Giá trị danh nghĩa (nominal value) ?
1. Giá trị danh nghĩa (nominal value) ?
Giá trị danh nghĩa (nominal value) cách tính các đại lượng kinh tế bằng giá
hiện hành, chẳng hạn GDP danh nghĩa GDP tính theo giá thị trường hiện
hành. giá cả thay đổi từ năm này sang năm khác nên kết quả quan sát các
biến số kinh tế theo giá hiện hành không cho chúng ta biết xu thế phát triển
thực sự của nó.
Giá trị danh nghĩa “theo tên gọi”. Do đó, giá trị danh nghĩa của tờ tiền mệnh
giá 20.000 20.000 đồng. Nhưng giá trị thực, hay sức mua, chỉ được thể
hiện qua một chuẩn đo lường nào đó. dụ nếu bạn biết giá của một tách trà
20.000 đồng, bạn thể coi giá trị thực của 200.000 đồng 10 tách trà.
Bạn thể hình dung nếu vay 10.000 với lãi suất 10% một năm. Sau một
năm bạn trả lại khoản gốc 10.000 cộng thêm 1.000 lãi. Mặc lãi suất danh
nghĩa 10%, ta chỉ thể xem xét lãi suất thực nếu biết những thay đổi của
giá hàng theo thời gian (hay lạm phát).
Để đơn giản, gi sử bạn chỉ mua trà. Nếu sau một năm giá trà vẫn 1.000
đồng thì thực chất bạn đã vay 50 tách trà trả lại 55 tách. Vì vậy, lãi suất
thực của bạn 5 tách trà.
Tuy nhiên, nếu giá t tăng đến 1.100, bạn sẽ thấy thực chất mình chỉ trả lại
50 tách trà hay chi phí thực của của việc đi vay là zero. Nếu giá trà tăng
không đến 10%, lãi suất thực sẽ dương, nhưng thấp hơn mức danh nghĩa.
Một công thức đơn giản để xác định lãi suất thực r = i p*, với i lãi suất
danh nghĩa, r là lãi suất thực p* tỉ lệ lạm phát. Do đó, điều thực sự đáng
quan tâm giá trị thực.
2. So sánh giữa giá trị danh nghĩa giá trị thực tế
Điểm tương đồng giữa giá trị danh nghĩa giá trị thực:
- Cả hai đều được sử dụng để đo lường giá trị của giá cả hàng hóa thể
được sử dụng để đưa ra quyết định kinh tế. Tuy nhiên, giá trị thực được coi
chính xác hơn phải xem t thay đổi giá thị trường
- Cả hai khái niệm danh nghĩa, thực tế được sử dụng trong các sở kinh tế
khác nhau như GDP, sản lượng, thu nhập lãi suất.
Sự khác biệt giữa giá trị danh nghĩa và giá trị thực:
Giá trị danh nghĩa
Giá trị thực tế
Định
nghĩa
- Giá tr danh nghĩa (nominal value) cách tính
- Giá trị thực tế (real value) các giá tr ca
các đại lượng kinh tế bằng giá hiện hành, chẳng
hạn GDP danh nghĩa GDP tính theo giá thị
trường hiện hành. giá cả thay đổi từ năm này
sang năm khác nên kết quả quan sát các biến số
kinh tế theo giá hiện hành không cho chúng ta biết
xu thế phát triển thực sự của nó.
- Giá trị danh nghĩa được định nghĩa giá trị tiền
của hàng hóa.
các đại lượng, biến số, chỉ tiêu kinh tế tính
bằng giá cố định, còn gọi là giá so sánh.
Chẳng hạn, khi tính toán tổng sản phm trong
nước (GDP), người ta sử dụng giá c đnh đ
loại trừ ảnh hưởng của sự thay đi giá c theo
thời gian. Như vậy, khái niệm giá tr thc tế
không hàm ý một đại lượng, biến s, ch tiêu
thực hay không thực, mà ch hàm ý
được tính bằng giá cố định (ca k gc,
thời kỳ sở) chứ không phải giá hin hành
trên th trường.
- Giá trị thực được định nghĩa là giá tr danh
nghĩa được điều chỉnh theo lạm phát.
Về chi phí
hội so
với giá trị
tiền tệ
Giá trị danh nghĩa xem xét giá trị tiền t
Giá trị thực mất chi phí hội để xem xét.
Về sử
dụng
Giá trị danh nghĩa trình bày giá trị tiền hiện tại
Giá trị thực trình bày một bức tranh chính xác
hơn bao gồm thay đổi giá c th trưng
(lạm phát/giảm phát)
Kết luận: Giá trị danh nghĩa giá trị thực là hai khái niệm khác nhau trong
Kinh tế. Sự khác biệt bản giữa hai khái niệm những thay đổi về mức giá
thị trường (lạm phát, giảm phát). Các giá trị danh nghĩa (giá của hàng hóa
dịch vụ, thu nhập, lãi suất, thu nhập...) được tính dựa trên các giá trị thị
trường hiện tại, mà không xem xét lạm phát.
Ngược lại, giá trị thực được điều chỉnh theo lạm phát được tính bằng chỉ
số giá. Do đó, các giá trị thực luôn tạo ra một cái nhìn thẳng thắn về những
đang thực sự diễn ra trên thị trường đằng sau bức màn giá.
3. Giá trị danh nghĩa của tiền
Tiền giấy, (hoặc tiền mặt) thường được gọi là giấy bạc ngân hàng (Tiếng Anh:
banknote, bill, paper money, note), một công cụ thể chuyển nhượng
được, một kỳ phiếu do một ngân hàng phát hành phải trả cho người cầm nó,
được sử dụng làm tiền tệ, theo nhiều phạm vi pháp lý, được sử dụng
làm tiền tệ chính thức. Cùng với tiền kim loại, tiền giấy tạo thành các hình
thức tiền mặt của tất cả các loại tiền tệ hiện đại. Ngoại trừ các loại tiền làm
bằng kim loại quý giá trị cao để kỷ niệm không đưa vào lưu thông, tiền
xu kim loại thường được sử dụng cho các đơn vị tiền t giá trị thấp hơn
còn tiền giấy được sử dụng cho những mệnh giá cao hơn.
Ban đầu, giá trị của tiền được xác định bởi giá trị nội tại (giá trị thực chất)
đồng tiền đó được đúc, như bạc hay vàng. Tuy nhiên, mang theo trong người
nhiều kim loại quý như thế thường phiền toái rất nguy hiểm. Để thay thế,
tiền giấy đã được phát nh. Trong thuật ngữ tài chính, một tờ giấy bạc
một tờ giấy hứa trả cho người nào đó tiền. Ban đầu, các đồng giấy bạc một
lời hứa tr cho người mang một khoản kim loại quý được chứa trong các
kho ngầm đâu đó. Bằng cách này, giá trị của kim loại được chứa kho
(thường tiền kim loại bằng bạc hoặc vàng) đã ủng hộ giấy bạc thể
chuyển đổi quyền sở hữu để đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụ.
Do tiền tệ được dùng đ làm phương tiện trao đổi, tiền không nhất thiết phải
đầy đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm
bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng
thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền
giấy. Bản thân tiền giấy không giá trị chỉ dấu hiệu của giá trị được
công nhận trong phạm vi quốc gia. Vào thế kỷ 18, các nước Châu Âu đã nỗ
lực phát hành tiền giấy nhằm loại bỏ những khó khăn về tài chính nhà nước.
Tuy nhiên, khi chính phủ lâm vào tình trạng nợ nần các cuộc chiến tranh
phát sinh, cộng vào đó việc phát hành hàng loạt các loại giấy bạc với một
lượng lớn nhằm bù đắp cán n tài chính đã làm cho giấy bạc này mất giá trị.
Việc đưa quá nhiều tiền giấy vào lưu thông đã gây ra lạm phát, một điều rất
hại cho nền kinh tế của một quốc gia. Do các vấn đ nầy dần dần
người sử dụng tiền giấy mất lòng tin về nó, không còn thích sử dụng nữa.
Giá trị danh nghĩa của tiền giá trị ghi trên đồng tiền khi nhà nước phát
hành. Sản xuất lưu thông hàng hoá ngày ng phát triển với tốc độ nhanh
đã dẫn tới sử dụng phổ biến các dấu hiệu tiền tệ (tiền giấy, giấy bạc ngân
hàng), thay cho tiền thực (tiền vàng). Do vậy, n nước sáng tạo ra tiền giấy
thay cho vàng - một giá trị thực; giá trị của tiền giấy ghi trên tờ giấy bạc
được coi giá trị danh nghĩa.

Preview text:

Giá trị danh nghĩa (nominal value) là gì ?
1. Giá trị danh nghĩa (nominal value) là gì ?
Giá trị danh nghĩa (nominal value) là cách tính các đại lượng kinh tế bằng giá
hiện hành, chẳng hạn GDP danh nghĩa là GDP tính theo giá thị trường hiện
hành. Vì giá cả thay đổi từ năm này sang năm khác nên kết quả quan sát các
biến số kinh tế theo giá hiện hành không cho chúng ta biết xu thế phát triển thực sự của nó.
Giá trị danh nghĩa là “theo tên gọi”. Do đó, giá trị danh nghĩa của tờ tiền mệnh
giá 20.000 là 20.000 đồng. Nhưng giá trị thực, hay sức mua, chỉ được thể
hiện qua một chuẩn đo lường nào đó. Ví dụ nếu bạn biết giá của một tách trà
là 20.000 đồng, bạn có thể coi giá trị thực của 200.000 đồng là 10 tách trà.
Bạn có thể hình dung nếu vay 10.000 với lãi suất 10% một năm. Sau một
năm bạn trả lại khoản gốc 10.000 cộng thêm 1.000 lãi. Mặc dù lãi suất danh
nghĩa là 10%, ta chỉ có thể xem xét lãi suất thực nếu biết những thay đổi của
giá hàng theo thời gian (hay lạm phát).
Để đơn giản, giả sử bạn chỉ mua trà. Nếu sau một năm giá trà vẫn là 1.000
đồng thì thực chất bạn đã vay 50 tách trà và trả lại 55 tách. Vì vậy, lãi suất
thực của bạn là 5 tách trà.
Tuy nhiên, nếu giá trà tăng đến 1.100, bạn sẽ thấy thực chất mình chỉ trả lại
có 50 tách trà hay chi phí thực của của việc đi vay là zero. Nếu giá trà tăng
không đến 10%, lãi suất thực sẽ dương, nhưng thấp hơn mức danh nghĩa.
Một công thức đơn giản để xác định lãi suất thực là r = i – p*, với i là lãi suất
danh nghĩa, r là lãi suất thực và p* là tỉ lệ lạm phát. Do đó, điều thực sự đáng
quan tâm là giá trị thực.
2. So sánh giữa giá trị danh nghĩa và giá trị thực tế
Điểm tương đồng giữa giá trị danh nghĩa và giá trị thực:
- Cả hai đều được sử dụng để đo lường giá trị của giá cả hàng hóa và có thể
được sử dụng để đưa ra quyết định kinh tế. Tuy nhiên, giá trị thực được coi là
chính xác hơn vì phải xem xét thay đổi giá thị trường
- Cả hai khái niệm danh nghĩa, thực tế được sử dụng trong các cơ sở kinh tế
khác nhau như GDP, sản lượng, thu nhập và lãi suất.
Sự khác biệt giữa giá trị danh nghĩa và giá trị thực: Giá trị danh nghĩa Giá trị thực tế Định nghĩa
- Giá trị danh nghĩa (nominal value) là cách tính - Giá trị thực tế (real value) là các giá trị của
các đại lượng kinh tế bằng giá hiện hành, chẳng các đại lượng, biến số, chỉ tiêu kinh tế tính
hạn GDP danh nghĩa là GDP tính theo giá thị bằng giá cố định, còn gọi là giá so sánh.
trường hiện hành. Vì giá cả thay đổi từ năm này Chẳng hạn, khi tính toán tổng sản phẩm trong
sang năm khác nên kết quả quan sát các biến số nước (GDP), người ta sử dụng giá cố định để
kinh tế theo giá hiện hành không cho chúng ta biết loại trừ ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả theo
xu thế phát triển thực sự của nó.
thời gian. Như vậy, khái niệm giá trị thực tế
- Giá trị danh nghĩa được định nghĩa là giá trị tiền không hàm ý một đại lượng, biến số, chỉ tiêu của hàng hóa.
là có thực hay không có thực, mà chỉ hàm ý
nó được tính bằng giá cố định (của kỳ gốc,
thời kỳ cơ sở) chứ không phải giá hiện hành trên thị trường.
- Giá trị thực được định nghĩa là giá trị danh
nghĩa được điều chỉnh theo lạm phát. Về chi phí
cơ hội so Giá trị danh nghĩa xem xét giá trị tiền tệ
Giá trị thực mất chi phí cơ hội để xem xét. với giá trị tiền tệ Về sử
Giá trị thực trình bày một bức tranh chính xác
Giá trị danh nghĩa trình bày giá trị tiền hiện tại
hơn vì nó bao gồm thay đổi giá cả thị trường dụng (lạm phát/giảm phát)
Kết luận: Giá trị danh nghĩa và giá trị thực là hai khái niệm khác nhau trong
Kinh tế. Sự khác biệt cơ bản giữa hai khái niệm là những thay đổi về mức giá
thị trường (lạm phát, giảm phát). Các giá trị danh nghĩa (giá của hàng hóa và
dịch vụ, thu nhập, lãi suất, thu nhập...) được tính dựa trên các giá trị thị
trường hiện tại, mà không xem xét lạm phát.
Ngược lại, giá trị thực được điều chỉnh theo lạm phát và được tính bằng chỉ
số giá. Do đó, các giá trị thực luôn tạo ra một cái nhìn thẳng thắn về những gì
đang thực sự diễn ra trên thị trường đằng sau bức màn giá.
3. Giá trị danh nghĩa của tiền
Tiền giấy, (hoặc tiền mặt) thường được gọi là giấy bạc ngân hàng (Tiếng Anh:
banknote, bil , paper money, note), là một công cụ có thể chuyển nhượng
được, một kỳ phiếu do một ngân hàng phát hành phải trả cho người cầm nó,
được sử dụng làm tiền tệ, và theo nhiều phạm vi pháp lý, được sử dụng
làm tiền tệ chính thức. Cùng với tiền kim loại, tiền giấy tạo thành các hình
thức tiền mặt của tất cả các loại tiền tệ hiện đại. Ngoại trừ các loại tiền làm
bằng kim loại quý có giá trị cao để kỷ niệm và không đưa vào lưu thông, tiền
xu kim loại thường được sử dụng cho các đơn vị tiền tệ có giá trị thấp hơn
còn tiền giấy được sử dụng cho những mệnh giá cao hơn.
Ban đầu, giá trị của tiền được xác định bởi giá trị nội tại (giá trị thực chất) mà
đồng tiền đó được đúc, như bạc hay vàng. Tuy nhiên, mang theo trong người
nhiều kim loại quý như thế thường phiền toái và rất nguy hiểm. Để thay thế,
tiền giấy đã được phát hành. Trong thuật ngữ tài chính, một tờ giấy bạc là
một tờ giấy hứa trả cho người nào đó tiền. Ban đầu, các đồng giấy bạc là một
lời hứa trả cho người mang nó một khoản kim loại quý được chứa trong các
kho ngầm ở đâu đó. Bằng cách này, giá trị của kim loại được chứa ở kho
(thường là tiền kim loại bằng bạc hoặc vàng) đã ủng hộ giấy bạc có thể
chuyển đổi quyền sở hữu để đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụ.
Do tiền tệ được dùng để làm phương tiện trao đổi, tiền không nhất thiết phải
có đầy đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm
bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng
thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền
giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được
công nhận trong phạm vi quốc gia. Vào thế kỷ 18, các nước Châu Âu đã nỗ
lực phát hành tiền giấy nhằm loại bỏ những khó khăn về tài chính nhà nước.
Tuy nhiên, khi chính phủ lâm vào tình trạng nợ nần vì các cuộc chiến tranh
phát sinh, cộng vào đó là việc phát hành hàng loạt các loại giấy bạc với một
lượng lớn nhằm bù đắp cán cân tài chính đã làm cho giấy bạc này mất giá trị.
Việc đưa quá nhiều tiền giấy vào lưu thông đã gây ra lạm phát, một điều rất
có hại cho nền kinh tế của một quốc gia. Do các vấn đề nầy mà dần dần
người sử dụng tiền giấy mất lòng tin về nó, không còn thích sử dụng nó nữa.
Giá trị danh nghĩa của tiền là giá trị ghi trên đồng tiền khi nhà nước phát
hành. Sản xuất và lưu thông hàng hoá ngày càng phát triển với tốc độ nhanh
đã dẫn tới sử dụng phổ biến các dấu hiệu tiền tệ (tiền giấy, giấy bạc ngân
hàng), thay cho tiền thực (tiền vàng). Do vậy, nhà nước sáng tạo ra tiền giấy
thay cho vàng - một giá trị có thực; giá trị của tiền giấy ghi trên tờ giấy bạc
được coi là giá trị danh nghĩa.
Document Outline

  • Giá trị danh nghĩa (nominal value) là gì ?
    • 1. Giá trị danh nghĩa (nominal value) là gì ?
    • 2. So sánh giữa giá trị danh nghĩa và giá trị thực
    • 3. Giá trị danh nghĩa của tiền