




Preview text:
Họ và tên: Bùi Thị Lan
Lớp: Kỹ thuật chế biến món ăn (CMA02.9B)
KẾT THÚC MÔN
GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Câu 1: Giải thích khái quát mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, và nêu một thí dụ cụ thể có tính thời sự trong tự nhiên hoặc trong xã hội.
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biến chứng mà trong đó vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gối của ý thức và quyết định ý thức nhưng không thụ động mà có thể tác động trở lại vật chất qua những hoạt động của con người.
+ Vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển của ý thức; sự biến đổi của ý thức là sự phản ánh đối với sự biến đổi của vật chất. Vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức.
+ Ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Ý thức trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan trên cơ sở đó giúp con người xác định mục tiêu, phương hướng, lựa chọn biện pháp, công cụ ... để thực hiện mục tiêu của mình.
Vật chất và ý thức có mối quan hệ 2 chiều và chúng tác động qua lại lẫn nhau:
- Vật chất có vai trò quyết định ý thức.
Ý thức là thành quả của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não của con người và chỉ có người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người và thế giới vật chất thì con người là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất. Kết luận này đã được minh chứng bởi sự phát triển lâu dài của khoa học về thế giới tự nhiên, là một bằng chứng khoa học của quan điểm: “Vật chất có trước, ý thức có sau”. Các yếu tố tạo thành nguồn gốc thiên nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc người và thế giới khách quan tác động lên bộ óc gây nên một số hiện tượng phản ánh như lao động, ngôn ngữ), có thể là do chính thế giới vật chất (thế giới khách quan), hay là những sự tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng miêu tả, lao động, ngôn ngữ) đã chứng minh vật chất là nguồn gốc của ý thức. Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất hoặc là hình ảnh cá nhân trong thế giới vật chất nên nội dung của ý thức được quyết định bằng vật chất. Sự tồn tại và phát triển của ý thức hay hình thức biểu hiện của ý thức do những quy luật tự nhiên, nhưng quy luật xã hội và sự tác động của điều kiện cuộc sống quyết định. Những yếu tố trên thuộc về vật chất nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự thay đổi của ý thức.
- Ý thức có tác động lại vật chất
Trong mối liên hệ với vật chất, ý thức sẽ tác đông vào vật chất bằng hoạt động thực tế của cong người. Do là hoạt động của con người, nên vai trò của ý thức là nhấn mạnh vai trò của con người. Bản thân ý thức không tự làm thay đổi bất kì điều gì của thực tại. Muốn thay đổi thực tại thì con người phải thông qua các hoạt động vật chất. Song do tất cả hoạt động của con người đều được ý thức điều khiển, do đó vai trò của ý thức không phải là gây ra hoặc thay đổi đời sống vật chất mà nó cung cấp cho con người sự hiểu biết về thực tại khách quan, và dựa trên nền tảng đấy con người xây dựng mục tiêu và đưa ra phương hướng, lập kế hoạch để chọn lựa phương pháp, biện pháp, phương tiện nhằm hoàn thành thành nhiệm vụ của bản thân. Như vậy, ý thức đã biểu hiện những tác động của bản thân nó lên vật chất bằng hành động của con người.
* Sự tác động ngược lại của ý thức đối với vật chất xảy ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực. Nếu con người nhận thức đúng đắn, có đầu óc logic, có lòng dũng cảm, có nghị lực, có quyết tâm thì hành động của con người phù hợp với các quy luật tự nhiên và con người có khả năng vượt lên những thử thách trong việc hoàn thành mục tiêu của bản thân, đời sống sẽ cải thiện – đó là sự tác động tốt đến ý thức. Còn nếu ý thức của con người phản ánh không chính xác sự thật về bản chất, quy luật tự nhiên thì ngay từ ban đầu khi hướng hành động của con người đã đi ngược lại những quy luật khách quan, hành động đó sẽ có ảnh hưởng xấu so với hoạt động thực tiễn và đối với xã hội.
Như vậy là thông qua sự hướng dẫn các hoạt động của con người thì ý thức có khả năng xác định hành động của con người và hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại, đạt hoặc không hiệu quả. Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, mục đích của ý thức, về vai trò của vật chất, của ý thức có thể biết được vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo ý thức; là yếu tố quan trọng trong phát triển ý thức; ý thức chỉ có khả năng tác động vào vật chất, sự tác động đó không phải tự nhiên mà còn cần thông qua hoạt động thực tiễn (hoạt động xã hội) của con người. Sức mạnh của ý thức đối với sự tác động này tuỳ thuộc ở trình độ hiểu biết của ý thức, khả năng xâm nhập của ý thức vào nhóm người hành động, trình độ quản lý của con người và các điều kiện vật chất hoặc môi trường vật chất, trong đó con người hành động theo hướng dẫn của ý thức.
- Ví dụ: Sự ra đời của Internet và công nghệ thông tin đã làm thay đổi hoàn toàn cách con người giao tiếp, học tập và làm việc. Nếu trước đây, việc giao tiếp chỉ giới hạn trong phạm vi trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện truyền thống như thư từ, thì ngày nay, con người có thể kết nối với nhau một cách dễ dàng thông qua mạng xã hội, email, và các ứng dụng trò chuyện trực tuyến.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã quyết định ý thức của con người về không gian, thời gian, và cách thức làm việc. Ví dụ, nhiều người hiện nay có thể làm việc từ xa thay vì phải đến văn phòng, điều này thay đổi hoàn toàn nhận thức về việc tổ chức công việc và lối sống.
Câu 2: Trình bày khái quát phẩm chất đạo đức “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” theo Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nêu thí dụ cụ thể về một phẩm chất cần vận dụng đối với học sinh-sinh viên trong học tập.
Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Dù Người đã mãi đi xa, nhưng tình cảm của Bác vẫn còn khắc sâu trong mỗi người dân Việt Nam để lại niềm tiếc thương vô hạn cùng Hệ thống tư tưởng là di sản tinh thần vô cùng quý báu của dân tộc ta.
Trong đó tư tưởng, đạo đức cách mạng Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những phẩm chất cốt lõi của người chiến sĩ cách mạng, là nền tảng của đời sống mới và là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Theo Hồ Chí Minh thì: Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta".
Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi", không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù.
Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân". Phải "trong sạch, không tham lam". "Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá".
Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn". Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà.
Chí công vô tư, Người nói: "Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc". “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”; phải "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ". Là công bằng, công tâm, không thiên tư, thiên vị; làm việc gì cũng nghĩ đến lợi ích chung; thực hành chí công vô tư là nêu cao chủ nghĩa tập thể, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.
Việc vận dụng tư tưởng đạo đức "cần, kiệm, liêm, chính" vào đời sống học sinh - sinh viên là rất quan trọng, giúp học sinh - sinh viên rèn luyện bản thân, phát triển toàn diện và trở thành những công dân có ích cho xã hội. Dưới đây là cách học sinh - sinh viên có thể vận dụng những giá trị này trong học tập và cuộc sống hàng ngày:
Học sinh - sinh viên cần chăm chỉ học tập, không ngại khó khăn, luôn tìm tòi và nghiên cứu để nâng cao kiến thức. Đặt mục tiêu rõ ràng và nỗ lực đạt được chúng.Ví dụ: Lập kế hoạch học tập hàng ngày, tuần; tham gia tích cực vào các buổi thảo luận, nghiên cứu khoa học; tự học và tìm hiểu thêm kiến thức ngoài sách giáo khoa. Trong cuộc sống cần rèn luyện tính kỷ luật, không lười biếng, luôn cố gắng hoàn thành công việc đúng hạn và hiệu quả.
Học sinh - sinh viên cần quản lý thời gian hợp lý, tránh lãng phí thời gian vào những việc vô bổ như lướt mạng xã hội quá nhiều, chơi game quá mức.Ví dụ: Sử dụng thời gian rảnh để đọc sách, học thêm kỹ năng mới; lập thời gian biểu cân bằng giữa học tập, giải trí và nghỉ ngơi.
Học sinh - sinh viên nên chi tiêu hợp lý, tránh lãng phí tiền bạc vào những thứ không cần thiết.Ví dụ: Tự nấu ăn thay vì ăn ngoài để tiết kiệm chi phí; tắt điện, nước khi không sử dụng để tiết kiệm tài nguyên.
Học sinh - sinh viên cần trung thực trong học tập, không gian lận trong thi cử, không sao chép bài của người khác. Ví dụ: Tự làm bài tập, không nhờ người khác làm hộ; không sử dụng tài liệu trái phép trong các kỳ thi. Học sinh - sinh viên cần sống liêm khiết, không tham lam, không vụ lợi cá nhân. Ví dụ: Không nhận hối lộ hoặc sử dụng mối quan hệ để đạt lợi ích cá nhân; giữ gìn phẩm chất đạo đức, không tham gia vào các hành vi tiêu cực.
Học sinh - sinh viên cần đối xử công bằng với bạn bè, không thiên vị hoặc ghen tỵ với thành tích của người khác. Ví dụ: Hỗ trợ bạn bè trong học tập, chia sẻ kiến thức một cách công bằng; không đố kỵ khi bạn bè đạt thành tích cao. Học sinh - sinh viên cần sống ngay thẳng, không nói xấu người khác, luôn đứng về phía lẽ phải. Ví dụ: Bảo vệ bạn bè khi họ bị đối xử bất công; lên tiếng khi thấy hành vi sai trái trong trường học hoặc xã hội.
Học sinh - sinh viên nên tích cực tham gia các hoạt động đoàn thể, câu lạc bộ, tình nguyện vì cộng đồng. Ví dụ: Tham gia các chương trình tình nguyện, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn; đóng góp ý kiến và công sức vì sự phát triển của tập thể. Học sinh - sinh viên nên đặt lợi ích chung lên hàng đầu, không vì lợi ích cá nhân mà ảnh hưởng đến tập thể. Ví dụ: Chia sẻ tài liệu, kinh nghiệm học tập với bạn bè; hợp tác cùng nhau để hoàn thành dự án nhóm một cách tốt nhất.
Vận dụng tư tưởng "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" giúp học sinh - sinh viên không chỉ rèn luyện bản thân mà còn góp phần xây dựng một môi trường học tập và sống lành mạnh, tích cực. Đây là nền tảng để học sinh - sinh viên trở thành những công dân có ích, có trách nhiệm với xã hội và đất nước.