ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN
Hà Nội 2024
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
CHỦ BIÊN: TS. Nguyễn Trần Thủy
GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN
(Sách đào tạo đại học)
Hà Nội 2024
3
CHỦ BIÊN:
TS. Nguyễn Trần Thủy
TS. Nguyễn Xuân Bình
NHÓM BIÊN SOẠN:
TS. Nguyễn Trần Thủy
TS. Phan Thị Dung
TS. Nguyễn Thị Nguyệt
ThS. Nguyễn Thế Bình
ThS. Đỗ Thị Ngọc
ThS. Đinh Thị Yến
ThS. Nguyễn Thị Dân
ThS. Nguyễn Thị Thủy
ThS. Nguyễn Minh Thành
THƯ KÝ:
CN. Thái Nhật Lệ
CN. Đoàn Thị Uyên
4
LỜI MỞ ĐẦU
Giáo trình Điều dưỡng bản (ĐDCB) được nhóm tác giả của Bộ môn Điều dưỡng
và Huấn luyện kỹ năng biên soạn dựa trên đề cương chi tiết học phần đã được Ban giáo
hiệu phê duyệt. Mục đích của giáo trình cung cấp tài liệu học tập cho sinh viên của
trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Nội nhằm đạt được các kiến thức, kỹ
năng, năng lực tự chủ và trách nhiệm trong thực hành điều dưỡng.
Giáo trình ĐDCB được biện soạn căn cứ Hướng dẫn số 105/HD-KYD “Về việc tổ
chức biên soạn. thẩm định. Xuất bản, in ấn sử dụng Giáo trình” Nội, ngày 04 tháng
12 năm 2019, Phó Chủ nhiệm Khoa Y Dược. Các chủ đề của giáo trình cũng được cập
nhật một số điều của Luật Khám chữa bệnh số 15/2023/QH15, Thông 32/2023/TT-
BYT Quy định chi tiết một số điều của luật khám bệnh, chữa bệnh , ngày 31 tháng 12
năm 2023, Thông tư 31/2021/TT-BYT của Bộ Y tế quy định công tác điều dưỡng trong
bệnh viện Quyết định số 3474/QĐ-BYT do Bộ Y tế phê duyệt năm 2022 về Chuẩn
năng lực cơ bản Cử nhân Điều dưỡng Việt Nam nhằm đáp ứng một số chuẩn đầu ra của
của Chương trình đào tạo Cử nhân Điều dưỡng trình độ Đại học đã được Ban Giám hiệu
phê duyệt.
Nhóm tác giả đã tham khảo, lựa chọn, kế thừa, bổ sung một số giáo trình, tài liệu
đã và đang được sử dụng giảng dạy điều dưỡng tại một số trường đại học nội dung liên
quan được đăng tải trên hệ thống thông tin của Bộ Y tế, các bệnh viện đầu ngành.
Nội dung của Giáo trình gồm 17 bài, bài đầu tiên tập trung vào lịch sử, xu hướng
phát triển ngành điều dưỡng; vai trò. Chức năng, nhiệm vụ, chuẩn ng lực, chuẩn đạo
đức, học thuyết điều dưỡng. bài tiếp theo tập trung vào quy trình điều dưỡng, 15 bài cuối
tập trung vào những kiến thức, kỹ năng cơ bản nhằm phục vụ cho việc chăm sóc điều trị
như chăm sóc tiêu hoá, chăm sóc vết thương, băng việc dùng thuốc cho người
bệnh.
Với những cố gắng của tập thể các tác giả, chúng tôi mong muốn cuốn giáo trình
này có thể cơ bản đáp ứng được nhu cầu trong học tập và giảng dạy môn học ĐDCB của
giảng viên, sinh viên trong nhà trường. Tuy nhiên, trong quá trình biên soạn cuốn giáo
trình còn những hạn chế, thiếu sót. Nhóm biên soạn rất mong nhận được sự góp ý của
các Quý đồng nghiệp, đông đảo sinh viên để cuốn giáo trình này được hoàn thiện hơn.
5
MC LC
BÀI 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐIỀU DƯỠNG ....................................................................... 6
BÀI 2: QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG ............................................................................ 21
BÀI 3: ĐÁNH GIÁ DẤU HIỆU SINH TỒN ................................................................ 32
BÀI 4: KỸ THUẬT RỬA TAY, MẶC ÁO, MANG GĂNG; VÔ KHUẨN TIỆT
KHUẨN ......................................................................................................................... 54
BÀI 5: KỸ THUẬT TIÊM THUỐC .............................................................................. 79
BÀI 6: KỸ THUẬT TRUYỀN DỊCH ......................................................................... 135
BÀI 7: KỸ THUẬT TRUYỀN MÁU .......................................................................... 157
BÀI 8: CẤP CỨU NGỪNG TUẦN HOÀN CƠ BẢN ................................................ 181
BÀI 9: LIỆU PHÁP OXY CHO NGƯỜI BỆNH ........................................................ 203
BÀI 10: HÚT THÔNG ĐƯỜNG HÔ HẤP ................................................................. 228
BÀI 11: KỸ THUẬT BĂNG BÓ VẾT THƯƠNG...................................................... 249
BÀI 12: KỸ THUẬT SƠ CỨU CHẢY MÁU ............................................................. 279
BÀI 13: SƠ CỨU NẠN NHÂN GÃY XƯƠNG ......................................................... 302
BÀI 14: KỸ THUẬT THAY BĂNG, CẮT CHỈ VẾT THƯƠNG .............................. 339
BÀI 15: KỸ NĂNG THỤT THÁO .............................................................................. 374
BÀI 16: KỸ THUẬT THÔNG TIỂU .......................................................................... 386
BÀI 17: KỸ THUẬT PHỤ GIÚP THẦY THUỐC CHỌC DÒ TỦY SỐNG MÀNG
PHỔI – MÀNG BỤNG – MÀNG TIM ....................................................................... 405
6
BÀI 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐIỀU DƯỠNG
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1. Có năng lực phân tích tính đạo đức của các tiền bối ngành điều dưỡng.
2. Có năng lực nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân để hành nghề Điều dưỡng.
3. Có năng lực phân tích các phẩm chất đạo đức của người Điều dưỡng.
4. Có năng lực thực hiện các nghĩa vụ nghề nghiệp cơ bản của người Điều dưỡng.
NỘI DUNG
I. LỊCH SỬ HỌC THUYẾT
1. Sơ lược về lịch sử phát triển ngành điều dưỡng thế giới
Từ thời xa xưa, do kém hiểu biết, con người tin o thần linh cho rằng “thần
linh là đấng siêu nhân quyền uy”, “thượng đế ban sự sống cho muôn loài”,… Khi bị
đau ốm, họ thường mời pháp đến, vừa trị bệnh, vừa cầu kinh, sợ hãi tuyệt vọng
van xin tha mạng sống cho người bị bệnh. Khi người chết, họ cho rằng đó tại số,
tại trời, tại thần linh không cho sống. Các giáo đường, nhà thờ được xây dựng để thờ
thần thánh và dần dần trở thành những trung tâm chăm sóc( CS) và điều trị người bệnh.
Tại đây có các pháp sư trị bệnh các tín nữ vừa giúp lễ vừa chăm sóc người bệnh (NB).
Từ đây hình thành mối liên kết giữa y khoa, điều dưỡng và tôn giáo.
Năm 60, bà Phoebe (Hy Lạp) đã đến từng gia đình có người đau ốm để chăm sóc.
được ngưỡng mộ được suy tôn người nữ Điều ỡng tại gia đầu tiên trên thế
giới.
Vào thế kỷ thứ IV, Fabiola (La Mã) đã tự nguyện biến căn nhà sang trọng của
mình thành nơi để bà đón những người nghèo khổ đau ốm về chăm sóc nuôi dưỡng.
Thời kỳ viễn chinh Châu Âu, bệnh viện được xây dựng để chăm sóc số lượng lớn
những người hành hương bị đau ốm. Cả nam nữ đều thực hiện việc chăm sóc sức
khỏe cho tất cả mọi người. Nghề điều dưỡng bắt đầu trở thành nghề được coi trọng.
Đến thế kỷ thứ XVI, chế độ ntu Anh châu Âu bị bãi bỏ. Các tổ chức n
7
giáo bị giải tán, dẫn đến sự thiếu hụt trầm trọng người chăm sóc NB. Những người phụ
nữ phạm tội, bị giam giữ đã được tuyển chọn làm người chăm sóc người bệnh thay
thực hiện án tù, còn những người phụ nữ khác chỉ chăm sóc gia đình mình thôi. Bối cảnh
y đã tạo ra những quan niệm lệch lạc của xã hội đối với nghề điều dưỡng.
Giữa thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX, việc cải cách hội đã thay đổi vai trò
người điều dưỡng. Vai trò của người phụ nữ trong hội nói chung cũng đã được cải
thiện. Trong giai đoạn này, một phụ nữ người Anh tên Florence Nightingale (1820-
1910) đã được cả thế giới tôn kính suy tôn là người sáng lập ra ngành điều dưỡng. Bà
sinh ra trong một gia đình quý tộc ở Anh nên được giáo dục chu đáo. Bà biết nhiều ngoại
ngữ, đọc nhiều sách triết học, tôn giáo, chính trị. Ngay từ nhỏ, bà đã thể hiện thiên tính
và hoài bão được giúp đỡ người nghèo khổ. Bà đã vượt qua sự phản kháng của gia đình
để vào học và làm việc tại bệnh viện Kaiserswerth (Đức) năm 1847. Sau đó bà học thêm
Paris (Pháp) vào năm 1853. Những năm 1854-1855, chiến tranh Crimea nổ ra, bà cùng
38 phụ nữ Anh khác được phái sang Thổ Nhĩ Kỳ để phục vụ các thương bệnh binh của
quân đội Hoàng gia Anh. Tại đây, bà đã đưa ra lý thuyết về khoa học vệ sinh trong các
sở y tế sau hai năm đã làm giảm tỷ lệ chết của thương binh do nhiễm trùng từ
42% xuống còn 2%. Đêm đêm, Florence một mình cầm ngọn đèn dầu đi kiểm tra, chăm
sóc từng người thương binh, đã để lại hình tượng một người phụ nữ với cây đèn dầu
trong trí nhớ những người thương binh hồi đó. Chiến tranh chưa kết thúc, Florence đã
phải trở lại nước Anh. Cơn “sốt Crimea” và sự căng thẳng của những ngày ở mặt trận đã
làm cho mất khả năng làm việc. được dân chúng những người lính Anh tặng
món quà là
50.000 bảng Anh để chăm sóc sức khỏe. Vì sức khỏe không cho phép tiếp tục làm
việc ở BV, bà Florence đã lập ra hội đồng quản lý ngân sách 50.000 bảng Anh vào năm
1860. Trường Điều dưỡng Nightingale cùng với chương trình đào tạo 1 năm đã đặt nền
tảng cho hệ thống đào tạo điều dưỡng không chỉ ở nước Anh còn ở nhiều nước trên
thế giới. Để tưởng nhớ công lao của khẳng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp
Florence đã dày công gây dựng, Hội đồng điều dưỡng thế giới đã quyết định lấy ngày
sinh của Florence là ngày 12 tháng 5 làm ngày điều dưỡng thế giới. Florence đã trở
thành người mẹ tinh thần của ngành điều dưỡng thế giới.
Hiện nay ngành điều dưỡng của thế giới đã được xếp là một ngành nghề riêng biệt,
8
ngang hàng với các ngành nghề khác. nhiều trường đào tạo điều ỡng với nhiều
trình độ điều dưỡng khác nhau: trung học, đại học, sau đại học. Nhiều người điều ỡng
đã có bằng thạc sĩ, tiến sĩ và nhiều công trình nghiên cứu khoa học điều dưỡng có giá trị
cao đã được áp dụng trong thực hành điều dưỡng.
2. Sơ lược về lịch sử phát triển ngành điều dưỡng việt nam
Cũng như thế giới, từ xa xưa các mẹ Việt Nam đã chăm sóc, nuôi ỡng con cái
gia đình mình. Bên cạnh những kinh nghiệm chăm sóc gia đình, các đã được truyền
lại những kinh nghiệm dân gian của các lương y trong việc chăm sóc người bệnh. Lịch
sử y học của dân tộc ghi phương pháp dưỡng sinh, đã được áp dụng trong chăm sóc
và điều trị người bệnh. Hai danh y nổi tiếng thời xưa của dân tộc ta là Hải Thượng Lãn
Ông Lê Hữu Trác và Tuệ Tĩnh đã sử dụng phép dưỡng sinh để trị bệnh rất có hiệu quả.
Thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp đã xây nhiều bệnh viện. Trước năm 1900 họ đã
ban hành chế độ học việc cho những người muốn làm bệnh viện. Việc đào tạo chỉ
mang tính chất “cầm tay chỉ việc”. Người được đào tạo những người giúp việc thạo
kỹ thuật, vững tay nghề và chỉ phụ việc cho các bác sĩ người Pháp mà thôi.
Năm 1901, mở lớp y tá nam đầu tiên tại bệnh viện Chợ Quán (nơi điều trị bệnh tâm
thần hủi). Ngày 20.12.1906, toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định thành lập
ngạch nhân viên điều dưỡng bản xứ. Năm 1910, lớp học rời về bệnh viện Chợ Rẫy để
đào tạo y đa khoa. Ngày 01.12.1912, ng sứ Nam Kỳ ra quyết định mở lớp nhưng
mãi đến ngày 18.6.1923 mới mở trường điều dưỡng bản xứ. Do chính sách của thực dân
Pháp không tôn trọng người bản xứ và coi y tá chỉ là người giúp việc nên về lương bổng
chỉ được xếp ngạch hạ đẳng. Năm 1924, Hội y ái hữu Nữ hộ sinh Đông Dương
thành lập. Hội đã đấu tranh với chính quyền thực dân Pháp yêu cầu đối xử công bằng
với y tá bản xứ, và sau đó cho y tá được thi chuyển ngạch trung đẳng.
Sau cách mạng tháng tám năm 1945, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa vừa
mới thành lập đã phải bước ngay vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Lớp y
đầu tiên được đào tạo 6 tháng do GS. Đỗ Xuân Hợp làm hiệu trưởng được tổ chức tại
quân khu X (Việt Bắc). Những y vào học lớp này được tuyển chọn ơng đối kỹ lưỡng.
Sau đó liên khu III cũng mở lớp đào tạo y tá.
Năm 1950, ta mở nhiều chiến dịch, nhu cầu chăm sóc thương bệnh binh tăng mạnh.
9
Do vậy, cần đào tạo y cấp tốc (3 tháng) để cung cấp cho kháng chiến đáp ng công
tác quản lý, chăm sóc và phục vụ người bệnh. Trong những năm 1950, cục Quân y cũng
mở một số lớp đào tạo y tá trưởng, nhưng chương trình chưa được hoàn thiện. Mặt khác,
kháng chiến rất gian khổ, máy móc thuốc men y tế hạn chế nên việc điều trị cho người
bệnh chủ yếu dựa vào chăm sóc.
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, đất nước ta bị chia làm hai
miền. Miền Bắc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục chịu sự xâm
lược của đế quốc Mỹ.
Tại miền nam
Năm 1956 có trường Cán sự điều dưỡng Sài Gòn, đào tạo Cán sự điều dưỡng 3
năm. Năm 1968 do thiếu điều dưỡng trầm trọng nên đã mở thêm ngạch điều dưỡng
học 12 tháng chính quy với tên gọi Tá viên điều dưỡng tại các trường điều ỡng. Hội
Điều dưỡng tại Miền Nam được thành lập. Hội xuất bản nội san điều dưỡng. Năm 1973
mở lớp điều dưỡng y tế công cộng 3 năm tại Viện Quốc gia y tế công cộng.
Tại miền bắc
Năm 1954, Bộ Y Tế đã xây dựng chương trình đào tạo y cấp hoàn chỉnh để
bổ túc cho số y tá học cấp tốc trong chiến tranh.
Năm 1968, Bộ Y Tế xây dựng tiếp chương trình đào tạo y tá trung cấp, tuyển sinh
học hết cấp 2 (hết lớp 7) với thời gian đào tạo 2,5 năm. Khóa đào tạo đầu tiên của lớp y
tá được tổ chức tại bệnh viện (BV) E trung ương, BV Việt Đức (đào tạo chuyên khoa),
BV Bạch Mai sau đó được xây dựng thành trường Trung học Y tế Bạch Mai trực
thuộc Bộ Y Tế. Đồng thời Bộ Y Tế cũng gửi giảng viên của hệ này đi tập huấn Liên
Xô, Ba Lan, CHDC Đức từ năm 1975. Tiêu chuẩn tuyển chọn vào học y trung học
cũng cần trình độ cao hơn (tốt nghiệp cấp 3) chương trình đào tạo cũng hoàn thiện
hơn.
Việc đào tạo điều dưỡng trưởng cũng đã được quan tâm. Ngay từ năm 1960, một
số bệnh viện và trường trung học y tế trung ương đã mở lớp đào tạo y tá trưởng như lớp
trung học y tế bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện E Hà Nội. Tuy nhiên, chương trình và tài
liệu giảng dạy chưa được hoàn thiện. Ngày 22.11.1963, Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định
về chức vụ y tá trưởng ở các cơ sở điều trị: bệnh viện, Viện điều dưỡng.
10
Năm 1975, kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước được thống nhất. Bộ Y tế đã
thống nhất chỉ đạo ng tác chăm sóc và điều trị người bệnh cả hai miền. Từ đó,
Chương trình đào tạo điều dưỡng được thống nhất chung đào tạo y trung học, với
thời gian học là 2 năm 6 tháng.
Năm 1982, Bộ Y tế ban hành chức danh y tá trưởng BV và y tá trưởng khoa.
Năm 1985, Bộ Y tế thành lập tổ nghiên cứu y tá và một số bệnh viện đã xây dựng
phòng điều dưỡng, thí điểm tách ra khỏi phòng y vụ tại bệnh viện Nhi trung ương, bệnh
viện Đa khoa Uông Bí.
Ngày 14.7.1990, Bộ Y tế ban hành quyết định số 570/BYT-QĐ thành lập phòng Y
tá điều dưỡng trong các bệnh viện có trên 150 giường bệnh. Ngày 14.3.1992, Bộ trưởng
Bộ Y tế ra quyết định thành lập phòng y tá trong Vụ Điều trị của Bộ Y tế. Đến năm 1996,
Bộ Y tế chính thức bổ nhiệm chức vụ trưởng phòng điều dưỡng đầu tiên.
Về đào tạo Điều dưỡng Đại học, năm 1985, Bộ Y tế được Bộ Đại học Trung học
chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục Đào tạo) đồng ý, đã tổ chức khóa đào tạo đại học Cử
nhân điều dưỡng tại chức đầu tiên tại Trường Đại học Y Hà Nội. Năm 1986 mở lớp tại
Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh đến m 1996 tổ chức khóa đào tạo Đại học Cử
nhân Điều dưỡng chính quy.
Năm 1999, Bộ Y tế chính thức ban hành chức vụ Điều dưỡng trưởng tại Sở Y tế.
Việc đào tạo điều dưỡng cao đẳng bắt đầu từ năm 1993 và hiện nay Bộ Y tế đang
từng bước nâng cấp các Trường từ trung cấp lên thành Trường cao đẳng y tế. Từ năm
2003, ch.trình đào tạo điều dưỡng trung cấp được rút ngắn từ 2,5 năm xuống còn 2 năm.
Năm 2006, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh được Bộ Giáo dục Đào tạo cho
phép mở khóa đào tạo Thạc sĩ Điều dưỡng đầu tiên của Việt Nam.
Riêng về đào tạo Điều dưỡng trưởng, liên tục từ năm 1982 đến nay nhiều lớp Điều
dưỡng trưởng đã được tổ chức tại các trường Trung học Kỹ thuật Y tế Trung ương I (nay
là Đại học Kỹ Thuật Y tế Hải Dương), Trung học Kỹ thuật Y tế Trung ương III (nay
Khoa Điều dưỡng-Kỹ thuật Y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh), lớp Trung học
Y tế Bạch Mai, Cao đẳng Y tế Nam Định (nay là ĐH Điều dưỡng Nam Định).
Đến 2005, chương trình Quản lý điều dưỡng được Bộ Y tế chỉnh lý thành chương
11
trình đào tạo điều dưỡng trưởng, dùng đào tạo chung cho các điều dưỡng trưởng khoa,
điều dưỡng trưởng bệnh viện trong toàn quốc.
3. Sự ra đời và phát triển của hội điều dưỡng việt nam
Ngày 26/10/1990, được sự cho phép của chính phủ trong Quyết định 375-CT, Hội
Y tá Điều dưỡng Việt Nam mở đại hội lần thứ I tại Hội trường Ba Đình. Nhiệm kỳ thứ
nhất của BCHTW Hội là 3 năm (1990-1993). BCH có 31 ủy viên ở cả 3 miền. Bà Vi Thị
Nguyệt Hồ chủ tịch, ba phó chủ tịch Trịnh Thị Loan, Nguyễn Thị Niên ông
Nguyễn Hoa. Tổng thư ký là ông Phạm Đức Mục.
Ngày 26/3/1993, Đại hội đại biểu Y tá điều dưỡng toàn quốc lần thứ II (nhiệm kỳ
1993-1997) được tổ chức tại hội trường Bộ Y tế (Hà Nội). BCH mới gồm 45 ủy viên.
Chủ tịch Vi Thị Nguyệt Hồ. Phó chủ tịch là ông Nguyễn Hoa, Trịnh Thị Loan
và ông Phạm Đức Mục (kiêm tổng thư ký).
Ngày 17/5/1997, Đại hội đại biểu điều ỡng toàn quốc lần thứ III (nhiệm kỳ 1997-
2001) được tổ chức tại hội trường Thống Nhất - TP.Hồ Chí Minh. BCH chủ tịch
Vi Thị Nguyệt Hồ, 3 phó chủ tịch gồm Trịnh Thị Loan (phụ trách các tỉnh phía
nam), ông Nguyễn Hoa (phụ trách các tỉnh miền trung) ông Phạm Đức Mục (phụ
trách các tỉnh phía bắc). Cũng trong nhiệm kỳ này, tại công văn số 4508/CCHC ngày 10
tháng 9 năm 1997 về việc đổi tên Hội Y tá - điều dưỡng, Văn phòng Chính phủ đã đồng
ý cho đổi tên Hội Y tá Điều dưỡng Việt Nam thành Hội Điều dưỡng VN.
Ngày 11/5/ 2002, tại Hội trường Bộ Y tế - Hà Nội, Đại hội đại biểu ĐD toàn quốc
lần thứ IV (nhiệm kỳ 2002-2007) được tổ chức. BCH cũ tái cử trong nhiệm kỳ mới này.
Trong nhiệm kỳ này Hội đã nhiều đóng góp xây dựng các chính sách tiêu chuẩn
thực hành điều dưỡng. Ngành Y tá cũng đã được đổi tên thành ngành Điều dưỡng.
Đại hội đại biểu điều dưỡng toàn quốc lần thứ V (nhiệm kỳ 2007-2012) được tổ
chức ngày 25/10/2007 tại Nội, bà Vi Thị Nguyệt Hồ tái cử chức Chủ tịch Hội. Trong
nhiệm kỳ này, Hội tiếp tục có nhiều đóng p phát triển ngành Điều dưỡng. Hội đã thành
lập Trung tâm vấn dịch vụ điều dưỡng, thành lập Chi hội Giáo viên Điều dưỡng
từ tháng 10/2010, thành lập Câu lạc bộ Quản điều dưỡng. Bên cạnh đó, Hội Điều
dưỡng Việt Nam phối hợp với Bộ Y tế xây dựng Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng
Việt Nam, xây dựng Chuẩn đạo đức nghề nghiệp của điều dưỡng Việt Nam, xây dựng
12
chuẩn chăm sóc người bệnh trong các Bệnh viện…
Ngày 25-26/10/2012, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Đại hội đại biểu điều dưỡng
toàn quốc lần thứ VI, nhiệm kỳ (2012-2017) đã được tổ chức. BCH Hội gồm chủ tịch là
ông Phạm Đức Mục; 4 phó chủ tịch Thị Điền, Nguyễn Bích Lưu, Trần
Thị Châu và ông Trần Quang Huy. Tổng thư ký là bà Nguyễn Thị Minh Tâm.
Đến nay, Hội đã phát triển tại 59 tỉnh thành với hơn 75.000 hội viên. Sự hoạt động
của Hội đã góp phần cùng nhà nước Bộ Y tế thúc đẩy ngành Điều dưỡng phát triển,
đẩy mạnh công tác chăm sóc tại các sở khám chữa bệnh. Đặc biệt khi Bộ Chuẩn
năng lực cơ bản Điều dưỡng Việt Nam được Bộ Y tế ban hành ngày 24 tháng 4 năm
2012, đánh dấu giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành điều dưỡng Việt Nam trong xu
hướng hội nhập khu vực và quốc tế.
Nói tóm lại, lịch sử ngành Điều dưỡng Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của
đất nước, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Tuy ngành điều dưỡng Việt Nam
chưa được coi một ngành riêng biệt, nhưng đã được quan tâm nhiều cống hiến
to lớn cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Những thế hệ điều dưỡng
sau này cần phát huy truyền thống của dân tộc, của ngành điều dưỡng Việt Nam, không
ngừng học tập, rèn luyện để tiến bộ, góp phần xây dựng và phát triển ngành điều dưỡng
Việt Nam hơn nữa.
II. ĐẠO ĐỨC, CHỨC NĂNG ĐIỀU DƯỠNG
1. Các yêu cầu về phẩm chất cá nhân của người điều dưỡng
1.1. Phẩm chất về đạo đức
Các phẩm chất về đạo đức của người điều dưỡng bao gồm:
- Ý thức trách nhiệm cao: sức khỏe được coi vốn quý giá nhất của con người.
Đối tượng phục vụ của người điều dưỡng con người, người bệnh. Sự phục vụ của
người điều dưỡng có quan hệ mật thiết tới chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của người
bệnh.
Sự cẩu thả, sơ suất trong công việc sẽ gây tổn hại đến tính mạng người bệnh và hạ
thấp uy tín nghề nghiệp của người điều dưỡng. vậy, trách nhiệm cao một trong
những phẩm chất cần thiết nhất của người Điều dưỡng. Nghề điều dưỡng được phản ánh
13
rất qua câu nói “hàng trăm lần làm việc tốt cũng chưa đủ, chỉ một lần làm việc xấu
cũng quá thừa”.
- Lòng trung thực hạn: không ai có thể kiểm tra toàn bộ các hoạt động của người
điều ỡng. vậy, trung thực tuyệt đối phải một trong những nét bản của tính
cách người điều dưỡng. Điều này chỉ có thể được gây dựng trên cơ sở lòng tin trong mối
quan hệ giữa người điều dưỡng với người bệnh và đồng nghiệp.
- Sự ân cần cảm thông sâu sắc: sự ân cần bao hàm sự đồng cảm khả năng
cảm thụ nỗi đau của người bệnh. Điều này chỉ xuất hiện thật sự một khi người điều dưỡng
cảm thụ được nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình. Người điều dưỡng
biến sự đồng cảm sâu sắc đó thành những hành động chăm sóc nhằm xoa dịu những nỗi
đau của người bệnh. Tuy nhiên, sự ân cần và lòng tốt không được biến thành chủ nghĩa
tình cảm làm trở ngại đến công việc của người điều dưỡng.
- Tính mềm mỏng và có nguyên tắc: người điều dưỡng phải là nhà tâm lý học, biết
xem xét và đánh giá đặc điểm cá nhân của người bệnh trong mỗi giai đoạn. Người điều
dưỡng cần tính cách dễ gần, chan hòa nhưng phải đúng mực và có nguyên tắc. Sự khô
khan quá độ, thiếu cởi mở, cau có, đùa cợt không đúng chỗ hoặc tiếp xúc xuồng sẽ
làm cho người điều dưỡng dễ bị mất uy tín trước người bệnh và gia đình NB
- Tính khẩn trương và tự tin: người điều dưỡng có nhiệm vụ đấu tranh cho sự sống
của con người, nhiều khi khoảng cách giữa sự sống và cái chết của người bệnh rất gần.
vậy, trong nhiều trường hợp, sự chậm trễ thể làm mất đi hội cứu sống người
bệnh. Do đó, tính khẩn trương là một yêu cầu về phẩm chất nghề nghiệp của người điều
dưỡng. Tuy nhiên, khẩn trương không có nghĩa là tỏ ra vội vàng, hấp tấp mà phảisự
tự tin và bình tĩnh.
- Lòng saynghề nghiệp: điều dưỡng là một nghề có nhiều khó khăn và áp lực.
Có say nghề nghiệp người ĐD mới thể vượt qua được khó khăn để làm tốt trách
nhiệm của mình. Sự say nghề nghiệp một phẩm chất không thể thiếu của người
Điều dưỡng.
1.2. Phẩm chất về mỹ học
- Biểu hiện bên ngoài của người cán bộ y tế ảnh hưởng rất lớn đến bầu không
khí đạo đức trong quan. Người điều dưỡng tác phong nghiêm chỉnh, chững chạc
14
trong chiếc áo blouse, mái tóc gọn ng dưới chiếc đẹp sẽ gây được lòng tin cho
người bệnh người nhà người bệnh. Ngược lại, y phục xộc xệch, nhàu nát, bẩn thỉu,
tay bẩn, tóc rối bù, trang điểm lòe loẹt, móng tay để dài, đồ trang sức quá thừa sẽ gây
tổn hại uy tín và gây cho người bệnh tâm thiếu tin tưởng. Quần áo sang trọng thái quá,
trưng diện mỹ phẩm và trang sức trước những người đang phải chịu đau đớn sẽ gây ra
cảm giác thiệt thòi cho họ.
- Người điều dưỡng không được để các mùi khó chịu kích thích người bệnh (mùi
thuốc lá, mồ hôi, quần áo cũ, nước hoa quá hắc,…). Môi trường bệnh viện các nhân
viên phục vụ không được gây cho người bệnh cảm giác buồn chán hoặc kích thích. Trái
lại, tất cả phải giúp đỡ cho sự ổn định tinh thần và sự phục hồi của người bệnh.
1.3. Phẩm chất về trí tuệ
- Có khả năng quan sát và đánh giá người bệnh: điều dưỡng là người tiếp xúc, theo
dõi thường xuyên người bệnh. Vì vậy, trong quá trình theo dõi, người điều dưỡng phải
biết đánh giá tình trạng người bệnh, phát hiện sớm những vấn đề, nhu cầu của người
bệnh để báo bác hoặc đáp ứng kịp thời cho người bệnh. Để thể quan sát đánh
giá người bệnh một cách chính xác, kịp thời, đòi hỏi người điều dưỡng phải có kiến thức
chuyên môn vững vàng, có óc quan sát và sự nhạy bén. Những điều này chỉ có thể tích
lũy được thông qua quá trình học tập, rèn luyện liên tục.
- Có kỹ năng thành thạo: ngoài kiến thức chuyên môn, người điều dưỡng cần phải
có kỹ năng tay nghề thành thạo bởi vì điều này sẽ giúp cho người điều dưỡng có những
can thiệp điều dưỡng kịp thời, chính xác, giúp cứu sống người bệnh.
- Có khả năng nghiên cứu và cải tiến: nghiên cứu và cải tiến có tầm quan trọng rất
lớn trong việc phát triển kiến thức nghề nghiệp nâng cao chất lượng chăm sóc. Không
chỉ nâng cao chất lượng và sự an toàn của các dịch vụ chăm sóc điều dưỡng, nghiên cứu
còn giúp góp phần tăng cường uy tín nghề nghiệp và làm cho xã hội đánh giá đúng mức
giá trị của các dịch vụ chăm sóc và vị thế của người ĐD.
- Khôn ngoan trong công tác: trình độ của người điều dưỡng ngày càng được nâng
cao. Trong khi đó, người điều dưỡng có chức năng chủ động. Người điều dưỡng không
còn là người chỉ biết m theo các y lệnh của bác sĩ mà là người chủ động trong việc tiếp
cận, chăm sóc, theo dõi người bệnh một ch kiến thức. vậy, nếu chưa
15
trong y lệnh, người điều dưỡng phải nghiên cứu thật kỹ trước khi thực hiện. Điều này sẽ
làm giảm bớt sai sót trong chuyên môn m cho công tác của người điều dưỡng trở
nên thông minh, tốt đẹp hơn.
2. Nghĩa vụ nghề nghiệp của người điều dưỡng
2.1. Nghĩa vụ đối với người bệnh
Trong quá trình chăm sóc, người điều dưỡng cần tạo ra môi trường trong đó
quyền của con người, các giá trị, tập quán tín ngưỡng của mỗi nhân, gia đình
cộng đồng được tôn trọng. Người điều dưỡng cần đảm bảo cho mọi thể nhận được
thông tin cần thiết làm sđể họ đồng ý chấp nhận các phương pháp điều trị. Trách
nhiệm nghề nghiệp của người điều dưỡng đối với người bệnh phải dựa trên các nguyên
tắc cơ bản sau đây:
- Không bao giờ được từ chối giúp đỡ người bệnh: ý thức trách nhiệm trước cuộc
sống của người bệnh đòi hỏi người điều ỡng phải luôn quan tâm sẵn sàng quên
mình để giúp đỡ người bệnh. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào người điều dưỡng cũng cần
phải nhớ rằng người bệnh đang rất cần sự giúp đỡ của người cán bộ y tế. Sự từ chối giúp
đỡ người bệnh là vi phạm nghĩa vụ xã hội của mình, phải chịu sự lên án về mặt đạo đức
và khi cần phải xử phạt về hành chính.
- Cố gắng giúp đỡ người bệnh loại trừ đau đớn về thể chất: đứng trước người bệnh
đang chịu đau đớn bệnh tật, người điều dưỡng phải luôn thể hiện một sự thông cảm
quan tâm đặc biệt, xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình cố
gắng tìm cách giúp đỡ. Khi tiến hành các kỹ thuật chăm sóc và điều trị phải hết sức nhẹ
nhàng để hạn chế tới mức thấp nhất sự đau đớn cho NB.
- Không bao giờ được bỏ mặc người bệnh: người điều ỡng nhiệm vụ đấu tranh
cho sự sống của người bệnh đến cùng, luôn giành sự quan tâm tối đa cho người bệnh với
tinh thần “còn nước còn tát”, không bao giờ xa rời vị trí để người bệnh một mình đối
phó với bệnh tật.
- Tôn trọng nhân cách quyền của con người: bản chất của y đức học được thể
hiện trong câu “phải đối xử với người bệnh như mình muốn người ta đối xử với mình”.
Khi tiếp xúc với người bệnh, người điều dưỡng phải tạo ra một môi trường trong đó mọi
giá trị, phong tục tập quán và tự do tín ngưỡng của mỗi cá nhân được tôn trọng.
16
- Hỗ trợ về tinh thần cho người bệnh: trong khi nằm viện, tinh thần của người bệnh
chịu ảnh hưởng bởi bệnh tật, sự cách ly người thân, môi trường bệnh viện và nhiều yếu
tố khác. Vì vậy, tình trạng về tinh thần và thể chất của người bệnh thực tế khác với tình
trạng của người khỏe. Khi tiếp xúc với người bệnh, người điều dưỡng phải gây được
lòng tin của người bệnh vào hiệu quả điều trị. Đối với những người bệnh giai đoạn
cuối, thường có diễn biến về tâm lý rất phức tạp. Người điều dưỡng phải tỏ ra thông cảm
quan tâm đặc biệt tới họ. Biểu tượng của nghề điều dưỡng cây đèn đang cháy.
Người điều ỡng phải ngọn lửa soi sáng sưởi ấm những người đang bị bệnh tật
hành hạ.
- Cộng tác, giúp đlẫn nhau: lao động y tế đặc điểm sự phát triển của chủ
nghĩa tập thể, sự cộng tác thân ái và giúp đỡ lẫn nhau. Điều này rất quan trọng bởi vì nó
tạo điều kiện để thiết lập bầu không khí hòa thuận trong một tập thể cùng giành giật sự
sống cho người bệnh. Người điều dưỡng độc lập trong hành động chăm sóc, nhưng toàn
bộ quá trình chăm sóc người bệnh một người không thể làm được. vậy sự hợp tác
giúp đỡ lẫn nhau là điều vô cùng cần thiết.
- Sự tôn trọng lẫn nhau: khi chăm sóc người bệnh sự vui vẻ, hoà nhã, cởi mở của
người điều dưỡng là liều thuốc vô cùng cần thiết giúp người bệnh giảm bớt những nỗi lo
âu, đau đớn về bệnh tật. Người điều dưỡng phải luôn tạo không khí vui vẻ, không nên
tranh luận, xúc phạm lẫn nhau trước mặt người bệnh hay gia đình người bệnh.
- Phê bình thiện chí: nguồn gốc của các mối quan hệ phức tạp trong tập thể
sự hiềm khích lẫn nhau. Do đó, phê bình thiện chí điều cần thiết trong ng tác.
Một người muốn tiến bộ luôn cần sự góp ý của đồng nghiệp. Phê bình góp ý như thế
nào? Đó là một nghệ thuật góp ý, phê bình để đồng nghiệp nhận ra được những thiếu sót
mà sửa chữa, khắc phục.
- Truyền thụ kinh nghiệm: kinh nghiệm làm việc điều rất cần trong mọi ngành
nghề, đặc biệt là nghề chăm sóc người bệnh. Người trẻ mới ra trường còn chưa có kinh
nghiệm cần phải khiêm tốn học hỏi. Người điều ỡng lâu năm trong nghề nhiều kinh
nghiệm trong chăm sóc người bệnh nên thường xuyên trao đổi, truyền thụ kinh nghiệm
cho đồng nghiệp để cùng chăm sóc NB đạt kết quả tốt hơn.
2.2. Nghĩa vụ đối với nghề nghiệp
17
- Tôn trọng quy định của pháp luật: không được hành nghề khi chưa được pháp
luật cho phép. Người điều dưỡng không được tự ý hành nghề vượt quá những quy định
của pháp luật.
- Luôn giữ vững cách đạo đức, giữ uy tín nghề nghiệp: khi hành nghngười điều
dưỡng không được vì lợi ích trước mắt, vì tiền làm mất phẩm cách của mình.
- Liên tục học tập, nâng cao trình độ: cùng với sự phát triển của khoa học, nền y
học thế giới cũng phát triển không ngừng vậy đòi hỏi người điều dưỡng luôn phấn đấu
học hỏi, nâng cao trình độ cho kịp thời đại để phục vụ người bệnh ngày một tốt hơn.
- Duy trì tiêu chuẩn chăm sóc nâng cao trong điều kiện thực tế cho phép: trong điều
kiện chăm sóc tùy từng nơi, từng vùng với điều kiện kinh tế khác nhau, người điều ỡng
phải biết vận dụng chăm sóc cho người bệnh, phải luôn duy trì được tiêu chuẩn chăm
sóc nâng cao trong điều kiện cho phép.
2.3. Nghĩa vụ đối với sự phát triển nghề nghiệp
- Người ĐD phải đảm nhiệm những vai trò quan trọng trong việc xác định và thực
hiện những chuẩn mực về thực hành CS lâm sàng, quản lý, nghiên cứu và đào tạo.
- Người điều dưỡng hoạt động thông qua các tổ chức nghề nghiệp nhằm tạo ra hoặc
duy trì sự công bằng xã hội và điều dưỡng.
3. Chuẩn đạo đức nghề nghiệp điều dưỡng viên
3.1. Tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp
Nghề Y một nghề đặc biệt những đức tính cần đủ cho nghề khác thể
chưa đủ với người làm nghề y. Nghề Y đòi hỏi trách nhiệm p đối với hành nghề vừa
phải giỏi chuyên môn (y nghiệp) vừa phải như mẹ hiền (y đức).
Nghề điều dưỡng nghề cao quý, nghề dịch vụ công cộng, đóng góp vào việc
chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người sự công bằng, hiệu quả phát triển
của ngành y tế Việt Nam. Những giá trị nghề nghiệp cốt lõi được thhiện trong chuẩn
đạo đức nghề nghiệp Điều ỡng viên, bao gồm: An toàn, thân thiện, tôn trọng, năng
lực, trung thực, công bằng, hợp tác và cam kết.
3.2. Các chuẩn đạo đức nghề nghiệp điều dưỡng:
18
(Ban hành theo quyết định số 20/ HĐD ngày 10/9/2012 của Hội Điều dưỡng VN)
Điều 1. Bảo đảm an toàn cho người bệnh
1. Duy trì chuẩn mực thực hành tốt nhất có thể ở nơi làm việc.
2. Chịu trách nhiệm cá nhân về mọi quyết định và hành vi chuyên môn trong chăm
sóc người bệnh.
3. Can thiệp kịp thời và báo cáo cho người phụ trách khi phát hiện các hành vi thực
hành của người hành nghề không bảo đảm an toàn cho người bệnh.
Điều 2. Tôn trọng người bệnh và người nhà người bệnh
1. Tôn trọng tuổi, giới tính, dân tộc, tín ngưỡng của người bệnh.
2. Tôn trọng quyền tự quyết của người bệnh trong khi thực hành chăm sóc.
3. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm bảo đảm kín đáo tốt nhất thể cho người
bệnh khi chăm sóc và làm thủ thuật.
4. Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến các giải pháp hoạt động chăm
sóc cho người bệnh.
5. Giữ gìn những bí mật liên quan đến bệnh tật và cuộc sống riêng tư của NB
6. Đối xử công bằng với mọi người bệnh.
Điều 3. Thân thiện với người bệnh và người nhà người bệnh
1. Giới thiệu tên và chào hỏi người bệnh, người nhà người bệnh một cách thân
thiện.
2. Lắng nghe người bệnh, người nhà NB và đáp lại bằng câu nói ân cần với cử chỉ
lịch sự.
3. Cung cấp dịch vụ chăm sóc kèm theo nụ cười thân thiện.
4. Giúp người bệnh giảm nhẹ đau đớn do bệnh tật và do phẫu thuật, thủ thuật.
Điều 4. Trung thực trong khi hành nghề
1. Trung thực trong việc quản lý, sử dụng thuốc và vật tư tiêu hao cho NB
2. Trung thực trong việc thực hiện các hoạt động chuyên môn chăm sóc NB
19
thực hiện các chỉ định điều trị.
3. Trung thực trong việc ghi các thông tin trong hồ sơ bệnh án của NB
Điều 5. Duy trì và nâng cao năng lực hành nghề
1. Thực hiện đầy đủ chức năng nghề nghiệp của điều dưỡng viên.
2. Tuân thủ các quy trình kỹ thuật, các hướng dẫn chuyên môn khi chăm sóc người
bệnh.
3. Học tập liên tục để cập nhật kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp.
4. Tham gia nghiên cứu và thực hành dựa vào bằng chứng.
Điều 6. Tự tôn nghề nghiệp
1. Giữ gìn và bảo vệ uy tín nghề nghiệp khi người khác làm tổn hại đến các giá trị
và danh dự của nghề.
2. Tận tụy với công việc CS NB và tự giác chấp hành các quy định ở nơi làm việc.
3. Từ chối nhận tiền hoặc lợi ích khác của NB, người nhà người bệnh vì mục đích
được ưu tiên trong khám bệnh, chữa bệnh.
4. Tôn trọng Điều lệ Hội và tự nguyện tham gia hoạt động của Hội ĐD ở các cấp.
Điều 7. Thật thà đoàn kết với đồng nghiệp
1. Hợp tác và giúp đỡ đồng nghiệp hoàn thành nhiệm vụ.
2. Tôn trọng và bảo vệ danh dự, uy tín của đồng nghiệp.
3. Truyền thụ và chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp với đồng nghiệp.
Điều 8. Cam kết với cộng đồng và xã hội
1. Nói và làm theo các quy định của Pháp luật.
2. Gương mẫu tại cộng đồng và nơi sinh sống.
3. Tham gia các hoạt động từ thiện và bảo vệ môi trường.
4. KẾT LUẬN
Thực hiện những phẩm chất đạo đức y học nghĩa vụ nghề nghiệp của người Điều
20
dưỡng. Một khi đã chấp nhận vai trò của người Điều dưỡng thì đồng thời phải bổn
phận chấp hành và thực hiện các yêu cầu về phẩm chất, đạo đức của nghề nghiệp.
CÂU HỎI LƯỢNG G
1. Trưng điu dưng đu tiên trên thế gii đưc tnh lp nước Anh vào năm:
A. 1858 B. 1859 C. 1860 D. 1861
2. Hội điều dưỡng Việt Nam được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm:
A. 1990 B. 1991 C. 1992 D. 1993
3. Bà Phoebe được cả thế giới suy tôn là:
A. Người nữ điều ỡng tại gia đầu tiên của thế giới
B. Người sáng lập ra ngành điều dưỡng
C. Người đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo điều dưỡng
D. Người đầu tiên thành lập trường điều dưỡng
4. Ngày điều dưỡng thế giới là ngày:
A. 27/02 B. 26/10 C. 12/05 D. 25/9
5. Ngày điều dưỡng Việt Nam là ngày:
A. 27/02 B. 26/10 C. 12/05 D. 25/9

Preview text:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN
Hà Nội – 2024
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
CHỦ BIÊN: TS. Nguyễn Trần Thủy GIÁO TRÌNH
MÔN HỌC ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN
(Sách đào tạo đại học)
Hà Nội – 2024 CHỦ BIÊN: TS. Nguyễn Trần Thủy TS. Nguyễn Xuân Bình NHÓM BIÊN SOẠN: TS. Nguyễn Trần Thủy TS. Phan Thị Dung TS. Nguyễn Thị Nguyệt ThS. Nguyễn Thế Bình ThS. Đỗ Thị Ngọc ThS. Đinh Thị Yến ThS. Nguyễn Thị Dân ThS. Nguyễn Thị Thủy ThS. Nguyễn Minh Thành THƯ KÝ: CN. Thái Nhật Lệ CN. Đoàn Thị Uyên 3 LỜI MỞ ĐẦU
Giáo trình Điều dưỡng cơ bản (ĐDCB) được nhóm tác giả của Bộ môn Điều dưỡng
và Huấn luyện kỹ năng biên soạn dựa trên đề cương chi tiết học phần đã được Ban giáo
hiệu phê duyệt. Mục đích của giáo trình là cung cấp tài liệu học tập cho sinh viên của
trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm đạt được các kiến thức, kỹ
năng, năng lực tự chủ và trách nhiệm trong thực hành điều dưỡng.
Giáo trình ĐDCB được biện soạn căn cứ Hướng dẫn số 105/HD-KYD “Về việc tổ
chức biên soạn. thẩm định. Xuất bản, in ấn và sử dụng Giáo trình” Hà Nội, ngày 04 tháng
12 năm 2019, Phó Chủ nhiệm Khoa Y Dược. Các chủ đề của giáo trình cũng được cập
nhật một số điều của Luật Khám chữa bệnh số 15/2023/QH15, Thông tư 32/2023/TT-
BYT Quy định chi tiết một số điều của luật khám bệnh, chữa bệnh , ngày 31 tháng 12
năm 2023, Thông tư 31/2021/TT-BYT của Bộ Y tế quy định công tác điều dưỡng trong
bệnh viện và Quyết định số 3474/QĐ-BYT do Bộ Y tế phê duyệt năm 2022 về Chuẩn
năng lực cơ bản Cử nhân Điều dưỡng Việt Nam nhằm đáp ứng một số chuẩn đầu ra của
của Chương trình đào tạo Cử nhân Điều dưỡng trình độ Đại học đã được Ban Giám hiệu phê duyệt.
Nhóm tác giả đã tham khảo, lựa chọn, kế thừa, bổ sung một số giáo trình, tài liệu
đã và đang được sử dụng giảng dạy điều dưỡng tại một số trường đại học nội dung liên
quan được đăng tải trên hệ thống thông tin của Bộ Y tế, các bệnh viện đầu ngành.
Nội dung của Giáo trình gồm 17 bài, bài đầu tiên tập trung vào lịch sử, xu hướng
phát triển ngành điều dưỡng; vai trò. Chức năng, nhiệm vụ, chuẩn năng lực, chuẩn đạo
đức, học thuyết điều dưỡng. bài tiếp theo tập trung vào quy trình điều dưỡng, 15 bài cuối
tập trung vào những kiến thức, kỹ năng cơ bản nhằm phục vụ cho việc chăm sóc điều trị
như chăm sóc tiêu hoá, chăm sóc vết thương, băng bó và việc dùng thuốc cho người bệnh.
Với những cố gắng của tập thể các tác giả, chúng tôi mong muốn cuốn giáo trình
này có thể cơ bản đáp ứng được nhu cầu trong học tập và giảng dạy môn học ĐDCB của
giảng viên, sinh viên trong nhà trường. Tuy nhiên, trong quá trình biên soạn cuốn giáo
trình còn những hạn chế, thiếu sót. Nhóm biên soạn rất mong nhận được sự góp ý của
các Quý đồng nghiệp, đông đảo sinh viên để cuốn giáo trình này được hoàn thiện hơn. 4 MỤC LỤC
BÀI 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐIỀU DƯỠNG ....................................................................... 6
BÀI 2: QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG ............................................................................ 21
BÀI 3: ĐÁNH GIÁ DẤU HIỆU SINH TỒN ................................................................ 32
BÀI 4: KỸ THUẬT RỬA TAY, MẶC ÁO, MANG GĂNG; VÔ KHUẨN – TIỆT
KHUẨN ......................................................................................................................... 54
BÀI 5: KỸ THUẬT TIÊM THUỐC .............................................................................. 79
BÀI 6: KỸ THUẬT TRUYỀN DỊCH ......................................................................... 135
BÀI 7: KỸ THUẬT TRUYỀN MÁU .......................................................................... 157
BÀI 8: CẤP CỨU NGỪNG TUẦN HOÀN CƠ BẢN ................................................ 181
BÀI 9: LIỆU PHÁP OXY CHO NGƯỜI BỆNH ........................................................ 203
BÀI 10: HÚT THÔNG ĐƯỜNG HÔ HẤP ................................................................. 228
BÀI 11: KỸ THUẬT BĂNG BÓ VẾT THƯƠNG...................................................... 249
BÀI 12: KỸ THUẬT SƠ CỨU CHẢY MÁU ............................................................. 279
BÀI 13: SƠ CỨU NẠN NHÂN GÃY XƯƠNG ......................................................... 302
BÀI 14: KỸ THUẬT THAY BĂNG, CẮT CHỈ VẾT THƯƠNG .............................. 339
BÀI 15: KỸ NĂNG THỤT THÁO .............................................................................. 374
BÀI 16: KỸ THUẬT THÔNG TIỂU .......................................................................... 386
BÀI 17: KỸ THUẬT PHỤ GIÚP THẦY THUỐC CHỌC DÒ TỦY SỐNG – MÀNG
PHỔI – MÀNG BỤNG – MÀNG TIM ....................................................................... 405 5
BÀI 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐIỀU DƯỠNG
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1. Có năng lực phân tích tính đạo đức của các tiền bối ngành điều dưỡng.
2. Có năng lực nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân để hành nghề Điều dưỡng.
3. Có năng lực phân tích các phẩm chất đạo đức của người Điều dưỡng.
4. Có năng lực thực hiện các nghĩa vụ nghề nghiệp cơ bản của người Điều dưỡng. NỘI DUNG
I. LỊCH SỬ HỌC THUYẾT
1. Sơ lược về lịch sử phát triển ngành điều dưỡng thế giới
Từ thời xa xưa, do kém hiểu biết, con người tin vào thần linh và cho rằng “thần
linh là đấng siêu nhân có quyền uy”, “thượng đế ban sự sống cho muôn loài”,… Khi bị
đau ốm, họ thường mời pháp sư đến, vừa trị bệnh, vừa cầu kinh, sợ hãi và tuyệt vọng
van xin tha mạng sống cho người bị bệnh. Khi có người chết, họ cho rằng đó là tại số,
tại trời, tại thần linh không cho sống. Các giáo đường, nhà thờ được xây dựng để thờ
thần thánh và dần dần trở thành những trung tâm chăm sóc( CS) và điều trị người bệnh.
Tại đây có các pháp sư trị bệnh và các tín nữ vừa giúp lễ vừa chăm sóc người bệnh (NB).
Từ đây hình thành mối liên kết giữa y khoa, điều dưỡng và tôn giáo.
Năm 60, bà Phoebe (Hy Lạp) đã đến từng gia đình có người đau ốm để chăm sóc.
Bà được ngưỡng mộ và được suy tôn là người nữ Điều dưỡng tại gia đầu tiên trên thế giới.
Vào thế kỷ thứ IV, bà Fabiola (La Mã) đã tự nguyện biến căn nhà sang trọng của
mình thành nơi để bà đón những người nghèo khổ đau ốm về chăm sóc nuôi dưỡng.
Thời kỳ viễn chinh ở Châu Âu, bệnh viện được xây dựng để chăm sóc số lượng lớn
những người hành hương bị đau ốm. Cả nam và nữ đều thực hiện việc chăm sóc sức
khỏe cho tất cả mọi người. Nghề điều dưỡng bắt đầu trở thành nghề được coi trọng.
Đến thế kỷ thứ XVI, chế độ nhà tu ở Anh và châu Âu bị bãi bỏ. Các tổ chức tôn 6
giáo bị giải tán, dẫn đến sự thiếu hụt trầm trọng người chăm sóc NB. Những người phụ
nữ phạm tội, bị giam giữ đã được tuyển chọn làm người chăm sóc người bệnh thay vì
thực hiện án tù, còn những người phụ nữ khác chỉ chăm sóc gia đình mình thôi. Bối cảnh
này đã tạo ra những quan niệm lệch lạc của xã hội đối với nghề điều dưỡng.
Giữa thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX, việc cải cách xã hội đã thay đổi vai trò
người điều dưỡng. Vai trò của người phụ nữ trong xã hội nói chung cũng đã được cải
thiện. Trong giai đoạn này, một phụ nữ người Anh tên là Florence Nightingale (1820-
1910) đã được cả thế giới tôn kính và suy tôn là người sáng lập ra ngành điều dưỡng. Bà
sinh ra trong một gia đình quý tộc ở Anh nên được giáo dục chu đáo. Bà biết nhiều ngoại
ngữ, đọc nhiều sách triết học, tôn giáo, chính trị. Ngay từ nhỏ, bà đã thể hiện thiên tính
và hoài bão được giúp đỡ người nghèo khổ. Bà đã vượt qua sự phản kháng của gia đình
để vào học và làm việc tại bệnh viện Kaiserswerth (Đức) năm 1847. Sau đó bà học thêm
ở Paris (Pháp) vào năm 1853. Những năm 1854-1855, chiến tranh Crimea nổ ra, bà cùng
38 phụ nữ Anh khác được phái sang Thổ Nhĩ Kỳ để phục vụ các thương bệnh binh của
quân đội Hoàng gia Anh. Tại đây, bà đã đưa ra lý thuyết về khoa học vệ sinh trong các
cơ sở y tế và sau hai năm bà đã làm giảm tỷ lệ chết của thương binh do nhiễm trùng từ
42% xuống còn 2%. Đêm đêm, Florence một mình cầm ngọn đèn dầu đi kiểm tra, chăm
sóc từng người thương binh, đã để lại hình tượng một người phụ nữ với cây đèn dầu
trong trí nhớ những người thương binh hồi đó. Chiến tranh chưa kết thúc, Florence đã
phải trở lại nước Anh. Cơn “sốt Crimea” và sự căng thẳng của những ngày ở mặt trận đã
làm cho bà mất khả năng làm việc. Bà được dân chúng và những người lính Anh tặng món quà là
50.000 bảng Anh để chăm sóc sức khỏe. Vì sức khỏe không cho phép tiếp tục làm
việc ở BV, bà Florence đã lập ra hội đồng quản lý ngân sách 50.000 bảng Anh vào năm
1860. Trường Điều dưỡng Nightingale cùng với chương trình đào tạo 1 năm đã đặt nền
tảng cho hệ thống đào tạo điều dưỡng không chỉ ở nước Anh mà còn ở nhiều nước trên
thế giới. Để tưởng nhớ công lao của bà và khẳng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp mà
Florence đã dày công gây dựng, Hội đồng điều dưỡng thế giới đã quyết định lấy ngày
sinh của Florence là ngày 12 tháng 5 làm ngày điều dưỡng thế giới. Bà Florence đã trở
thành người mẹ tinh thần của ngành điều dưỡng thế giới.
Hiện nay ngành điều dưỡng của thế giới đã được xếp là một ngành nghề riêng biệt, 7
ngang hàng với các ngành nghề khác. Có nhiều trường đào tạo điều dưỡng với nhiều
trình độ điều dưỡng khác nhau: trung học, đại học, sau đại học. Nhiều người điều dưỡng
đã có bằng thạc sĩ, tiến sĩ và nhiều công trình nghiên cứu khoa học điều dưỡng có giá trị
cao đã được áp dụng trong thực hành điều dưỡng.
2. Sơ lược về lịch sử phát triển ngành điều dưỡng việt nam
Cũng như thế giới, từ xa xưa các bà mẹ Việt Nam đã chăm sóc, nuôi dưỡng con cái
và gia đình mình. Bên cạnh những kinh nghiệm chăm sóc gia đình, các bà đã được truyền
lại những kinh nghiệm dân gian của các lương y trong việc chăm sóc người bệnh. Lịch
sử y học của dân tộc ghi rõ phương pháp dưỡng sinh, đã được áp dụng trong chăm sóc
và điều trị người bệnh. Hai danh y nổi tiếng thời xưa của dân tộc ta là Hải Thượng Lãn
Ông Lê Hữu Trác và Tuệ Tĩnh đã sử dụng phép dưỡng sinh để trị bệnh rất có hiệu quả.
Thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp đã xây nhiều bệnh viện. Trước năm 1900 họ đã
ban hành chế độ học việc cho những người muốn làm ở bệnh viện. Việc đào tạo chỉ
mang tính chất “cầm tay chỉ việc”. Người được đào tạo là những người giúp việc thạo
kỹ thuật, vững tay nghề và chỉ phụ việc cho các bác sĩ người Pháp mà thôi.
Năm 1901, mở lớp y tá nam đầu tiên tại bệnh viện Chợ Quán (nơi điều trị bệnh tâm
thần và hủi). Ngày 20.12.1906, toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định thành lập
ngạch nhân viên điều dưỡng bản xứ. Năm 1910, lớp học rời về bệnh viện Chợ Rẫy để
đào tạo y tá đa khoa. Ngày 01.12.1912, công sứ Nam Kỳ ra quyết định mở lớp nhưng
mãi đến ngày 18.6.1923 mới mở trường điều dưỡng bản xứ. Do chính sách của thực dân
Pháp không tôn trọng người bản xứ và coi y tá chỉ là người giúp việc nên về lương bổng
chỉ được xếp ở ngạch hạ đẳng. Năm 1924, Hội y tá ái hữu và Nữ hộ sinh Đông Dương
thành lập. Hội đã đấu tranh với chính quyền thực dân Pháp yêu cầu đối xử công bằng
với y tá bản xứ, và sau đó cho y tá được thi chuyển ngạch trung đẳng.
Sau cách mạng tháng tám năm 1945, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa vừa
mới thành lập đã phải bước ngay vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Lớp y tá
đầu tiên được đào tạo 6 tháng do GS. Đỗ Xuân Hợp làm hiệu trưởng được tổ chức tại
quân khu X (Việt Bắc). Những y tá vào học lớp này được tuyển chọn tương đối kỹ lưỡng.
Sau đó liên khu III cũng mở lớp đào tạo y tá.
Năm 1950, ta mở nhiều chiến dịch, nhu cầu chăm sóc thương bệnh binh tăng mạnh. 8
Do vậy, cần đào tạo y tá cấp tốc (3 tháng) để cung cấp cho kháng chiến đáp ứng công
tác quản lý, chăm sóc và phục vụ người bệnh. Trong những năm 1950, cục Quân y cũng
mở một số lớp đào tạo y tá trưởng, nhưng chương trình chưa được hoàn thiện. Mặt khác,
kháng chiến rất gian khổ, máy móc và thuốc men y tế hạn chế nên việc điều trị cho người
bệnh chủ yếu dựa vào chăm sóc.
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, đất nước ta bị chia làm hai
miền. Miền Bắc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục chịu sự xâm
lược của đế quốc Mỹ. Tại miền nam
Năm 1956 có trường Cán sự điều dưỡng Sài Gòn, đào tạo Cán sự điều dưỡng 3
năm. Năm 1968 do thiếu điều dưỡng trầm trọng nên đã mở thêm ngạch điều dưỡng sơ
học 12 tháng chính quy với tên gọi Tá viên điều dưỡng tại các trường điều dưỡng. Hội
Điều dưỡng tại Miền Nam được thành lập. Hội xuất bản nội san điều dưỡng. Năm 1973
mở lớp điều dưỡng y tế công cộng 3 năm tại Viện Quốc gia y tế công cộng. Tại miền bắc
Năm 1954, Bộ Y Tế đã xây dựng chương trình đào tạo y tá sơ cấp hoàn chỉnh để
bổ túc cho số y tá học cấp tốc trong chiến tranh.
Năm 1968, Bộ Y Tế xây dựng tiếp chương trình đào tạo y tá trung cấp, tuyển sinh
học hết cấp 2 (hết lớp 7) với thời gian đào tạo 2,5 năm. Khóa đào tạo đầu tiên của lớp y
tá được tổ chức tại bệnh viện (BV) E trung ương, BV Việt Đức (đào tạo chuyên khoa),
BV Bạch Mai và sau đó được xây dựng thành trường Trung học Y tế Bạch Mai trực
thuộc Bộ Y Tế. Đồng thời Bộ Y Tế cũng gửi giảng viên của hệ này đi tập huấn ở Liên
Xô, Ba Lan, CHDC Đức từ năm 1975. Tiêu chuẩn tuyển chọn vào học y tá trung học
cũng cần trình độ cao hơn (tốt nghiệp cấp 3) và chương trình đào tạo cũng hoàn thiện hơn.
Việc đào tạo điều dưỡng trưởng cũng đã được quan tâm. Ngay từ năm 1960, một
số bệnh viện và trường trung học y tế trung ương đã mở lớp đào tạo y tá trưởng như lớp
trung học y tế bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện E Hà Nội. Tuy nhiên, chương trình và tài
liệu giảng dạy chưa được hoàn thiện. Ngày 22.11.1963, Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định
về chức vụ y tá trưởng ở các cơ sở điều trị: bệnh viện, Viện điều dưỡng. 9
Năm 1975, kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước được thống nhất. Bộ Y tế đã
thống nhất chỉ đạo công tác chăm sóc và điều trị người bệnh ở cả hai miền. Từ đó,
Chương trình đào tạo điều dưỡng được thống nhất chung là đào tạo y tá trung học, với
thời gian học là 2 năm 6 tháng.
Năm 1982, Bộ Y tế ban hành chức danh y tá trưởng BV và y tá trưởng khoa.
Năm 1985, Bộ Y tế thành lập tổ nghiên cứu y tá và một số bệnh viện đã xây dựng
phòng điều dưỡng, thí điểm tách ra khỏi phòng y vụ tại bệnh viện Nhi trung ương, bệnh viện Đa khoa Uông Bí.
Ngày 14.7.1990, Bộ Y tế ban hành quyết định số 570/BYT-QĐ thành lập phòng Y
tá điều dưỡng trong các bệnh viện có trên 150 giường bệnh. Ngày 14.3.1992, Bộ trưởng
Bộ Y tế ra quyết định thành lập phòng y tá trong Vụ Điều trị của Bộ Y tế. Đến năm 1996,
Bộ Y tế chính thức bổ nhiệm chức vụ trưởng phòng điều dưỡng đầu tiên.
Về đào tạo Điều dưỡng Đại học, năm 1985, Bộ Y tế được Bộ Đại học và Trung học
chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo) đồng ý, đã tổ chức khóa đào tạo đại học Cử
nhân điều dưỡng tại chức đầu tiên tại Trường Đại học Y Hà Nội. Năm 1986 mở lớp tại
Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và đến năm 1996 tổ chức khóa đào tạo Đại học Cử
nhân Điều dưỡng chính quy.
Năm 1999, Bộ Y tế chính thức ban hành chức vụ Điều dưỡng trưởng tại Sở Y tế.
Việc đào tạo điều dưỡng cao đẳng bắt đầu từ năm 1993 và hiện nay Bộ Y tế đang
từng bước nâng cấp các Trường từ trung cấp lên thành Trường cao đẳng y tế. Từ năm
2003, ch.trình đào tạo điều dưỡng trung cấp được rút ngắn từ 2,5 năm xuống còn 2 năm.
Năm 2006, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho
phép mở khóa đào tạo Thạc sĩ Điều dưỡng đầu tiên của Việt Nam.
Riêng về đào tạo Điều dưỡng trưởng, liên tục từ năm 1982 đến nay nhiều lớp Điều
dưỡng trưởng đã được tổ chức tại các trường Trung học Kỹ thuật Y tế Trung ương I (nay
là Đại học Kỹ Thuật Y tế Hải Dương), Trung học Kỹ thuật Y tế Trung ương III (nay là
Khoa Điều dưỡng-Kỹ thuật Y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh), lớp Trung học
Y tế Bạch Mai, Cao đẳng Y tế Nam Định (nay là ĐH Điều dưỡng Nam Định).
Đến 2005, chương trình Quản lý điều dưỡng được Bộ Y tế chỉnh lý thành chương 10
trình đào tạo điều dưỡng trưởng, dùng đào tạo chung cho các điều dưỡng trưởng khoa,
điều dưỡng trưởng bệnh viện trong toàn quốc.
3. Sự ra đời và phát triển của hội điều dưỡng việt nam
Ngày 26/10/1990, được sự cho phép của chính phủ trong Quyết định 375-CT, Hội
Y tá – Điều dưỡng Việt Nam mở đại hội lần thứ I tại Hội trường Ba Đình. Nhiệm kỳ thứ
nhất của BCHTW Hội là 3 năm (1990-1993). BCH có 31 ủy viên ở cả 3 miền. Bà Vi Thị
Nguyệt Hồ là chủ tịch, ba phó chủ tịch là bà Trịnh Thị Loan, Nguyễn Thị Niên và ông
Nguyễn Hoa. Tổng thư ký là ông Phạm Đức Mục.
Ngày 26/3/1993, Đại hội đại biểu Y tá điều dưỡng toàn quốc lần thứ II (nhiệm kỳ
1993-1997) được tổ chức tại hội trường Bộ Y tế (Hà Nội). BCH mới gồm 45 ủy viên.
Chủ tịch là bà Vi Thị Nguyệt Hồ. Phó chủ tịch là ông Nguyễn Hoa, bà Trịnh Thị Loan
và ông Phạm Đức Mục (kiêm tổng thư ký).
Ngày 17/5/1997, Đại hội đại biểu điều dưỡng toàn quốc lần thứ III (nhiệm kỳ 1997-
2001) được tổ chức tại hội trường Thống Nhất - TP.Hồ Chí Minh. BCH có chủ tịch là
bà Vi Thị Nguyệt Hồ, 3 phó chủ tịch gồm bà Trịnh Thị Loan (phụ trách các tỉnh phía
nam), ông Nguyễn Hoa (phụ trách các tỉnh miền trung) và ông Phạm Đức Mục (phụ
trách các tỉnh phía bắc). Cũng trong nhiệm kỳ này, tại công văn số 4508/CCHC ngày 10
tháng 9 năm 1997 về việc đổi tên Hội Y tá - điều dưỡng, Văn phòng Chính phủ đã đồng
ý cho đổi tên Hội Y tá – Điều dưỡng Việt Nam thành Hội Điều dưỡng VN.
Ngày 11/5/ 2002, tại Hội trường Bộ Y tế - Hà Nội, Đại hội đại biểu ĐD toàn quốc
lần thứ IV (nhiệm kỳ 2002-2007) được tổ chức. BCH cũ tái cử trong nhiệm kỳ mới này.
Trong nhiệm kỳ này Hội đã có nhiều đóng góp xây dựng các chính sách và tiêu chuẩn
thực hành điều dưỡng. Ngành Y tá cũng đã được đổi tên thành ngành Điều dưỡng.
Đại hội đại biểu điều dưỡng toàn quốc lần thứ V (nhiệm kỳ 2007-2012) được tổ
chức ngày 25/10/2007 tại Hà Nội, bà Vi Thị Nguyệt Hồ tái cử chức Chủ tịch Hội. Trong
nhiệm kỳ này, Hội tiếp tục có nhiều đóng góp phát triển ngành Điều dưỡng. Hội đã thành
lập Trung tâm Tư vấn và dịch vụ điều dưỡng, thành lập Chi hội Giáo viên Điều dưỡng
từ tháng 10/2010, thành lập Câu lạc bộ Quản lý điều dưỡng. Bên cạnh đó, Hội Điều
dưỡng Việt Nam phối hợp với Bộ Y tế xây dựng Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng
Việt Nam, xây dựng Chuẩn đạo đức nghề nghiệp của điều dưỡng Việt Nam, xây dựng 11
chuẩn chăm sóc người bệnh trong các Bệnh viện…
Ngày 25-26/10/2012, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Đại hội đại biểu điều dưỡng
toàn quốc lần thứ VI, nhiệm kỳ (2012-2017) đã được tổ chức. BCH Hội gồm chủ tịch là
ông Phạm Đức Mục; 4 phó chủ tịch là bà Tô Thị Điền, bà Nguyễn Bích Lưu, bà Trần
Thị Châu và ông Trần Quang Huy. Tổng thư ký là bà Nguyễn Thị Minh Tâm.
Đến nay, Hội đã phát triển tại 59 tỉnh thành với hơn 75.000 hội viên. Sự hoạt động
của Hội đã góp phần cùng nhà nước và Bộ Y tế thúc đẩy ngành Điều dưỡng phát triển,
đẩy mạnh công tác chăm sóc tại các cơ sở khám chữa bệnh. Đặc biệt là khi Bộ Chuẩn
năng lực cơ bản Điều dưỡng Việt Nam được Bộ Y tế ban hành ngày 24 tháng 4 năm
2012, đánh dấu giai đoạn phát triển mạnh mẽ của ngành điều dưỡng Việt Nam trong xu
hướng hội nhập khu vực và quốc tế.
Nói tóm lại, lịch sử ngành Điều dưỡng Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của
đất nước, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Tuy ngành điều dưỡng Việt Nam
chưa được coi là một ngành riêng biệt, nhưng đã được quan tâm và có nhiều cống hiến
to lớn cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Những thế hệ điều dưỡng
sau này cần phát huy truyền thống của dân tộc, của ngành điều dưỡng Việt Nam, không
ngừng học tập, rèn luyện để tiến bộ, góp phần xây dựng và phát triển ngành điều dưỡng Việt Nam hơn nữa.
II. ĐẠO ĐỨC, CHỨC NĂNG ĐIỀU DƯỠNG
1. Các yêu cầu về phẩm chất cá nhân của người điều dưỡng
1.1. Phẩm chất về đạo đức
Các phẩm chất về đạo đức của người điều dưỡng bao gồm:
- Ý thức trách nhiệm cao: sức khỏe được coi là vốn quý giá nhất của con người.
Đối tượng phục vụ của người điều dưỡng là con người, là người bệnh. Sự phục vụ của
người điều dưỡng có quan hệ mật thiết tới chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của người bệnh.
Sự cẩu thả, sơ suất trong công việc sẽ gây tổn hại đến tính mạng người bệnh và hạ
thấp uy tín nghề nghiệp của người điều dưỡng. Vì vậy, trách nhiệm cao là một trong
những phẩm chất cần thiết nhất của người Điều dưỡng. Nghề điều dưỡng được phản ánh 12
rất rõ qua câu nói “hàng trăm lần làm việc tốt cũng chưa đủ, chỉ một lần làm việc xấu cũng quá thừa”.
- Lòng trung thực vô hạn: không ai có thể kiểm tra toàn bộ các hoạt động của người
điều dưỡng. Vì vậy, trung thực tuyệt đối phải là một trong những nét cơ bản của tính
cách người điều dưỡng. Điều này chỉ có thể được gây dựng trên cơ sở lòng tin trong mối
quan hệ giữa người điều dưỡng với người bệnh và đồng nghiệp.
- Sự ân cần và cảm thông sâu sắc: sự ân cần bao hàm sự đồng cảm và khả năng
cảm thụ nỗi đau của người bệnh. Điều này chỉ xuất hiện thật sự một khi người điều dưỡng
cảm thụ được nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình. Người điều dưỡng
biến sự đồng cảm sâu sắc đó thành những hành động chăm sóc nhằm xoa dịu những nỗi
đau của người bệnh. Tuy nhiên, sự ân cần và lòng tốt không được biến thành chủ nghĩa
tình cảm làm trở ngại đến công việc của người điều dưỡng.
- Tính mềm mỏng và có nguyên tắc: người điều dưỡng phải là nhà tâm lý học, biết
xem xét và đánh giá đặc điểm cá nhân của người bệnh trong mỗi giai đoạn. Người điều
dưỡng cần có tính cách dễ gần, chan hòa nhưng phải đúng mực và có nguyên tắc. Sự khô
khan quá độ, thiếu cởi mở, cau có, đùa cợt không đúng chỗ hoặc tiếp xúc xuồng xã sẽ
làm cho người điều dưỡng dễ bị mất uy tín trước người bệnh và gia đình NB
- Tính khẩn trương và tự tin: người điều dưỡng có nhiệm vụ đấu tranh cho sự sống
của con người, nhiều khi khoảng cách giữa sự sống và cái chết của người bệnh rất gần.
Vì vậy, trong nhiều trường hợp, sự chậm trễ có thể làm mất đi cơ hội cứu sống người
bệnh. Do đó, tính khẩn trương là một yêu cầu về phẩm chất nghề nghiệp của người điều
dưỡng. Tuy nhiên, khẩn trương không có nghĩa là tỏ ra vội vàng, hấp tấp mà phải là sự tự tin và bình tĩnh.
- Lòng say mê nghề nghiệp: điều dưỡng là một nghề có nhiều khó khăn và áp lực.
Có say mê nghề nghiệp người ĐD mới có thể vượt qua được khó khăn để làm tốt trách
nhiệm của mình. Sự say mê nghề nghiệp là một phẩm chất không thể thiếu của người Điều dưỡng.
1.2. Phẩm chất về mỹ học
- Biểu hiện bên ngoài của người cán bộ y tế có ảnh hưởng rất lớn đến bầu không
khí đạo đức trong cơ quan. Người điều dưỡng có tác phong nghiêm chỉnh, chững chạc 13
trong chiếc áo blouse, mái tóc gọn gàng dưới chiếc mũ đẹp sẽ gây được lòng tin cho
người bệnh và người nhà người bệnh. Ngược lại, y phục xộc xệch, nhàu nát, bẩn thỉu,
tay bẩn, tóc rối bù, trang điểm lòe loẹt, móng tay để dài, đồ trang sức quá thừa sẽ gây
tổn hại uy tín và gây cho người bệnh tâm lý thiếu tin tưởng. Quần áo sang trọng thái quá,
trưng diện mỹ phẩm và trang sức trước những người đang phải chịu đau đớn sẽ gây ra
cảm giác thiệt thòi cho họ.
- Người điều dưỡng không được để các mùi khó chịu kích thích người bệnh (mùi
thuốc lá, mồ hôi, quần áo cũ, nước hoa quá hắc,…). Môi trường bệnh viện và các nhân
viên phục vụ không được gây cho người bệnh cảm giác buồn chán hoặc kích thích. Trái
lại, tất cả phải giúp đỡ cho sự ổn định tinh thần và sự phục hồi của người bệnh.
1.3. Phẩm chất về trí tuệ
- Có khả năng quan sát và đánh giá người bệnh: điều dưỡng là người tiếp xúc, theo
dõi thường xuyên người bệnh. Vì vậy, trong quá trình theo dõi, người điều dưỡng phải
biết đánh giá tình trạng người bệnh, phát hiện sớm những vấn đề, nhu cầu của người
bệnh để báo bác sĩ hoặc đáp ứng kịp thời cho người bệnh. Để có thể quan sát và đánh
giá người bệnh một cách chính xác, kịp thời, đòi hỏi người điều dưỡng phải có kiến thức
chuyên môn vững vàng, có óc quan sát và sự nhạy bén. Những điều này chỉ có thể tích
lũy được thông qua quá trình học tập, rèn luyện liên tục.
- Có kỹ năng thành thạo: ngoài kiến thức chuyên môn, người điều dưỡng cần phải
có kỹ năng tay nghề thành thạo bởi vì điều này sẽ giúp cho người điều dưỡng có những
can thiệp điều dưỡng kịp thời, chính xác, giúp cứu sống người bệnh.
- Có khả năng nghiên cứu và cải tiến: nghiên cứu và cải tiến có tầm quan trọng rất
lớn trong việc phát triển kiến thức nghề nghiệp và nâng cao chất lượng chăm sóc. Không
chỉ nâng cao chất lượng và sự an toàn của các dịch vụ chăm sóc điều dưỡng, nghiên cứu
còn giúp góp phần tăng cường uy tín nghề nghiệp và làm cho xã hội đánh giá đúng mức
giá trị của các dịch vụ chăm sóc và vị thế của người ĐD.
- Khôn ngoan trong công tác: trình độ của người điều dưỡng ngày càng được nâng
cao. Trong khi đó, người điều dưỡng có chức năng chủ động. Người điều dưỡng không
còn là người chỉ biết làm theo các y lệnh của bác sĩ mà là người chủ động trong việc tiếp
cận, chăm sóc, theo dõi người bệnh một cách có kiến thức. Vì vậy, nếu có gì chưa rõ 14
trong y lệnh, người điều dưỡng phải nghiên cứu thật kỹ trước khi thực hiện. Điều này sẽ
làm giảm bớt sai sót trong chuyên môn và làm cho công tác của người điều dưỡng trở
nên thông minh, tốt đẹp hơn.
2. Nghĩa vụ nghề nghiệp của người điều dưỡng
2.1. Nghĩa vụ đối với người bệnh
Trong quá trình chăm sóc, người điều dưỡng cần tạo ra môi trường mà trong đó
quyền của con người, các giá trị, tập quán và tín ngưỡng của mỗi cá nhân, gia đình và
cộng đồng được tôn trọng. Người điều dưỡng cần đảm bảo cho mọi cá thể nhận được
thông tin cần thiết làm cơ sở để họ đồng ý chấp nhận các phương pháp điều trị. Trách
nhiệm nghề nghiệp của người điều dưỡng đối với người bệnh phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Không bao giờ được từ chối giúp đỡ người bệnh: ý thức trách nhiệm trước cuộc
sống của người bệnh đòi hỏi người điều dưỡng phải luôn quan tâm và sẵn sàng quên
mình để giúp đỡ người bệnh. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào người điều dưỡng cũng cần
phải nhớ rằng người bệnh đang rất cần sự giúp đỡ của người cán bộ y tế. Sự từ chối giúp
đỡ người bệnh là vi phạm nghĩa vụ xã hội của mình, phải chịu sự lên án về mặt đạo đức
và khi cần phải xử phạt về hành chính.
- Cố gắng giúp đỡ người bệnh loại trừ đau đớn về thể chất: đứng trước người bệnh
đang chịu đau đớn vì bệnh tật, người điều dưỡng phải luôn thể hiện một sự thông cảm
và quan tâm đặc biệt, xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình và cố
gắng tìm cách giúp đỡ. Khi tiến hành các kỹ thuật chăm sóc và điều trị phải hết sức nhẹ
nhàng để hạn chế tới mức thấp nhất sự đau đớn cho NB.
- Không bao giờ được bỏ mặc người bệnh: người điều dưỡng có nhiệm vụ đấu tranh
cho sự sống của người bệnh đến cùng, luôn giành sự quan tâm tối đa cho người bệnh với
tinh thần “còn nước còn tát”, không bao giờ xa rời vị trí để người bệnh một mình đối phó với bệnh tật.
- Tôn trọng nhân cách và quyền của con người: bản chất của y đức học được thể
hiện trong câu “phải đối xử với người bệnh như mình muốn người ta đối xử với mình”.
Khi tiếp xúc với người bệnh, người điều dưỡng phải tạo ra một môi trường trong đó mọi
giá trị, phong tục tập quán và tự do tín ngưỡng của mỗi cá nhân được tôn trọng. 15
- Hỗ trợ về tinh thần cho người bệnh: trong khi nằm viện, tinh thần của người bệnh
chịu ảnh hưởng bởi bệnh tật, sự cách ly người thân, môi trường bệnh viện và nhiều yếu
tố khác. Vì vậy, tình trạng về tinh thần và thể chất của người bệnh thực tế khác với tình
trạng của người khỏe. Khi tiếp xúc với người bệnh, người điều dưỡng phải gây được
lòng tin của người bệnh vào hiệu quả điều trị. Đối với những người bệnh ở giai đoạn
cuối, thường có diễn biến về tâm lý rất phức tạp. Người điều dưỡng phải tỏ ra thông cảm
và quan tâm đặc biệt tới họ. Biểu tượng của nghề điều dưỡng là cây đèn đang cháy.
Người điều dưỡng phải là ngọn lửa soi sáng và sưởi ấm những người đang bị bệnh tật hành hạ.
- Cộng tác, giúp đỡ lẫn nhau: lao động y tế có đặc điểm là sự phát triển của chủ
nghĩa tập thể, sự cộng tác thân ái và giúp đỡ lẫn nhau. Điều này rất quan trọng bởi vì nó
tạo điều kiện để thiết lập bầu không khí hòa thuận trong một tập thể cùng giành giật sự
sống cho người bệnh. Người điều dưỡng độc lập trong hành động chăm sóc, nhưng toàn
bộ quá trình chăm sóc người bệnh một người không thể làm được. Vì vậy sự hợp tác
giúp đỡ lẫn nhau là điều vô cùng cần thiết.
- Sự tôn trọng lẫn nhau: khi chăm sóc người bệnh sự vui vẻ, hoà nhã, cởi mở của
người điều dưỡng là liều thuốc vô cùng cần thiết giúp người bệnh giảm bớt những nỗi lo
âu, đau đớn về bệnh tật. Người điều dưỡng phải luôn tạo không khí vui vẻ, không nên
tranh luận, xúc phạm lẫn nhau trước mặt người bệnh hay gia đình người bệnh.
- Phê bình có thiện chí: nguồn gốc của các mối quan hệ phức tạp trong tập thể là
sự hiềm khích lẫn nhau. Do đó, phê bình có thiện chí là điều cần thiết trong công tác.
Một người muốn tiến bộ luôn cần sự góp ý của đồng nghiệp. Phê bình góp ý như thế
nào? Đó là một nghệ thuật góp ý, phê bình để đồng nghiệp nhận ra được những thiếu sót
mà sửa chữa, khắc phục.
- Truyền thụ kinh nghiệm: kinh nghiệm làm việc là điều rất cần trong mọi ngành
nghề, đặc biệt là nghề chăm sóc người bệnh. Người trẻ mới ra trường còn chưa có kinh
nghiệm cần phải khiêm tốn học hỏi. Người điều dưỡng lâu năm trong nghề có nhiều kinh
nghiệm trong chăm sóc người bệnh nên thường xuyên trao đổi, truyền thụ kinh nghiệm
cho đồng nghiệp để cùng chăm sóc NB đạt kết quả tốt hơn.
2.2. Nghĩa vụ đối với nghề nghiệp 16
- Tôn trọng quy định của pháp luật: không được hành nghề khi chưa được pháp
luật cho phép. Người điều dưỡng không được tự ý hành nghề vượt quá những quy định của pháp luật.
- Luôn giữ vững tư cách đạo đức, giữ uy tín nghề nghiệp: khi hành nghề người điều
dưỡng không được vì lợi ích trước mắt, vì tiền làm mất phẩm cách của mình.
- Liên tục học tập, nâng cao trình độ: cùng với sự phát triển của khoa học, nền y
học thế giới cũng phát triển không ngừng vì vậy đòi hỏi người điều dưỡng luôn phấn đấu
học hỏi, nâng cao trình độ cho kịp thời đại để phục vụ người bệnh ngày một tốt hơn.
- Duy trì tiêu chuẩn chăm sóc nâng cao trong điều kiện thực tế cho phép: trong điều
kiện chăm sóc tùy từng nơi, từng vùng với điều kiện kinh tế khác nhau, người điều dưỡng
phải biết vận dụng chăm sóc cho người bệnh, phải luôn duy trì được tiêu chuẩn chăm
sóc nâng cao trong điều kiện cho phép.
2.3. Nghĩa vụ đối với sự phát triển nghề nghiệp
- Người ĐD phải đảm nhiệm những vai trò quan trọng trong việc xác định và thực
hiện những chuẩn mực về thực hành CS lâm sàng, quản lý, nghiên cứu và đào tạo.
- Người điều dưỡng hoạt động thông qua các tổ chức nghề nghiệp nhằm tạo ra hoặc
duy trì sự công bằng xã hội và điều dưỡng.
3. Chuẩn đạo đức nghề nghiệp điều dưỡng viên
3.1. Tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp
Nghề Y là một nghề đặc biệt vì những đức tính cần và đủ cho nghề khác có thể
chưa đủ với người làm nghề y. Nghề Y đòi hỏi trách nhiệm kép đối với hành nghề vừa
phải giỏi chuyên môn (y nghiệp) vừa phải như mẹ hiền (y đức).
Nghề điều dưỡng là nghề cao quý, nghề dịch vụ công cộng, đóng góp vào việc
chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người vì sự công bằng, hiệu quả và phát triển
của ngành y tế Việt Nam. Những giá trị nghề nghiệp cốt lõi được thể hiện trong chuẩn
đạo đức nghề nghiệp Điều dưỡng viên, bao gồm: An toàn, thân thiện, tôn trọng, năng
lực, trung thực, công bằng, hợp tác và cam kết.
3.2. Các chuẩn đạo đức nghề nghiệp điều dưỡng: 17
(Ban hành theo quyết định số 20/QĐ – HĐD ngày 10/9/2012 của Hội Điều dưỡng VN)
Điều 1. Bảo đảm an toàn cho người bệnh
1. Duy trì chuẩn mực thực hành tốt nhất có thể ở nơi làm việc.
2. Chịu trách nhiệm cá nhân về mọi quyết định và hành vi chuyên môn trong chăm sóc người bệnh.
3. Can thiệp kịp thời và báo cáo cho người phụ trách khi phát hiện các hành vi thực
hành của người hành nghề không bảo đảm an toàn cho người bệnh.
Điều 2. Tôn trọng người bệnh và người nhà người bệnh
1. Tôn trọng tuổi, giới tính, dân tộc, tín ngưỡng của người bệnh.
2. Tôn trọng quyền tự quyết của người bệnh trong khi thực hành chăm sóc.
3. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm và bảo đảm kín đáo tốt nhất có thể cho người
bệnh khi chăm sóc và làm thủ thuật.
4. Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến các giải pháp và hoạt động chăm sóc cho người bệnh.
5. Giữ gìn những bí mật liên quan đến bệnh tật và cuộc sống riêng tư của NB
6. Đối xử công bằng với mọi người bệnh.
Điều 3. Thân thiện với người bệnh và người nhà người bệnh
1. Giới thiệu tên và chào hỏi người bệnh, người nhà người bệnh một cách thân thiện.
2. Lắng nghe người bệnh, người nhà NB và đáp lại bằng câu nói ân cần với cử chỉ lịch sự.
3. Cung cấp dịch vụ chăm sóc kèm theo nụ cười thân thiện.
4. Giúp người bệnh giảm nhẹ đau đớn do bệnh tật và do phẫu thuật, thủ thuật.
Điều 4. Trung thực trong khi hành nghề
1. Trung thực trong việc quản lý, sử dụng thuốc và vật tư tiêu hao cho NB
2. Trung thực trong việc thực hiện các hoạt động chuyên môn chăm sóc NB và 18
thực hiện các chỉ định điều trị.
3. Trung thực trong việc ghi các thông tin trong hồ sơ bệnh án của NB
Điều 5. Duy trì và nâng cao năng lực hành nghề
1. Thực hiện đầy đủ chức năng nghề nghiệp của điều dưỡng viên.
2. Tuân thủ các quy trình kỹ thuật, các hướng dẫn chuyên môn khi chăm sóc người bệnh.
3. Học tập liên tục để cập nhật kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp.
4. Tham gia nghiên cứu và thực hành dựa vào bằng chứng.
Điều 6. Tự tôn nghề nghiệp
1. Giữ gìn và bảo vệ uy tín nghề nghiệp khi người khác làm tổn hại đến các giá trị và danh dự của nghề.
2. Tận tụy với công việc CS NB và tự giác chấp hành các quy định ở nơi làm việc.
3. Từ chối nhận tiền hoặc lợi ích khác của NB, người nhà người bệnh vì mục đích
được ưu tiên trong khám bệnh, chữa bệnh.
4. Tôn trọng Điều lệ Hội và tự nguyện tham gia hoạt động của Hội ĐD ở các cấp.
Điều 7. Thật thà đoàn kết với đồng nghiệp
1. Hợp tác và giúp đỡ đồng nghiệp hoàn thành nhiệm vụ.
2. Tôn trọng và bảo vệ danh dự, uy tín của đồng nghiệp.
3. Truyền thụ và chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp với đồng nghiệp.
Điều 8. Cam kết với cộng đồng và xã hội
1. Nói và làm theo các quy định của Pháp luật.
2. Gương mẫu tại cộng đồng và nơi sinh sống.
3. Tham gia các hoạt động từ thiện và bảo vệ môi trường. 4. KẾT LUẬN
Thực hiện những phẩm chất đạo đức y học là nghĩa vụ nghề nghiệp của người Điều 19
dưỡng. Một khi đã chấp nhận vai trò của người Điều dưỡng thì đồng thời phải có bổn
phận chấp hành và thực hiện các yêu cầu về phẩm chất, đạo đức của nghề nghiệp.
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1. Trường điều dưỡng đầu tiên trên thế giới được thành lập ở nước Anh vào năm:
A. 1858 B. 1859 C. 1860 D. 1861
2. Hội điều dưỡng Việt Nam được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm:
A. 1990 B. 1991 C. 1992 D. 1993
3. Bà Phoebe được cả thế giới suy tôn là:
A. Người nữ điều dưỡng tại gia đầu tiên của thế giới
B. Người sáng lập ra ngành điều dưỡng
C. Người đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo điều dưỡng
D. Người đầu tiên thành lập trường điều dưỡng
4. Ngày điều dưỡng thế giới là ngày:
A. 27/02 B. 26/10 C. 12/05 D. 25/9
5. Ngày điều dưỡng Việt Nam là ngày:
A. 27/02 B. 26/10 C. 12/05 D. 25/9 20