Giấy tờ giá gì? Lưu ý khi sử dụng các loại
giấy tờ giá?
Luật vấn:
1. Khái niệm giấy tờ giá
Hiện nay Bộ luật n sự 2015 chưa định nghĩa cụ thể giấy tờ giá là
chỉ nêu giấy tờ giá một loại tài sản.
Theo Khoản 8, Điều 6, Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010; Khoản 1,
Điều 3 Thông 04/2016/TT-NHNN Khoản 1 Điều 2 Thông
01/2012/TT-NHNN quy định:
‘’ Giấy tờ giá bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa t
chức phát hành giấy t giá với người sở hữu giấy tờ giá
trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả i các điều kiện
khác".
Căn cứ vào nội dung giải đáp về giấy tờ giá tại công văn 141/TANDTC-
KHXX liệt một số loại giấy tờ giá như sau:
‘’ 1. Điều 163 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản
bao gồm vật, tiền, giấy tờ giá các quyền tài sản”. Theo
quy định tại điểm 8 Điều 6 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam năm 2010 thì giấy tờ giá “bằng chứng xác nhận nghĩa
vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ giá với người sở hữu
giấy tờ giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi
các điều kiện khác”. Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện
hành, thì giấy t giá bao gồm:
a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển
nhượng khác được quy định tại Điều 1 của Luật các công cụ
chuyển nhượng năm 2005;
b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu
được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại
hối năm 2005;
c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái công cụ khác làm
phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của
Luật quản lý n ng năm 2009;
d) Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền
chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số
chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán
khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều
6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều năm 2010);
đ) Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị
định số 52/2016/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về Phát
hành trái phiếu doanh nghiệp”…’’
Như vậy thì chỉ những loại giấy tờ được nêu trên mới được pháp luật thừa
nhận giấy t giá.
Giấy tờ giá được xác định một loại tài sản theo quy định tại Điều 105 Bộ
luật Dân sự 2015, nhưng trong Bộ luật Dân sự cũng không quy định cụ thể
về khái niệm “giấy tờ giá”.
Tuy nhiên, hiện nay, trong quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể tại khoản
8 Điều 6 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010, khoản 1 Điều 3
Thông 04/2016/TT-NHNN, khoản 1 Điều 2 Thông 01/2012/TT-NHNN
quy định cụ thể về khái niệm giấy tờ giá như sau:
Giấy tờ giá được xác định một loại giấy t giá trị như chứng cứ, bằng
chứng đ xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa t chức phát hành giấy tờ giá
(thường ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng…) với người sở hữu
giấy tờ giá (ví dụ người mua trái phiếu, tín phiếu…) trong một thời gian
nhất định, điều kiện trả lãi những điều kiện khác trong giao dịch ghi nợ này.
Về các loại giấy t được xác định là giấy tờ giá thì căn cứ theo quy định
của pháp luật hiện hành, cụ thể điểm c khoản 2 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, giải đáp về nghiệp vụ được quy định tại Công văn
141/TANDTC-KHXX ngày 21 tháng 09 năm 2011 quy định các loại giấy tờ
giá bao gồm:
Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu ng ty, kỳ phiếu, cổ phiếu theo quy định
của Pháp lệnh về ngoại hối.
Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, Séc, Công cụ chuyển nhượng khác
theo quy định của Luật c công cụ chuyển nhượng năm 2005 (trừ công cụ
nợ dài hạn được tổ chức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường).
Tín phiếu, trái phiếu, hối phiếu, công trái công cụ khác theo quy định của
pháp luật quản lý về nợ công.
Các loại chứng khoán theo quy định tại Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006
sửa đổi năm 2010, gồm các giấy tờ như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, nhóm
chứng khoán, chỉ số chứng khoán, Hợp đồng góp vốn đầu các loại
chứng khoán khác.
Qua phân tích trên, thể c định chỉ những giấy tờ được ghi nhận tại
Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Công văn 141/TANDTC-KHXX ngày
21 tháng 09 năm 2011 mới được xác định giấy tờ giá. Các loại giấy tờ
khác mà không thuộc c giấy t được liệt trên thì không được xác định
giấy tờ giá.
Tuy nhiên hiện nay rất nhiều người nhầm lẫn giữa giấy tờ giá với các loại
giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Phổ biến nhất chính giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hay sổ tiết kiệm. Các giấy chứng nhận quyền sở
hữu tài sản này không phải giấy tờ giá bởi bản thân tờ giấy đó không
phải tài sản. Tài sản thực sự chính quyền sở hữu đối với tài sản được
nêu trong giấy. Ví dụ đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản
thực sự chính quyền sử dụng đất, đối với sổ tiết kiệm tài sản thực sự chính
khoản tiền gửi tại ngân hàng/
2. Một số vấn đề nhầm lẫn về giấy tờ giá
Như đã phân tích, trong quy định của Bộ luật Dân sự văn bản pháp luật
chung áp dụng cho mọi quan hệ dân sự, giấy tờ giá được xác định một
loại tài sản được sử dụng trong các giao dịch dân sự, nhưng Bộ luật Dân sự
năm 2015 không quy định về khái niệm của “giấy tờ giá”, khiến cho nhiều
chủ thể tham gia giao dịch dân sự bối rối trong việc xác định về giấy tờ giá.
Trong khi đó, khái niệm về “giấy tờ giá mặc được quy định trong
Thông 04/2016/TT-NHNN, Thông 01/2012/TT-NHNN, nhưng đây lại
những văn bản pháp luật chuyên ngành, cụ thể trong lĩnh vực tài chính
ngân hàng, không phải tất cả mọi người ai cũng biết đến, quan m đến, tiếp
cận hiểu rõ các văn bản trong lĩnh vực này. Điều này, dẫn đến việc nhiều
người hiểu nhầm về khái niệm “giấy tờ giá cũng như nhầm lẫn trong việc
xác định giấy t giá trong giao dịch dân sự.
Bởi xuất phát từ cách hiểu “nôm na”, theo định nghĩa bản trong Tiếng Việt,
nhiều người vẫn quan niệm hiểu đơn giản “giấy t giá” giấy tờ
giá trị, mang trị giá được bằng tiền, hay lượng tiền nhất định. Đồng thời theo
quy định chung của Bộ luật dân sự m 2015, “giấy tờ giá” tài sản,
thể mua bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố…tham gia c giao dịch dân
sự. Xuất phát từ cách hiểu này, dẫn đến nhiều người nhầm lẫn khi xác định
các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản như Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất, Giấy đăng
xe… là giấy tờ giá khi tham gia giao dịch. Đây một thực tế đang diễn
ra khá ph biến.
Tuy nhiên, các giấy tờ như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất, Giấy đăng xe… vốn không phải
chứng từ, bằng chứng ghi nhận nghĩa vụ trả nợ, chỉ giấy tờ pháp
ghi nhận quyền của ch sở hữu tài sản, ch sở hữu quyền sử dụng nên
hoàn toàn không được xác định giấy tờ giá theo khái niệm được quy
định tại khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010,
khoản 1 Điều 3 Thông 04/2016/TT-NHNN, khoản 1 Điều 2 Thông
01/2012/TT-NHNN, cũng không được liệt vào danh sách các loại giấy
tờ giá được ghi nhận Công văn 141/TANDTC-KHXX được trích dẫn
trên. Những giấy tờ này những giấy tờ giá trị, nhưng không phải “giấy
tờ giá”, giấy tờ chứa đựng quyền của chủ sở hữu tài sản. Cụ thể:
dụ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất, theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm
2013 được xác định chứng thư pháp ghi nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở, quyền sở hữu về tài sản gắn liền với đất hợp pháp của chủ sử
dụng đất, chủ sở hữu nhà gắn liền với đất. Nhìn chung, Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là
giấy tờ chứa đựng quyền sử dụng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản
của chủ sử dụng đất hợp pháp. Bản thân Giấy tờ này không phải một loại
giấy tờ giá, cũng không được xác định một i sản, nhưng lại ý nghĩa
mang tính chất hình thức ghi nhận quyền tài sản quyền sử dụng đất, một
tài sản hình, gắn liền với một mảnh đất hữu hình.
Cũng tương tự như vậy, Giấy đăng xe giấy tờ pháp xác nhận thông tin
của chủ sở hữu chiếc xe, không được xác định tài sản bởi tài sản đây
chiếc xe đầy đ thông tin được ghi nhận trên Giấy đăng xe đã được cấp.
Đồng thời, không được c định giấy tờ giá, tài sản nên khi hành
vi chiếm giữ trái phép, hoặc chiếm đoạt c giấy tờ chứng nhận quyền sở
hữu tài sản n Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chủ sở hữu các loại
giấy tờ này cũng không thể khởi kiện theo hướng kiện đòi tài sản được,
chỉ thể yêu cầu các quan thẩm quyền (ví dụ quan công an) buộc
người chiếm gi trái phép tr lại tài sản cho chủ sở hữu.
dụ: Anh A chủ sử dụng đất hợp pháp của mảnh đất rộng 80 m2, đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với mảnh đất
này. Tuy nhiên, ngày 02/03/2016, lấy do cần mượn “Sổ đỏ” (Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất này” của anh A để khai, đối
chiếu với “Sổ đỏ” của mình, anh C một người họ hàng của anh A đã đến
mượn Sổ đỏ” của anh A nhưng sau khi mượn được, anh C đã cố tình không
trả lại giấy tờ này cho anh A, đem đi cầm cố tại một “tổ chức tín dụng đen”.
Sau đó, anh A phát hiện ra sự việc này. Trường hợp này Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với mảnh đất 80 m2 của anh A không phải giấy tờ
giá, không phải i sản nên anh A không thể khởi kiện đòi anh C trả lại
tài sản được, nhưng quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch cầm cố giữa anh C
“tổ chức tín dụng đen” hiệu. Đồng thời anh A thể yêu cầu quan
công an can thiệp để yêu cầu anh C trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho mình.
Trong khi đó, nếu một người đang sở hữu trái phiếu công ty khi đến thời
hạn theo quy định của trái phiếu công ty phát hành trái phiếu vẫn chưa
hoàn tất nghĩa vụ trả nợ cho người sở hữu trái phiếu thì người sở hữu trái
phiếu vẫn quyền yêu cầu thanh toán nghĩa vụ trả nợ.
Như vậy, qua phân tích nêu trên, thể xác định, không phải bất cứ loại giấy
tờ nào cũng được xác định giấy tờ giá, ng được xác định tài sản
tham gia trong giao dịch dân sự. Việc xác định khái niệm giấy tờ giá”,
các loại giấy tờ được xác định giấy tờ giá mang ý nghĩa quan trọng
khi xác định đối tượng tài sản trong giao dịch dân sự, đảm bảo các ch thể
thể hiểu bản chất của giao dịch, từ đó phương án đảm bảo quyền lợi
của mình. Đồng thời, qua việc xác định giấy tờ giá ng để tránh việc
nhầm lẫn đối với các giấy tờ pháp khác mang tính chất ghi nhận quyền sở
hữu, quyền sử dụng hợp pháp của chủ sở hữu tài sản.
3. Các loại giấy tờ giá
Điều 163 của B luật dân sự năm 2005 qui định: "Tài sản bao gồm vật, tiền,
giấy t giá các quyền tài sản". Theo qui định tại Khoản 8, Điều 6, Luật
ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010 thì giấy tờ giá "bằng chứng xác
nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ giá với người sở hữu
giấy t giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi các điều kiện
khác".
Căn cứ vào các qui định của pháp luật hiện hành, thì giấy tờ có giá bao gồm:
a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác
được qui định tại Điều 1 của Luật c công cụ chuyển nhượng năm 2005;
b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, phiếu, cổ phiếu được qui định
tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;
c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái công cụ khác làm phát sinh
nghĩa vụ trả nợ được qui định tại Khoản 16 Điều 3 của Luật quản n công
năm 2009;
d) Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng ch quĩ; quyền mua cổ
phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai,
nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp vốn đầu tư; các
loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính qui định) được qui định tại Khoản 1
Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số
Điều năm 2010);
đ) Trái phiếu doanh nghiệp được qui định tại Điều 2 của Nghị định số
52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về "Phát hành trái phiếu
doanh nghiệp"…
(Tài liệu tham khảo: Công văn 141/TANDTC-KHXX của Tòa án Nhân dân tối
cao về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở
hữu tài sản)
4. Một số câu hỏi thường gặp về giấy tờ giá
4.1 Giấy tờ giá được hiểu là?
Giấy tờ giá được hiểu giấy t trị giá được bằng tiền chuyển giao
được trong giao lưu dân sự. Giấy tờ giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng
khác nhau n séc, cổ phiếu, n phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái… Xét
về mặt hình thức giấy tờ giá một chứng ch được lập theo hình thức,
trình tự luật định.
4.2 Những đối tượng nào được phát hành giấy tờ giá tại Việt Nam?
- Ngân hàng thương mại.
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
- ng ty tài chính công ty cho thuê tài chính phát hành giấy tờ giá đ
huy động vốn t tổ chức.
- Ngân hàng hợp tác Việt Nam phát hành giấy tờ giá theo quy định tại
Giấy phép thành lập hoạt động.

Preview text:

Giấy tờ có giá là gì? Lưu ý khi sử dụng các loại giấy tờ có giá? Luật sư tư vấn:
1. Khái niệm giấy tờ có giá
Hiện nay Bộ luật dân sự 2015 chưa định nghĩa cụ thể giấy tờ có giá là gì mà
chỉ nêu giấy tờ có giá là một loại tài sản.
Theo Khoản 8, Điều 6, Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010; Khoản 1,
Điều 3 Thông tư 04/2016/TT-NHNN và Khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN quy định:
‘’ Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ
chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá
trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác".

Căn cứ vào nội dung giải đáp về giấy tờ có giá tại công văn 141/TANDTC-
KHXX có liệt kê một số loại giấy tờ có giá như sau:
‘’ 1. Điều 163 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản
bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Theo
quy định tại điểm 8 Điều 6 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam năm 2010 thì giấy tờ có giá là “bằng chứng xác nhận nghĩa
vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu
giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và
các điều kiện khác”. Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện
hành, thì giấy tờ có giá bao gồm:
a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển
nhượng khác được quy định tại Điều 1 của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005;
b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu
được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;
c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm
phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 của
Luật quản lý nợ công năm 2009;
d) Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền
chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số

chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán
khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều
6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2010);
đ) Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Điều 2 của Nghị
định số 52/2016/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về “Phát
hành trái phiếu doanh nghiệp”…’

Như vậy thì chỉ những loại giấy tờ được nêu trên mới được pháp luật thừa
nhận là giấy tờ có giá.
Giấy tờ có giá được xác định là một loại tài sản theo quy định tại Điều 105 Bộ
luật Dân sự 2015, nhưng trong Bộ luật Dân sự cũng không có quy định cụ thể
về khái niệm “giấy tờ có giá”.
Tuy nhiên, hiện nay, trong quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể tại khoản
8 Điều 6 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010, khoản 1 Điều 3
Thông tư 04/2016/TT-NHNN, khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN có
quy định cụ thể về khái niệm giấy tờ có giá như sau:
Giấy tờ có giá được xác định là một loại giấy tờ có giá trị như chứng cứ, bằng
chứng để xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá
(thường là ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng…) với người sở hữu
giấy tờ có giá (ví dụ người mua trái phiếu, tín phiếu…) trong một thời gian
nhất định, điều kiện trả lãi và những điều kiện khác trong giao dịch ghi nợ này.
Về các loại giấy tờ được xác định là giấy tờ có giá thì căn cứ theo quy định
của pháp luật hiện hành, cụ thể điểm c khoản 2 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, giải đáp về nghiệp vụ được quy định tại Công văn
141/TANDTC-KHXX ngày 21 tháng 09 năm 2011 có quy định các loại giấy tờ có giá bao gồm:
– Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu theo quy định
của Pháp lệnh về ngoại hối.
– Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, Séc, Công cụ chuyển nhượng khác
theo quy định của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005 (trừ công cụ
nợ dài hạn được tổ chức phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường).
– Tín phiếu, trái phiếu, hối phiếu, công trái và công cụ khác theo quy định của
pháp luật quản lý về nợ công.
– Các loại chứng khoán theo quy định tại Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006
sửa đổi năm 2010, gồm các giấy tờ như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, nhóm
chứng khoán, chỉ số chứng khoán, Hợp đồng góp vốn đầu tư và các loại chứng khoán khác.
Qua phân tích ở trên, có thể xác định chỉ có những giấy tờ được ghi nhận tại
Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Công văn 141/TANDTC-KHXX ngày
21 tháng 09 năm 2011 mới được xác định là giấy tờ có giá. Các loại giấy tờ
khác mà không thuộc các giấy tờ được liệt kê ở trên thì không được xác định là giấy tờ có giá.
Tuy nhiên hiện nay rất nhiều người nhầm lẫn giữa giấy tờ có giá với các loại
giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Phổ biến nhất chính là giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hay sổ tiết kiệm. Các giấy chứng nhận quyền sở
hữu tài sản này không phải giấy tờ có giá bởi bản thân tờ giấy đó nó không
phải là tài sản. Tài sản thực sự chính là quyền sở hữu đối với tài sản được
nêu trong giấy. Ví dụ đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản
thực sự chính là quyền sử dụng đất, đối với sổ tiết kiệm tài sản thực sự chính
là khoản tiền gửi tại ngân hàng/
2. Một số vấn đề nhầm lẫn về giấy tờ có giá
Như đã phân tích, trong quy định của Bộ luật Dân sự – văn bản pháp luật
chung áp dụng cho mọi quan hệ dân sự, giấy tờ có giá được xác định là một
loại tài sản được sử dụng trong các giao dịch dân sự, nhưng Bộ luật Dân sự
năm 2015 không quy định về khái niệm của “giấy tờ có giá”, khiến cho nhiều
chủ thể tham gia giao dịch dân sự bối rối trong việc xác định về giấy tờ có giá.
Trong khi đó, khái niệm về “giấy tờ có giá” mặc dù được quy định trong
Thông tư 04/2016/TT-NHNN, Thông tư 01/2012/TT-NHNN, nhưng đây lại là
những văn bản pháp luật chuyên ngành, cụ thể là trong lĩnh vực tài chính –
ngân hàng, không phải tất cả mọi người ai cũng biết đến, quan tâm đến, tiếp
cận và hiểu rõ các văn bản trong lĩnh vực này. Điều này, dẫn đến việc nhiều
người hiểu nhầm về khái niệm “giấy tờ có giá” cũng như nhầm lẫn trong việc
xác định giấy tờ có giá trong giao dịch dân sự.
Bởi xuất phát từ cách hiểu “nôm na”, theo định nghĩa cơ bản trong Tiếng Việt,
nhiều người vẫn quan niệm và hiểu đơn giản “giấy tờ có giá” là giấy tờ mà có
giá trị, mang trị giá được bằng tiền, hay lượng tiền nhất định. Đồng thời theo
quy định chung của Bộ luật dân sự năm 2015, “giấy tờ có giá” là tài sản, có
thể mua bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố…tham gia các giao dịch dân
sự. Xuất phát từ cách hiểu này, dẫn đến nhiều người nhầm lẫn khi xác định
các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản như Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy đăng
ký xe… là giấy tờ có giá khi tham gia giao dịch. Đây là một thực tế đang diễn ra khá phổ biến.
Tuy nhiên, các giấy tờ như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy đăng ký xe… vốn không phải
là chứng từ, bằng chứng ghi nhận nghĩa vụ trả nợ, mà nó chỉ là giấy tờ pháp
lý ghi nhận quyền của chủ sở hữu tài sản, chủ sở hữu quyền sử dụng nên
hoàn toàn không được xác định là giấy tờ có giá theo khái niệm được quy
định tại khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010,
khoản 1 Điều 3 Thông tư 04/2016/TT-NHNN, khoản 1 Điều 2 Thông tư
01/2012/TT-NHNN, nó cũng không được liệt kê vào danh sách các loại giấy
tờ có giá được ghi nhận ở Công văn 141/TANDTC-KHXX được trích dẫn ở
trên. Những giấy tờ này là những giấy tờ có giá trị, nhưng không phải là “giấy
tờ có giá”, mà là giấy tờ chứa đựng quyền của chủ sở hữu tài sản. Cụ thể:
Ví dụ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất, theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm
2013 được xác định là chứng thư pháp lý ghi nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở, quyền sở hữu về tài sản gắn liền với đất hợp pháp của chủ sử
dụng đất, chủ sở hữu nhà ở gắn liền với đất. Nhìn chung, Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, và tài sản khác gắn liền với đất là
giấy tờ chứa đựng quyền sử dụng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản
của chủ sử dụng đất hợp pháp. Bản thân Giấy tờ này không phải là một loại
giấy tờ có giá, cũng không được xác định là một tài sản, nhưng lại có ý nghĩa
mang tính chất là hình thức ghi nhận quyền tài sản – quyền sử dụng đất, một
tài sản vô hình, gắn liền với một mảnh đất hữu hình.
Cũng tương tự như vậy, Giấy đăng ký xe là giấy tờ pháp lý xác nhận thông tin
của chủ sở hữu chiếc xe, không được xác định là tài sản bởi tài sản ở đây là
chiếc xe có đầy đủ thông tin được ghi nhận trên Giấy đăng ký xe đã được cấp.
Đồng thời, vì không được xác định là giấy tờ có giá, là tài sản nên khi có hành
vi chiếm giữ trái phép, hoặc chiếm đoạt các giấy tờ chứng nhận quyền sở
hữu tài sản như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chủ sở hữu các loại
giấy tờ này cũng không thể khởi kiện theo hướng kiện đòi tài sản được, mà
chỉ có thể yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền (ví dụ cơ quan công an) buộc
người chiếm giữ trái phép trả lại tài sản cho chủ sở hữu.
Ví dụ: Anh A là chủ sử dụng đất hợp pháp của mảnh đất rộng 80 m2, đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với mảnh đất
này. Tuy nhiên, ngày 02/03/2016, lấy lý do là cần mượn “Sổ đỏ” (Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất này” của anh A để kê khai, đối
chiếu với “Sổ đỏ” của mình, anh C – một người họ hàng của anh A đã đến
mượn “Sổ đỏ” của anh A nhưng sau khi mượn được, anh C đã cố tình không
trả lại giấy tờ này cho anh A, mà đem đi cầm cố tại một “tổ chức tín dụng đen”.
Sau đó, anh A phát hiện ra sự việc này. Trường hợp này vì Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với mảnh đất 80 m2 của anh A không phải là giấy tờ
có giá, không phải là tài sản nên anh A không thể khởi kiện đòi anh C trả lại
tài sản được, nhưng có quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch cầm cố giữa anh C
và “tổ chức tín dụng đen” là vô hiệu. Đồng thời anh A có thể yêu cầu cơ quan
công an can thiệp để yêu cầu anh C trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình.
Trong khi đó, nếu một người đang sở hữu trái phiếu công ty mà khi đến thời
hạn theo quy định của trái phiếu mà công ty phát hành trái phiếu vẫn chưa
hoàn tất nghĩa vụ trả nợ cho người sở hữu trái phiếu thì người sở hữu trái
phiếu vẫn có quyền yêu cầu thanh toán nghĩa vụ trả nợ.
Như vậy, qua phân tích nêu trên, có thể xác định, không phải bất cứ loại giấy
tờ nào cũng được xác định là giấy tờ có giá, cũng được xác định là tài sản
tham gia trong giao dịch dân sự. Việc xác định rõ khái niệm “giấy tờ có giá”,
và các loại giấy tờ được xác định là giấy tờ có giá mang ý nghĩa quan trọng
khi xác định đối tượng tài sản trong giao dịch dân sự, đảm bảo các chủ thể có
thể hiểu rõ bản chất của giao dịch, từ đó có phương án đảm bảo quyền lợi
của mình. Đồng thời, qua việc xác định giấy tờ có giá cũng để tránh việc
nhầm lẫn đối với các giấy tờ pháp lý khác mang tính chất ghi nhận quyền sở
hữu, quyền sử dụng hợp pháp của chủ sở hữu tài sản.
3. Các loại giấy tờ có giá
Điều 163 của Bộ luật dân sự năm 2005 qui định: "Tài sản bao gồm vật, tiền,
giấy tờ có giá và các quyền tài sản". Theo qui định tại Khoản 8, Điều 6, Luật
ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010
thì giấy tờ có giá là "bằng chứng xác
nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu
giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác".
Căn cứ vào các qui định của pháp luật hiện hành, thì giấy tờ có giá bao gồm:
a) Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác
được qui định tại Điều 1 của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005;
b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kì phiếu, cổ phiếu được qui định
tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;
c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh
nghĩa vụ trả nợ được qui định tại Khoản 16 Điều 3 của Luật quản lí nợ công năm 2009;
d) Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quĩ; quyền mua cổ
phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai,
nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp vốn đầu tư; các
loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính qui định) được qui định tại Khoản 1
Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số Điều năm 2010);
đ) Trái phiếu doanh nghiệp được qui định tại Điều 2 của Nghị định số
52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về "Phát hành trái phiếu doanh nghiệp"…
(Tài liệu tham khảo: Công văn 141/TANDTC-KHXX của Tòa án Nhân dân tối
cao về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản)

4. Một số câu hỏi thường gặp về giấy tờ có giá
4.1 Giấy tờ có giá được hiểu là?
Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao
được trong giao lưu dân sự. Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng
khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái… Xét
về mặt hình thức giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định.
4.2 Những đối tượng nào được phát hành giấy tờ có giá tại Việt Nam?
- Ngân hàng thương mại.
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
- Công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính phát hành giấy tờ có giá để
huy động vốn từ tổ chức.
- Ngân hàng hợp tác xã Việt Nam phát hành giấy tờ có giá theo quy định tại
Giấy phép thành lập và hoạt động.
Document Outline

  • Giấy tờ có giá là gì? Lưu ý khi sử dụng các loại g
    • 1. Khái niệm giấy tờ có giá
    • 2. Một số vấn đề nhầm lẫn về giấy tờ có giá
    • 3. Các loại giấy tờ có giá
    • 4. Một số câu hỏi thường gặp về giấy tờ có giá
      • 4.1 Giấy tờ có giá được hiểu là?
      • 4.2 Những đối tượng nào được phát hành giấy tờ có