tộc mình trên sóng truyền hình quốc gia.
Khán giả có thể theo dõi VTV5 với 26 thứ tiếng (bao gồm cả tiếng Kinh) trên các nền
tảng khác nhau (truyền hình truyền thống, ứng dụng VTVgo, website VTV5, kênh
Youtube, Fage VTV5 trên Facebook...) Tuy nhiên, số lượng các dân tộc thiểu số khác
như Xinh-mun, La-chí, Phù Lá, Kháng, hay Pà Thẻn,.. khi theo giõi chương trình thì
không thể hiểu được nội dung nếu chưa được giáo dục phổ cập tiếng Kinh
Ý định mua thiết bị truyền thông của người dân chưa cao:
Đến nay, việc tiếp cận với máy tính và Internet đối với đồng bào DTTS cũng còn rất
hạn chế. Các dân tộc Si La, Chứt, La Hủ, Xinh Mun chỉ có dưới 1% số hộ có máy vi
tính. Các dân tộc La Hủ, Kháng, Khơ Mú, Rơ Măm... rất hiếm hộ có máy tính kết nối
Internet.
Các thiết bị thông tin giá thành rẻ như đài/radio/cát sét được Ủy ban nhân dân các cấp
khuyến khích người dân sở hữu để nắm bắt tình hình thời tiết cũng như các vấn đề nói
chung khác. Tuy nhiên, người dân thấy được sự không cấp thiết của thiết bị, dành dụm
tài chính dành cho các nhu yếu phẩm, dựa vào các yếu tố thiên nhiên môi trường để
dự báo trước thời tiết – đây là phương pháp được ông bà tổ tiên để lại và độ chính xác
không cao.
Các chiến dịch truyền thông chỉ triển khai khi thiên tai sắp xảy ra, thiếu sự nhắc
nhở
Hiện nay, các chiến dịch truyền thông phòng chống thiên tai thường chỉ được triển
khai ngay khi thiên tai sắp xảy ra, dẫn đến việc người dân chưa thực sự sẵn sàng về
mặt tâm lý và kỹ năng để ứng phó.
Sự thiếu vắng của các chiến dịch truyền thông thường xuyên khiến kiến thức về cách
ứng phó với thiên tai trong cộng đồng dễ bị mai một. Điều này đặc biệt nguy hiểm tại
khu vực miền núi phía Bắc, nơi địa hình phức tạp và điều kiện sống khó khăn hơn so
với vùng đồng bằng, làm tăng nguy cơ thiệt hại nếu thiếu kỹ năng và thông tin cần
thiết. Thêm vào đó, với tỷ lệ nghèo đói cao và cơ sở hạ tầng còn hạn chế, người dân ở
đây càng dễ bị tổn thương trước những tác động khắc nghiệt của thiên tai.
Thiếu giáo dục về sự nguy hiểm của bão lũ thiên tai ở trường lớp
Chương trình giảng dạy ở các trường học vùng cao chưa được tích hợp đầy đủ các
kiến thức và kỹ năng về ứng phó thiên tai. Các giáo viên cũng thường thiếu kinh
nghiệm và kiến thức về vấn đề này, dẫn đến việc giảng dạy về thiên tai chủ yếu mang
tính hình thức. Trong các môn học tại trường, ít có bài giảng về các biện pháp thực tế
khi gặp bão lũ hoặc sạt lở đất. Điều này khiến thế hệ trẻ ở các khu vực này lớn lên mà
không có ý thức và kỹ năng cần thiết để bảo vệ bản thân và gia đình.
Chưa có bài giảng về thiên tai trong chương trình giáo dục đào tạo của trường học
Việc thiếu các bài giảng về thiên tai trong chương trình giáo dục tại trường học là một
thiếu sót lớn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với các loại
thiên tai như bão, lũ lụt, và sạt lở đất. Khi kiến thức và kỹ năng ứng phó thiên tai
không được truyền đạt sớm cho học sinh, các thế hệ trẻ có nguy cơ thiếu chuẩn bị để
đối phó khi các tình huống khẩn cấp xảy ra. Đây là một rủi ro lớn, vì thiếu kỹ năng
này có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về tính mạng và tài sản, nhất là tại
những khu vực dễ bị thiên tai.
Việc lồng ghép giáo dục về thiên tai vào chương trình học có thể giúp học sinh hiểu rõ
hơn về thiên tai, nguyên nhân, và các biện pháp phòng tránh. Điều này không chỉ giúp
học sinh nâng cao nhận thức cá nhân mà còn tác động tích cực đến cộng đồng, khi
kiến thức phòng chống thiên tai được truyền đạt lại từ các em đến gia đình và cộng
đồng xung quanh.
Lực lượng giáo viên trên vùng núi còn hạn chế về số lượng và chất lượng, tập
trung dạy môn đại cương
Ở các vùng cao miền núi, cơ sở hạ tầng như trường học, nhà công vụ, và đường giao
thông thường thiếu thốn và xuống cấp. Nhiều điểm trường cách xa khu dân cư, chỉ có
thể tiếp cận bằng đường đất hoặc đường núi. Điều kiện làm việc khó khăn, thiếu nhà
ở, và thiếu các tiện nghi cơ bản khiến nhiều giáo viên không muốn đến hoặc không
gắn bó lâu dài với các khu vực này. Đa phần các xã vùng sâu, vùng xa chưa có trạm y
tế hoặc điều kiện y tế còn rất hạn chế, làm cho giáo viên khó có thể chăm sóc bản thân
và gia đình. Sự thiếu an toàn về mặt sức khỏe cũng là yếu tố khiến họ không muốn
chuyển đến hoặc duy trì công tác ở vùng núi lâu dài.
Mặc dù giáo viên ở vùng cao thường được hỗ trợ thêm phụ cấp so với những khu vực
đồng bằng, nhưng tổng thu nhập vẫn còn thấp so với chi phí sinh hoạt, nhất là khi họ
phải di chuyển xa hoặc sống trong điều kiện khắc nghiệt. Nhiều giáo viên chia sẻ rằng
với mức lương hiện tại, họ khó có thể nuôi sống gia đình, dẫn đến việc họ phải chuyển
sang công việc khác có thu nhập ổn định hơn. Hiện nay, chính sách hỗ trợ và đãi ngộ
cho giáo viên vùng cao vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Các khoản phụ cấp
thường không đủ để bù đắp cho khó khăn khi phải sống và làm việc trong môi trường
hẻo lánh, thiếu tiện nghi. Điều này dẫn đến việc nhiều giáo viên từ chối hoặc rời bỏ
công việc khi được phân công lên vùng cao
Do điều kiện địa lý cách trở và hạ tầng thiếu thốn, giáo viên ở vùng cao thường không
có cơ hội tiếp cận với các khóa đào tạo nâng cao hoặc bồi dưỡng chuyên môn. Điều
này làm giảm động lực làm việc và phát triển nghề nghiệp của họ, đồng thời ảnh
hưởng đến chất lượng giảng dạy. Ở các khu vực vùng sâu, vùng xa, cơ hội thăng tiến
và chuyển đổi vị trí công tác rất hạn chế, khiến giáo viên cảm thấy không có tương lai
rõ ràng trong công việc. Do đó, nhiều người không muốn công tác lâu dài mà chuyển
sang các vùng đồng bằng hoặc thành phố, nơi có cơ hội thăng tiến và môi trường làm
việc thuận lợi hơn.
Thiếu kiến thức thực tế, người dân không biết cách ứng phó với bão lũ
Các hoạt động diễn tập, các hoạt động huấn luyện thực tế còn thiếu:
Đối với hoạt động tập huấn, nâng cao năng lực trình độ cho cán bộ tham gia trực tiếp
công tác Phòng chống thiên tai, tiêu chí này được thực hiện một cách phổ biến ở vùng
thiên tai Miền núi Bắc Trung bộ và Trung Trung Bộ. Ở vùng Duyên hải Miền Trung,
việc tập huấn, nâng cao năng lực trình độ cho cán bộ tham gia trực tiếp công tác PCTT
chưa được chú trọng, chỉ 1/9 xã được khảo sát đã triển khai công tác này và kết quả
đạt được trung bình (TB) của cả vùng là 70% so với nhu cầu. Trong khi đó, công tác
đào tạo, tập huấn nghiệp vụ hàng năm cho đội xung kích mới chỉ được triển khai ở
một số vùng thiên tai như Miền núi Bắc Trung bộ và Trung Trung Bộ (5/9 xã được
khảo sát đã thực hiện); Đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ (4/9 xã được khảo sát đã
thực hiện); Đô thị lớn tập trung (4/9 xã được khảo sát đã thực hiện).
Cơ sở vật chất, hạ tầng chống bão lũ chất lượng thấp và thiếu thốn
Việc huy động, chuẩn bị vật tư, phương tiện, nhu yếu phẩm trong hoạt động Phòng
chống thiên tai hiện đang không được thực hiện tốt:
Các vật dụng để chống bão lũ chưa được cung cấp đầy đủ như thuyền, phao, bè:
Kết quả khảo sát ở các vùng thiên tai cho thấy, việc huy động vật tư, phương tiện, nhu
yếu phẩm trong hoạt động PCTT hiện đang không được thực hiện tốt. Ngoài vùng Đô
thị lớn tập trung (có 5/9 xã được khảo sát đã thực hiện hoạt động này), các vùng thiên
tai khác thực hiện việc huy động nguồn lực PCTT rất hạn chế. Đặc biệt, các vùng
Duyên hải miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long, ven biển và hải đảo không có xã
nào trong số các xã được khảo sát đã thực hiện việc huy động vật tư phương tiện, nhu
yếu phẩm trong hoạt động PCTT.
Thực phẩm, đồ dùng cần thiết dự trữ của người dân không đủ sử dụng :
Đối với việc chuẩn bị vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm phục vụ PCTT
ở cấp xã, hầu hết các vùng thiên tai có từ 5/9 đến 6/9 xã được lựa chọn để khảo sát đã
và đang triển khai với kết quả trung bình đạt được của tiêu chí này dao động từ
38,75% đến 80%. Riêng Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 3/9 xã được lựa chọn để
khảo sát đã thực hiện, còn lại 6/9 xã chưa từng triển khai công tác này trên thực tế.
Khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên thường xuyên bị thiếu lương thực dự trữ
trong mùa bão lũ, với khoảng 30-40% hộ gia đình được báo cáo thiếu thực phẩm đủ
dùng từ 1 đến 3 tháng trong mùa mưa lũ. Đồng bằng sông Cửu Long cũng gặp tình
trạng thiếu hụt trong mùa lũ, đặc biệt khi lũ về sớm hoặc kéo dài, khiến người dân
không kịp trữ thực phẩm. Tỷ lệ thiếu hụt tại đây được ước tính khoảng 20-30% hộ
dân. Nhiều hộ gia đình vùng sâu, vùng xa thiếu các nhu yếu phẩm như đèn pin, thuốc
men, đồ giữ ấm, đặc biệt ở các tỉnh miền núi và các khu vực dễ bị cô lập khi mưa bão.
Có đến 50% các hộ gia đình trong các vùng dễ bị thiên tai không đủ đồ dùng cần thiết
để chống chịu ít nhất một tuần trong mùa bão lũ, theo khảo sát của một số dự án hợp
tác quốc tế về giảm thiểu rủi ro thiên tai.
Việc triển khai lồng ghép nội dung Phòng chống thiên tai vào quy hoạch chưa
được thực hiện hiệu quả
Các vùng (Đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ; Đô thị lớn tập trung; ven biển và hải
đảo) có 6/9 xã được lựa chọn để khảo sát tốt công tác lồng ghép nội dung PCTT. Miền
núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 4/9 xã được lựa chọn để khảo sát ở
mỗi vùng hoàn thành tiêu chí này. Công tác xây dựng cơ sở hạ tầng (điện, đường,
trường, trạm) đảm bảo tiêu chuẩn về phòng chống thiên tai được thực hiện phổ biến
nhất là ở Tây Nguyên, vùng núi Nam Trung bộ, Đông Nam bộ với 9/9 xã được lựa
chọn để khảo sát đã thực hiện nhưng kết quả không chắc chắn. Chỉ có 1 xã báo cáo kết
quả trung bình đạt được của tiêu chí là 80%. Trong khi đó cũng có những vùng thực
hiện tiêu chí này không tốt đó là: Duyên hải miền Trung; ven biển và hải đảo (chỉ có
3/9 xã được lựa chọn để khảo sát ở mỗi vùng). Riêng Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ
có duy nhất 1/9 xã được lựa chọn để khảo sát đã thực hiện việc áp dụng tiêu chuẩn
đảm bảo an toàn phòng chống thiên tai vào các công trình hạ tầng thiết yếu. Rất ít các
xã được lựa chọn để khảo sát đánh giá được kết quả đạt được của tiêu chí này. Triển
khai quy hoạch và xây dựng kênh mương nội đồng, rãnh tiêu thoát nước phục vụ công
tác tiêu thoát nước trong mùa mưa bão hiện không được chú trọng ở tất cả các vùng
thiên tai. Kết quả khảo sát hiện trường chỉ ra rằng, chỉ 1/9 xã được lựa chọn ở Miền
núi Bắc Trung bộ và Trung Trung bộ, Đô thị lớn tập trung có quan tâm đến phòng
chống úng ngập trên địa bàn thông qua các giải pháp xây dựng kênh mương nội đồng,
rãnh tiêu thoát nước.
Nơi trú ẩn, nhà tránh bão thiên tai còn thiếu tại các vùng cao
Tại các vùng cao như miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, và Tây Nguyên, tỷ lệ các xã
có đủ nhà tránh bão, nơi trú ẩn an toàn còn thấp, với nhiều báo cáo cho thấy khoảng
50-70% các địa phương vùng cao chưa có đủ cơ sở tránh trú thiên tai đạt chuẩn. Đặc
biệt ở các tỉnh như Hà Giang, Lai Châu, Sơn La (miền núi phía Bắc) và Đắk Lắk, Gia
Lai (Tây Nguyên), hệ thống nhà tránh bão còn chưa được đầu tư đầy đủ do khó khăn
về địa hình và hạn chế về ngân sách.
B. Cây mục tiêu ( Hình 2)
1. Giáo dục cộng đồng
Tổ chức các buổi tập huấn:
Các buổi tập huấn là cơ hội để người dân nâng cao hiểu biết và kỹ năng cần thiết khi
đối mặt với thiên tai. Nội dung tập huấn có thể bao gồm hướng dẫn về sơ cứu ban đầu,
cách sử dụng công cụ cứu hộ, và các quy trình an toàn cơ bản trong tình huống khẩn
cấp. Ngoài ra, các chuyên gia có thể cung cấp kiến thức về những dấu hiệu nhận biết
thiên tai, giúp người dân nhận biết và phản ứng kịp thời.
Buổi tập huấn là cơ hội để cộng đồng không chỉ được truyền đạt kiến thức mà còn
được thực hành các kỹ năng ứng phó thiên tai. Theo báo cáo của UNDRR, các quốc
gia có các chương trình đào tạo thường xuyên giúp giảm thiểu thiệt hại thiên tai tới
30% so với các khu vực không có chương trình này. Ví dụ, tại Bangladesh, nhờ tổ
chức hơn 1.000 buổi tập huấn hằng năm, tỷ lệ tử vong do bão giảm từ 300.000 người
trong cơn bão Bhola (1970) xuống dưới 10.000 người trong các cơn bão gần đây.
Tại Việt Nam, các buổi tập huấn cũng được triển khai rộng rãi, đặc biệt là tại các tỉnh
miền Trung và miền Bắc nơi thường xuyên chịu tác động của bão lũ và lũ quét. Chẳng
hạn, trong năm 2022, Trung tâm Phòng chống và Giảm nhẹ Thiên tai quốc gia đã tổ
chức hơn 500 buổi tập huấn với sự tham gia của hơn 100.000 người dân. Nội dung của
các buổi này bao gồm kỹ năng sơ cứu, cách sử dụng công cụ cứu hộ, và các kỹ năng
di tản an toàn.
Phát tờ rơi thông tin:
Tờ rơi là phương tiện truyền thông đơn giản nhưng hiệu quả để cung cấp thông tin
nhanh chóng đến cộng đồng. Tờ rơi có thể chứa đựng các nội dung như cách nhận biết
thiên tai sắp xảy ra, các bước cần làm để bảo vệ bản thân và gia đình, và thông tin liên
hệ khẩn cấp. Phân phát tờ rơi tại các địa điểm công cộng như trường học, trung tâm y
tế, và chợ giúp người dân dễ dàng tiếp cận và nắm bắt thông tin.
Phát tờ rơi là biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả để tiếp cận và truyền tải kiến thức
nhanh chóng đến người dân, đặc biệt là các cộng đồng ít tiếp cận internet và thông tin
số. Ở Nhật Bản, mỗi gia đình tại các khu vực thường xuyên xảy ra động đất và sóng
thần đều nhận được các tờ rơi hoặc cẩm nang hướng dẫn ứng phó thiên tai hàng năm.
Ở Việt Nam, các tỉnh thành cũng phát hành hàng trăm nghìn tờ rơi trước mùa bão lũ.
Theo một khảo sát của UNDP năm 2020, 85% người dân tại các khu vực nhận được tờ
rơi đã hiểu rõ các bước cần thực hiện để bảo vệ bản thân và gia đình trong tình huống
thiên tai.
Chiến dịch truyền thông đa phương tiện:
Sử dụng các kênh truyền thông như đài phát thanh, truyền hình, báo chí, và mạng xã
hội để tạo chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người dân về phòng
chống thiên tai. Thông qua các video, hình ảnh minh họa, và câu chuyện thực tế, chiến
dịch có thể tác động mạnh mẽ, giúp người dân hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc
chuẩn bị cho các tình huống thiên tai.
Chiến dịch truyền thông đa phương tiện là cách tiếp cận mạnh mẽ để nâng cao nhận
thức cộng đồng về phòng chống thiên tai. Tại Philippines, chính phủ thường xuyên
phát các video cảnh báo và hướng dẫn cách ứng phó trên các kênh truyền hình và
mạng xã hội. Các chiến dịch này đã giúp giảm thiểu thiệt hại thiên tai, đặc biệt là giảm
số lượng thương vong khi xảy ra bão. Ở Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông đã
thực hiện nhiều chiến dịch truyền thông đa phương tiện, giúp tiếp cận hơn 5 triệu
người dân vào năm 2021. Các kênh truyền thông như Facebook, Zalo, và truyền hình
quốc gia đã tăng cường truyền tải thông tin, giúp người dân có được kỹ năng và kiến
thức cần thiết để ứng phó.
2. Cải thiện hệ thống cảnh báo sớm
Nâng cao hệ thống dự báo:
Đầu tư vào các thiết bị và công nghệ dự báo hiện đại giúp tăng độ chính xác và độ tin
cậy của các dự báo thiên tai. Bên cạnh đó, việc nâng cao trình độ của nhân viên dự
báo cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng thông tin. Hệ thống
dự báo chính xác sẽ giúp người dân và các tổ chức có đủ thời gian để chuẩn bị và
giảm thiểu thiệt hại.
Hệ thống dự báo đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu thiệt hại từ thiên tai
nhờ cung cấp thông tin kịp thời cho người dân và các cơ quan chức năng. Tại Nhật
Bản, quốc gia này chi hơn 2 tỷ USD mỗi năm để duy trì hệ thống dự báo thiên tai
chính xác. Hệ thống dự báo của Nhật có thể dự báo chính xác 90% các trận động đất
và cảnh báo sóng thần trong vòng 5-10 phút sau khi xảy ra.
Ở Việt Nam, chính phủ đã đầu tư vào hệ thống radar và thiết bị hiện đại để tăng độ
chính xác của dự báo. Nhờ vậy, độ chính xác của dự báo bão lũ đã được cải thiện từ
60% lên 80% trong giai đoạn 2015-2022, giúp người dân và các tổ chức chuẩn bị kỹ
lưỡng hơn trước các tình huống khẩn cấp. Dự báo sớm và chính xác giúp các tỉnh
thành ven biển như Nghệ An, Hà Tĩnh chủ động di tản người dân, tránh được các thiệt
hại lớn về người và của.
Cải thiện kênh thông tin:
Đảm bảo thông tin cảnh báo được truyền tải một cách nhanh chóng và hiệu quả đến
người dân là yếu tố then chốt trong hệ thống cảnh báo sớm. Các kênh thông tin như tin
nhắn điện thoại, loa phường, mạng xã hội, và các ứng dụng cảnh báo khẩn cấp cần
được sử dụng đồng bộ để đảm bảo tất cả mọi người đều có thể nhận được thông tin
kịp thời, đặc biệt là những khu vực xa xôi, khó tiếp cận.
Đảm bảo rằng thông tin cảnh báo được truyền tải đến tất cả mọi người một cách nhanh
chóng và đồng bộ là yếu tố cốt lõi của hệ thống cảnh báo sớm. Theo nghiên cứu, các
phương tiện như tin nhắn SMS và ứng dụng di động có thể tiếp cận tới hơn 90%
người dân ở khu vực đô thị và 70% ở vùng nông thôn. Ở Việt Nam, việc sử dụng các
ứng dụng như Zalo và tin nhắn SMS đã giúp truyền tải thông tin nhanh chóng đến
người dân trong mùa lũ. Riêng năm 2021, hơn 3 triệu tin nhắn cảnh báo đã được gửi
đến các khu vực có nguy cơ lũ lụt ở miền Trung.
Tăng cường mạng lưới quan trắc:
Xây dựng và cải thiện mạng lưới các trạm quan trắc tại những khu vực có nguy cơ cao
như vùng núi, ven biển để theo dõi và giám sát các biến đổi của môi trường. Những
dữ liệu từ các trạm quan trắc này sẽ giúp các cơ quan chức năng có thể đưa ra các
cảnh báo kịp thời và chính xác, từ đó hỗ trợ người dân chuẩn bị trước khi thiên tai xảy
ra.
Xây dựng và phát triển các trạm quan trắc tại những khu vực có nguy cơ cao giúp các
cơ quan chức năng dự đoán và cảnh báo thiên tai kịp thời. Tại Mỹ, có hàng ngàn trạm
quan trắc khí tượng và thủy văn trải khắp đất nước, giúp thu thập dữ liệu để đưa ra
cảnh báo chính xác. Việt Nam cũng đã đầu tư vào mạng lưới hơn 150 trạm quan trắc
tập trung tại các khu vực núi, ven biển có nguy cơ lũ quét và sạt lở đất. Theo Viện
Khoa học Khí tượng Thủy văn, hệ thống này cho phép cảnh báo trước 24 giờ đối với
các tình huống lũ lụt, giúp người dân chuẩn bị sớm và an toàn hơn.
3. Tăng cường khả năng ứng phó
Xây dựng kế hoạch ứng phó cộng đồng:
Mỗi cộng đồng cần có một kế hoạch ứng phó cụ thể phù hợp với điều kiện địa phương
và các nguy cơ thiên tai tiềm ẩn. Kế hoạch này bao gồm việc phân chia nhiệm vụ, xác
định các khu vực an toàn, và quy trình di tản khi có tình huống khẩn cấp. Việc phân
chia vai trò rõ ràng giúp mọi người biết được mình phải làm gì và ai sẽ phụ trách trong
tình huống cụ thể, từ đó giảm thiểu sự hỗn loạn và tăng hiệu quả ứng phó.
Các kế hoạch ứng phó cộng đồng giúp phân bổ rõ ràng nhiệm vụ và vai trò của từng
thành viên trong cộng đồng khi có tình huống thiên tai xảy ra. Tại các làng ven biển ở
Bangladesh, các kế hoạch này đã giúp giảm đáng kể thiệt hại, với tỷ lệ tử vong do bão
giảm tới 50% trong các năm gần đây. Tại Việt Nam, các làng xã ở Quảng Nam và Phú
Yên cũng đã triển khai các kế hoạch ứng phó với các điểm di tản an toàn, giúp giảm
thiểu thiệt hại.
Trang bị kỹ năng sơ cứu:
Đào tạo người dân về các kỹ năng sơ cứu cơ bản là điều cần thiết để họ có thể tự bảo
vệ bản thân và hỗ trợ người khác trong tình huống khẩn cấp. Những kỹ năng này bao
gồm cách xử lý các vết thương, cách hồi sức cấp cứu, và kỹ năng sơ cứu trong trường
hợp đuối nước hoặc bị thương nặng. Khả năng sơ cứu kịp thời có thể cứu sống nhiều
người trong các trường hợp khẩn cấp.
Kỹ năng sơ cứu giúp người dân tự bảo vệ mình và giúp đỡ người khác khi xảy ra thiên
tai. Theo Hội Chữ thập đỏ quốc tế, khả năng ứng cứu kịp thời có thể tăng cơ hội sống
sót lên đến 30% cho người bị nạn. Tại Việt Nam, hơn 50.000 người đã tham gia các
khóa học sơ cứu, đặc biệt ở các vùng có nguy cơ thiên tai cao. Những kỹ năng như sơ
cứu vết thương, hồi sức cấp cứu là cần thiết và hữu ích trong các tình huống khẩn cấp.
Diễn tập phòng chống thiên tai:
Các cuộc diễn tập phòng chống thiên tai được tổ chức định kỳ để người dân có cơ hội
thực hành các kỹ năng ứng phó đã được học. Các buổi diễn tập giúp mọi người chuẩn
bị tốt hơn về mặt tâm lý, đồng thời nhận ra những lỗ hổng trong quy trình ứng phó để
cải thiện cho lần sau. Đây cũng là dịp để các tổ chức và chính quyền đánh giá hiệu quả
của kế hoạch ứng phó.
Diễn tập định kỳ giúp cộng đồng thực hành kỹ năng ứng phó và xác định những điểm
yếu trong kế hoạch. Tại Nhật Bản, các cuộc diễn tập giúp người dân tăng khả năng
ứng phó lên đến 25%. Việt Nam cũng tổ chức diễn tập hàng năm ở các khu vực dễ bị
lũ lụt, sạt lở. Năm 2022, các cuộc diễn tập tại các tỉnh miền Trung đã giúp phát hiện
và khắc phục các lỗ hổng trong hệ thống ứng phó, từ đó nâng cao tính hiệu quả trong
thực tế.
4. Phát triển cơ sở hạ tầng
Xây dựng công trình chống lũ:
Đầu tư vào các công trình chống lũ như đê điều, kè sông, và cống thoát nước để giảm
thiểu nguy cơ ngập lụt và thiệt hại. Những công trình này đóng vai trò bảo vệ các khu
dân cư và cơ sở hạ tầng khỏi tác động của dòng chảy lũ lụt và nước dâng cao. Việc
bảo dưỡng và kiểm tra định kỳ các công trình này cũng rất quan trọng để đảm bảo
chúng hoạt động hiệu quả trong các tình huống thiên tai.
Các công trình như đê điều, kè sông, cống thoát nước giúp giảm thiểu đáng kể nguy
cơ ngập lụt. Tại Hà Lan, nơi có hệ thống đê điều hiện đại, tỷ lệ lũ lụt giảm đến 70%. Ở
Việt Nam, hệ thống đê dài hơn 9.000 km giúp bảo vệ các khu dân cư ven sông khỏi
nước lũ và ngập úng. Ngoài ra, các dự án đê điều mới tại vùng Đồng bằng sông Cửu
Long cũng đang được triển khai để bảo vệ hàng triệu người khỏi ngập lụt.
Quy hoạch đô thị bền vững:
Phát triển và quy hoạch đô thị dựa trên các tiêu chuẩn bền vững và phù hợp với điều
kiện tự nhiên của từng địa phương. Điều này bao gồm việc bố trí các khu dân cư,
đường xá, và cơ sở hạ tầng sao cho giảm thiểu tác động của thiên tai và tối ưu hóa khả
năng thoát nước, chống lũ. Quy hoạch đô thị bền vững không chỉ giảm nguy cơ thiệt
hại mà còn giúp xây dựng môi trường sống an toàn và hiệu quả.
Quy hoạch đô thị thông minh không chỉ giúp bảo vệ người dân mà còn tăng khả năng
phục hồi của môi trường. Các thành phố như Singapore và Tokyo đã tích hợp quy
hoạch thoát nước hiệu quả để giảm thiểu ngập úng. Ở Việt Nam, Hà Nội và TP.HCM
cũng đang triển khai các dự án thoát nước, giúp giảm thiểu tác động của ngập lụt lên
khu dân cư. Việc cải thiện hệ thống thoát nước đã giảm thiệt hại kinh tế do ngập lụt
đến 50% trong những năm gần đây.
Bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn:
Rừng đầu nguồn đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn lũ lụt và giảm thiểu sạt
lở đất. Việc bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà
còn là biện pháp phòng chống thiên tai hiệu quả, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi
khí hậu ngày càng nghiêm trọng. Trồng thêm cây và bảo vệ rừng cũng góp phần bảo
vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học.
Rừng đầu nguồn có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn lũ lụt và xói mòn đất.
Theo một nghiên cứu của FAO, mỗi hecta rừng có thể giữ lại 1000-2000 m³ nước,
giúp giảm nguy cơ lũ lụt cho các khu vực hạ lưu. Ở Việt Nam, chương trình trồng
rừng đầu nguồn đã được triển khai với mục tiêu trồng mới hơn 1 triệu hecta rừng từ
năm 2010, giúp bảo vệ đất đai và giảm thiểu sạt lở ở các vùng núi cao.
C.Khung theo giõi cơ bản ( Hình 3)
1. Khung theo giõi cơ bản:
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề từ thiên tai, đặc biệt là
các hiện tượng bão lũ và lở đất. Những hiện tượng này không chỉ gây thiệt hại lớn về
người và tài sản mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội và đời
sống của người dân, nhất là ở các khu vực có điều kiện địa lý phức tạp và dễ bị tổn
thương. Do đó, việc xây dựng và triển khai chương trình phòng chống thiên tai nhằm
nâng cao khả năng ứng phó của cộng đồng trở thành ưu tiên hàng đầu của các cơ quan
chính quyền và tổ chức liên quan.
Khung theo dõi này được xây dựng nhằm mục đích hỗ trợ giám sát và đánh giá hiệu
quả của chương trình phòng chống thiên tai trong cộng đồng. Thông qua các chỉ số đo
lường cụ thể, khung theo dõi sẽ cung cấp thông tin chi tiết về tiến độ thực hiện, các
kết quả đầu ra và đầu vào của chương trình, từ đó làm cơ sở cho các điều chỉnh và cải
thiện liên tục. Các mục tiêu chính của khung bao gồm giảm thiểu thiệt hại về người và
tài sản, nâng cao nhận thức của người dân về thiên tai, và đảm bảo sự sẵn sàng của
cộng đồng trong việc ứng phó với các tình huống khẩn cấp.
Khung theo dõi này được cấu trúc dựa trên các thành phần chính bao gồm: Mục tiêu
(Goal), , , , Mục đích (Purpose) Kết quả (Outcomes) Đầu ra (Outputs) Hoạt động
(Activities), và . Mỗi thành phần đều có các chỉ số đo lường chi tiết,Đầu vào (Inputs)
phương pháp đánh giá, tần suất đo lường và phương thức báo cáo cụ thể, nhằm đảm
bảo tính nhất quán và minh bạch trong quá trình theo dõi.
Các bên tham gia vào khung theo dõi này bao gồm đại diện chính quyền địa phương,
đội ngũ cán bộ phòng chống thiên tai, các đơn vị truyền thông, các cơ quan xã hội, kế
hoạch, tài chính và tình nguyện viên tại các địa phương. Sự hợp tác giữa các bên này
không chỉ góp phần tăng cường tính hiệu quả của chương trình mà còn thúc đẩy sự
tham gia chủ động của cộng đồng trong công tác phòng ngừa và ứng phó thiên tai.
Khung theo dõi sẽ giúp các bên liên quan có một cái nhìn tổng quan và liên tục cập
nhật về tình hình triển khai, từ đó nâng cao khả năng đưa ra các quyết định và điều
chỉnh phù hợp để tăng cường hiệu quả của chương trình.
Với cách tiếp cận hệ thống và toàn diện, khung theo dõi này kỳ vọng sẽ là công cụ
hữu hiệu trong việc hỗ trợ các cơ quan quản lý và cộng đồng cùng chung tay xây dựng
một xã hội an toàn, bền vững, và sẵn sàng ứng phó với những thách thức từ thiên tai.
2. Báo cáo kết quả
Báo cáo tóm tắt: Các số liệu chính sẽ được tổng hợp thành báo cáo tóm tắt gửi
đến các bên liên quan như chính quyền địa phương, tổ chức phi chính phủ.
Hội thảo: Tổ chức các buổi hội thảo để chia sẻ kết quả, thảo luận về những điểm
cần cải thiện và các biện pháp tiếp theo.
Công bố trên phương tiện truyền thông: Xuất bản các kết quả chính trên các
kênh truyền thông đại chúng để nâng cao nhận thức cộng đồng.
D. Kết luận
Chương trình nâng cao ý thức cộng đồng về phòng chống bão lũ thiên tai tại vùng cao
Việt Nam là một bước đi quan trọng và cần thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang
ngày càng gia tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống và sinh kế của người dân.
Thông qua việc xác định rõ các nguyên nhân và tác động của tình trạng thiên tai qua
cây vấn đề, bài tiểu luận đã đưa ra các mục tiêu cụ thể hướng tới việc giảm thiểu rủi ro
và tổn thất thông qua việc xây dựng một cộng đồng có năng lực ứng phó với bão lũ.
Bằng cách sử dụng cây mục tiêu và khung theo dõi, chương trình được thiết kế để
không chỉ nâng cao nhận thức mà còn thúc đẩy sự tham gia chủ động của cộng đồng
trong việc quản lý rủi ro thiên tai.
Khung theo dõi và đánh giá đã cho thấy sự hiệu quả và khả năng nhân rộng của dự án,
giúp các nhà quản lý và tổ chức dễ dàng đánh giá được tiến độ và điều chỉnh kế hoạch
khi cần thiết. Kết quả mong đợi là sự chuyển biến tích cực trong thái độ và hành vi
của người dân, nâng cao năng lực cộng đồng và cải thiện khả năng phục hồi của các
khu vực chịu ảnh hưởng. Chương trình không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc
giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản mà còn góp phần ổn định kinh tế - xã hội của
vùng cao Việt Nam trước các nguy cơ thiên tai trong tương lai.
Hình 1: Cây vấn đề
Gia tăng gánh nặng
cho hệ thống cứu trợ,
trợ cấp xã hội tăng
cao
Gia tăng thiệt hại về
người và tài sản
Ý thức của người dân
trong việc phòng
tránh bão lũ, thiên tai
Thông tin không được
phổ biến rộng rãi kịp
thời
vùng núi nông
hạ tầng công
đón nhận thông
bão lũ thiên tai
ưa toàn diện
o
úi
Ý định mua thiết bị
truyền thông của
người dân vùng núi
chưa cao
Các chiến dịch truyền
thông chỉ triển khai
khi thiên tai sắp xảy
ra, thiếu sự nhắc nhở
Thiếu giáo dục về sự
nguy hiểm của bão lũ
thiên tai ở trường lớp
Chưa có bài giảng về
thiên tai trong chương
trình giáo dục đào tạo
của trường học
Lực lượng giáo viên
trên vùng núi còn hạn
chế về số lượng và
chất lượng, tập trung
dạy môn đại cương
Thiếu kiến thực thực
tế, người dân không
biết cách thức ứng
phó với bão
Các hoạt động diễn
tập, tập huấn thực tế
chưa được tổ chức
Không đủ nguồn nhân
lực phân bổ lên vùng
cao
Cơ sở vật chất chống
bão lũ chất lượng thấp
và thiếu thốn
Nhà ở, chuồng chăn
nuôi người dân chủ
yếu làm từ gỗ, không
được gia cố cẩn thận,
dễ sụp đổ
Phân bổ nguồn vốn
xây dựng cơ sở vật
chất nhà ở cho người
dân vùng cao chưa
đồng đều
Nơi trú ẩn, nhà chung
xã hội tránh bão lũ
thiên tai chưa được
xây dựng
Việc huy động, chu
bị vật tư, phương t
nhu yếu phẩm tro
hoạt động Phòng
chống thiên tai hiệ
đang không được t
hiện tốt
Thực phẩm, đồ dùng
cần thiết dự trữ của
người dân không đủ
sử dụng trong mùa
bão lũ
Các v
chố
được
như
Hình 2 : Cây mục tiêu
Nâng cao ý thức người dân về phòng chống bão
lũ, lở đất
iáo dục
ng đồng
hát tờ rơi
ông tin
Chiến dịch
truyền
thông đã
phương
tiện
Cải thiện
hệ thống
cảnh báo
sớm
Nâng cao
hệ thống
dự báo
Cải thiện
kênh thông
tin
Tăng
cường
mạng lưới
quan trắc
Tăng
cường khả
năng ứng
phó
Xây dựng
kế hoạch
ứng phó
cộng đồng
Trang bị kĩ
năng sơ
cứu
Diễn tập
phòng
tránh thiên
tai
Phát
triển cơ
sở hạ
tầng
Xây dựng
công trình
chống lũ
Quy hoạch
đô thị bền
vững
B
p
Chỉ số Chỉ tiêu Đo lường cái gì? Đo lường như thế nào? Ai sẽ tiến hành đo
lường
Tần suất đo
lường
Tỉ lệ giảm thiểu thiệt hại
về người và tài sản
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030,
giảm thiệt hại do thiên tai gây ra,
giảm 50% thiệt hại về người do
lũ quét, sạt lở đất so với giai
đoạn 2011-2020; thiệt hại về
kinh tế do thiên tai không vượt
quá 1,2% GDP
Số lượng người bị
thương hoặc thiệt mạng
do thiên tai, số tài sản bị
ảnh hưởng bởi thiên tài,
các thiệt hại về kinh tế
Phân tích dữ liệu từ các báo cáo
của các cơ quan phòng chóng
thiên tai
Khảo sát nhận thức cộng đồng
qua bảng hỏi
Đội ngũ cán bộ phòng
chống thiên tai Hàng năm
Số người được tập huấn
và biết cách ứng phó khi
có bão lũ
Mức độ hiểu biết về thiên
tai, bão lũ và kĩ năng ứng
phó của người dân
Đến năm 2030, 100% cơ quan
chính quyền các cấp, tổ chức và
hộ gia đình được tiếp nhận đầy
đủ thông tin và hiểu biết kỹ năng
phòng tránh thiên tai; 100% tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân đảm
bảo các yêu cầu theo phương
châm “4 tại chỗ” (chỉ huy tại
chỗ; lực lượng tại chỗ; phương
tiện, vật tư tại chỗ; hậu cần tại
chỗ)
Tỉ lệ hộ gia đình có kế
hoạch ứng phó khẩn cấp
Tỉ lệ hộ gia có chuẩn bị
các vật dụng khẩn cấp
ứng phó thiên tai
Tạo các phiếu khảo sát trước và
sau khóa tập huấn để thu thập ý
kiến
Kiểm tra tình trạng chuẩn bị của
các hộ gia đình
Đội ngũ cán bộ từ ủy
ban phòng chống
thiên tai và tình
nguyện viên tại địa
phương
Hàng năm
Tỉ lệ hộ gia đình có sẵn
bộ dụng cụ khẩn cấp cho
ứng phó bão lũ thiên tai
Mức độ chuẩn bị của
cộng đồng cho thiên tai
bão lũ
Tỉ lệ hộ gia đình có chuẩn bị các
bộ dụng cụ sơ cứu, có các dụng
cụ sinh tồn để chuẩn bị tình
trạng bão lũ đạt 100% vào năm
2030
Mức độ chuẩn bị của
cộng đồng cho thiên tai
bão lũ
Khả năng tiếp cận và sử
dụng các trang thiết bị
ứng phó
Khảo sát ngẫu nhiên tại các hộ
gia đình qua bảng hỏi hoặc
phỏng vấn
Kiểm kê và đánh giá tình trạng
sẵn sàng của bộ dụng cụ cứu trợ
Đội ngũ cán bộ từ ủy
ban phòng chống
thiên tai và tình
nguyện viên tại địa
phương
Hàng năm
(nhất là sau
mỗi mùa bão
lũ)

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TẬP NHÓM
ĐỀ TÀI: Nâng cao ý thức của người dân vùng cao trong việc
phòng tránh thiên tai bão lũ
Giảng viên hướng dẫn
: PGS.TS Đặng Thị Lệ Xuân Môn
: Theo giõi & Đánh giá phát triển Lớp học phần : PTCC1129(124) Nhóm trình bày : 6 STT Họ và tên Mã sinh viên 1 Ngũ Trọng Tuấn Đạt 11221241 2 Phan Nhật Anh 11220573 3 Lâm Mạnh Đức 11221360 4 Nguyễn Trung Hiếu 11222338 5 Phạm Tuấn Minh 11224298 6 Hồ Nam Long 11223893 Hà Nội, 2024 Mở đầu
Trong 20 năm vừa qua, các khu vực trên cả nước ta đã phải hứng chịu hầu hết các loại
hình thiên tai (trừ sóng thần), gây tổn thất nặng nề về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, tác
động đến môi trường sống, hoạt động sản xuất kinh doanh. ảnh hưởng lớn đến sự phát
triển bền vững của đất nước (trung bình mỗi năm thiên tai làm trên 400 người chết và
mất tích, thiệt hại vật chất khoảng 1-1,5% GDP). Tình hình thiên tai có những diễn
biến bất thường, trái quy luật, ngày càng nghiêm trọng hơn cả về cường độ và tần suất.
Thiên tai xảy ra nhiều hơn ở các vùng, miền trước đây ít xảy ra. Rủi ro thiên tai một
số vùng tăng do phát triển kinh tế nhanh, quy mô lớn nhưng cơ sở hạ tầng thiếu bền
vững. Riêng các tỉnh miền núi phía Bắc xảy ra trên 300 trận lũ quét, sạt lở đất với quy
mô và phạm vi ngày càng lớn, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Năm 2017, lũ
quét, sạt lở đất đặc biệt nghiêm trọng trên diện rộng tại các tỉnh miền núi phía Bắc,
làm 71 người chết và mất tích, 4.109 ngôi nhà bị sập, bị cuốn trôi.
Dưới đây là phần trình bày của nhóm 6 về phần cây vấn đề, cây mục tiêu và khung
theo giõi cơ bản của dự án: Nâng cao ý thức người dân vùng cao trong việc phòng
tránh thiên tai bão lũ. Trong quá trình làm, các cá nhân đã nỗ lực hết sức để hoàn
thành bài, nếu còn sai sót mong cô chỉ bảo và bỏ qua.
A. Cây vấn đề ( Hình 1)
I. Tăng gánh nặng cho hệ thống cứu trợ và trợ cấp xã hội
Thiên tai thường xuyên xảy ra tại các vùng núi cao như Tây Bắc và miền Trung Việt
Nam, khiến chính phủ và các tổ chức cứu trợ phải chi trả nguồn kinh phí lớn để khắc
phục hậu quả. Tuy nhiên, do thiếu sự dự phòng và nguồn lực lâu dài, ngân sách dành
cho cứu trợ thường chỉ đáp ứng nhu cầu cấp bách trước mắt mà không giải quyết được
các vấn đề về dài hạn. Việc này dẫn đến "vòng lặp cứu trợ," khi người dân sau mỗi
thiên tai đều quay lại tình trạng khó khăn, phụ thuộc vào hỗ trợ từ chính phủ và các tổ
chức phi chính phủ (NGO), làm tăng gánh nặng lên hệ thống phúc lợi xã hội. Đối với
các địa phương có mức thu nhập bình quân thấp và cơ cấu kinh tế chưa phát triển
mạnh, việc dành một phần lớn ngân sách cho cứu trợ làm suy yếu các kế hoạch phát triển bền vững.
II. Gia tăng thiệt hại về người và tài sản
Ở các vùng núi cao như Hà Giang, Sơn La, hay Quảng Nam, cấu trúc hạ tầng và nhà ở
của người dân chủ yếu là nhà bán kiên cố hoặc tạm bợ, thường không có khả năng
chống chịu với bão lũ và sạt lở đất. Hệ thống đường giao thông bị đứt gãy và cô lập là
nguyên nhân làm chậm quá trình tiếp cận cứu trợ khi thiên tai xảy ra. Ngoài ra, nhiều
hộ gia đình sống gần sông suối hoặc ở triền núi dốc, là những nơi có nguy cơ lũ quét
và sạt lở cao. Chính vì vậy, khi xảy ra thiên tai, thiệt hại về tài sản và người là rất
nghiêm trọng và việc phục hồi sau thiên tai gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực tài
chính và kỹ thuật tái thiết.
III.Ý thức của người dân trong việc chống bão lũ thiên tai
Ý thức của người dân đóng vai trò then chốt trong việc giảm thiểu tác động của thiên
tai. Tuy nhiên, người dân ở các vùng núi thường có trình độ học vấn thấp, và nhiều
người chủ yếu sinh sống dựa vào nông nghiệp truyền thống, thiếu kiến thức về quản lý
rủi ro thiên tai. Họ ít khi chú ý đến việc dự trữ thực phẩm, nhu yếu phẩm hay chuẩn bị
vật dụng cứu hộ vì thiếu nhận thức về tầm quan trọng của việc này, dẫn đến sự phụ
thuộc cao vào sự trợ giúp từ bên ngoài khi thiên tai xảy ra.
Thông tin không được phổ biến rộng rãi kịp thời
Ở nhiều khu vực vùng núi cao, hệ thống truyền thông chưa phát triển mạnh, sóng điện
thoại và Internet yếu hoặc không có. Điều này khiến các thông tin dự báo thời tiết
không được phổ biến kịp thời đến người dân. Trong khi tại vùng đồng bằng, người
dân có thể dễ dàng nhận được các cảnh báo thời tiết qua nhiều kênh, người dân ở vùng
cao chỉ dựa vào các hình thức truyền thống như truyền miệng hoặc loa phát thanh tại
các trụ sở xã, dẫn đến sự thiếu thông tin và phản ứng chậm trễ trước thiên tai.
Ở các vùng núi nông thôn, thiếu cơ sở vật chất đón nhận thông tin về bão lũ thiên tai
Không có kênh chuyên biệt dành cho vùng núi:
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ, lãnh đạo Đài Truyền hình Việt Nam,
sau một thời gian phát thử nghiệm chương trình truyền hình tiếng dân tộc, ngày
10/2/2002, kênh VTV5 chính thức phát sóng chương trình đầu tiên. Sự kiện này đánh
dấu lần đầu tiên tại Việt Nam, đồng bào dân tộc thiểu số được xem các chương trình
thiết kế riêng bằng chính ngôn ngữ của dân tộc mình trên sóng truyền hình quốc gia.
Khán giả có thể theo dõi VTV5 với 26 thứ tiếng (bao gồm cả tiếng Kinh) trên các nền
tảng khác nhau (truyền hình truyền thống, ứng dụng VTVgo, website VTV5, kênh
Youtube, Fage VTV5 trên Facebook...) Tuy nhiên, số lượng các dân tộc thiểu số khác
như Xinh-mun, La-chí, Phù Lá, Kháng, hay Pà Thẻn,.. khi theo giõi chương trình thì
không thể hiểu được nội dung nếu chưa được giáo dục phổ cập tiếng Kinh
Ý định mua thiết bị truyền thông của người dân chưa cao:
Đến nay, việc tiếp cận với máy tính và Internet đối với đồng bào DTTS cũng còn rất
hạn chế. Các dân tộc Si La, Chứt, La Hủ, Xinh Mun chỉ có dưới 1% số hộ có máy vi
tính. Các dân tộc La Hủ, Kháng, Khơ Mú, Rơ Măm... rất hiếm hộ có máy tính kết nối Internet.
Các thiết bị thông tin giá thành rẻ như đài/radio/cát sét được Ủy ban nhân dân các cấp
khuyến khích người dân sở hữu để nắm bắt tình hình thời tiết cũng như các vấn đề nói
chung khác. Tuy nhiên, người dân thấy được sự không cấp thiết của thiết bị, dành dụm
tài chính dành cho các nhu yếu phẩm, dựa vào các yếu tố thiên nhiên môi trường để
dự báo trước thời tiết – đây là phương pháp được ông bà tổ tiên để lại và độ chính xác không cao.
Các chiến dịch truyền thông chỉ triển khai khi thiên tai sắp xảy ra, thiếu sự nhắc nhở
Hiện nay, các chiến dịch truyền thông phòng chống thiên tai thường chỉ được triển
khai ngay khi thiên tai sắp xảy ra, dẫn đến việc người dân chưa thực sự sẵn sàng về
mặt tâm lý và kỹ năng để ứng phó.
Sự thiếu vắng của các chiến dịch truyền thông thường xuyên khiến kiến thức về cách
ứng phó với thiên tai trong cộng đồng dễ bị mai một. Điều này đặc biệt nguy hiểm tại
khu vực miền núi phía Bắc, nơi địa hình phức tạp và điều kiện sống khó khăn hơn so
với vùng đồng bằng, làm tăng nguy cơ thiệt hại nếu thiếu kỹ năng và thông tin cần
thiết. Thêm vào đó, với tỷ lệ nghèo đói cao và cơ sở hạ tầng còn hạn chế, người dân ở
đây càng dễ bị tổn thương trước những tác động khắc nghiệt của thiên tai.
Thiếu giáo dục về sự nguy hiểm của bão lũ thiên tai ở trường lớp
Chương trình giảng dạy ở các trường học vùng cao chưa được tích hợp đầy đủ các
kiến thức và kỹ năng về ứng phó thiên tai. Các giáo viên cũng thường thiếu kinh
nghiệm và kiến thức về vấn đề này, dẫn đến việc giảng dạy về thiên tai chủ yếu mang
tính hình thức. Trong các môn học tại trường, ít có bài giảng về các biện pháp thực tế
khi gặp bão lũ hoặc sạt lở đất. Điều này khiến thế hệ trẻ ở các khu vực này lớn lên mà
không có ý thức và kỹ năng cần thiết để bảo vệ bản thân và gia đình.
Chưa có bài giảng về thiên tai trong chương trình giáo dục đào tạo của trường học
Việc thiếu các bài giảng về thiên tai trong chương trình giáo dục tại trường học là một
thiếu sót lớn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với các loại
thiên tai như bão, lũ lụt, và sạt lở đất. Khi kiến thức và kỹ năng ứng phó thiên tai
không được truyền đạt sớm cho học sinh, các thế hệ trẻ có nguy cơ thiếu chuẩn bị để
đối phó khi các tình huống khẩn cấp xảy ra. Đây là một rủi ro lớn, vì thiếu kỹ năng
này có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về tính mạng và tài sản, nhất là tại
những khu vực dễ bị thiên tai.
Việc lồng ghép giáo dục về thiên tai vào chương trình học có thể giúp học sinh hiểu rõ
hơn về thiên tai, nguyên nhân, và các biện pháp phòng tránh. Điều này không chỉ giúp
học sinh nâng cao nhận thức cá nhân mà còn tác động tích cực đến cộng đồng, khi
kiến thức phòng chống thiên tai được truyền đạt lại từ các em đến gia đình và cộng đồng xung quanh.
Lực lượng giáo viên trên vùng núi còn hạn chế về số lượng và chất lượng, tập
trung dạy môn đại cương
Ở các vùng cao miền núi, cơ sở hạ tầng như trường học, nhà công vụ, và đường giao
thông thường thiếu thốn và xuống cấp. Nhiều điểm trường cách xa khu dân cư, chỉ có
thể tiếp cận bằng đường đất hoặc đường núi. Điều kiện làm việc khó khăn, thiếu nhà
ở, và thiếu các tiện nghi cơ bản khiến nhiều giáo viên không muốn đến hoặc không
gắn bó lâu dài với các khu vực này. Đa phần các xã vùng sâu, vùng xa chưa có trạm y
tế hoặc điều kiện y tế còn rất hạn chế, làm cho giáo viên khó có thể chăm sóc bản thân
và gia đình. Sự thiếu an toàn về mặt sức khỏe cũng là yếu tố khiến họ không muốn
chuyển đến hoặc duy trì công tác ở vùng núi lâu dài.
Mặc dù giáo viên ở vùng cao thường được hỗ trợ thêm phụ cấp so với những khu vực
đồng bằng, nhưng tổng thu nhập vẫn còn thấp so với chi phí sinh hoạt, nhất là khi họ
phải di chuyển xa hoặc sống trong điều kiện khắc nghiệt. Nhiều giáo viên chia sẻ rằng
với mức lương hiện tại, họ khó có thể nuôi sống gia đình, dẫn đến việc họ phải chuyển
sang công việc khác có thu nhập ổn định hơn. Hiện nay, chính sách hỗ trợ và đãi ngộ
cho giáo viên vùng cao vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Các khoản phụ cấp
thường không đủ để bù đắp cho khó khăn khi phải sống và làm việc trong môi trường
hẻo lánh, thiếu tiện nghi. Điều này dẫn đến việc nhiều giáo viên từ chối hoặc rời bỏ
công việc khi được phân công lên vùng cao
Do điều kiện địa lý cách trở và hạ tầng thiếu thốn, giáo viên ở vùng cao thường không
có cơ hội tiếp cận với các khóa đào tạo nâng cao hoặc bồi dưỡng chuyên môn. Điều
này làm giảm động lực làm việc và phát triển nghề nghiệp của họ, đồng thời ảnh
hưởng đến chất lượng giảng dạy. Ở các khu vực vùng sâu, vùng xa, cơ hội thăng tiến
và chuyển đổi vị trí công tác rất hạn chế, khiến giáo viên cảm thấy không có tương lai
rõ ràng trong công việc. Do đó, nhiều người không muốn công tác lâu dài mà chuyển
sang các vùng đồng bằng hoặc thành phố, nơi có cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc thuận lợi hơn.
Thiếu kiến thức thực tế, người dân không biết cách ứng phó với bão lũ
Các hoạt động diễn tập, các hoạt động huấn luyện thực tế còn thiếu:
Đối với hoạt động tập huấn, nâng cao năng lực trình độ cho cán bộ tham gia trực tiếp
công tác Phòng chống thiên tai, tiêu chí này được thực hiện một cách phổ biến ở vùng
thiên tai Miền núi Bắc Trung bộ và Trung Trung Bộ. Ở vùng Duyên hải Miền Trung,
việc tập huấn, nâng cao năng lực trình độ cho cán bộ tham gia trực tiếp công tác PCTT
chưa được chú trọng, chỉ 1/9 xã được khảo sát đã triển khai công tác này và kết quả
đạt được trung bình (TB) của cả vùng là 70% so với nhu cầu. Trong khi đó, công tác
đào tạo, tập huấn nghiệp vụ hàng năm cho đội xung kích mới chỉ được triển khai ở
một số vùng thiên tai như Miền núi Bắc Trung bộ và Trung Trung Bộ (5/9 xã được
khảo sát đã thực hiện); Đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ (4/9 xã được khảo sát đã
thực hiện); Đô thị lớn tập trung (4/9 xã được khảo sát đã thực hiện).
Cơ sở vật chất, hạ tầng chống bão lũ chất lượng thấp và thiếu thốn
Việc huy động, chuẩn bị vật tư, phương tiện, nhu yếu phẩm trong hoạt động Phòng
chống thiên tai hiện đang không được thực hiện tốt:
Các vật dụng để chống bão lũ chưa được cung cấp đầy đủ như thuyền, phao, bè:
Kết quả khảo sát ở các vùng thiên tai cho thấy, việc huy động vật tư, phương tiện, nhu
yếu phẩm trong hoạt động PCTT hiện đang không được thực hiện tốt. Ngoài vùng Đô
thị lớn tập trung (có 5/9 xã được khảo sát đã thực hiện hoạt động này), các vùng thiên
tai khác thực hiện việc huy động nguồn lực PCTT rất hạn chế. Đặc biệt, các vùng
Duyên hải miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long, ven biển và hải đảo không có xã
nào trong số các xã được khảo sát đã thực hiện việc huy động vật tư phương tiện, nhu
yếu phẩm trong hoạt động PCTT.
Thực phẩm, đồ dùng cần thiết dự trữ của người dân không đủ sử dụng :
Đối với việc chuẩn bị vật tư, phương tiện, trang thiết bị, nhu yếu phẩm phục vụ PCTT
ở cấp xã, hầu hết các vùng thiên tai có từ 5/9 đến 6/9 xã được lựa chọn để khảo sát đã
và đang triển khai với kết quả trung bình đạt được của tiêu chí này dao động từ
38,75% đến 80%. Riêng Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 3/9 xã được lựa chọn để
khảo sát đã thực hiện, còn lại 6/9 xã chưa từng triển khai công tác này trên thực tế.
Khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên thường xuyên bị thiếu lương thực dự trữ
trong mùa bão lũ, với khoảng 30-40% hộ gia đình được báo cáo thiếu thực phẩm đủ
dùng từ 1 đến 3 tháng trong mùa mưa lũ. Đồng bằng sông Cửu Long cũng gặp tình
trạng thiếu hụt trong mùa lũ, đặc biệt khi lũ về sớm hoặc kéo dài, khiến người dân
không kịp trữ thực phẩm. Tỷ lệ thiếu hụt tại đây được ước tính khoảng 20-30% hộ
dân. Nhiều hộ gia đình vùng sâu, vùng xa thiếu các nhu yếu phẩm như đèn pin, thuốc
men, đồ giữ ấm, đặc biệt ở các tỉnh miền núi và các khu vực dễ bị cô lập khi mưa bão.
Có đến 50% các hộ gia đình trong các vùng dễ bị thiên tai không đủ đồ dùng cần thiết
để chống chịu ít nhất một tuần trong mùa bão lũ, theo khảo sát của một số dự án hợp
tác quốc tế về giảm thiểu rủi ro thiên tai.
Việc triển khai lồng ghép nội dung Phòng chống thiên tai vào quy hoạch chưa
được thực hiện hiệu quả
Các vùng (Đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ; Đô thị lớn tập trung; ven biển và hải
đảo) có 6/9 xã được lựa chọn để khảo sát tốt công tác lồng ghép nội dung PCTT. Miền
núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 4/9 xã được lựa chọn để khảo sát ở
mỗi vùng hoàn thành tiêu chí này. Công tác xây dựng cơ sở hạ tầng (điện, đường,
trường, trạm) đảm bảo tiêu chuẩn về phòng chống thiên tai được thực hiện phổ biến
nhất là ở Tây Nguyên, vùng núi Nam Trung bộ, Đông Nam bộ với 9/9 xã được lựa
chọn để khảo sát đã thực hiện nhưng kết quả không chắc chắn. Chỉ có 1 xã báo cáo kết
quả trung bình đạt được của tiêu chí là 80%. Trong khi đó cũng có những vùng thực
hiện tiêu chí này không tốt đó là: Duyên hải miền Trung; ven biển và hải đảo (chỉ có
3/9 xã được lựa chọn để khảo sát ở mỗi vùng). Riêng Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ
có duy nhất 1/9 xã được lựa chọn để khảo sát đã thực hiện việc áp dụng tiêu chuẩn
đảm bảo an toàn phòng chống thiên tai vào các công trình hạ tầng thiết yếu. Rất ít các
xã được lựa chọn để khảo sát đánh giá được kết quả đạt được của tiêu chí này. Triển
khai quy hoạch và xây dựng kênh mương nội đồng, rãnh tiêu thoát nước phục vụ công
tác tiêu thoát nước trong mùa mưa bão hiện không được chú trọng ở tất cả các vùng
thiên tai. Kết quả khảo sát hiện trường chỉ ra rằng, chỉ 1/9 xã được lựa chọn ở Miền
núi Bắc Trung bộ và Trung Trung bộ, Đô thị lớn tập trung có quan tâm đến phòng
chống úng ngập trên địa bàn thông qua các giải pháp xây dựng kênh mương nội đồng, rãnh tiêu thoát nước.
Nơi trú ẩn, nhà tránh bão thiên tai còn thiếu tại các vùng cao
Tại các vùng cao như miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, và Tây Nguyên, tỷ lệ các xã
có đủ nhà tránh bão, nơi trú ẩn an toàn còn thấp, với nhiều báo cáo cho thấy khoảng
50-70% các địa phương vùng cao chưa có đủ cơ sở tránh trú thiên tai đạt chuẩn. Đặc
biệt ở các tỉnh như Hà Giang, Lai Châu, Sơn La (miền núi phía Bắc) và Đắk Lắk, Gia
Lai (Tây Nguyên), hệ thống nhà tránh bão còn chưa được đầu tư đầy đủ do khó khăn
về địa hình và hạn chế về ngân sách.
B. Cây mục tiêu ( Hình 2)
1. Giáo dục cộng đồng
Tổ chức các buổi tập huấn:
Các buổi tập huấn là cơ hội để người dân nâng cao hiểu biết và kỹ năng cần thiết khi
đối mặt với thiên tai. Nội dung tập huấn có thể bao gồm hướng dẫn về sơ cứu ban đầu,
cách sử dụng công cụ cứu hộ, và các quy trình an toàn cơ bản trong tình huống khẩn
cấp. Ngoài ra, các chuyên gia có thể cung cấp kiến thức về những dấu hiệu nhận biết
thiên tai, giúp người dân nhận biết và phản ứng kịp thời.
Buổi tập huấn là cơ hội để cộng đồng không chỉ được truyền đạt kiến thức mà còn
được thực hành các kỹ năng ứng phó thiên tai. Theo báo cáo của UNDRR, các quốc
gia có các chương trình đào tạo thường xuyên giúp giảm thiểu thiệt hại thiên tai tới
30% so với các khu vực không có chương trình này. Ví dụ, tại Bangladesh, nhờ tổ
chức hơn 1.000 buổi tập huấn hằng năm, tỷ lệ tử vong do bão giảm từ 300.000 người
trong cơn bão Bhola (1970) xuống dưới 10.000 người trong các cơn bão gần đây.
Tại Việt Nam, các buổi tập huấn cũng được triển khai rộng rãi, đặc biệt là tại các tỉnh
miền Trung và miền Bắc nơi thường xuyên chịu tác động của bão lũ và lũ quét. Chẳng
hạn, trong năm 2022, Trung tâm Phòng chống và Giảm nhẹ Thiên tai quốc gia đã tổ
chức hơn 500 buổi tập huấn với sự tham gia của hơn 100.000 người dân. Nội dung của
các buổi này bao gồm kỹ năng sơ cứu, cách sử dụng công cụ cứu hộ, và các kỹ năng di tản an toàn.
Phát tờ rơi thông tin:
Tờ rơi là phương tiện truyền thông đơn giản nhưng hiệu quả để cung cấp thông tin
nhanh chóng đến cộng đồng. Tờ rơi có thể chứa đựng các nội dung như cách nhận biết
thiên tai sắp xảy ra, các bước cần làm để bảo vệ bản thân và gia đình, và thông tin liên
hệ khẩn cấp. Phân phát tờ rơi tại các địa điểm công cộng như trường học, trung tâm y
tế, và chợ giúp người dân dễ dàng tiếp cận và nắm bắt thông tin.
Phát tờ rơi là biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả để tiếp cận và truyền tải kiến thức
nhanh chóng đến người dân, đặc biệt là các cộng đồng ít tiếp cận internet và thông tin
số. Ở Nhật Bản, mỗi gia đình tại các khu vực thường xuyên xảy ra động đất và sóng
thần đều nhận được các tờ rơi hoặc cẩm nang hướng dẫn ứng phó thiên tai hàng năm.
Ở Việt Nam, các tỉnh thành cũng phát hành hàng trăm nghìn tờ rơi trước mùa bão lũ.
Theo một khảo sát của UNDP năm 2020, 85% người dân tại các khu vực nhận được tờ
rơi đã hiểu rõ các bước cần thực hiện để bảo vệ bản thân và gia đình trong tình huống thiên tai.
Chiến dịch truyền thông đa phương tiện:
Sử dụng các kênh truyền thông như đài phát thanh, truyền hình, báo chí, và mạng xã
hội để tạo chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người dân về phòng
chống thiên tai. Thông qua các video, hình ảnh minh họa, và câu chuyện thực tế, chiến
dịch có thể tác động mạnh mẽ, giúp người dân hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc
chuẩn bị cho các tình huống thiên tai.
Chiến dịch truyền thông đa phương tiện là cách tiếp cận mạnh mẽ để nâng cao nhận
thức cộng đồng về phòng chống thiên tai. Tại Philippines, chính phủ thường xuyên
phát các video cảnh báo và hướng dẫn cách ứng phó trên các kênh truyền hình và
mạng xã hội. Các chiến dịch này đã giúp giảm thiểu thiệt hại thiên tai, đặc biệt là giảm
số lượng thương vong khi xảy ra bão. Ở Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông đã
thực hiện nhiều chiến dịch truyền thông đa phương tiện, giúp tiếp cận hơn 5 triệu
người dân vào năm 2021. Các kênh truyền thông như Facebook, Zalo, và truyền hình
quốc gia đã tăng cường truyền tải thông tin, giúp người dân có được kỹ năng và kiến
thức cần thiết để ứng phó.
2. Cải thiện hệ thống cảnh báo sớm
Nâng cao hệ thống dự báo:
Đầu tư vào các thiết bị và công nghệ dự báo hiện đại giúp tăng độ chính xác và độ tin
cậy của các dự báo thiên tai. Bên cạnh đó, việc nâng cao trình độ của nhân viên dự
báo cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng thông tin. Hệ thống
dự báo chính xác sẽ giúp người dân và các tổ chức có đủ thời gian để chuẩn bị và giảm thiểu thiệt hại.
Hệ thống dự báo đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu thiệt hại từ thiên tai
nhờ cung cấp thông tin kịp thời cho người dân và các cơ quan chức năng. Tại Nhật
Bản, quốc gia này chi hơn 2 tỷ USD mỗi năm để duy trì hệ thống dự báo thiên tai
chính xác. Hệ thống dự báo của Nhật có thể dự báo chính xác 90% các trận động đất
và cảnh báo sóng thần trong vòng 5-10 phút sau khi xảy ra.
Ở Việt Nam, chính phủ đã đầu tư vào hệ thống radar và thiết bị hiện đại để tăng độ
chính xác của dự báo. Nhờ vậy, độ chính xác của dự báo bão lũ đã được cải thiện từ
60% lên 80% trong giai đoạn 2015-2022, giúp người dân và các tổ chức chuẩn bị kỹ
lưỡng hơn trước các tình huống khẩn cấp. Dự báo sớm và chính xác giúp các tỉnh
thành ven biển như Nghệ An, Hà Tĩnh chủ động di tản người dân, tránh được các thiệt
hại lớn về người và của.
Cải thiện kênh thông tin:
Đảm bảo thông tin cảnh báo được truyền tải một cách nhanh chóng và hiệu quả đến
người dân là yếu tố then chốt trong hệ thống cảnh báo sớm. Các kênh thông tin như tin
nhắn điện thoại, loa phường, mạng xã hội, và các ứng dụng cảnh báo khẩn cấp cần
được sử dụng đồng bộ để đảm bảo tất cả mọi người đều có thể nhận được thông tin
kịp thời, đặc biệt là những khu vực xa xôi, khó tiếp cận.
Đảm bảo rằng thông tin cảnh báo được truyền tải đến tất cả mọi người một cách nhanh
chóng và đồng bộ là yếu tố cốt lõi của hệ thống cảnh báo sớm. Theo nghiên cứu, các
phương tiện như tin nhắn SMS và ứng dụng di động có thể tiếp cận tới hơn 90%
người dân ở khu vực đô thị và 70% ở vùng nông thôn. Ở Việt Nam, việc sử dụng các
ứng dụng như Zalo và tin nhắn SMS đã giúp truyền tải thông tin nhanh chóng đến
người dân trong mùa lũ. Riêng năm 2021, hơn 3 triệu tin nhắn cảnh báo đã được gửi
đến các khu vực có nguy cơ lũ lụt ở miền Trung.
Tăng cường mạng lưới quan trắc:
Xây dựng và cải thiện mạng lưới các trạm quan trắc tại những khu vực có nguy cơ cao
như vùng núi, ven biển để theo dõi và giám sát các biến đổi của môi trường. Những
dữ liệu từ các trạm quan trắc này sẽ giúp các cơ quan chức năng có thể đưa ra các
cảnh báo kịp thời và chính xác, từ đó hỗ trợ người dân chuẩn bị trước khi thiên tai xảy ra.
Xây dựng và phát triển các trạm quan trắc tại những khu vực có nguy cơ cao giúp các
cơ quan chức năng dự đoán và cảnh báo thiên tai kịp thời. Tại Mỹ, có hàng ngàn trạm
quan trắc khí tượng và thủy văn trải khắp đất nước, giúp thu thập dữ liệu để đưa ra
cảnh báo chính xác. Việt Nam cũng đã đầu tư vào mạng lưới hơn 150 trạm quan trắc
tập trung tại các khu vực núi, ven biển có nguy cơ lũ quét và sạt lở đất. Theo Viện
Khoa học Khí tượng Thủy văn, hệ thống này cho phép cảnh báo trước 24 giờ đối với
các tình huống lũ lụt, giúp người dân chuẩn bị sớm và an toàn hơn.
3. Tăng cường khả năng ứng phó
Xây dựng kế hoạch ứng phó cộng đồng:
Mỗi cộng đồng cần có một kế hoạch ứng phó cụ thể phù hợp với điều kiện địa phương
và các nguy cơ thiên tai tiềm ẩn. Kế hoạch này bao gồm việc phân chia nhiệm vụ, xác
định các khu vực an toàn, và quy trình di tản khi có tình huống khẩn cấp. Việc phân
chia vai trò rõ ràng giúp mọi người biết được mình phải làm gì và ai sẽ phụ trách trong
tình huống cụ thể, từ đó giảm thiểu sự hỗn loạn và tăng hiệu quả ứng phó.
Các kế hoạch ứng phó cộng đồng giúp phân bổ rõ ràng nhiệm vụ và vai trò của từng
thành viên trong cộng đồng khi có tình huống thiên tai xảy ra. Tại các làng ven biển ở
Bangladesh, các kế hoạch này đã giúp giảm đáng kể thiệt hại, với tỷ lệ tử vong do bão
giảm tới 50% trong các năm gần đây. Tại Việt Nam, các làng xã ở Quảng Nam và Phú
Yên cũng đã triển khai các kế hoạch ứng phó với các điểm di tản an toàn, giúp giảm thiểu thiệt hại.
Trang bị kỹ năng sơ cứu:
Đào tạo người dân về các kỹ năng sơ cứu cơ bản là điều cần thiết để họ có thể tự bảo
vệ bản thân và hỗ trợ người khác trong tình huống khẩn cấp. Những kỹ năng này bao
gồm cách xử lý các vết thương, cách hồi sức cấp cứu, và kỹ năng sơ cứu trong trường
hợp đuối nước hoặc bị thương nặng. Khả năng sơ cứu kịp thời có thể cứu sống nhiều
người trong các trường hợp khẩn cấp.
Kỹ năng sơ cứu giúp người dân tự bảo vệ mình và giúp đỡ người khác khi xảy ra thiên
tai. Theo Hội Chữ thập đỏ quốc tế, khả năng ứng cứu kịp thời có thể tăng cơ hội sống
sót lên đến 30% cho người bị nạn. Tại Việt Nam, hơn 50.000 người đã tham gia các
khóa học sơ cứu, đặc biệt ở các vùng có nguy cơ thiên tai cao. Những kỹ năng như sơ
cứu vết thương, hồi sức cấp cứu là cần thiết và hữu ích trong các tình huống khẩn cấp.
Diễn tập phòng chống thiên tai:
Các cuộc diễn tập phòng chống thiên tai được tổ chức định kỳ để người dân có cơ hội
thực hành các kỹ năng ứng phó đã được học. Các buổi diễn tập giúp mọi người chuẩn
bị tốt hơn về mặt tâm lý, đồng thời nhận ra những lỗ hổng trong quy trình ứng phó để
cải thiện cho lần sau. Đây cũng là dịp để các tổ chức và chính quyền đánh giá hiệu quả của kế hoạch ứng phó.
Diễn tập định kỳ giúp cộng đồng thực hành kỹ năng ứng phó và xác định những điểm
yếu trong kế hoạch. Tại Nhật Bản, các cuộc diễn tập giúp người dân tăng khả năng
ứng phó lên đến 25%. Việt Nam cũng tổ chức diễn tập hàng năm ở các khu vực dễ bị
lũ lụt, sạt lở. Năm 2022, các cuộc diễn tập tại các tỉnh miền Trung đã giúp phát hiện
và khắc phục các lỗ hổng trong hệ thống ứng phó, từ đó nâng cao tính hiệu quả trong thực tế.
4. Phát triển cơ sở hạ tầng
Xây dựng công trình chống lũ:
Đầu tư vào các công trình chống lũ như đê điều, kè sông, và cống thoát nước để giảm
thiểu nguy cơ ngập lụt và thiệt hại. Những công trình này đóng vai trò bảo vệ các khu
dân cư và cơ sở hạ tầng khỏi tác động của dòng chảy lũ lụt và nước dâng cao. Việc
bảo dưỡng và kiểm tra định kỳ các công trình này cũng rất quan trọng để đảm bảo
chúng hoạt động hiệu quả trong các tình huống thiên tai.
Các công trình như đê điều, kè sông, cống thoát nước giúp giảm thiểu đáng kể nguy
cơ ngập lụt. Tại Hà Lan, nơi có hệ thống đê điều hiện đại, tỷ lệ lũ lụt giảm đến 70%. Ở
Việt Nam, hệ thống đê dài hơn 9.000 km giúp bảo vệ các khu dân cư ven sông khỏi
nước lũ và ngập úng. Ngoài ra, các dự án đê điều mới tại vùng Đồng bằng sông Cửu
Long cũng đang được triển khai để bảo vệ hàng triệu người khỏi ngập lụt.
Quy hoạch đô thị bền vững:
Phát triển và quy hoạch đô thị dựa trên các tiêu chuẩn bền vững và phù hợp với điều
kiện tự nhiên của từng địa phương. Điều này bao gồm việc bố trí các khu dân cư,
đường xá, và cơ sở hạ tầng sao cho giảm thiểu tác động của thiên tai và tối ưu hóa khả
năng thoát nước, chống lũ. Quy hoạch đô thị bền vững không chỉ giảm nguy cơ thiệt
hại mà còn giúp xây dựng môi trường sống an toàn và hiệu quả.
Quy hoạch đô thị thông minh không chỉ giúp bảo vệ người dân mà còn tăng khả năng
phục hồi của môi trường. Các thành phố như Singapore và Tokyo đã tích hợp quy
hoạch thoát nước hiệu quả để giảm thiểu ngập úng. Ở Việt Nam, Hà Nội và TP.HCM
cũng đang triển khai các dự án thoát nước, giúp giảm thiểu tác động của ngập lụt lên
khu dân cư. Việc cải thiện hệ thống thoát nước đã giảm thiệt hại kinh tế do ngập lụt
đến 50% trong những năm gần đây.
Bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn:
Rừng đầu nguồn đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn lũ lụt và giảm thiểu sạt
lở đất. Việc bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà
còn là biện pháp phòng chống thiên tai hiệu quả, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi
khí hậu ngày càng nghiêm trọng. Trồng thêm cây và bảo vệ rừng cũng góp phần bảo
vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học.
Rừng đầu nguồn có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn lũ lụt và xói mòn đất.
Theo một nghiên cứu của FAO, mỗi hecta rừng có thể giữ lại 1000-2000 m³ nước,
giúp giảm nguy cơ lũ lụt cho các khu vực hạ lưu. Ở Việt Nam, chương trình trồng
rừng đầu nguồn đã được triển khai với mục tiêu trồng mới hơn 1 triệu hecta rừng từ
năm 2010, giúp bảo vệ đất đai và giảm thiểu sạt lở ở các vùng núi cao.
C.Khung theo giõi cơ bản ( Hình 3)
1. Khung theo giõi cơ bản:
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề từ thiên tai, đặc biệt là
các hiện tượng bão lũ và lở đất. Những hiện tượng này không chỉ gây thiệt hại lớn về
người và tài sản mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội và đời
sống của người dân, nhất là ở các khu vực có điều kiện địa lý phức tạp và dễ bị tổn
thương. Do đó, việc xây dựng và triển khai chương trình phòng chống thiên tai nhằm
nâng cao khả năng ứng phó của cộng đồng trở thành ưu tiên hàng đầu của các cơ quan
chính quyền và tổ chức liên quan.
Khung theo dõi này được xây dựng nhằm mục đích hỗ trợ giám sát và đánh giá hiệu
quả của chương trình phòng chống thiên tai trong cộng đồng. Thông qua các chỉ số đo
lường cụ thể, khung theo dõi sẽ cung cấp thông tin chi tiết về tiến độ thực hiện, các
kết quả đầu ra và đầu vào của chương trình, từ đó làm cơ sở cho các điều chỉnh và cải
thiện liên tục. Các mục tiêu chính của khung bao gồm giảm thiểu thiệt hại về người và
tài sản, nâng cao nhận thức của người dân về thiên tai, và đảm bảo sự sẵn sàng của
cộng đồng trong việc ứng phó với các tình huống khẩn cấp.
Khung theo dõi này được cấu trúc dựa trên các thành phần chính bao gồm: Mục tiêu
(Goal), Mục đích (Purpose), Kết quả (Outcomes), Đầu ra (Outputs), Hoạt động
(Activities), và Đầu vào (Inputs). Mỗi thành phần đều có các chỉ số đo lường chi tiết,
phương pháp đánh giá, tần suất đo lường và phương thức báo cáo cụ thể, nhằm đảm
bảo tính nhất quán và minh bạch trong quá trình theo dõi.
Các bên tham gia vào khung theo dõi này bao gồm đại diện chính quyền địa phương,
đội ngũ cán bộ phòng chống thiên tai, các đơn vị truyền thông, các cơ quan xã hội, kế
hoạch, tài chính và tình nguyện viên tại các địa phương. Sự hợp tác giữa các bên này
không chỉ góp phần tăng cường tính hiệu quả của chương trình mà còn thúc đẩy sự
tham gia chủ động của cộng đồng trong công tác phòng ngừa và ứng phó thiên tai.
Khung theo dõi sẽ giúp các bên liên quan có một cái nhìn tổng quan và liên tục cập
nhật về tình hình triển khai, từ đó nâng cao khả năng đưa ra các quyết định và điều
chỉnh phù hợp để tăng cường hiệu quả của chương trình.
Với cách tiếp cận hệ thống và toàn diện, khung theo dõi này kỳ vọng sẽ là công cụ
hữu hiệu trong việc hỗ trợ các cơ quan quản lý và cộng đồng cùng chung tay xây dựng
một xã hội an toàn, bền vững, và sẵn sàng ứng phó với những thách thức từ thiên tai.
2. Báo cáo kết quả
Báo cáo tóm tắt: Các số liệu chính sẽ được tổng hợp thành báo cáo tóm tắt gửi
đến các bên liên quan như chính quyền địa phương, tổ chức phi chính phủ.
Hội thảo: Tổ chức các buổi hội thảo để chia sẻ kết quả, thảo luận về những điểm
cần cải thiện và các biện pháp tiếp theo.
Công bố trên phương tiện truyền thông: Xuất bản các kết quả chính trên các
kênh truyền thông đại chúng để nâng cao nhận thức cộng đồng. D. Kết luận
Chương trình nâng cao ý thức cộng đồng về phòng chống bão lũ thiên tai tại vùng cao
Việt Nam là một bước đi quan trọng và cần thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang
ngày càng gia tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống và sinh kế của người dân.
Thông qua việc xác định rõ các nguyên nhân và tác động của tình trạng thiên tai qua
cây vấn đề, bài tiểu luận đã đưa ra các mục tiêu cụ thể hướng tới việc giảm thiểu rủi ro
và tổn thất thông qua việc xây dựng một cộng đồng có năng lực ứng phó với bão lũ.
Bằng cách sử dụng cây mục tiêu và khung theo dõi, chương trình được thiết kế để
không chỉ nâng cao nhận thức mà còn thúc đẩy sự tham gia chủ động của cộng đồng
trong việc quản lý rủi ro thiên tai.
Khung theo dõi và đánh giá đã cho thấy sự hiệu quả và khả năng nhân rộng của dự án,
giúp các nhà quản lý và tổ chức dễ dàng đánh giá được tiến độ và điều chỉnh kế hoạch
khi cần thiết. Kết quả mong đợi là sự chuyển biến tích cực trong thái độ và hành vi
của người dân, nâng cao năng lực cộng đồng và cải thiện khả năng phục hồi của các
khu vực chịu ảnh hưởng. Chương trình không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc
giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản mà còn góp phần ổn định kinh tế - xã hội của
vùng cao Việt Nam trước các nguy cơ thiên tai trong tương lai. Gia tăng gánh nặng cho hệ thống cứu trợ, trợ cấp xã hội tăng cao Gia tăng thiệt hại về người và tài sản Ý thức của người dân trong việc phòng tránh bão lũ, thiên tai Thông tin không được Thiếu giáo dục về sự Thiếu kiến thực thực Cơ sở vật chất chống
phổ biến rộng rãi kịp nguy hiểm của bão lũ tế, người dân không
bão lũ chất lượng thấp thời thiên tai ở trường lớp biết cách thức ứng phó với bão và thiếu thốn Việc huy động, chu vùng núi nông Nhà ở, chuồng chăn bị vật tư, phương t hạ tầng công Các chiến dịch truyền Chưa có bài giảng về Các hoạt động diễn nuôi người dân chủ Nơi trú ẩn, nhà chung nhu yếu phẩm tro đón nhận thông thông chỉ triển khai thiên tai trong chương
tập, tập huấn thực tế yếu làm từ gỗ, không xã hội tránh bão lũ hoạt động Phòng bão lũ thiên tai khi thiên tai sắp xảy
trình giáo dục đào tạo chưa được tổ chức
được gia cố cẩn thận, thiên tai chưa được chống thiên tai hiệ ưa toàn diện ra, thiếu sự nhắc nhở của trường học dễ sụp đổ xây dựng đang không được t hiện tốt Ý định mua thiết bị Lực lượng giáo viên Phân bổ nguồn vốn Thực phẩm, đồ dùng trên vùng núi còn hạn Không đủ nguồn nhân xây dựng cơ sở vật
cần thiết dự trữ của Các v o truyền thông của chế về số lượng và lực phân bổ lên vùng chất nhà ở cho người người dân không đủ chố úi người dân vùng núi được chưa cao chất lượng, tập trung cao dân vùng cao chưa sử dụng trong mùa dạy môn đại cương đồng đều bão lũ như
Hình 1: Cây vấn đề
Nâng cao ý thức người dân về phòng chống bão lũ, lở đất Cải thiện Tăng Phát iáo dục hệ thống cường khả triển cơ ng đồng cảnh báo năng ứng sở hạ sớm phó tầng Chiến dịch B truyền Tăng Xây dựng Diễn tập hát tờ rơi Nâng cao Cải thiện Trang bị kĩ Xây dựng Quy hoạch cường kế hoạch phòng p ông tin thông đã hệ thống kênh thông năng sơ công trình đô thị bền phương dự báo mạng lưới ứng phó tránh thiên tin cứu chống lũ vững tiện quan trắc cộng đồng tai
Hình 2 : Cây mục tiêu Chỉ số Chỉ tiêu Đo lường cái gì?
Đo lường như thế nào?
Ai sẽ tiến hành đo Tần suất đo lường lường
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030,
giảm thiệt hại do thiên tai gây ra, Số lượng người bị
Phân tích dữ liệu từ các báo cáo
Tỉ lệ giảm thiểu thiệt hại
giảm 50% thiệt hại về người do thương hoặc thiệt mạng
của các cơ quan phòng chóng Đội ngũ cán bộ phòng về người và tài sản
lũ quét, sạt lở đất so với giai
do thiên tai, số tài sản bị thiên tai chống thiên tai Hàng năm
đoạn 2011-2020; thiệt hại về
ảnh hưởng bởi thiên tài,
Khảo sát nhận thức cộng đồng
kinh tế do thiên tai không vượt
các thiệt hại về kinh tế qua bảng hỏi quá 1,2% GDP
Đến năm 2030, 100% cơ quan
chính quyền các cấp, tổ chức và
Số người được tập huấn
hộ gia đình được tiếp nhận đầy
và biết cách ứng phó khi
đủ thông tin và hiểu biết kỹ năng
Tỉ lệ hộ gia đình có kế
Tạo các phiếu khảo sát trước và
Đội ngũ cán bộ từ ủy có bão lũ
phòng tránh thiên tai; 100% tổ
hoạch ứng phó khẩn cấp
sau khóa tập huấn để thu thập ý ban phòng chống
chức, hộ gia đình, cá nhân đảm kiến
Tỉ lệ hộ gia có chuẩn bị thiên tai và tình Hàng năm
Mức độ hiểu biết về thiên
bảo các yêu cầu theo phương các vật dụng khẩn cấp
Kiểm tra tình trạng chuẩn bị của nguyện viên tại địa
tai, bão lũ và kĩ năng ứng
châm “4 tại chỗ” (chỉ huy tại ứng phó thiên tai các hộ gia đình phương phó của người dân
chỗ; lực lượng tại chỗ; phương
tiện, vật tư tại chỗ; hậu cần tại chỗ)
Tỉ lệ hộ gia đình có sẵn Mức độ chuẩn bị của
bộ dụng cụ khẩn cấp cho
Tỉ lệ hộ gia đình có chuẩn bị các cộng đồng cho thiên tai
Khảo sát ngẫu nhiên tại các hộ
Đội ngũ cán bộ từ ủy ứng phó bão lũ thiên tai
bộ dụng cụ sơ cứu, có các dụng Hàng năm bão lũ
gia đình qua bảng hỏi hoặc ban phòng chống
cụ sinh tồn để chuẩn bị tình phỏng vấn thiên tai và tình (nhất là sau Mức độ chuẩn bị của
trạng bão lũ đạt 100% vào năm
Khả năng tiếp cận và sử nguyện viên tại địa mỗi mùa bão cộng đồng cho thiên tai
Kiểm kê và đánh giá tình trạng 2030 dụng các trang thiết bị phương lũ) bão lũ
sẵn sàng của bộ dụng cụ cứu trợ ứng phó