


Preview text:
Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) là gì?
1. Quy định chung về hiệp định GATT ?
Hiệp định này được kí ngày 23.10.1947 và có hiệu lực từ ngày 01.01. 4948.
GATT tồn tại cho đến ngày 31.12.1995. Tổ chức kế thừa GATT là Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) (Xem thêm: Tổ chức thương mại thế giới).
Trong khuôn khổ hợp tác đa phương, GATT là diễn đàn đàm phán. Trong 48
năm hoạt động, GATT trải qua 8 vòng đàm phán: vòng Giơnevơ năm 1947
đàm phán về thuế; vòng Annecy (năm 1949) đàm phán về thuế, vòng Torquay (1950- 1951) đàm
phán về thuế, vòng Giơnevơ (1955- 1956) đàm phán về thuế; vòng Dil on
(1961- 4962) đàm phán về thuế; vòng Kennedy (1964- 4967) đàm phán về
thuế và các biện pháp chống phá giá; vòng Tôkyô (1973-1979) đàm phán về
thuế, các biện pháp phi thuế quan và các hiệp định khung; vòng Uruguay
(1986-1994) đàm phán về thuế, các biện pháp phi thuế quan, các nguyên tác,
các dịch vụ, các quyền sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, dệt, may mặc,
nông nghiệp và việc thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
2. Nguyên nhân của việc ký cam kết đánh thuế thu nhập giữa các quốc gia
Đánh thuế trùng là vấn đề kinh tế mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều gặp
phải khi xây dựng hệ thống chính sách thuế của mình. Đánh thuế trùng được
hiểu là việc hai hay nhiều quốc gia áp dụng một loại thuế trên cùng một khoản
thu nhập hay tài sản chịu thuế của cùng một đối tượng nộp thuế trong cùng một kì tính thuế.
Việc đánh thuế trùng của các quốc gia xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác
nhau, có thể kể ra một số nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất, do xung đột về quyền đánh thuế, mỗi quốc gia đều khẳng định và
áp dụng quyền đánh thuế của mình theo một hoặc hai hoặc cả ba nguyên tắc
là theo quốc tịch, theo nơi cư trú và theo lãnh thổ. Chẳng hạn, trường hợp
một quốc gia khẳng định quyền đánh thuế với khoản thu nhập có nguồn gốc
từ nước ngoài của một đối tượng nộp thuế vì đối tượng nộp thuế đó cư trú ở
quốc gia này. Còn quốc gia khác lại khẳng định quyền đánh thuế cũng đối với
khoản thu nhập đó vì lí do khoản thu nhập này phát sinh tại quốc gia mình
(xung đột giữa quốc gia nguồn và quốc gia nơi cư trú).
Thứ hai, do pháp luật các nước quy định về cách xác định quốc tịch, nơi cư
trú, nguồn thu nhập cũng khác nhau dẫn tới các trường hợp đánh thuế trùng.
Chẳng hạn, hai hay nhiều quốc gia cùng khẳng định quyền đánh thuế dối với
cùng một khoản thu nhập của một đối tượng nộp thuế vì cho rằng đối tượng
nộp thuế cư trú ở nước họ (xung đột giữa hai quốc gia về việc xác định đối
tượng cư trú). Hoặc trường hợp hai hay nhiều quốc gia cùng khẳng định
quyền đánh thuế đối với cùng một khoản thu nhập của một đối tượng đánh
thuế bởi họ cho rằng thu nhập phát sinh ờ nước họ (xung đột về cách xác
định nguồn phát sinh thu nhập).
Có thể nói do xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế-xã hội ngày càng mở rộng,
hiện tượng một đối tượng nộp thuế có nhiều quốc tịch, nhiều nơi cư trú, nhiều
nguồn thu nhập phát sinh cả trong và ngoài nước là tương đối phổ biển, dẫn
tới nhiều trường họp bị đánh thuế trùng đổi với các loại thuế trực thu.
Việc đánh thuế trùng ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, xã hội chung ở các
quốc gia, nó là rào cản đối với dòng luân chuyển hàng hoá, vốn, công nghệ
và lao động, cản trở quá trình toàn cầu hoá kinh tế. Chẳng hạn, việc đánh
thuế trùng sẽ hạn chế hoạt động xuất khẩu tư bản đối vói nước có nhiều vốn
đầu tư. Bởi vì, mục đích của nhà đầu tư khi đau tư vốn ra nước ngoài là
nhằm tìm kiếm lợi nhuận, nếu bị đánh thuế trùng sẽ làm giảm lợi nhuận mà
họ đã thu được, do vậy họ sẽ hạn chế không muốn đầu tư ra nước ngoài
trong khi họ đang thừa vốn và có ý muốn đầu tư. Đối với các quốc gia thiếu
vốn đầu tư việc đánh thuế trùng sẽ ngăn cản việc đầu tư vào nước mình, mặc
dù quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư có nhiều chính sách ưu đãi thuế để khuyến
khích thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển nền kinh tế nhưng
những lợi ích kinh tế mà quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư đã ưu đãi dành cho
nhà đầu tư nước ngoài sẽ bị loại trừ do việc bị đánh thuế trùng. Bởi vì, việc
chuyển lợi nhuận từ một nước - nơi phát sinh thu nhập về nước là nơi người
nộp thuế thuộc đối tượng cư trú sẽ bị thu thuế đầy đủ. Điều này sẽ làm nản
lòng các nhà đầu tư mà một nước đã cố gắng khuyển khích thông qua chính
sách ưu đãi khuyến khích đầu tư...
Chính vì xuất phát từ lợi ích của quốc gia mình, với mục tiêu thúc đẩy đầu tư
nước ngoài, tạo cơ sở pháp lí hỗ trợ cho các doanh nghiệp đa quốc gia tham
gia vào hoạt động thương mại, công nghiệp, tài chính, cùng cạnh tranh lành
mạnh, thực hiện đầu tư vốn, chuyển giao công nghệ và luân chuyển lao động
mà không bị ảnh hưởng do việc đánh thuế trùng lặp giữa các quốc gia. Các
quốc gia trên thế giới đã tìm cách loại bỏ hiện tượng đánh thuế trùng bằng
việc kí kết hiệp định tránh đánh thuế hai lần để giải quyết các vấn đề song
phương, đa phương về thuế. Ngoài ra, hiệp định tránh đánh thuế hai lần ra
đời còn xuất phát từ yêu cầu chống trốn lậu thuế quốc tế, bảo vệ nguồn thu
ẹho ngân sách mỗi quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của chuyên
gia từ nước này sang nước khác vạ vì mục đích hỗ trợ trao đổi văn hoá-giáo
dục... qua đó củng cố và tăng cường mối quan hệ về kinh tế, chính trị, ngoại giao giữa các quốc gia.
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là văn kiện pháp lí song phương trong đó
đưa ra khuôn khổ để các nước phân chia quyền lợi thuế từ đối tượng nộp
thuế hoạt động qua biên giới đồng thời loại bỏ rào cân đối với dòng luân
chuyển hàng hoá, vốn, công nghệ và lao động giữa quốc gia.
Xét trên phương diện luật pháp thì hiệp định tránh đánh thuế hai lần chính là
những quy định giới hạn quyền đánh thuế của từng quốc gia trong khuôn khổ
pháp lí của hiệp định.
Xét trên phương diện kinh tế thì hiệp định tránh đánh thuế hai lần là sự thoả
thuận nhằm phân chia nguồn thu cho ngân sách nhà nước của nước đầu tư
và nước tiếp nhận đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao vốn,
công nghệ và phân công lao động.
Xét trên phương diện quản lí thì hiệp định tránh đánh thuế hai lần là biện
pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả quản lí của nhà nước trên phạm vi quốc
tế qua việc trao đổi thông tin.
Vói việc nhận thức rõ bản chất và vai trò của hiệp định tránh đánh thuế hai
lần sẽ giúp chúng ta có những bước đi thích hợp trong xây đựng chính sách
thuế của mình, đặc biệt điều kiện kinh tế hội nhập như hiện nay.
Document Outline
- Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) là
- 1. Quy định chung về hiệp định GATT ?
- 2. Nguyên nhân của việc ký cam kết đánh thuế thu n