
CHƯƠNG I
VỊ TRÍ, ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN
XÂY DỰNG ĐẢNG
I. VỊ TRÍ CỦA MÔN XÂY DỰNG ĐẢNG
Xây dựng Đảng là bộ môn thuộc khoa học xã hội. Khoa học xây dựng Đảng ra
đời, phát triển xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng do giai cấp công
nhân lãnh đạo. Khoa học xây dựng Đảng nghiên cứu và trình bày lý luận về Đảng của
giai cấp công nhân và khoa học về công tác xây dựng Đảng Cộng sản. Khi chủ nghĩa
Mác Lê-nin ra đời, khoa học xây dựng Đảng đã màn tính độc lập, đến giữa thế kỷ XX,
bộ môn xây dựng Đảng được khẳng định là một khoa học độc lập.
Ở Việt Nam, lý luận về Đảng Cộng sản và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
được chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tiếp thu, vận dụng sáng tạo, từng bước bổ
sung, phát triển trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ năm
1967, xây dựng Đảng tách ra thành bộ môn khoa học độc lập và được giảng dạy ở
Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh) và sau đó được giảng dạy ở tất cả các Học viện khu vực và khối nhà
trường của hệ thống đảng trong toàn quốc. Môn xây dựng Đảng cũng đã được nghiên
cứu và giảng dạy ở một số trường Công an nhân dân trong những năm vừa qua.
Môn Xây dựng Đảng trước hết trang bị những nhận thức cơ bản về Đảng của
giai cấp công nhân và lý luận về công tác xây dựng một Đảng cách mạng kiểu mới
của giai cấp công nhân; cung cấp những kiến thức giúp cho cán bộ, đảng viên của
Đảng quán triệt và vận dụng sáng tạo những nội dung, nguyên tắc, phương thức lãnh
đạo của Đảng vào thực tiễn và thực hành những tiêu chuẩn sinh hoạt đảng trong điều
kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội. Môn Xây dựng Đảng còn đặt
cơ sở khoa học và phương pháp luận đúng đắn để xem xét, giải quyết những vấn đề
chính trị đang đặt ra trong thực tiễn cuộc sống hiện tại. Môn Xây dựng Đảng còn góp
phần trang bị những kiến thức, phương pháp luận khoa học đúng đắn trong công tác
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với các mặt hoạt động thực tiễn, tổ chức, động viên
quần chúng tham gia các phong trào cách mạng.
Đối với lực lương Công an nhân dân, môn Xây dựng Đảng góp phần bồi dưỡng
cho cán bộ, đảng viên về lý tưởng cách mạng, củng cố niềm tin vào Đảng và sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng; nâng cao đạo đức cách mạng, rèn luyện ý thức tổ chức, ý
thức kỉ luật và phương pháp công tác. Đồng thời góp phần xây dựng quan điểm và
phương pháp vận động, quan hệ quần chúng một cách đúng đắn. Thông qua việc
nghiên cứu, học tập môn Xây dựng Đảng, nâng cao thêm nhận thức, góp phần xây
dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây
dựng tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên ở các đơn vị Công an nhân dân trong sạch,

vững mạnh, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ An ninh quốc gia, giữ gìn trật tự,
an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công cuộc đổi
mới.
Môn Xây dựng Đảng có vị trí quan trọng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng. Nó trực tiếp cung cấp luận cứ khoa học và phương pháp để giải quyết các vấn
đề lý luận và thực tiễn của công tác đảng, công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức trong
Đảng. Đây là cở sở để tiến hành công tác xây dựng Đảng một cách hiệu quả, làm cho
Đảng có đủ bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ngang tầm yêu cầu
nhiệm vụ cách mạng đặt ra.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam thể
hiện ở sự lãnh đạo toàn diện đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với mọi tổ
chức trong hệ thống chính trị. Hoạt động lãnh đạo cảu Đảng vừa là khoa học vừa là
nghệ thuật. Việc trang bị cho cán bộ, đảng viên những tri thức về Đảng, đặc biệt là
những kiến thức, những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền, về xây
dựng nội bộ Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng và
hiệu quả hoạt động lãnh đạo chính trị, tư tưởng của Đảng trong công cuộc đổi mới.
Hiện nay, tình hình quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề mới đặt ra
trong thực tiễn; các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”,
gây bạo loạn lật đỗ đối với cách mạng nước ta. Mục tiêu cơ bản của chúng vẫn là tập
trung chống phá nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo ủa Đảng. Điều đó đòi hỏi tính khoa học,
tính cách mạng, tính thực tiễn trong công tác xây dựng Đảng càng phải cao. Đại hội
IX của Đảng nhấn mạnh :”Những thành tựu và những yếu kém trong công cuộc đổi
mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo của Đảng và
những ưu điểm, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng”. Do đó, việc nghiên cứu
học tập môn Xây dựng Đảng cần được coi trọng và mạng ý nghĩa to lớn cả về lý luận
và thực tiễn, đặc biệt là đối với lực lượng Công an nhân dân những người tuyệt đối
trung thành với Đảng, chỉ biết còn Đảng là còn mình.
II. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ MÔN XÂY DỰNG ĐẢNG
Xây dựng Đảng là một môn khoa học độc lập, nên có đối tượng, nhiệm vụ và
phương pháp nghiên cứu riêng.
Đối tượng nghiên cứu của môn Xây dựng Đảng nói chung được xác định là:
nghiên cứu những quy luật và cơ chế xây dựng, hoạt động của Đảng Cộng sản, làm
cho Đảng ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; không ngừng nâng
cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu để làm tròn vai trò đội tiên
phong chính trị của giai cấp công nhân, lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
phát triển toàn diện.

Trong điều kiện có chính quyền, Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền,
khoa học xây dựng Đảng có những nhiệm vụ là:
- Nghiên cứu những nguyên tắc và phương pháp lãnh đạo toàn diện của Đảng
đối với xã hội, đối với sự nghiệp phát triển nền kinh tế - xã hội, văn hoá giáo dục,
khoa học kỹ thuật – công nghệ và an ninh, quốc phòng, đối ngoại...
- Nghiên cứu những nguyên tắc và phương pháp lãnh đạo ủa Đảng đối với hệ
thống chính trị xã hội chủ nghĩa, đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức đoàn thể nhân dân khác.
- Nghiên cứu những nguyên lý xây dựng nội bộ Đảng về chính trị, về tư tưởng,
về tổ chức; những nguyên tắc, tiêu chuẩn sinh hoạt Đảng và những cơ chế để thực
hiện những nguyên tắc, tiêu chuẩn đó trong điều kiện Đảng cầm quyền, Lãnh đạo toàn
xã hội.
Khẳng định và xác định rõ đối tượng, nhiệm vụ cơ bản của khoa học xây dựng
Đảng giúp cho việc nhận thức đúng vị trí, vai trò của môn học trong hệ thống các môn
khoa học xã hội; giúp cho việc phân biệt ranh giới của khoa học xây dựng Đảng với
các môn khác của khoa học xã hội và khoa học lịch sử Đảng.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN XÂY DỰNG ĐẢNG
1. Phương pháp nghiên cứu cơ bản
Môn Xây dựng Đảng lấy phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa
Mác Lê-nin làm phương pháp nghiên cứu cơ bản. Thông qua phương pháp luận duy
vật biện chứng thấy rõ tính tất yếu lịch sử, quy luật ra đời của Đảng Cộng sản và vai
trò lãnh đạo của Đảng ngày càng tăng lên với tư cách là đội tiên phong chính trị, là lực
lượng lãnh đạo toàn xã hội. Trên quan điểm lịch sử cụ thể và toàn diện, phải nhận thức
và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng tăng
với sự phát triển kinh tế - xã hội, với việc không ngừng đổi mới, chỉnh đốn Đảng, đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường
dịnh hướng xã hội chủ nghĩa.
Quán triệt phươn pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác Lê-nin để tránh chủ
quan, duy ý chí, giáo điều, rập khuôn máy móc và chủ nghĩa kinh nghiệm trong lãnh
đạo, quản lý và cả trong công tác xây dựng nội bộ Đảng.
2.Phương pháp tổng kết điển hình tiên tiến
Đây là phương pháp quan trọng để tiến hành nghiên cứu môn Xây dựng Đảng.
Phương pháp này cho phép kết hợp công tác nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn,
gắn chặt chẽ lời nói với việc làm trong công tác xây dựng Đảng. Các Đảng Công sản
chân chính đều lấy chủ nghĩa Mác Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho

hành động của mình và đều dựa trên những nguyên tắc và tiêu chuẩn Lêninnít để xây
dựng nội bộ Đảng. Song đối với mỗi Đảng lại ra đời và hoạt động trong những điều
kiện khác nhau, ở những quốc gia, dân tộc có những đặc thù riêng, có những đặc điểm
riêng về nội bộ Đảng, có những nhiệm vụ lịch sử khác nhau... Do đó, mỗi Đảng nhất
thiết phải nhận thức, quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý phổ
biến của chủ nghĩa Mác Lê-nin vào những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, kết hợp với
kinh nghiệm thực tiễn về xây dựng Đảng trong từng thời kì, ở từng quốc gia, dân tộc.
Đảng Cộng sản chân chính phải là Đảng rất nhạy cảm với cái mới. Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời và phát triển trong điều kiện một nước nông nghiệp nghèo nàn,
lạc hậu, chiến tranh kéo dài liên tục trong suốt gần nửa thế kỷ, cho nên về mặt lý luận
là chưa có tiền lệ. Việc sáng tạo cách thức xây dựng Đảng kiểu mới ở Việt Nam là đòi
hỏi tất yếu khách quan. Nhất là quá trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ quốc, tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh hệ
thống chủ nghĩa xã hội thế giới sụp đổ, cách mạng xã hội chủ nghĩa lâm vào thoái trào
đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới, cấp bách cả về lý luận và thực tiễn. Thực tế đòi
hỏi Đảng ta phải hết sức coi trọng đổi mới tư duy lý luận, kết hợp với tổng kết những
điển hình tiên tiến, những sáng kiến từ cơ sở để rút ra bài học thực tiễn sinh động,
không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện lý luận xây dựng Đảng. Thông qua tổng
kết thực tiễn khẳng định cái mới, cái đúng, phê phán cái sai, cái lệch lạc và thông qua
đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xứng đáng là đội
tiên phong chiến đấu, lãnh tụ chính trị cảu giai cấp công nhân Việt Nam và là người
đại diện cho lời ích của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam.
3. Phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử
Đảng Cộng sản và Xây dựng Đảng và một phạm trù lịch sử, hình thành và phát
triển gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể. Nghiên cứu về Đảng Cộng sản và
công tác xây dựng Đảng phải đặt trong bối cảnh, điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và
con người trong từng giai đoạn, từng thời kì lịch sử với những cách xem xét, đánh giá
và giải quyết khác nhau đề từ đó rút ra những vấn đề mang tính bản chất, những vấn
đề có tính quy luật trong công tác xây dựng Đảng. Phương pháp lịch sử và phương
pháp logic phải kết hợp chặt chẽ với nhau, vận dụng và sử dụng thích hợp với từng
vấn đề nghiên cứu, tổng kết, trong đó hết sức coi trọng phương pháp logic để thông
qua các hoạt động thực tiễn của Đảng khái quát hoá và bổ sung, làm phong phú lý
luận về Đảng và công tác xây dựng Đảng.
4. Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp phân tích tổng hợp là phương pháp xem xét, giải quyết các vấn đề
về Đảng và xây dựng Đảng từ các góc độ khác nhau của đời sống chính trị, kinh tế,
pháp lý, từ các yếu tố tâm lý xã hội, truyền thống, văn hoá, các yếu tố lịch sử, tự

nhiên,... Trong công tác xây dựng Đảng cần xem xét phân tích các mối quan hệ của
Đảng với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, với các tổ chức trong đời sống chính
trị; trong quan hệ Đảng với giai cấp, Đảng với dân tộc, Đảng với nhà nước, Đảng với
các tổ chức chính trị - xã hội khác; các mối quan hệ của Đảng ở trong nước, trong nội
bộ Đảng và quan hệ quốc tế,...
Việc nghiên cứu, học tập môn Xây dựng Đảng cần tuân thủ những phương
pháp trên, đồng thời vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, cách thức học tập cụ
thể phù hợp với đặc điểm giảng dạy các khối ngành, từng chuyên ngành của khoa học
an ninh, các đối tượng học tập của từng trường, từng hệ học, cấp học.
Kết hợp học tập, nghiên cứu lý luận, lý thuyết với tăng cường hoạt động trao
đổi, thảo luận, Xêmina, báo cáo thực tế, tham quan thực tế để mở rộng những hiểu
biết về Đảng Cộng sản Việt Nam và công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới hiện
nay. Gắn chặt nghiên cứu lý luận với liên hệ thực tiễn. Mỗi đảng viên, đoàn viên, sinh
viên trong quá trình học tập cần tự liên hệ bản thân mình, đơn vị mình, chi bộ mình
với hoạt động chung của toàn Đảng, để thấy phần trách nhiệm của bản thân, đơn vị
trong công tác xây dựng Đảng.
Trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu, học tập môn Xây dựng Đảng hết sức
coi trọng việc thực hành công tác Xây dựng Đảng, thấm nhuần lý luận đi đôi với vận
dụng kiến thức đã học để làm tốt công tác xây dựng Đảng ở đơn vị, chi bộ, góp phần
nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực hoạt động thực tiễn của tổ chức Đảng, của đảng
viên trong lực lượng Công an nhân dân.

CHƯƠNG II
HỌC THUYẾT MÁC LÊ-NIN
VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN
I. HỌC THUYẾT MÁC LÊ-NIN VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN
1. Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về chính Đảng cách mạng của giai
cấp công nhân
a. Tính tất yếu về sự ra đời của Đảng Cộng sản
Từ khi xã hội phân chia giai cấp, các giai cấp có những lợi ích khác nhau. Mâu
thuẫn về lợi ích là nguồn gốc cơ bản dẫn đến mau thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Đấu tranh giai cấp ban đầu là đấu tranh vì quyền lợi kinh tế. Cuộc đấu tranh giai cấp
phát triển đến một trình độ nhất định chuyển hoá thành cuộc đấu tranh vì quyền lợi
chính trị. Đấu tranh chính trị là biểu hiện tập trung nhất, bao quát nhất và mạnh mẽ
nhất của đấu tranh giai cấp, mà đỉnh cao của nó là cuộc cách mạng xã hội lật đổ giai
cấp thống trị cũ, giành chính quyền về tay giai cấp mình.
Cuộc đấu tranh giai cấp phát triển đến một trình độ nhất định, đòi hỏi phải có
một lực lượng lãnh đạo để thống nhất mọi hoạt động của giai cấp, hướng các nổ lực
chung vào mục tiêu chống lại giai cấp đối lập cùng với Nhà nước thống trị của giai
cấp đó. Đảng ra đời là nhằm phục vụ cho cuộc đấu tranh đó. Đây là một tất yếu lịch
sử, là sản phẩm của chính cuộc đấu tranh giai cấp. Chính đảng của giai cấp nào cúng
ra đời theo quy luật đó.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản (chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân)
không nằm ngoài quy luật chung. Chính đảng của giai cấp công nhân ra đời từ đòi hỏi
khách quan cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân nhằm thực hiện sứ mệnh
lịch sử toàn thế giới của mình. Mục tiêu đấu tranh của Đảng nhằm giải phóng giai cấp
công nhân và toàn thể nhân dân lao động thoát khỏi ách áp bức bóc lột, xoá bỏ chủ
nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến tới chế độ cộng sản chủ nghĩa trên phạm
vi toàn thế giới.

b. Đảng Cộng sản ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã
hội khoa học với phong trào công nhân.
Phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa đều trải qua thời kì đấu
tranh tự phát, chủ yếu là bênh vực quyền lợi của giai cấp mình về mặt kinh tế trong
khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản. Cuộc đấu tranh của các Công đoàn ở các nước tư bản
chủ nghĩa mang tính hạn chế, chỉ có thể thay đổi hình thức bóc lột này bằng hình thức
bóc lột khác trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản mà thôi.
Chủ nghĩa xã hội khoa học do Mác, Ăngghen sáng lập và được V.I. Lê-nin phát
triển, bổ sung làm phong phú cả về lý luận và thực tiễn. Về mặt lịch sử, nó ra đời sau
phong trào công nhân. Về mặt tổ chức, chủ nghĩa xã hội khoa học khi chưa kết hợp
với phong trào công nhân, sự phát triển cao nhất của nó chỉ dẫn đến sự ra đời của các
Hội truyền bá chủ nghĩa Mác. Trên thực tế, giữa chủ nghĩa xã hội khoa học và phong
trào công nhân có chung một nguồn gốc, đó là những quan hệ kinh tế tư bản chủ
nghĩa. Chính từ các quan hệ đó làm nảy sinh mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn giai cấp
ngày càng gay gắt và dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp công nhân và giai
cấp tư sản, phong trào công nhân xuất hiện và ngày càng tăng cao.
Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội khoa học và phong trào công nhân lại nảy sinh từ
hai tiền đề khác nhau. Chủ nghĩa xã hội khoa học là sản phẩm của việc nghiên cứu
những quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa; mặc khác, còn là kết quả khách quan tất yếu
của quá trình nhận thức và phát triển những tư tưởng tiến bộ của nhân loại được tạo ra
từ đầu thế kỷ XIX, đó là triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh và Chủ nghĩa xã hội
không tưởng Pháp. Chủ nghĩa xã hội khoa học được đưa vào từ ngoài phong trào công
nhân, soi sáng, dẫn đường cho phong trào công nhân, làm cho giai cấp công nhân thấy
rõ bản chất áp bức, bóc lột, sự dã man của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản, thấy
được vai trò, sứ mệnh lịch sử vẻ vang của giai cấp công nhân. Từ đó, giai cấp công
nhân ý thức được cần phải tự tổ chức ra chính đảng độc lập của mình để lãnh đạo cuộc
đấu tranh giai cấp đi đến thắng lợi hoàn toàn, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Từ khi có chủ nghĩa xã hội khoa học soi sáng, có chính đản cách mạng lãnh
đạo, giai cấp công nhân chuyển thành giai cấp tự giác, trở thành lực lượng đi tiên
phong trong cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột của
chủ nghĩa tư bản. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chuyển từ “tự phát” đến “tự
giác”, giai cấp công nhân từ giai cấp “tự mình” trở thành giai cấp “vì mình”.
Quá trình kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân
dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản được thực hiện một cách khách quan. Đó là quá
trình giác ngộ của giai cấp công nhân và phong trào công nhân; đồng thời cũng là quá
trình đấu tranh quyết liệt của những nhà cách mạng chân chính chống lại các trào lưu

tư tưởng tư sản, cơ hội chủ nghĩa, vô chính phủ. Lịch sử phong trào cách mạng thế
giới chứng minh rõ: chính Đảng của giai cấp công nhân ngay từ khi ra đời mang bản
chất của cách mạng và khoa học, bản chất này được củng cố, phát triển đồng thời với
quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành của Đảng Cộng sản trong quá trình đấu
tranh cách mạng của giai cấp công nhân.
c. Khái quát những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về xây dựng chính
Đảng của giai cấp công nhân
Thứ nhất, giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, tiên tiến nhất trong xã
hội. Giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình khi tự nó
thành lập ra được chính đảng độc lập. Việc thành lập chính Đảng của giai cấp công
nhân là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho cách mạng xã hội thu được thắng lợi và
thực hiện được mục đích cuối cùng là xoá bỏ giai cấp.
Thứ hai, Đảng là của giai cấp công nhân. Đảng mang bản chất giai cấp công
nhân, luôn đứng trên lập trường giai cấp công nhân, mọi quan điểm, chủ trương, chính
sách của Đảng đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân. Đảng không chỉ đại
biểu quyền lợi của giai cấp công nhân mà còn đại biểu cho quyền lợi của toàn thể
nhân dân lao động. Giai cấp công nhân chỉ có thể tự giải phóng mình nếu đồng thời
giải phóng các tầng lớp nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư
bản.
Thứ bà, Đảng là đội tiên phong cách mạng của giai cấp công nhân, chứ không
phải toàn bộ giai cấp. Đảng được vũ trang bằng lý luận tiên tiến, có trình độ giác ngộ
cao. Trong thực tiễn Đảng là người kiên quyết nhất, biết lôi cuốn quần chúng cùng
hành động cách mạng.
Thứ tư, Đảng là đội ngũ có tổ chức tập trung chặt chẽ. Đảng là một khối thống
nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng phải được bầu cử
một cách dân chủ và họ có thể bị bãi miễn bất kì lúc nào nếu không hoàn thành nhiệm
vụ. Đảng phải thường xuyên tẩy trừ những phần tử cơ hội ra khỏi nội bộ của Đảng.
Thứ năm, chủ nghĩa quốc tế vô sản là một trong những nguyên tắc về tổ chức
xây dựng Đảng. “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” vừa là khẩu hiệu hành động vừa
là phương châm hoạt động cho phong trào công nhân quốc tế.
Những tư tưởng cơ bản của C.Mác và Ăngghen Về Đảng Cộng sản và Xây
dựng Đảng có ảnh hưởng to lớn và trực tiếp đến sự phát triển của phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế. Những tư tưởng định hướng cho việc hình thành chính đảng
cách mạng của giai cấp công nhân ở nhiều nước trên thế giới trong những năm cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đó là cơ sở lý luận nền tảng, nền tảng học thuyết xây dựng
chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân.

2. V.I.Lênin kế thừa, phát triển tư tưởng của C.Mác và Ăngghen, sáng tạo
học thuyết về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời kỳ đánh dấu sự chuyển biến quan trọng
mang tính bước ngoặc của phong trào công nhân quốc tế. Lãnh tụ V.I.Lênin đã phân
tích một cách sâu sắc chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn mới và chỉ ra những điều kiện
khách quan để lật đổ chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện. Cũng trong quá trình phát triển đó
giai cấp công nhân lớn mạnh không ngừng cả số lượng, chất lượng, về chính trị và tổ
chức. Từ đó kéo theo những cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ, có tổ chức của công
nhân ở nhiều nước châu Âu. Cuộc cách mạng vô sản đang trở thành một vấn đề thực
tiễn trước mắt ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa.
Điều kiện lịch sử đó đòi hỏi Đảng của giai cấp công nhân phải có đường lối
chiến lược, sách lược mới, vai trò lãnh đạo phải được nâng lên. V.I.Lênin đã đấu tranh
không khoan nhượng với những quan điểm cơ hội, xét lại, bổ sung và phát triển sáng
tạo những luận điểm của C.Mác, Ăngghen, xây dựng học thuyết về Đảng kiểu mới của
giai cấp công nhân.
Học thuyết về Đảng Cộng sản được V.I.Lênin khái quát thành tám nguyên
tắc quan trọng
a. Chủ nghĩa Mác là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động
của Đảng Cộng sản
Chủ nghĩa Mác là hệ thống lý luận khoa học về cuộc cách mạng của giai cấp
công nhân nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản, tự giải phóng mình, xây dựng xã hội cộng
sản chủ nghĩa. V.I.Lênin đã nêu rõ cơ sở tư tưởng của Đảng Cộng sản là học thuyết
Mác. Đó chính là cơ sở tư tưởng để thành lập Đảng, để đoàn kết những người cộng
sản, là cở sở để đề ra cương lĩnh, đường lối chiến lược và sách lược của Đảng.
V.I.Lênin đặc biệt nêu cao vai trò của lý luận: “Không có lý luận cách mạng thì cũng
không thể có phong trào cách mạng” và nhấn mạnh: “Chỉ Đảng nào được một lý luận
tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”.
b. Đảng Cộng sản là đội tiên phong chính trị có tổ chức và là đội ngũ có tổ
chức chặt chẽ nhất, giác ngộ nhất của giai cấp công nhân
Đảng là một bộ phận của giai cấp, nhưng phải phân biệt Đảng với toàn bộ giai
cấp. Đảng là đội tiên phong chính trị và là đội ngũ có tổ chức chặt chẽ, có giác ngộ
nhất của giai cấp công nhân. Đảng là người đưa yếu tố tự giác vào phong trào công
nhân, là người định hướng chính trị và là người giáo dục, động viên, tổ chức cho quần
chúng hành động cách mạng.
Vai trò tiên phong của Đảng được thể hiện trước hết trên lĩnh vực lý luận. Đòi
hỏi đầu tiên về tư cách người đảng viên là phải có người giác ngộ lý tưởng cộng sản

chủ nghĩa, có trình độ lý luận nhất định về chủ nghĩa Mác, nắm được đường lối, chính
sách của Đảng. Đảng còn phải là người đại diện cho “trí tuệ”, danh dự và lương tâm
của thời đại chúng ta”. Vai trò tiên phong của Đảng còn được thể hiện ở kỷ luật tổ
chức và sự gương mẫu của mỗi đảng viên trong thực tiễn. Đảng được tổ chức chặt chẽ
để trở thành một đội ngũ thống nhất về ý chí và hành động, có kỷ luật nghiêm minh.
V.I.Lênin chỉ rõ: “Không được lẫn lộn Đảng, tức là đội tiên phong của giai cấp
công nhân với toàn bộ giai cấp”. Đảng chỉ thu hút vào đội ngũ của mình những người
giác ngộ nhất, có ý thức và tổ chức kỉ luật cao nhất trong giai cấp công nhân và các
tầng lớp nhân dân lao động.
c. Khi có chính quyền, Đảng là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị của
chủ nghĩa xã hội và là một bộ phận của hệ thống đó
Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân. Trong hệ thống chính
trị xã hội chủ nghĩa chỉ có Đảng mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng
đáng là người lãnh đạo. V.I.Lênin chỉ rõ: “Về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai
trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa. Sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng là điều kiện tiên quyết đảm bảo xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Trong
điều kiện Đảng cầm quyền, buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng là sai lầm về nguyên
tắc, là thủ tiêu sức mạnh của nhà nước và của cả hệ thống chính trị, là mở đường cho
những phần tử phản động phá hoại chính quyền, đưa đất nước trở lại con đường tư
bản chủ nghĩa. V.I.Lênin nhấn mạnh thêm: “Đội tiên phong này đủ sức nắm chính
quyền và dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, đủ sức lãnh đạo và tổ chức một
chế độ mới, đủ sức làm thày, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất cả những
người lao động và những người bị bóc lột để giúp họ tổ chức đời sống xã hội của
họ...”.
Đảng lãnh đạo về chính trị là lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương và các chính
sách lớn của Đảng. Thông qua hoạt động của các tổ chức Đảng cùng với đội ngũ đảng
viên của Đảng hoạt động trong các cơ quan nhà nước, trong các tổ chức đoàn thể quần
chúng để định hướng chính trị, để cụ thể hoá, thể chế hoá đường lối, chủ trương của
Đảng thành hệ thống pháp luật của Nhà nước, thành những chiến lược, chính sách,
những quy định, quy tắc mang tính pháp quy. Tuy nhiên, sự lãnh đạo của Đảng luôn
gắn liền với việc phát huy hiệu lực quản lý của Nhà nước và vai trò lãnh đạo của hệ
thống chính trị, của các tổ chức đoàn thể nhân dân. V.I.Lênin phê phán kịch liệt những
biểu hiện chuyên quyền, độc đoán, Đảng bao biện, làm thay công việc của Nhà nước
và các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân khác.
d. Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng tổ chức, sinh
hoạt và hoạt động của Đảng

Nguyên tắc tập trung dân là chủ thuốc tính vốn có của Đảng Cộng sản.
V.I.Lênin nêu rõ: có quán triệt đầy đủ nguyên tắc tập trung trong Đảng và có chấp
hành kỷ luật nghiêm minh thì mới biến được uy thế của tư tưởng thành uy thế quyền
lực, khiến các cơ quan cấp dưới phải phục tùng các cơ quan cấp trên của Đảng.
V.I.Lênin khẳng định: trong Đảng phải có chế độ tập trung chặt chẽ, có kỷ luật
nghiêm minh, nếu thiếu nó thì Đảng biến thàn một “câu lạc bộ cãi vã”, mất hết sức
chiến đấu. Mặt khác, Người cũng chỉ rõ: Đảng phải có dân chủ, nếu trong Đảng không
có dân chủ sẽ có nguy cơ thoái hoá thành một tổ chức quan liêu. Đảng muốn thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ, cần phải có:
Thứ nhất, đó là ý thức giác ngộ của đội tiên phong của giai cấp công nhân, lòng
trung thành của nó đối với cách mạng, là tinh thần hy sinh và chí khí anh dũng có nó;
Thứ hai, là khả năng của đội tiên phong, biết liên hệ, gần gũi và có thể nói là
hoà mình tới mức độ nào đó với quần chúng lao động rộng rãi nhất, trước hết là với
quần chúng vô sản;
Thứ ba, là sự lãnh đạo chính trị đúng đắn mà đội tiên phong áy đã thực hiện; có
chiến lược và sách lược chính trị đúng đắn và điều cần thiết là quảng đại quần chúng,
do kinh nghiệm bản thân, tin tưởng vững chắc vào sự đúng đắn ấy. Thiếu những điều
kiện đó thì không thể thực hiện kỷ luật của một Đảng cách mạng thật sự. Thiếu điều
kiện đó thì mọi ý đồ thiệt lập ra kỷ luật ấy không khỏi biến thành “câu nói suông,
những lời trống rỗng, những điều kiện gian dối, giả tạo”.
Thứ tư, tập trung và dân chủ là hai nội dung nhưng thống nhất, gắn bó chặt chẽ
và quan hệ biện chứng với nhau trong một nguyên tắc. Không thể coi nhẹ mặt nào,
nhấn mạnh tập trung có thể dẫn đến độc đoán chuyên quyền, làm mất tính chiến đấu
của tổ chức Đảng hoặc ngược lại quá nhấn mạnh dân chủ cũng có thể dẫn đến vô tổ
chức, làm giảm quyền uy, sức mạnh lãnh đạo của tổ chức đảng. Tập trung, dân chủ là
hai mặt của một vấn đề không thể coi nặng, coi nhẹ mặt nào. Xử lý mối quan hệ giữa
tập trung dân chủ là một nghệ thuật trong công tác xây dựng đảng, là một việc thường
gặp những khó khăn.
e. Đảng là một khối thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức; tự phê
bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng
Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân.
Đảng là tổ chức của những người ưu tú nhất trong giai cấp công nhân, cùng chung lý
tưởng, cùng chung mục đích, lợi ích và tự nguyện gia nhập Đảng.
V.I.Lênin đã lý giải một cách toàn diện, sâu sắc tính tất yếu và tầm quan trọng
đặc biệt của sự thống nhất trong đội ngũ Đảng. Theo Lênin, muốn đưa cách mạng đến
thắng lợi, Đảng phải có sự thống nhất ý chí hết sức chặt chẽ, tuyệt đối. Đó là nguồn

gốc sức mạnh chủ yếu, vô địch và vô tận của Đảng, là điều kiện để đoàn kết giai cấp
công nhân. Mục tiêu của công tác xây dựng Đảng, củng cố Đảng là nhằm xây dựng và
củng cố sự thống nhất đó.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, V.I.Lênin đặc biệt quan tâm đến sự thống
nhất của Đảng. Bởi vì, khi đã có chính quyền, Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm
quyền, lãnh đạo mọi mặt của đời sống xã hội, Đảng có trách nhiệm chính trị - xã hội
rất lớn. Nếu để xảy ra chia rẽ thì không phải chỉ là nguy hiểm mà còn là cực kì nguy
hiểm đối với bản thân Đảng và đối với toàn xã hội, đối với vận mệnh của Nhà nước,
nhất là nếu trong nước đó, giai cấp vô sản lại chỉ là thiểu số nhỏ bé trong dân cư.
Để đảm bảo sự thống nhất trong nội bộ luôn luôn được củng cố và phát triển,
Đảng cần phải thường xuyên và nghiêm chỉnh thực hiện tự phê bình và phê bình. Tự
phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng để nâng cao trí tuệ, phát hiện và giải
quyết những mâu thuẫn trong Đảng. V.I.Lênin cho rằng: thái độ của một chính đảng
trước những sai lầm của mình là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất và chắc
chắn nhất để xem xét đảng ấy có nghiêm túc hay không và có thực sự làm tròn nghĩa
vụ của mình đối với giai cấp của minhg và đói với quần chúng lao động không. Công
khai thừa nhận sai lầm, phân tích và tìm ra nguyên nhân dẫn đến sai lầm, nghiên cứu
cẩn thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy, đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng
nghiêm túc, đó là một đảng làm tròn những nghĩa vụ của mình, đó là giáo dục và huấn
luyện giai cấp, rồi đến quần chúng...
Tự phê bình và phê bình đòi hỏi phải hết sức cầu thị, có tính đảng, tính nguyên
tắc cao, phải bảo đảm tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong đảng, trong quần
chúng. Tự phê bình và phê bình phải là nội dung thường xuyên của sinh hoạt Đảng.
f. Đảng gắn bó chặt chẽ với quần chúng, kiên quyết đấu tranh để ngăn
ngừa và khắc phục bệnh quan liêu xa rời quần chúng
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng là tổ chức tự nguyện đấu tranh
vì sực nghiệp giải phòng quần chúng khỏi ách áp bức bóc lột. Quần chúng cần có
Đảng với tư cách là người lãnh đạo họ trong cuộc đấu tranh ấy. Nếu không có sự đồng
tình, ủng hộ của quần chúng thì mọi đường lối, chủ trương của Đảng không thể trở
thành hiện thực. Sự nghiệp đó chỉ có thể thành công nếu Đảng tổ chức và phát huy
được tính sáng tạo cách mạng của quần chúng. Tính sáng tạo của quần chúng là nhân
tố cơ bản của xã hội mới. V.I.Lênin chỉ rõ: Những người cộng sản chỉ như những giọt
nước trong đại dương nhân dân mênh mông, chỉ riêng bàn tay của những người cộng
sản thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội không phải
là kết quả của những sắc lệnh từ trên ban xuống. Tính chất máy móc, hành chính,
quan liêu không dung hợp với tinh thần của chủ nghĩa xã hội...

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng có những điều kiện mới, công cụ mới,
thuận lợi mới. Tuy nhiên, trong Đảng cũng dễ nảy sinh căn bệnh quan liêu, mệnh lệnh,
làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu rèn luyện rơi vào tình trạng thoái hoá,
biến chất, xa rời quần chúng. Vì vậy, trong công tác xây dựng Đảng phải kiên quyết
chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa quan liêu. Thiếu điều kiện đó không những không
thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, mà có thể dẫn đến mất chính quyền.
g. Đảng phải tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động vào Đảng; thường xuyên đưa những người không đủ tiêu
chuẩn và những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng
Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, Đảng chỉ có thể làm tròn vai trò
ấy nếu trong Đảng có những chiến sĩ tiên phong. Kết nạp những đại biểu ưu tú của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động vào Đảng là một biện pháp nâng cao chất
lượng tổ chức Đảng, là điều kiện quan trọng để nâng cao uy tín và giữ vững vai trò
lãnh đạo, tính tiền phong của Đảng. Tuy nhiên, ở mỗi thời kì cách mạng, do nhiều
nguyên nhân khác nhau, điều kiện khác nhau sẽ không tránh khỏi có một bộ phận
đảng viên không còn giữ được vai trò tiên phong, ngả nghiêng cơ hội, thiếu kiên định
về chính trị, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thoái hoá, biến chất trở thành quan liêu, tham
nhũng, ức hiếp quần chúng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, không tránh khỏi
những phần tử cơ hội tìm cách chui vào Đảng với mưu đồ đặc quyền, đặc lợi, phá hoại
sự thống nhất trong Đảng, làm giảm niềm tin của quần chúng đối với Đảng.
Do đó, Đảng một mặt phải tích cực lựa chọn kết nạp những đại biểu ưu tú cảu
gia cấp công nhân và nhân dân lao động vào Đảng, mặt khác còn phải thường xuyên
đưa những người không đủ tiêu chuẩn, những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng. V.I.Lênin
chỉ rõ: “phải đuổi ra khỏi Đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã
quan liêu hoá, không trung thực, nhu nhược...”. Đó là một biện pháp đặc biệt quan
trọng, nhất thiết phải làm để củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và
vai trò tiên phong của Đảng.
h. Tính quốc tế của Đảng Cộng sản
Chủ nghĩa quốc tế là bản chất của các Đảng Cộng sản, nó bắt nguồn từ vai trò,
sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân. Tính chất quốc tế của Đảng thể
hiện trước hết ở chỗ Đảng được tổ chức và hoạt động theo những nguyên lý của học
thuyết Mác; ở đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn của Đảng; ở chỗ Đảng luôn luôn
quan tâm giáo dục đội ngũ cán bộ đảng viên và nhân dân lao động về chủ nghĩa quốc
tế và sự đoàn kết của giai cấp công nhân thế giới. Đảng Cộng sản kiên quyết chống lại
mọi khuynh hướng của chủ nghĩa so vanh nước lớn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, ích kỷ,
chủ nghĩa cơ hội các loại.

Học thuyết Mác Lê-nin về Đảng Cộng sản đã có quá trình hình thành và phát
triển theo sự phát triển của phong trào cách mạng của giai cấp công nhân thế giới,
mang tính cách mạng và khoa học. Học thuyết đó đã được lịch sử phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế chứng minh rõ về cả mặt lý luận và thực tiễn. Đảng Cộng sản
nào vận dụng thành công học thuyết đó sẽ đưa cách mạng đến thắng lợi; ngược lại vận
dụng một cách giáo điều, duy ý chí, vi phạm nguyên lý về xâu dựng Đảng sẽ dẫn đến
sai lầm, nội bộ Đảng chia rẽ; Đảng mất uy tín trước quần chúng, thậm chí mất vai trò
lãnh đạo, dẫn đến thất bại.
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người sáng lập, rèn luyện và xây dựng Đảng Cộng
sản Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
là sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lê-nin vào hoàn cảnh cụ
thể của cách mạng Việt Nam, là sự phát triển độc đáo, sáng tạo học thuyết Mác Lê-nin
về Đảng Cộng sản trong thực tiễn Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây
dựng Đảng Cộng sản Việt Nam đã góp phần bổ sung, làm phong phú lý luận về xây
dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân trong điều kiện Việt Nam vốn là nước
thuộc địa, nữa phong kiến, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, giai cấp công nhân nhỏ
bé, trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp kém, ảnh hưởng của tư tưởng tiểu nông, phong
kiến gia trưởng nặng nề...
Trong di sản tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho cách mạng Việt Nam
có tư tưởng về Đảng Cộng sản, về xây dựng Đảng Cộng sản Mác xít chân chính. Đặc
biệt trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội,
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xác định
rõ đây là nhiệm vụ thường xuyên, có vị trí đặc biệt quan trọng trong suốt quá trình
Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam có các nội dung
sau:
1. Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định hàng đầu đưa cách mạng Việt
Nam đến thắng lợi
Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân.
Nhưng để nhan dân tự giác đứng lên làm cách mạng thì trước hết phải có Đảng cách
mạng vững mạnh lãnh đạo.Người chỉ rõ: muốn làm cách mạng “trước hết phải có
Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với
dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành
công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm sự kết hợp chủ nghĩa Mác Lê-nin
với phong trào công nhân và phong trào yêu nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam,
đã viết: “Chủ nghĩa Mác Lê-nin kết hợp phong trào công nhân và phong trào yêu nước
đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930. Điều này
thể hiện hai mặt lý luận và thực tiễn gắn bó với nhau rất chặt chẽ. Bối cảnh ra đời của
Đảng và lịch sử cách mạng Việt Nam cũng như phong trào cách mạng thế giới đã
kiểm nghiệm và chứng minh luận điểm của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành Đảng
Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam phải lấy chủ nghĩa Mác Lê-nin làm nền tảng
tư tưởng
Nghiên cứu, tiếp thu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê-nin về
Đảng Cộng sản, Hồ Chí Minh chỉ rõ: nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động
của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác Lê-nin. Trong tác phẩm nổi tiếng
Đường Kách Mệnh xuất bản năm 1927, Người viết: “Đảng muốn vững thì phải có chủ
nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà
không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”, và
khẳng định “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính
nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lê-nin”.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam là “Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là
Đảng của dân tộc Việt Nam”
Từ nhận thức đúng đắn về quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ
Chí Minh nêu lên một luận điểm mang tính sáng tạo có ý nghĩa thực tiễn rất sâu sắc,
tại Đại hội Đảng Lao động Việt Nam năm 1951, Người đã khẳng định: “Chính vì
Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho
nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”.
Sự gắn kết máu thịt giữa Đảng với giai cấp và dân tộc được thể hiện ngay từ
nguồn gốc ra đời của Đảng ta. Đảng ra đời không chỉ là sự kết hợp của chủ nghĩa Mác
Lê-nin với phong trào công nhân mà còn với phong trào yêu nước. Đây là đặc thù Việt
Nam, là sự sáng tạo lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nhiều lần nói rằng: Đảng ta không chỉ là đảng của giai cấp công nhân mà còn là Đảng
của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Trong báo cáo chính trị của Đảng tại
Đại hội II, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng lao động Việt Nam phải là người lãnh đạo sáng
suốt, kiên quyết, trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của nhân
dân Việt Nam... Chính vì Đảng lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Đến tháng 1-
1957, nói chuyện ở trường cán bộ Công đoàn, Hồ Chí Minh lại khẳng định: “Đảng là

đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”.
Tháng 12-1961, nói chuyện với những cán bộ đảng viên hoạt động lâu năm, Bác nhắc
lại: “Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là của dân tộc”. Có lúc
Người nêu rõ: Đảng ta là con nòi của dân tộc, lời ích của giai cấp công nhân và của
dân tộc là một. Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội II cũng đã ghi: “Đảng lao động
Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam”.
Khi nói về vấn đề lợi ích, Hồ Chí Minh khẳng định rõ: Đảng ta không có mục
đích nào khác ngoài mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân và của dân tộc. Trên thực
tế, Đảng ta ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân và còn vì lợi
ích của nhân dân lao động, của toàn thể dân tộc. Trong cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân, Đảng ta nêu khẩu hiệu: “Độc lập dân tộc” và “Người cày có ruộng”. Trong
giai đoạn hiện nay, Đảng ta đề ra mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Mục tiêu đó đã thể hiện rõ sự thống nhất giữa lợi ích của giai cấp
công nhân với lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc trong giai đoạn cách mạng
mới. Chính vì vậy, Đảng ta luôn được nhân dân yêu thương, cưu mang, đùm bọc, giúp
đỡ, thừa nhận là Đảng của chính mình, trìu mến gọi Đảng là “Đảng ta”. Đó là vinh dự,
là niềm tự hào lớn của Đảng ta, không phải đảng nào trên thế giới cũng có được sự tin
yêu, trân trọng ấy.
Khi khẳng định Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của
dân tộc, Hồ Chí Minh nêu rõ vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân Việt
Nam và chỉ rõ vai trò của các giai cấp tầng lớp khác trong xã hội cùng với công, nông
tạo thành sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc để làm cách mạng. Theo Hồ
Chí Minh cái quyết định bản chất giai cấp công nhân của Đảng không chỉ phải ở số
lượng đảng viên xuất thân từ thành phần giai cấp công nhân mà cơ bản quyết định là ở
nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác Lê-nin, ở mục tiêu, lý tưởng, phương
hướng chính trị của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giải phóng toàn xã
hội, giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức, bóc lột. Và điều quan trọng là Đảng
đứng trên lập trường giai cấp công nhân, tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc xây
dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Luận điểm này là một sáng tạo lớn, bổ
sung vào kho tàng lý luận học thuyết Mác Lê-nin về Đảng Cộng sản trong thời đại
mới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ của Đảng mà còn là lãnh tụ vĩ đại
của nhân dân, của dân tộc. Người đã giải quyết rất sáng tạo, thành công, nhuần
nhuyễn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, mối quan hệ giai cấp và dân tộc; giương cao
ngọn cờ dân tộc và giai cấp. Hồ Chí Minh vừa là người cộng sản kiên cường, mẫu
mực, đồng thời là một nhà yêu nước chân chính, anh hùng giải phóng dân tộc, danh
nhân văn hoá kiệt xuất.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam phải được xây dựng theo những nguyên tắc
Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản
Hồ Chí Minh đã tiếp thu các nguyên lý xây dựng Đảng kiểu mới của V.I.Lênin
và bổ sung, phát triển thành những nguyên tắc xây dựng Đảng, đó là:
- Nguyên tắc tập trung dân chủ. Tập trung dân chủ được xác định là nguyên tắc
cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, tập trung dân chủ còn là nguyên
tắc tổ chức và nguyên tắc sinh hoạt của Đảng. Tập trung dân chủ là nguyên tắc quan
trọng nhất, chi phối xuyên suốt và nhất quán trong mọi hoạt động tổ chức, sinh hoạt
nội bộ và phong cách làm việc của Đảng. Đây là nguyên tắc phân biết giữa đảng cách
mạng chân chính với các đảng phái khác.
- Nguyên tắc kỷ luật nghiêm minh và tự giác. Hồ Chí Minh rất coi trọng việc
xây dựng kỷ luật nghiêm minh và tự giác trong Đảng để tạo nên sức mạnh to lớn của
Đảng. Kỷ luật nghiêm minh và tự giác trên cơ sở tự phê bình và phê bình, lấy đây làm
quy phát phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hồ Chí Minh còn cho rằng kỉ luật
nghiêm minh và tự giác là một phương thuốc chữa bệnh hữu hiệu nhất để chữa chạy
những sai lầm, khuyết điểm của Đảng và cán bộ Đảng viên, nhất là căn bệnh hành
chính mệnh lệnh, vô kỷ luật,...
- Nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đây là một nguyên tắc cực kỳ
quan trọng của Đảng. Giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng là nhiệm vụ của toàn
Đảng, của mỗi tổ chức đảng và của mỗi cán bộ đảng viên. Người khẳng định: Giữ gìn
sự đoàn kết thống nhất trong Đảng quan trọng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
6. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân
dân. Đảng phải thường xuyên quan tâm củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng
với nhân dân
Trong suốt quá trình cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân
thừa nhận là Đảng duy nhất đủ sức và xứng đáng là lực lượng lãnh đạo cách mạng
Việt Nam. Quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân là cội nguồn sức mạnh của
Đảng. Đảng ở trong lòng dân, nhờ đó mà Đảng tập hợp, thu hút, lãnh đạo được đông
đảo nhân dân làm cách mạng. Hai mặt lãnh đạo và đầy tớ gắn chặt hoà quyện vào
nhau, không tách rời nhau, không đối lập nhau, mà bổ sung tác động lẫn nhau.
7. Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới
Chỉnh đốn và đổi mới Đảng nhằm làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững
mạnh, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất và năng
lực trước yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Hồ Chí
Minh đặc biệt coi việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xác định đây là công việc thường
xuyên của Đảng. Người chỉ rõ: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm

qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi
người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá
nhân”.
III. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG THÀNH CÔNG
TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG
Trong suốt quá trình hơn 80 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, Đảng ta
luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức;
đồng thời chú ý thường xuyên đến công tác bảo vệ Đảng; thường xuyên tự đổi mới, tự
chỉnh đốn, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, sức chiến đấu
và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng. Đảng ta đã nhận thức đúng đắn, vận dụng
sáng tạo các nguyên lý về Đảng Cộng sản và xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa
Mác Lê-nin và quán triết sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cách mạng của giai
cấp công nhân, hình thành hệ thống quan điểm lý luận về xây dựng Đảng Cộng sản
Việt Nam và khẳng định:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng
thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung
thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng
Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Đảng Cộng sản Việt Nam phát huy truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật
khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị,
đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, đáp ứng đòi
hỏi của dân tọc trong mọi thời kỳ lịch sử.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất về ý chí và
hành động; lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể
lãnh đạo, cá nhân phụ trách; thực hiện kỷ luật nghiêm minh; thương yêu đồng chí, tự
phê bình và phê bình, đoàn kết, thống nhất trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ
Đảng.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền. Mục đích của Đảng là xây
dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không
còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ
nghĩa cộng sản. Đảng được xây dựng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ
chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ
cao, có phương thức lãnh đạo khoa học... Đảng luôn gắn bó mật thiết với nhân dân,
tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân,
dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đảng đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành
sự nghiệp cách mạng.

4. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận, là hạt nhân của
hệ thống ấy. Đảng lãnh đạo, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị.
Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ
nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, góp phần tích cực vào sự nghiệp hoà
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới.
Hiện nay, để lãnh đạo thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục nâng cao hơn nữa năng lực, trình độ lãnh đạo và sức
chiến đấu ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới; tiếp tục coi
trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là “nhiệm vụ then chốt”. Trong Điều lệ
Đảng thông qua tại Đại hội X khẳng định và làm rõ thêm nhiều nội dung quan trọng:
Một là, xác định rõ Đảng ta trước hết là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
bản chất và lợi ích của Đảng gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xu thế phát triển tất yêu
của lịch sử. Hiện nay, Đảng đang lãnh đạo xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, cần phải chăm lo,
tăng cường và giữ vững bản chất của giai cấp công nhân của Đảng. Nếu không nhân
thức sâu sắc điều này thì rất dễ mơ hồ, dẫn đến phai nhạt lý tưởng, làm biến chất
Đảng.
Thực tế lịch sử Đảng ta trong những năm qua đã chứng minh rõ dù có tên gọi
thế nào (Đảng Cộng sản hay Đảng Lao động) thì Đảng ta luôn mang trong mình bản
chất giai cấp công nhân. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng thể hiện ở: Mục đích,
lý tưởng của Đảng là xây dựng chủ nghĩa xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản; nền tảng
tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nguyên tắc tổ
chức cơ bản của Đảng là nguyên tắc tập trung dân chủ; Đảng liên hệ mật thiết với
quần chúng; Đảng lấy phê bình và tự phê bình làm quy luật phát triển của mình; Đảng
thực hiện kỷ luật nghiêm minh và tự giác...
Hai là, thể hiện rõ hơn mối quan hệ giữa Đảng với giai cấp và dân tộc theo tư
tưởng Hồ Chí Minh. Trong điều kiện của nước ta, quyền lợi của giai cấp công nhân,
của nhân dân lao động và của dân tộc là thống nhất. Thắng lợi của cách mạng Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử là bắt nguồn từ việc Đảng đã giải quyết đúng đắn, hài hoà
mối quan hệ mất thiết giữa giai cấp và dân tộc, gắn chặt lợi ích giai cấp công nhân với
lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi chúng ta nêu cao tư tưởng đại đoàn
kết dân tộc, phát huy sức mạnh đoàn kết của cả nhân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, thì càng cần thiết phải quán triệt, vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí

Minh trong việc diễn đạt và thực hành bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nhất là
trong điều kiện Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền lãnh đạo cả dân tộc, được nhân
dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của nhân dân, của dân tộc. Đại hội X của
Đảng khẳng định rõ quan điểm: “ Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai
cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt
Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của
dân tộc”.
Cách diễn đạt về Đảng như vậy không phải là xoá nhoà tính giai cấp, vai trò
lãnh đạo của Đảng mà điều này vừa nói lên bản chất giai cấp công nhân của Đảng
theo chủ nghĩa Mác Lê-nin, vừa nói lên được nét đặc thù của Đảng ta trong sự phát
triển sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn công cuộc đổi mới đất
nước và đáp ứng nguyện vọng, tình cảm của nhân dân Việt Nam. Diễn đạt như thế
hoàn toàn không phải là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, trượt sang quan điểm
“Đảng toàn dân”, mà chính là hiểu bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn,
nhuần nhuyễn hơn. Điều đó đòi hỏi Đảng ta chẳng những phải trung thành với giai
cấp công nhân, nâng cao lập trường, tư tưởng của giai cấp, mà còn phải học tập, kế
thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tăng cường đoàn kết, tập hợp nhân dân, phấn đấu
cho lợi ích của cả giai cấp và dân tộc.
Ba là, Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi lãnh đạo nhiệm vụ phát triển
kinh tế là trọng tâm, Đảng ta tiếp tục phát triển nhận thức và hình thành tư duy mới về
vai trò, trách nhiệm của người đảng viên trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bước đầu nêu ra vấn đề đảng viên làm kinh tế
tư nhân. Đây là một bước tiến quan trọng trong nhận thức và tư duy của Đảng sau 20
năm đổi mới.
Đại hội X nhất trí khẳng định chủ trương: “Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải
gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành
điều lệ Đảng và quy định của Bạn chấp hành Trung ương”. Đảng viên làm kinh tế tư
nhân là nhận thức mới của Đảng ta, mặc dù còn có một số ý kiến khác nhau, nhưng về
cơ bản đa số đại biểu tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã nhất trí thông
qua. Đảng viên làm kinh tế tư nhân là vấn đề nhạy cảm và rất hệ trọng, liên quan đến
phương hướng chính trị, quan điểm, đường lối cơ bản của Đảng, liên quan trực tiếp
đến tiêu chuẩn, tư cách, nhiệm vụ của người đảng viên và cũng đã được đặt ra nghiên
cứu, thảo luận từ nhiều năm trước. Các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng rất quan
tâm và chỉ đạo nghiên cứu rất công phu từ nhiều đại hội trước và đã có quá trình tổng
kết, tranh luận, thảo luận nghiêm túc nhiều lần với tinh thần cầu thị, khoa học và có
trách nhiệm. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau, thậm chí trái
ngược nhau. Song sự nhất trí của đa số đại biểu tham dự đại hội là một thành công và
việc còn có ý kiến khác nhau cũng là điều dễ hiểu.
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.