



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61591627
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH I
– KHÁI NIỆM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH:
Câu 1: Từ việc phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, anh/chị hãy liên hệ về tầm quan trọng của Tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhận thức của Đảng?
1. SV trình bày khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh và những đặc điểm cơ bản:
1. Khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh”: trang 12
Theo Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2011):
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của
nhân dân ta giành thắng lợi”.
→ Khái niệm trên đã chỉ ra nội hàm cơ bản, cơ sở hình thành và ý nghĩa của môn học trong nhận thức và thực tiễn, có thể tóm tắt qua các đặc điểm nổi bật sau:
2. Đặc điểm của Tư tưởng Hồ Chí Minh: trang 12
2.1. Nội hàm cơ bản của “Tư tưởng Hồ Chí Minh”
Câu 2: Nội dung cơ bản của “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là gì?
Nội dung cơ bản của “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ đó
phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam, thể hiện rõ ở các điểm sau:
- Đây là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về mục tiêu xây dựng Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
- Con đường phát triển của dân tộc Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
- Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước cách mạng.
- Lực lượng cách mạng: toàn thể nhân dân Việt Nam yêu nước.
- Mục tiêu: xây dựng con người Việt Nam có năng lực và phẩm chất đạo đức cách mạng; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trên cơ sở
hòa bình, hợp tác hữu nghị cùng phát triển,…
2.2. Cơ sở hình thành “Tư tưởng Hồ Chí Minh”: trang 33
Câu 3: “Tư tưởng Hồ Chí Minh” được ra đời dựa trên các cơ sở nào?
“Tư tưởng Hồ Chí Minh” ra đời dựa trên các cơ sở sau:
- Chủ nghĩa Mác – Lênin – đây là giá trị cơ bản nhất trong quá trình hình thành và phát triển của Tư tưởng Hồ Chí Minh, là cơ sở quan trọng nhất quyết
định bản chất khoa học, cách mạng. (Hồ Chí Minh khẳng định: "Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam,
không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng,
đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản"
.Đối với chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh đã nắm vững cái cốt lõi, linh hồn sống của nó, là phương pháp biện chứng duy vật; học tập lập trường,
quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lênin để giải quyết các vấn đề thực tiễncủa cách mạng Việt Nam.
Các tác phẩm, bài viết của Hồ Chí Minh phản ánh bản chất cách mạng tư tưởng của Người theo thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.)
- Tiếp thu các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: lòng yêu nước, tương thân tương ái,… (Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã
hình thành cho Việt Nam các giá trị truyền thống dân tộc phong phú, vững bền. Đó là ý thức chủ quyền quốc gia dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, yêu
nước, kiên cường, bất khuất... tạo thành động lực mạnh mẽ của đất nước; là tinh thần tương thân, tương ái, nhân nghĩa, cố kết cộng đồng dân tộc;
thủy chung, khoan dung, độ lượng; là thông minh, sáng tạo, quý trọng hiền tài, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm phong phú văn hóa dân
tộc... Trong nguồn giá trị tinh thần truyền thống đó, chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi, là dòng chảy chính của tư tưởng văn hóa truyền thống Việt Nam,
xuyên suốt trường kỳ lịch sử, là động lực mạnh mẽ cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc. Chính sức mạnh truyền thống tư tưởng và văn hóa
đó của dân tộc đã thúc giục Hồ Chí Minh ra đi tìm tòi, học hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để làm giàu cho tư tưởng cách mạng và văn
hóa của Người.)
- Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại: phương Đông (Phật giáo, Nho giáo,…), phương Tây (“Tuyên Ngôn Độc Lập” của Mĩ, “Tuyên ngôn Nhân quyền
và Dân quyền” của Pháp,…),…
(Về tư tưởng và văn hóa phương Đông, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những mặt tíchcực của Nho giáo về triết lý hành động, nhân nghĩa, ước vọng về một
xã hội bình trị,hòa mục, thế giới đại đồng; về một triết lý nhân sinh, tu thân, tề gia; đề cao văn hóa trung hiếu "dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh". lOMoAR cPSD| 61591627
Người nói: "Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học"
. Người dẫn lời của V.I. Lênin: "Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái đượcnhững điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại"
.Về Phật giáo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn; coi trọng tinh thần bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp, chăm
lo điều thiện, v.v..
Về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh tìm thấy những điều thích hợp với điều kiện nước ta, đó là dân tộc độc lập, dân quyền tự do
và dân sinh hạnh phúc.
Về tư tưởng và văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu tiếp thu tư tưởng văn hóa dân chủ và cách mạng của cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ.
Về tư tưởng dân chủ của cách mạng Pháp, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng của các nhà khai sáng: Vônte (Voltaire), Rútxô (Rousso), Môngtexkiơ
(Moutesquieu). Đặc biệt, Người chịu ảnh hưởng sâu sắc về tư tưởng tự do, bình đẳng của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của Đại
cách mạng Pháp.)
2.3. Giá trị và ý nghĩa của “Tư tưởng Hồ Chí Minh”: trang 13 -
“Tư tưởng Hồ Chí Minh” là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. -
Cùng với “Chủ nghĩa Mác – Lênin”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là một bộ phận cấu thành làm nên nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành
động của Đảng và cách mạng Việt Nam.
2. SV trình bày nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh:
➔ Khái niệm trên đã ghi nhận quá trình nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về Tư tưởng Hồ Chí Minh, cụ thể:
(SV tham khảo Hướng dẫn tự học Tr.5,6,7)
- Năm 1930: Đảng thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nội dung Cương lĩnh đã thể
hiện những nội dung cơ bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam.
- Từ Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5/1941 đến Đại hội II của Đảng năm 1951: Tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là đúng đắn, phù hợp và
tiếp tục đưa vào đường lối, chủ trương của Đảng.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) tiếp tục khẳng định vị trí và vai trò quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc khai sinh ra nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) nhấn mạnh: “Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế
thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-
Lênintrong điều kiện cụ thể của nước ta và từ đó khẳng định ngày nay Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng và kim chỉ nam cho hành động.”
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) đưa ra một định nghĩa đầy đủ hơn về “Tư tưởng Hồ Chí Minh”
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) nêu khái niệm tổng quát về Tư tưởng Hồ Chí Minh
- Các đại hội tiếp theo tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
II – ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Câu 4: Tư tưởng Hồ Chí Minh tập trung đi sâu vào những vấn đề nào? : trang 19
Thứ nhất, đó là toàn bộ những quan điểm của Hồ Chí Minh thể hiện trong di sản của Người.
Thứ hai, đó là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam được phản ánh trong những bài nói, bài viết
trong hoạt động cách mạng và trong cuộc sống hằng ngày.
Thứ ba, đó là những vấn đề lý luận và thực tiễn rút ra từ cuộc đời hoạt động rất phong phú ở cả trong nước và trên thế giới của Bác
Thứ tư, đó còn là quá trình “hiện thực hóa” hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam.
III – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
*Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa Mác – Lênin, cụ thể là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
*Nguyên tắc nghiên cứu: lOMoAR cPSD| 61591627
1. Thống nhất tính đảng và tính khoa học (Quan trọng nhất): trang 21
Câu 5: Vì sao cần phải thống nhất tính đảng và tính khoa học trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh?
- Tính đảng: đứng trên lập trường giai cấp công nhân và đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, quán triệt Cương lĩnh, đường lối, quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Tính khoa học: đảm bảo tính khách quan, khoa học của các luận đề được nêu ra.
➔ Việc thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học là nguyên tắc rất cơ bản trong phương pháp luận nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh vì giúp cho
việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu rõ và hiểu sâu sắc.
Câu 6: Tại sao khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân?
Tư tưởng Hồ Chí Minh có đối tượng nghiên cứu là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Trong
đó, cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo, là kết quả của quá trình trưởng thành về chất
của giai cấp công nhân.
Theo Hồ Chí Minh: "Chỉ có giai cấp công nhân là đồng cảm nhất, cách mạng nhất,luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý
luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin
cậy nhất của nhân dân Việt Nam''.
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành dựa trên Chủ nghĩa Mác – Lênin – lý luận giải phóng dân tộc của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác – Lênin
ra đời trong bối cảnh khách quan là phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thế giới – lực lượng nắm giữ sứ mệnh lịch sử để tiến tới thiết lập hình
thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa – diễn ra mạnh mẽ. Do đó, nếu không đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, việc nghiên cứu sẽ sai lệch
về bản chất và trái với quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin.
2. Thống nhất lý luận và thực tiễn: trang 21
Câu 7: Vì sao trong nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, người nghiên cứu không được rời xa mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn?
Thứ nhất, Hồ Chí Minh rất coi trọng cả lý luận và cả thực tiễn: - Về lý luận:
Hồ Chí Minh coi trọng tầm quan trọng của lý luận, Bác từng nói “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh,
xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận, rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính”
Bác phê phán sự chủ quan và việc “mắc phải cái bệnh khinh lý luận”: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”,
“Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” - Về thực tiễn:
Bác cho rằng, con người sẽ mắc phải căn bệnh “lý luận suông” nếu không áp dụng vào thực tế. Bác luôn khẳng định: “Phải đem lý luận áp dụng vào
công việc thực tế”, “dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách.”
Thứ hai, trong nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, không có sự tuyệt đối hóa mặt nào giữa lý luận và thực tiễn. Bằng chứng là, trong quá trình hoạt
động cách mạng của Người thì lý luận đã có thực tiễn và trong thực tiễn lại có lý luận. Việc tách ra để nghiên cứu độc lập chỉ mang tính tạm thời vì
đây là quan hệ biện chứng.
3. Quan điểm lịch sử - cụ thể: trang 23
Câu 8: Để có thể xem xét một cách toàn diện và sâu sắc, vì sao phải tính đến quan điểm lịch sử - cụ thể?
Trong nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, cần vận dụng quan điểm của Lênin về mối quan hệ biện chứng khi xem xét sự vật và hiện tượng trong mối
liên hệ lịch sử căn bản, xem sự vật, hiện tượng đó đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào; đứng trên
quan điểm của sự phát triển đó để xem xét hiện nay nó đã trở thành như thế nào.
Sự vật, hiện tượng sẽ luôn luôn vận động và phát triển theo tiến trình của lịch sử. Tức là, ở mỗi thời kỳ khác nhau, đặc điểm và biểu hiện của sự vật,
hiện tượng sẽ không đồng nhất giữa các thời kỳ.
➔ Việc quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể giúp người nghiên cứu nhận thức được bản chất tư tưởng đó mang đậm dấu ấn của quá trình phát triển
lịch sử, quá trình phát triển sáng tạo, đổi mới.
4. Quan điểm toàn diện và hệ thống: trang 23
Câu 9: Vì sao cần phải quán triệt quan điểm toàn diện và hệ thống trong nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh?
Thứ nhất, Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Do đó, cần phải
luôn luôn quán triệt mối liên hệ qua lại của các yếu tố, các bộ phận khác nhau trong sự gắn kết tất yếu của hệ thống tư tưởng đó xung quanh hạt nhân
cốt lõi là tư tưởng độc lập, tự do, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. lOMoAR cPSD| 61591627
Thứ hai, Hồ Chí Minh nhìn sự vật và hiện tượng trong một tổng thể vận động với những cái chung và cả những cái riêng, trong sự vận động cụ thể của
điều kiện hoàn cảnh nhất định nào đó và xem xét chúng trong xu thế chung.
Thứ ba, Hồ Chí Minh coi tính bao quát là một nguyên tắc tư duy và hành động trong việc xem xét các vấn đề của cách mạng Việt Nam, trong mối quan
hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.
Thứ tư, phương pháp luận này nhấn mạnh vào bộ phận nào có tính trọng điểm để hướng hành động một cách tập trung ưu tiên vào đó. Có thể kể đến
như việc xác định lực lượng cách mạng của cách mạng Việt Nam.
5. Quan điểm kế thừa và phát triển:
Câu 10: Vì sao phải kế thừa và phát triển trong việc vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn?
Thứ nhất, việc kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người trong điều kiện lịch sử mới, trong bối cảnh cụ thể của đất nước và quốc tế là vấn đề tất yếu.
Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn nhìn sự vật và hiện tượng trong một trạng thái luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng, đòi hỏi con người phải luôn luôn
thích nghi với mọi hoàn cảnh thông qua tự đổi mới và phát triển.
*Phương pháp nghiên cứu:
1. Phương pháp lôgic, phương pháp lịch sử và sự kết hợp phương pháp lôgic với phương pháp lịch sử:
Phương pháp lôgic: nghiên cứu tổng quát nhằm tìm ra được bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng và khái quát thành lý luận. Xuất phát từ việc các sự
kiện, sự vật, hiện tượng đều có mối liên hệ bản chất mà cần nhận thức rõ.
Phương pháp lịch sử: nghiên cứu sự vật, hiện tượng theo trình tự thời gian, quá trình diễn biến đi từ phát sinh, phát triển đến hệ quả của nó.
➔ Tư tưởng Hồ Chí Minh rất cần thiết phải kết hợp sử dụng chặt chẽ hai phương pháp này.
2. Phương pháp phân tích văn bản kết hợp với nghiên cứu hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh:
Việc vận dụng phương pháp này là do Hồ Chí Minh để lại những bài viết, bài nói đã được tập hợp thành bộ sách toàn tập (Hồ Chí Minh: Toàn tập (15
tập)). Do đó, việc nghiên cứu phải dựa trên những tác phẩm của Bác.
Bên cạnh đó, toàn bộ cuộc đời hoạt động của Bác, những vấn đề phản ánh qua cuộc sống hằng ngày của Người cũng là một trong những di sản tinh
thần quý báu mà Người để lại cho dân tộc Việt Nam.
Ngoài ra, những chỉ đạo thực tiễn của Bác cũng phải được nghiên cứu vì đó là trọng tâm làm nên hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh.
3. Phương pháp chuyên ngành, liên ngành:
Hồ Chí Minh thể hiện tư tưởng của mình thông qua nhiều lĩnh vực như chính trị, triết học, kinh tế, quân sự, tư tưởng văn hóa,…Do đó, nghiên cứu Tư
tưởng Hồ Chí Minh thì việc vận dụng phương pháp này là cần thiết.
4. Các phương pháp khác (phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra,…)
➔ Việc nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải đổi mới và hiện đại hóa các phương pháp nghiên cứu cụ thể trên cơ sở không ngừng phát triển và
hoàn thiện về lý luận và phương pháp luận khoa học nói chung
IV – Ý NGHĨA CỦA VIỆC HỌC TẬP MÔN HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH:
Thứ nhất, Góp phần nâng cao năng lực tư duy và lý luận.
Thứ hai, Giáo dục và định hướng thực hành đạo đức cách mạng, củng cố niềm tin khoa
học gắn liền với trau dồi tình cảm cách mạng, bồi dưỡng lòng yêu nước.
Thứ ba, Xây dựng và rèn luyện phương pháp và phong cách công tác.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH I
– CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH: trang 33
1. Nhân tố khách quan:
Câu 11: Hãy phân tích nhân tố khách quan hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh? Chỉ ra tiền đề lý luận quan trọng nhất quyết định bản chất
cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh?
1. SV nêu định nghĩa “Tư tưởng Hồ Chí Minh”: nhìn trang 1
2. SV tiến hành phân tích theo yêu cầu của đề bài lOMoAR cPSD| 61591627
1.1. Cơ sở thực tiễn: sách trang 33 (quyết định sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh)
1.1.1. Việt Nam:
Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành xâm lược Việt Nam
Từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX, các phong trào đấu tranh yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược liên tục nổ ra như khởi nghĩa của Trương Định,
Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám,… nhưng cuối cùng đều thất bại ➔ Phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong
kiến đã lỗi thời, lạc hậu.
Sau hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884), thực dân Pháp đã căn bản hoàn thành việc xâm lược và bình định Việt Nam về mặt quân sự. Thông qua đó, chúng tiến
hành các cuộc khai thác thuộc địa (lần thứ nhất: 1897-1914, lần thứ hai: 1919-1929) khiến cho xã hội có sự biến đổi về cơ cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội:
Về kinh tế: duy trì nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 95% dân số là nông dân, giai cấp địa chủ được tăng cường, củng cố
Về xã hội: xuất hiện các giai tầng mới như giai cấp tư sản, giai cấp công nhân và tầng lớp tiểu tư sản thành thị ➔ Đây là cơ sở dẫn đến những mâu
thuẫn mới: mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân với địa chủ phong kiến, giữa công nhân với tư sản và mâu thuẫn giữa toàn bộ dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp.
Đầu thế kỉ XX, trước ảnh hưởng của khuynh hướng dân chủ tư sản ở Trung Quốc (tư tưởng Tam Dân của Tôn Trung Sơn), ở Nhật Bản (cuộc Duy tân
minh trị của Thiên hoàng Minh Trị), tại Việt Nam xuất hiện các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản với sự dẫn dắt của các văn
thân, sĩ phu yêu nước tiến bộ như: Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, phong trào Đông Kinh nghĩa
thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyến và một số nhân sĩ khác phát động,… nhưng vẫn rơi vào thất bại
➔ Giai cấp tư sản Việt Nam còn non yếu (nguyên nhân sâu xa), các tổ chức và người lãnh đạo phong trào chưa có đường lối và phương pháp cách
mạng đúng đắn (nguyên nhân trực tiếp).
(trang 35) Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam đã làm xuất hiện những dấu hiệu mới của một thời đại
mới sắp ra đời. Giai cấp công nhân chịu ba tầng áp bức, bóc lột: thực dân, tư bản, phong kiến nên có tinh thần đấu tranh. Điều này tạo điều kiện cho
Chủ nghĩa Mác – Lênin xâm nhập và truyền bá vào nước.
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và dày công truyền bá Chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước của Việt Nam, thể hiện
qua việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam – chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước thông qua việc lựa chọn con đường cứu nước theo
khuynh hướng vô sản, thắng lợi của Cách mạng tháng 8 (1945), khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, kháng chiến chống Pháp (19461954),
kháng chiến chống Mỹ (1954-1975)
➔ Góp phần bổ sung và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh.
1.1.2. Thế giới:
Cuối TK XIX- đầu TK XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển từ giai đoạn tư do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa thông qua độc quyền. Các
nước tư bản như Anh, Pháp,… đẩy mạnh xuất khẩu tư bản, xâm lược thuộc địa, chi phối tình hình thế giới. Phần lớn các nước Á, Phi và Mỹ Latinh trở
thành thuộc địa và phụ thuộc vào các nước đế quốc.
➔Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trở nên gay gắt đã tạo điều kiện cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác – Lênin ở một nước lớn, đánh đổ giai cấp tư sản và giai
cấp địa chủ phong kiến, lập nên một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa, mở ra một thời đại mới: thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội trên thế giới, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Chủ nghĩa
xã hội, chủ nghĩa cộng sản từ chỗ chỉ là một ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng tháng Mười vĩ đại đã trở thành một hiện thực trong xã
hội, có sức mạnh vô cùng to lớn, lôi cuốn hàng nghìn triệu người vào hành động cách mạng, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.
Quốc tế Cộng Sản ra đời năm 1919 trở thành Bộ tham mưu, lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới, thúc đẩy sự ra đời và hoạt động ngày càng mạnh
mẽ của các đảng cộng sản ở nhiều nước.
➔ Ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh trên hành trình đi ra thế giới tìm mục tiêu và con đường cứu nước.
1.2. Cơ sở lý luận: sách trang 38
1.2.1. Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam: sách trang 38 (Dẫn Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin)
Thứ nhất, Chủ nghĩa yêu nước là giá trị xuyên suốt trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, động lực, sức mạnh giúp cho dân tộc Việt
Nam tồn tại và vượt qua mọi khó khăn trong quá trình dựng nước, giữ nước, phát triển.
➔ Thúc đẩy Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước.
Đến HCM chủ nghĩa yêu nước đã được phát triển lên 1 trình độ cao. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất vì
độc lập, tự do của Tổ Quốc nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ. Ngoài ra, Hồ Chí Minh hết sức chú trọng việc kế thừa, phát triển lOMoAR cPSD| 61591627
các giá trị như: yêu nước gắn liền với yêu dân, có tinh thần đoàn kết, nhân ái, khoan dung trong cộng đồng và hòa hiếu, cần cù, dũng cảm, sáng tạo,
lạc quan, vì nghĩa, thương người của người Việt Nam. “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo
Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Trong chiến dịch chống nạn đói 1945, HCM từng nói “Tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười ngày một lần, tất cả
đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo”. Tinh thần này đã được quán triệt và triển khai với tinh
thần thống nhất cao trong Chính phủ mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
(Một số tục ngữ SV có thể tham khảo:
1. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”
2. “Lá lành đùm lá rách”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng”.
3. “Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.”
4. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.”
5. “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.”………)
HCM quan niệm văn hóa là động lực, mục tiêu của CM. Người luôn chú trọng khơi dậy và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN.
1.2.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại: (phát triển, nâng cấp quan điểm của Hồ Chí Minh lên một bước tiến lớn)
- Tinh hoa văn hóa phương Đông: trang 40
Câu 12: Hãy phân tích những tinh hoa văn hóa phương Đông góp phần hình thành nên Tư tưởng Hồ Chí Minh?
Về Nho giáo: Hồ Chí Minh kế thừa và đổi mới tư tưởng dùng nhân trị, đức trị để quản lý xã hội; kế thừa và phát triển về việc xây dựng một xã hội lý
tưởng trong đó công bằng, bác ái, nhân, nghĩa, trí, dũng, tín, liêm được coi trọng; kế thừa, đổi mới, phát triển tinh thần trọng đạo đức trong việc tu
dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.
(“Lời nói chẳng mất tiền mua”, “Công dung ngôn hạnh”, “Tam tòng tứ đức”,…)
Xài được thì xài (Về tư tưởng và văn hóa phương Đông, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo về triết lý hành động, nhân nghĩa,
ước vọng về một xã hội bình trị,hòa mục, thế giới đại đồng; về một triết lý nhân sinh, tu thân, tề gia; đề cao văn hóa trung hiếu "dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh".
Người nói: "Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học"
. Người dẫn lời của V.I. Lênin: "Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái đượcnhững điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại"
.Về Phật giáo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn; coi trọng tinh thần bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp, chăm
lo điều thiện, v.v..
Về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh tìm thấy những điều thích hợp với điều kiện nước ta, đó là dân tộc độc lập, dân quyền tự do
và dân sinh hạnh phúc.
Về tư tưởng và văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu tiếp thu tư tưởng văn hóa dân chủ và cách mạng của cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ.
Về tư tưởng dân chủ của cách mạng Pháp, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng của các nhà khai sáng: Vônte (Voltaire), Rútxô (Rousso), Môngtexkiơ
(Moutesquieu). Đặc biệt, Người chịu ảnh hưởng sâu sắc về tư tưởng tự do, bình đẳng của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của Đại cách mạng Pháp)
Về Phật giáo: Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển tư tưởng từ bi, vị tha, yêu thương con người, khuyến khích làm việc thiện, chống điều ác, đề cao quyền
bình đẳng của con người và chân lý; sống hòa đồng, gắn bó với đất nước.
Về Lão giáo: Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển tư tưởng của Lão Tử, đó là việc sống gắn bó với thiên nhiên, hòa đồng với thiên nhiên và biết bảo vệ
môi trường sống; tư tưởng thoát khỏi mọi ràng buộc danh vọng.
Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn kế thừa phát triển nhiều ý tưởng của Mặc Tử, Hàn Phi Tử,… chủ nghĩa Găngđi, chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn,....
- Tính hoa văn hóa phương Tây:
Câu 13: Hãy làm rõ những yếu tố Tây phương mà có tác động trong việc hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh?
Thứ nhất, kế thừa những khẩu hiệu nổi tiếng trong các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ như khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng – Bác ái của Cách
mạng Pháp năm 1789,… lOMoAR cPSD| 61591627
Thứ hai, kế thừa những quan điểm về nhân quyền trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của
Pháp, từ đó đề xuất những quan điểm về quyền mưu cầu độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc,
Thứ ba, Hồ Chí Minh đã hoạt động thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa nhân loại tại các trung tâm chính trị, kinh tế, văn
hóa lớn như Mỹ, Nga,…
Thứ tư, Chủ nghĩa Mác – Lênin
1.2.3. Chủ nghĩa Mác – Lênin: (quyết định bản chất cách mạng, khoa học)
Chủ nghĩa Mác – Lênin chính là cơ sở lý luận quyết định bước phát triển nhảy vọt về chất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1927, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã viết: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” . Theo Người, chủ nghĩa Mác - Lênin không
những là cái “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa cộng sản. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn
nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin.” Qua đó khẳng định được tính cách mạng và nhân văn sâu sắc.
Chủ nghĩa Mác – Lênin là thế giới quan, phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động cách mạng, là tiền đề lý luận quan trọng nhất, có vai trò quyết
định trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.. Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thế giới quan, phương
pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt “hòn đá tảng” những vấn
đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý mọi việc. Những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng nằm trong những
phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể
của Việt Nam. Những cống hiến đó có được trước hết do Người đã nắm được bản chất cốt lõi, “linh hồn sống” trong tư tưởng của các nhà kinh điển
Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật.
…..Bác Hồ đã khẳng định: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng - mà không phải chỉ nhân dịp kỷ
niệm lần thứ 100 ngày sinh Lênin -chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác – Lênin”
➔ Hồ Chí Minh không những vận dụng sáng tạo, mà còn bổ sung, phát triển và làm phong phú thêm Chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại mới.
“Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, tại Đại hôi XIII (tháng 1-2021) của Đảng, Ṭ ổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện
và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những
năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.
2. Nhân tố chủ quan: sách trang 47
Câu 14: Những phẩm chất và năng lực nào của Hồ Chí Minh đã góp phần vào quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh?
2.1. Phẩm chất của Hồ Chí Minh: sách trang 47
Thứ nhất, Hồ Chí Minh là người có lý tưởng cao cả và hoài bão lớn cứu dân, cứu nước thoát khỏi cảnh lầm than, cơ cực để theo kịp các nước
tiên tiến trên thế giới. “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,
đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”
Thứ hai, Người là người có bản lĩnh tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, giàu tính phê phán, đổi mới và cách mạng. Mặc dù vô cùng kính trọng và
rất khâm phục các bậc tiền bối, nhưng người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành không tán thành các con đường cách mạng của họ. Các cuộc
khởi nghĩa, các phong trào đấu tranh theo những khuynh hướng khác nhau với tinh thần “lớp trước ngã xuống, lớp sau tiến lên” nhưng đều đi đến
thất bại. Sự nghiệp cứu nước và giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc và bế tắc về đường lối. Người
thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã không tư duy theo lối mòn, rập khuôn, máy móc, mà xuất phát từ lòng yêu nước chân chính, tính mẫn cảm
với thời cuộc, có tư duy tự chủ, nhạy bén nên quyết tâm đi tìm một con đường cách mạng mới, đầy táo bạo cho dân tộc Việt Nam. Trả lời nhà thơ, nhà
báo người Nga Osip Mandelstam, Người nhấn mạnh: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái.
Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn
tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”.
Thứ ba, Người có tầm nhìn chiến lược, bao quát thời đại, đã đưa cách mạng Việt Nam vào dòng chảy chung của cách mạng thế giới. Với tầm
nhìn rộng mở, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trở thành người cộng sản, chiến sĩ quốc tế xuất sắc, tìm thấy con đường cứu nước
duy nhất đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Quyết định sang Pháp là một quyết định có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ tầm nhìn rộng mở, sẵn sàng tìm hiểu
và học hỏi thế giới phương Tây, tiếp xúc, tiếp thu nền văn minh, tinh hoa trí tuệ của nhân loại. Người tham gia nhiều sự kiện lớn của thế giới, ủng hộ
các cuộc cách mạng xã hội, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc và tham gia các buổi diễn thuyết của nhiều nhà chính
trị và triết học; tiếp xúc văn hóa và các danh nhân văn hóa, chính trị của Pháp, tiếp xúc với những tư tưởng nhân đạo, nhân văn qua văn học Pháp,
Nga, Anh, Mỹ,… Tại Pa-ri (lúc này được coi là “trung tâm liên minh thế giới của bọn đế quốc”), Người đã có một bước phát triển mới trong nhận
thức về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc khi tiếp nhận ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917. Người đã tiếp thu tư
tưởng tiến bộ từ các nước lớn của phương Tây, như Mỹ, Anh, Pháp để tạo nên mô hình thể chế chính trị tương lai cho đất nước. Đó là mô hình Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thể chế chính trị Việt Nam dân chủ cộng hòa là mô hình nhà nước mà ở đó, quyền lực thuộc về nhân dân, một thể lOMoAR cPSD| 61591627
chế chính trị - xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mô hình thể chế đó là động lực, là ngọn cờ thôi thúc toàn thể dân tộc Việt Nam vùng
lên làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xác lập một thể chế chính trị - xã hội mới, vì mục tiêu
độc lập dân tộc, dân quyền và dân sinh, tự do, hạnh phúc.
Thứ tư, Người là người suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân, là người suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng
Sản Việt Nam và của cách mạng thế giới. “Trung với nước hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội,
nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa
là định hướng chính trị-đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.
2.2. Tài năng hoạt động, tổng kết thực tiễn phát triển lý luận: trang 48
Thứ nhất, Hồ Chí Minh là người có vốn sống và thực tiễn cách mạng phong phú, phi thường qua quá trình hoạt động cách mạng của Người.
(chép đoạn trang 38). HCM là hiện thân của chu trình “Thực hành sinh ra hiểu biết - Hiểu biết tiến lên lý luận - Lý luận lãnh đạo thực hành”. Từ ngày
rời Tổ quốc, Nguyễn Tất Thành đã đi qua Pháp, nhiều nước châu Phi ven biển Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, đã từng sống ở Mỹ, ở Anh. Người đã
chứng kiến tình hình thực tế của xã hội tư bản:
“Ở Pháp cũng có người nghèo như bên ta!”
“Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ”.
Tiếp thu tư tưởng của Lênin về mối quan hệ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa, trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn
Ái Quốc đã viết: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản
ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi”
Thứ hai, Người thấu hiểu về phong trào giải phóng dân tộc, về xây dựng chủ nghĩa xã hội, về xây dựng Đảng Cộng Sản,… Năm 1919, Người
gia nhập Đảng Xã hội Pháp vì nhận thấy “đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại
cách mạng Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái”. Thấy rõ tâm địa thực dân, trước tình cảnh thảm thương của các dân tộc thuộc địa, đã thôi thúc Người
tiếp tục suy tìm những hình thức và con đường mới để đạt được mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc, thủ tiêu tình trạng bất bình đẳng, ách áp bức dân tộc và giai cấp
Thứ ba, Hồ Chí Minh là nhà tổ chức vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Người đã hiện thực hóa tư tưởng, lý luận cách mạng thành hiện thực
sinh động; đồng thời tổng kết cách mạng, bổ sung, phát triển lý luận, tư tưởng cách mạng. Cùng với việc tìm thấy mục tiêu, phương hướng cách
mạng Việt Nam ở chủ nghĩa Mác - Lênin, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp; chuẩn bị về nhiều mặt cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam – tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam theo chủ nghĩa Mác - Lênin. Người sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất; sáng lập Quân đội nhân dân
Việt Nam; khai sinh Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam.
II – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH: trang 50
Câu 15: Trình bày quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh?
1. Thời kỳ trước năm 1911 (5/6/1911): Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng tìm đường cứu nước mới:
Câu 16: Tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh trước khi ra đi tìm đường cứu nước dựa trên những cơ sở nào?
Tư tưởng của Hồ Chí Minh được hình thành xuất phát từ những tiền đề sau:
Thứ nhất, tiếp thu truyền thống tốt đẹp của quê hương: Hồ Chí Minh là người con của vùng đất Nghệ An – vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền
thống yêu nước. Đây cũng là nơi sản sinh ra rất nhiều những nhân tài và anh hùng yêu nước trong lịch sử với tấm lòng yêu nước, thương dân, đấu tranh
kiên cường, bất khuất như Phan Bội Châu,,..
Thứ hai, tiếp thu truyền thống tốt đẹp của gia đình: Hồ Chí Minh được sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Cha là cụ Nguyễn Sinh Sắc, từng
đỗ phó Bảng và đã làm quan, nhưng ông luôn dạy con của mình “đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà ta” ➔ chính tinh thần yêu nước,
thương dân và nhân cách của cụ Nguyễn Sinh Sắc có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng và nhân cách của Bác thuở niên thiếu.
Mẹ là cụ Hoàng Thị Loan, một người mẹ Việt Nam điển hình với đức tính nhân hậu, tần tảo, đảm đang, luôn nhân hậu với bà con làng xóm ➔ tình
cảm của cụ đã ảnh hưởng đến Bác thông qua sự nhân hậu và mẫn cảm của mình.
Thứ ba, tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc: thông qua quá trình theo học với các vị túc nho và tiếp xúc với nhiều loại sách, báo tiến bộ, sớm hình
thành tình thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm. Điển hình là Bác tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ (1908), tham gia giảng dạy tại trường
Dục Thanh – Phan Thiết.
➔ Chính những điều này đã thôi thúc Bác tìm hiểu sự thật đằng sau sức mạnh của kẻ thù và học hỏi kinh nghiệm của cách mạng thế giới. Do đó, Bác
đã ra đi tìm đường cứu nước ngày 5/6/1911.
2. Thời kỳ 1911-1920 (6/6/1911-30/12/1920): Hình thành tư tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản (bắt đầu
ra đi tìm đường cho đến phát hiện con đường cứu nước).
Câu 17: Tư tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành dần dần qua các sự kiện nào? lOMoAR cPSD| 61591627
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản được hình thành từng bước trong quá trình Bác ra đi tìm
đường cứu nước. Cụ thể, đó là quá trình Bác học tập, sinh sống, làm việc, nghiên cứu lý luận và tham gia đấu tranh trong thực tiễn tại các nước trên thế giới:
+ Thứ nhất, từ năm 1911-1917, Người đi qua nhiều nước trên thế giới ➔ phát hiện được bản chất, thủ đoạn, tội ác của chủ nghĩa thực dân và tình cảnh
nhân dân của thuộc địa. Sự thất bại của các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục của cuộc vận động Duy Tân và phong trào chống thuế ở các
tỉnh Trung Kỳ đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành hướng về các nước phương Tây, mong muốn được đến tìm hiểu xem những gì ẩn giấu đằng sau những
từ “tự do”, “bình đẳng”, “bác ái”? Sau một thời gian sống và hoạt động ở nước ngoài, chứng kiến cuộc sống của nhân dân lao động ở nhiều nước
trên nhiều châu lục, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận quan trọng: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột
và giống người bị bóc lột”
Trong tác phẩm Chính sách thuộc địa (Theo báo cáo của mật thám Pháp ngày 13-12-1920, đây là bài báo Nguyễn Ái Quốc viết cho báo Nhân đạo (L’
Humanité)) Người đã sớm đưa ra câu trả lời “Nước Pháp thì, núp sau lá cờ ba sắc tự do, bình đẳng, bác ái, đang đưa vào các thuộc địa của nó rượu,
thuốc phiện, mại dâm và gieo rắc nghèo đói, lụn bại và chết chóc cho dân bản xứ bên cạnh sự giàu sang kiếm được bằng cách bất lương của nó”
➔ Rút ra kết luận:, nhân dân lao động các nước đều bị bóc lột có thể là bạn của nhau; chủ nghĩa đế quốc, bọn thực dân cũng đều là kẻ bóc lột, kẻ thù
của nhân dân lao động.
+ Thứ hai, Người trở lại Pháp năm 1917, tham gia phong trào chống chủ nghĩa thực dân.
+ Thứ ba, Người gia nhập Đảng Xã Hội của giai cấp công nhân Pháp năm 1919 vì Người cho rằng đây là tổ chức bênh vực quyền lợi cho nhân dân lao
động và theo đuổi lý tưởng của Đại Cách Mạng Pháp: Tự do, bình đẳng, bác ái.
+ Thứ tư, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước ở Pháp, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc gửi Yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội nghị Véc-
xây ngày 18/6/1919 để đòi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân ➔ Tuy thất bại nhưng nó đã gây nên một tiếng vang lớn đối với phong trào giải phóng
dân tộc trên thế giới, đánh dấu bước nhận thức mới về quyền tự do, dân chủ của nhân dân.
+ Thứ năm, Người tìm thấy phương hướng đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản qua nghiên cứu Sơ thảo lần thứ
nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin tháng 7/1920. Người cho rằng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc,
không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản; vấn đề độc lập dân tộc ở Việt Nam phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Người nói: “Luận
cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi
nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải
phóng chúng ta”! Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.
+ Thứ sáu, Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng Sản (Quốc tế thứ III) tại địa hội Tua ngày 30/12/1920, tham gia sáng lập Đảng Cộng Sản Pháp
➔ Bước đánh dấu chuyển từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng sản, Người trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Như vậy, từ năm 1911 đến năm 1920, là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc khảo sát, nghiên cứu để lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách
nô lệ của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Như vậy, sau năm 1920 đã đánh dấu một bước chuyển biến quyết định, bước nhảy vọt, thay đổi về chất
trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người: Từ lòng yêu nước nồng nàn, ý thức dân tộc sâu sắc, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa
Mác - Lênin. Nhắc lại sự kiện này, Hồ Chí Minh đã viết: “Cá nhân tôi, từ lúc đầu nhờ được học tập truyền thống cách mạng oanh liệt và được rèn
luyện trong thực tế đấu tranh anh dũng của công nhân và của Đảng Cộng sản Pháp, mà tôi đã tìm thấy chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, đã từ một
người yêu nước tiến bộ thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa”.
3. Thời kỳ 1920-1930 (31/12/1920-3/2/1930): Hình thành những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam (Tích cực hoạt động
cho sự ra đời Đảng):
Câu 18: Tại sao nói đến năm 1930, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam cơ bản đã được hình thành?
- Khái quát về định nghĩa: “Tư tưởng Hồ Chí Minh”: trang 1
- Trình bày những cơ sở hình thành “Tư tưởng Hồ Chí Minh” (có thể trình bày ngắn gọn): trang 4
- Trình bày, giải thích quá trình hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1920-1930:
Những năm bôn ba, lăn lộn trong phong trào yêu nước, phong trào công nhân “chính quốc” và các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã mở rộng quan hệ
xã hội và tri thức của mình. Nhờ thông hiểu nhiều ngoại ngữ và giao tiếp rộng với nhiều bạn bè quốc tế mà Người tiếp thu được kiến thức cổ, kim,
đông, tây, nắm được cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin. Do tích cực tham gia các hoạt động quốc tế và các buổi sinh hoạt lý luận bàn về chiến lược
sách lược cách mạng thế giới, qua thực tiễn công tác, tổng kết kinh nghiệm nhiều cuộc cách mạng, Hồ Chí Minh đã tích lũy được nhiều tri thức cách
mạng, dần dần trong tư duy của Người hình thành nên một luận điểm đúng đắn: Giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp vô sản và các
dân tộc thuộc địa, giải phóng nhân loại. Cũng từ đó, lý luận, chiến lược cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đã từng bước hình
thành trong tư duy Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam cơ bản được hình thành trong giai đoạn 1920-1930 vì đây là thời kỳ mục tiêu, phương hướng cách
mạng giải phóng dân tộc Việt Nam từng bước được cụ thể hóa, thể hiện rõ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Có thể
khái quát theo các nội dung sau:
+ Thứ nhất, thông qua quá trình hoạt động cách mạng của Bác: lOMoAR cPSD| 61591627
Hồ Chí Minh sử dụng báo chí như là một công cụ để lên án chủ nghĩa thực dân Pháp, thức tỉnh lương tri, khơi gợi lòng yêu nước của nhân dân các dân
tộc bị áp bức và kêu gọi sự đồng tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Một số tờ báo như: báol’Humanité, báo Le Paria,…
Hồ Chí Minh tham gia sáng lập Hội Liên Hiệp thuộc địa năm 1921, Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông tháng 8/1925 +
Thứ hai, thông qua quá trình truyền bá tư tưởng của Chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam:
Việc đẩy mạnh được Bác tiến hành thông qua báo chí và các hoạt động thực tiễn. Phương hướng cách mạng Việt Nam được Bác cụ thể hóa một bước
trên cơ sở phân tích sâu sắc bản chất, thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân Pháp thông qua các tờ báo của Đảng Cộng Sản Pháp, Đảng Cộng sản Liên Xô,..
Đặc biệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Phápnăm 1925
Bác sáng lập tổ chức tiền thân của Đảng Cộng Sản: Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tháng 6/1925 nhằm từng bước truyền bá lý luận giải phóng
dân tộc cho giai cấp công nhân Việt Nam…..(chép trang 55)
HCM chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản VN thành Đảng Cộng sản VN thông qua các văn kiện do Người khởi thảo (vào đầu năm 1930).
Các văn kiện này được coi là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản VN….. (chép trang 56). Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời năm 1930
với Cương lĩnh đúng đắn, sáng tạo đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo cách mạng Việt Nam kéo dài từ cuối thế
kỉ XIX đến năm 1930.
➔ Đây là giai đoạn cho thấy sự đúng đắn, sáng tạo, thực tiễn, khoa học trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện trên các nội dung sau:
+ Cách mạng Việt Nam phải có Đảng Cộng Sản với chủ nghĩa Mác – Lênin làm cốt để lãnh đạo.
+ Lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc là toàn thể nhân dân Việt Nam, trong đó nòng cốt là liên minh công nông
+ Mục tiêu và con đường cách mạng là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội)
+ Khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
+ Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới,
+ Con đường cách mạng được vạch rõ thông qua cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng, xác định cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
+ Phương pháp cách mạng: dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.
= > HCM thành lập Đảng ….(chép trang 57).
4. Thời kỳ 1930-1941 (4/2/1930-28/1/1941): Vượt qua thử thách, giữ vững đường lối, phương pháp cách mạng Việt Nam đúng đắn, sáng tạo:
Câu 19: Hãy chỉ ra những khó khăn, thách thức mà Hồ Chí Minh đã gặp phải trong quá trình giữ vững sự đúng đắn, sáng tạo của Cương lĩnh chính trị năm 1930?
Hồ Chí Minh đã gặp phải 2 khó khăn thách thức chính trong quá trình giữ vững lập trường, quan điểm tại Đại hội thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1930:
- Thứ nhất, thách thức từ phía kẻ thù:
+ Hồ Chí Minh bị bắt giam tại nhà tù thực dân Anh tại Hồng Kông và thoát ra năm 1934 nhờ sự giúp đỡ của Luật Sư Lôdơbi. Sáng sớm ngày 6-61931,
Nguyễn Ái Quốc với thẻ căn cước mang tên Tống Văn Sơ bị một sĩ quan Anh và mấy cảnh sát Trung Quốc ập vào nơi ở số nhà 186 Tam Kung (Cửu
Long - Hương Cảng) bắt giải về Sở Cảnh sát Hongkong. Chúng vu cáo cho Người tội làm tay sai của Liên Xô, có âm mưu phá hoại chính
quyềnHongkong. Người bị giam trong nhà tù của đế quốc Anh ở Hongkong.
+ Bác đã gặp phải sự truy lùng gắt gao của thực dân Pháp và chủ nghĩa thực dân: 6/6/1931, Bác bị sĩ quan Anh và cảnh sát Trung Quốc bắt tại Hồng
Kông. Tháng 8-1932, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Hương Cảng để tránh mật thám Pháp đang rình bắt Người. Người định đi Anh nhưng vừa đặt chân
đến Singapoređã bị bắt và trả về Hongkong. Lấy cớ Người đi vào thuộc địa không có giấy phép,nhà cầm quyền Hương Cảng lại bắt giam Người một
lần nữa vào ngày 19-1-1933.Nguyễn Ái Quốc được thả tự do nhờ sự giúp đỡ của Luật sư Lôdơbi thu xếp vào ở trong ký túc xá của Hội những người
Thiên chúa giáo trẻ Trung Quốc (YMCA) chờ dịp rời Hongkong
+ Bác tiếp tục bị báo chí của Pháp phao tin chết vì bệnh lao trong nhà tù Hồng Kông, khiến cho nhiều đảng viên hoang mang. Sau gần hai năm bị bắt
giam, nhờ sự đấu tranh kiên trì và khéo léo của mình,sự can thiệp của các tổ chức quốc tế sự giúp đỡ tận tình của vợ chồng Luật sư Lôdơbi và một số
cá nhân tiến bộ khác, đồng chí Nguyễn Ái Quốc được trả lại tựdo hoàn toàn. Sau đó, Người sang Liên Xô. Sau khi Tống Văn Sơ thoát khỏi Hương
Cảng, luật sư Lôdơbi vẫn chưa yên tâm nên ông liền nghĩ ra một “diệu kế” là tung tin lãnh tụ An Nam Nguyễn Ái Quốc chết trong bệnh viện ở Hương Cảng.
- Thứ hai, thách thức từ trong nội bộ của Quốc tế Cộng Sản:
+ Sự nhìn nhận sai lầm từ một số người trong Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng Sản Đông Dương do chịu ảnh hưởng từ quan điểm giáo điều tả khuynh
xuất hiện trong Đại hội VI Quốc tế Cộng Sản lOMoAR cPSD| 61591627
+ Tư tưởng mới mẻ, đúng đắn, sáng tạo của Bác không được hiểu mà còn bị coi là “hữu khuynh”, “dân tộc chủ nghĩa”. (Điều này được thể hiện bằng
việc Đảng Cộng Sản Đông Dương quyết định “thủ tiêu Chánh cương, Sách lược và Điều lệ Đảng”, “bỏ tên Đảng Cộng Sản Việt Nam do Bác sáng lập)…..trang 58
+ Trong 4 năm từ 1934-1938: Bác vẫn bị hiểu lầm về một số hoạt động thực tế và quan điểm cách mạng.
Tuy gặp nhiều thách thức như thế, Hồ Chí Minh đã vượt lên trên tất cả bằng ý chí và nghị lực kiên cường của mình nhằm bảo vệ Tư tưởng Hồ Chí Minh:
- Ngày 6/6/1938, Bác đã gửi thư cho một lãnh đạo Quốc tế Cộng sản, đề nghị cho phép trở về nước hoạt động. (SV có thể trích dẫn thêm lời đề nghị
của Hồ Chí Minh Tr.58,59)
- Tháng 10/1938, Bác rời Liên Xô, qua Trung Quốc để về Việt Nam
- Tháng 12/1940, Bác về gần biên giới Việt Nam – Trung Quốc, liên lạc với Trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương và trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.
- Đặc biệt, Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng Cộng Sản Đông Dương khẳng định, trở thành yếu tố chỉ đạo cách mạng Việt Nam từ Hội nghị Trung
ương Đảng lần thứ Tám tháng 5/1941.
Trong hội nghị này, Bác xác định: trang 59, 60.
+ Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn
đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng.”
+ Tạm thời gác lại khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chủ trương thành lập Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,,,, +
Lập Mặt trận Việt Minh.
+ Thực hiện đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công – nông là nòng cốt.
+ Xác định được phương hướng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. ………
➔ Những quan điểm cơ bản nhất về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam của Hồ Chí Minh đã được đưa vào thực tiễn tổ chức nhân dân
biến thành các phong trào cách mạng để dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
5. Thời kỳ 1941-1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta (trực tiếp lãnh đạo CMVN):
Câu 20: Hãy nêu một số giá trị mà Tư tưởng Hồ Chí Minh đã góp phần trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945?
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã nhiều lần được bổ sung, phát triển. Trong thời kì này, TTHCM và đường lối của Đảng cơ bản là thống nhất. Cụ thể, Bác đã
đưa ra nhiều quan điểm sáng tạo, đi trước thời gian, càng ngày càng được Đảng ta làm sáng tỏ và tiếp tục phát triển soi sáng con đường cách mạng Việt Nam:
- Từ năm 1941-1945: TTHCM soi sáng cho con đường giành độc lập cho dân tộc Việt Nam
+ 19/5/1941: Hồ Chí Minh sáng lập ra Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, không phân biệt dân tộc, giai cấp, đảng phái, tôn
giáo v.v... nhằm đoàn kết mọi lực lượng yêu nước chống đế quốc giành độc lập dân tộc. Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ 8 và Chương trình
của Việt Minh cùng với Kính cáo đồng bào của Hồ Chí Minh ngày 6-6-1941, là những chủ trương, chính sách hợp lòng dân đã quy tụ toàn dân dưới
ngọn cờ của Đảng do Hồ Chí Minh lãnh đạo, đưa Cách mạng tháng Tám 1945 đến thắng lợi.
+ 22/12/1944: Sáng lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.
+ 18/8/1945: Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
+ 1945: Cách mạng Tháng 8 thành công lật đổ chế độ phong kiến hơn nghìn năm, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp hơn 80 năm
+ 2/9/1945: tại Quảng Trường Ba Đình, Bác đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. ➔ Đánh dấu một thời đại
mới trong lịch sử dân tộc: thời đại độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Từ 2/9/1945-19/12/1946: TTHCM giúp Việt Nam vượt qua giai đoạn ngàn cân treo sợi tóc.
- Từ năm 1946-1954: Hồ Chí Minh là linh hồn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp:
+ Ngày 19/12/1946: Người ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, khái quát đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa là lời thề thiêng liêng
bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam. “Thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”
+ Hoàn thiện lý luận cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và từng bước hoàn thành tư tưởng về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. lOMoAR cPSD| 61591627
- Từ năm 1954-1969: Hồ Chí Minh xác định và lãnh đạo thực hiện đường lối cùng một lúc thi hành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam:
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam
+ Hồ Chí Minh bổ sung hoàn thiện hệ thống quan điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa,
đạo đức, đối ngoại. (chép đoạn cuối trang 64, đầu 65)
+ Người để lại bản Di chúc, một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh tư tưởng, trí tuệ, tâm hồn, văn hóa, đạo đức, phong cách của một nhà lãnh tụ cách
mạng, anh hùng dân tộc vĩ đại, nhà tư tưởng lỗi lạc, nhà văn hóa kiệt xuất, suốt đời, vì dân, vì nước. (chép thêm đoạn 2 trang 64).
- Từ năm 1969 đến nay: TTHCM tiếp tục được Đảng Cộng Sản Việt Nam vận dụng và phát triển trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. (chép đoạn cuối trang 64).
III – GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH: sách trang 65
Câu 21: Hãy làm sáng tỏ ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và sự tiến bộ của nhân loại, thế giới?
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã mang lại những giá trị tốt đẹp đối với cách mạng Việt Nam và sự hạnh phúc, tiến bộ của nhân loại, thế giới:
1. Đối với cách mạng Việt Nam:
- Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh đưa cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đến thắng lợi và bắt đầu xây dựng một xã hội mới trên đất nước ta:
Sự lựa chọn con đường cách mạng của Người phù hợp với yêu cầu của lịch sử dân tộc, là sự lựa chọn đúng đắn duy nhất của Việt Nam vào thời điểm
cách mạng đó. Ngày 3-2-1930, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng yêu cầu tất yếu của lịch sử.
Hồ Chí Minh tìm thấy con đường cứu nước mới cho dân tộc Việt Nam, sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta thành một đảng chân chính, toàn tâm,
toàn ý phục vụ nhân dân và lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc và tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc: ❖
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã phát huy truyền thống đại đoàn kết dân
tộc, tiến hành ba cao trào cách mạng, làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sự thắng lợi của Cách mạng Tháng tám năm
1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa. ❖
Tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), thắng lợi đánh dấu bằng chiến thắng Điện Biên Phủ, buộc Pháp phải ký hiệp định
Giơ-ne-vơ (21/7/1954), tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam và rút hết quân về nước. Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lập nên kỳ tích Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn
động địa cầu”; đưa đến ký kết Hiệp định Genève vào năm 1954, lập lại nền độc lập, hòa bình ở Việt Nam. ❖
Tiến hành 2 nhiệm vụ từ năm 1954-1975: lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bác và cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dânở miền Nam chống đế quốc Mĩ. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, ra sức đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương
lớn cho miền Nam; miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Toàn thể dân tộc Việt Nam “giương cao mãi mãi ngọn cờ
độc lập dân tộc, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước để thỏa lòng mong ước của
Người”. Với quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam một lần nữa anh dũng chiến đấu, lập nên
chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt
Nam. Tiếp đến là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tiến tới giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
➔ Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ tư tưởng dẫn đường cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, khẳng định sự đúng
đắn và sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh. …trang 65, 66
- Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục soi đường cho Đảng Cộng Sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam trên con đường thực hiện mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh: ❖
Giúp Đảng và nhân dân nhận thức đúng những vấn đề lớn có liên quan đến việc bảo vệ nền độc lập dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, đảm
bảo tự do và hạnh phúc cho con người ❖
Giúp Đảng vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn nhằm giúp cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi…… “Kiên định, vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, tại Đại hôi XIII (tháng 1-2021) của Đảng, Ṭ ổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng
định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận
về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực
hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả
sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. ❖
Sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước (1975 - 1986), dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ
sâu thẳm mệnh lệnh trái tim của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta “đổi mới hay là chết”, Đảng ta đã khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước.
Song, đổi mới như thế nào, con đường, cách thức ra sao là những câu hỏi đặt ra trong thời điểm đó. Đại hội VI (tháng 12-1986) của Đảng nhấn mạnh: lOMoAR cPSD| 61591627
“Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và
lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng ta chỉ rõ phải: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh” và khẳng
định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991): “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và
thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”. Sự khẳng định đó cho thấy vai trò to lớn, giá
trị lịch sử và ý nghĩa hết sức quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam trước đây, cũng như đối với công cuộc đổi mới, xây
dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay; thể hiện bước phát triển mới trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn
về nền tảng tư tưởng của Đảng ta, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới
quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời, bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu
tranh phản bác những những luận điệu sai trái, phản động, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
2. Đối với sự phát triển tiến bộ của nhân loại:
- Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần mở ra cho các dân tộc thuộc địa con đường giải phóng dân tộc gắn với sự tiến bộ xã hội:
+ Cống hiến lý luận lớn đầu tiên là về cách mạng giải phóng dân tộc, trong đó:
• Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản, được tiến hành bởi toàn dân với liên minh công nông làm
nòng cốt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản. Người nhấn mạnh, “... trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo
của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước
trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới…, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”
• Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc
• Cách mạng giải phóng dân tộc được tiến hành bằng phương pháp bạo lực của quần chúng nhân dân: kết hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh
vũtrang sao cho linh hoạt, phù hợp.
+ Góp phần bổ sung, phát triển kho tàng của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là về vấn đề thuộc địa.
❖ Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tại Việt Nam
❖ Sự thắng thế của phong trào giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX, làm phá sản chiến lược toàn cầu của Mĩ, với hơn 100 quốc gia mới được hình
thành ở Á – Phi – Mỹ Latinh.
❖ Thế kỷ XX trở thành thế kỷ giải trừ chủ nghĩa thực dân.
❖ Năm 1975, thắng lợi của nhân dân Mô-dăm-bích và Ăng-go-la đánh dấu chủ nghĩa thực dân cũ ở Châu Phi cơ bản tan rã. ❖ ………..
- Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc dân tộc, dân chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển trên thế giới:
+ Khẳng định hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại, mở đường cho sự phát triển, liên kết các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, dân chủ,
hòa bình, hợp tác và tiến bộ xã hội: Trong nhiều bài phát biểu, trả lời phỏng vấn sau khi nước Việt Nam giành được độc lập cũng như trong thời kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ trên thế giới; hợp tác với
mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam... Trong Lời tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Chính phủ
các nước trên thế giới, ngày 14-1-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao
với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây
đắp dân chủ thế giới”.
• Gắn cách mạng Việt Nam với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế. Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập
và rèn luyện, ngay từ khi ra đời đã giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa quốc tế vô sản, đề ra nhiệm vụ đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới, với các
dân tộc bị áp bức, coi đó là một nguyên tắc, một trong những nhân tố quyết định thành công của cách mạng Việt Nam.
• Hợp tác quốc tế không những vì độc lập dân tộc mà còn là vì để xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, tiến kịp với sự phát triển của nhân loại. Trong thời kỳ đổi
mới và hội nhập quốc tế, Đảng xác định củng cố sự đoàn kết với các phong trào cách mạng các nước, đồng thời nắm vững phương châm ngoại giao
linh hoạt, có nguyên tắc trên tinh thần Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, hợp tác và
phát triển; nhất quán coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, tiếp tục đoàn kết, ủng hộ các phong trào cách mạng, các xu
hướng và trào lưu tiến bộ của thời đại vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; nêu cao nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự lực tự
cường, phát huy sức mạnh dân tộc, sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở sức mạnh bên trong vừa tranh thủ
và tận dụng sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các lực lượng bên ngoài.
Thực thi đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng,
góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 188/193 quốc gia thành viên
Liên hợp quốc, là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 16 nước, đối tác toàn diện với
11 nước… Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ trên thế gới. lOMoAR cPSD| 61591627
• Hợp tác quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng cùng có lợi.
❖ Theo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã nêu lên chính
sách đối ngoại: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh
❖ Theo Hồ Chí Minh, chủ trương “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” là nội dung lớn trong đường lối thực hiện
chính sách ngoại giao, đoàn kết quốc tế. ❖ …………..
CHƯƠNG 3: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
A. ĐỘC LẬP DÂN TỘC:
I – LÝ LUẬN:
Câu 22: Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc? (Phân tích cả 4 đặc điểm) : trang 73
1. Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc:
Thứ nhất, Hồ Chí Minh tiếp cận quyền độc lập tự do từ chân lý thời đại đã được các nước lớn thừa nhận: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng:
“Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc... Hễ một dân tộc đã kiên quyết đứng lên đấu tranh cho tổ quốc họ thì không ai, không lực lượng gì
chiến thắng được họ …”
_ Chép câu đầu tiên trang 74…Người nói rằng: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”. -
“Quyền sống”, “Quyền bình đẳng”, “Quyền sung sướng” và “Quyền tự do” đều là quyền của con người, là “những quyền mà không ai có
thể xâm phạm được” đã được ghi nhận trong các văn bản quốc tế như “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ năm 1776 và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân
quyền” của Pháp năm 1791. -
Quyền con người được hiểu là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia
và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
➔ Tức là, đây đều là những quyền mà được cả thế giới trong đó có cả những nước lớn công nhận và đồng tình. -
Hồ Chí Minh đã cho thấy sự hình thành tư tưởng về quyền tự do và bình đẳng khi thay mặt những người Việt Nam yêu nước gửi tới Hội nghị
Vécxây bản Yêu sách của nhân dân An Nam, bao gồm 8 điểm với hai nội dung chính là đòi quyền bình đẳng về mặt pháp lý và đòi các quyền tự do,
dân chủ của người dân Đông Dương.
Thứ hai, Hồ Chí Minh phát triển và suy rộng từ những quyền của con người và tinh hoa của thế giới thành những quyền mà mọi dân tộc đều
phải được hưởng. Đó là quyền bình đẳng, quyền độc lập, quyền tự do, quyền hạnh phúc, “đó là những lẽ không ai chối cãi được”.
Thứ ba, Khát vọng được hưởng độc lập và tự do là khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Trong đó, Hồ Chí Minh khẳng định khát vọng của cá
nhân cũng là khát vọng của dân tộc Việt Nam: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.
Thứ tư, Hồ Chí Minh khẳng định độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân là vấn đề xuyên suốt trong phong trào cách mạng Việt Nam: -
Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng (năm 1930), Hồ Chí Minh xác định mục tiêu chính của cách mạng là: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa
Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập” -
Năm 1941, trong Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 (5/1941), Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong lúc này nếu không
giành được độc lập cho dân tộc thì chẳng những quốc gia dân tộc phải chịu mãi kiếp ngựa, trâu mà quyền lợi bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng
không đòi lại được” -
Năm 1945, Người đã đúc kết ý chí đấu tranh cho độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân mà cả dân tộc Việt Nam mong muốn hướng đến:
“Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. -
Nặm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập để trịnh trọng tuyên
bố trước đồng bào cả nước và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, nhân dân Việt
Nam quyết giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.
(SV có thể mở rộng thêm: Điều này thể hiện sự cương quyết và có ý nhắc nhở, cảnh báo các nước đế quốc nếu như có ý định muốn xâm lược Việt Nam
thì phải suy xét lại vì “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập” cũng như ý chí quyết tâm giữ
vững nền độc lập ấy: “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”) lOMoAR cPSD| 61591627 -
Ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc cũng được thể hiện trong Kháng chiến chống Pháp. Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nhân dân chúng
tôi thành thật mong muốn hòa bình. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: Toàn
vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập dân tộc cho đất nước.” -
Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh từng thể hiện rất rõ quyết tâm sắt đá chống thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ
2 nhằmbảo vệ cho bằng được nền độc lập dân tộc – giá trị thiêng liêng mà nhân dân ta đã giành được: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”
Ngay trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể
mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”. Người đã quyết định sang Pháp với mục đích là: “Giải quyết vấn đề Việt Nam độc lập, cùng Trung,
Nam, Bắc thống nhất”. Mục đích chuyến đi Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh không gì khác ngoài việc khẳng định sự độc lập và thống nhất của dân
tộc Việt Nam. Người lập luận: “Trung, Nam, Bắc đều là đất nước Việt Nam... Nước có Trung, Nam, Bắc, cũng như một nhà có ba anh em. Cũng như
nước Pháp có vùng Noócmăngđi, Prôvăngxơ, Bôxơ. Không ai có thể chia rẽ con một nhà, không ai có thể chia rẽ nước Pháp, thì cũng không ai có thể
chia rẽ nước Việt Nam ta” -
Trong kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chí Minh đã nêu lên một chân lý thời đại, một tuyên ngôn bất hủ của các dân tộc khao khát nền độc lập,
tự do trên thế giới: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Nhờ vậy, nhân dân Việt Nam đã đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, buộc chúng phải ký kết
Hiệp định Pari, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, rút quân về nước.
Trong Cương lĩnh năm 1991, Đảng đã đúc kết: Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH là bài học xuyên suốt của cách mạng nước ta và khẳng
định, đối với nước ta, không còn con đường nào khác ngoài con đường duy nhất đúng đắn là đi lên CNXH để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV - Đại hội thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định: "Trong quá trình lãnh đạo cách
mạng, khi cả nước làm một nhiệm vụ chiến lược hoặc làm hai nhiệm vụ chiến lược, Đảng ta từ khi ra đời đến nay vẫn luôn luôn giương cao ngọn cờ
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là đường lối, là sức mạnh, là nguồn gốc mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam" [3]. Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội VII thông qua đã khẳng định trong thời kỳ đổi mới: "Toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nắm vững
ngọn cờ độc lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội, ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau”
2. Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân:
Thứ nhất, Hồ Chí Minh khẳng định vấn đề độc lập gắn liền với tự do là chân lý của thời đại. Người cho rằng đây là lẽ đương nhiên trong đấu
tranh cách mạng của các dân tộc:
- Chẳng phải ngẫu nhiên khi mở đầu áng hùng văn bất hủ ấy, Người đã trích dẫn ngay Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ: "Tất cả mọi người
đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự
do và quyền mưu cầu hạnh phúc" và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về
quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".➔ khẳng định dân tộc Việt Nam cũng phải được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
“Đó là lẽ phải không ai chối cãi được”.
- Người cũng đánh giá cao học thuyết “Tam dân” của Tôn Trung Sơn về độc lập và tự do: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.
- Trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến hội nghị Véc-xây (1919), Người đề nghị các nước đế quốc thắng trận tôn trọng quyền tự do, trong
đó có “Tự do báo chí và tự do ngôn luận. Tự do lập hội và hội họp. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương. Tự do học tập, thành lập các
trường kỹ thuật chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ”
Thứ hai, Độc lập gắn liền với tự do, cơm no, áo ấm và hạnh phúc của nhân dân là bản chất, mục tiêu của cách mạng Việt Nam:
- Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930, Người xác định mục tiêu của đấu tranh cách mạng là “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc
lập… dân chúng được tự do… Thủ tiêu hết các thứ quốc trái… Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo. Bỏ
sưu thuế cho dân cày nghèo… Thi hành luật ngày làm 8 giờ”
- Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Người một lần nữa độc lập phải gắn với tự do: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do,
thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Sau Cách mạng tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập tới vấn đề cốt tử này. Từ năm 1946,
Bác đã chỉ ra rằng: "Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước được độc lập mà dân không hưởng
hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì". Bác mong muốn: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền
hạn đều của dân". Người còn căn dặn cán bộ ta: "Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là đầy tớ của nhân dân…" hay "Việc
gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh…"
- Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, để đảm bảo độc lập phải gắn với hạnh phúc của nhân dân, trong bối cảnh nhân dân đói rét,
mù chữ, Người đã yêu cầu: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”. (cuối trang 77)
➔ (đầu trang 78) Bác từng bộc bạch: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được
hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Trân trọng giá trị và thành quả của Cách mạng Tháng Tám, không lâu sau khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày
12/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 49 về việc ghi tiêu đề: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm thứ nhất; bên dưới là Độc lập - Tự do
Hạnh phúc trên các công văn, điện văn, công điện, trát, đơn từ, báo chí, chúc từ,v.v.. lOMoAR cPSD| 61591627
Sau 35 năm đổi mới, quy mô kinh tế Việt Nam tăng gấp khoảng 12 lần; kim ngạch xuất khẩu tăng 29,5 lần đưa nước ta trở thành một trong 20 quốc
gia có nền kinh tế dẫn đầu thế giới về thương mại; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 22 lần…
Mặc dù, chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19 nhưng tốc độ tăng GDP của Việt Nam vẫn được xếp vào nhóm các nước tăng trưởng cao
nhất khu vực và thế giới. Sau bao nỗ lực, Việt Nam trở thành hình mẫu, điểm sáng, câu chuyện hay của công cuộc xóa đói giảm nghèo vô cùng gian
nan, có sức lan tỏa, truyền cảm với nhiều nước.
3. Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để:
Câu 23: Vì sao để các dân tộc được bình đẳng, các dân tộc ấy phải được hưởng nền độc lập thật sự?
Lý do để các dân tộc phải được hưởng nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để: -
Thứ nhất, thực dân đế quốc luôn tung chiêu bài mị dân, “độc lập, tự do” giả hiệu để che đậy bản chất bóc lột, “ăn cướp” và “giết người”
của mình. (trang 78) -
Thứ hai, theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải độc lập thật sự, hoàn toàn, triệt để trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,..
+ Người từng nhấn mạnh: độc lập mà người dân không có quyền tự quyết về ngoại giao, không có quân đội riêng, không có nền tài chính riêng… thì
độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì. Trên cơ sở nghiên cứu các cuộc cách mạng tiêu biểu của thế giới đã giúp Hồ Chí Minh rút ra những bài học kinh
nghiệm đối với cách mạng Việt Nam rằng: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi…”. Có nghĩa đấu tranh cho quyền độc lập,
tự do của dân tộc thì đó phải là độc lập, tự do thực sự, hoàn toàn, triệt để. Người khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công
việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”; ““Việt Nam hoàn toàn thống nhất và độc lập, “có quốc hội riêng, “chính phủ riêng, “quân
đội riêng”, “ngoại giao riêng”, “kinh tế và tài chính riêng””
+ Biện pháp: Để bảo vệ nền độc lập non trẻ của dân tộc, Bác và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thực hiện biện pháp ngoại giao. 6/3/1946,
chủ tịch HCM đã thay mặt Chính phủ kí với dại diện Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ. Sau bế tắc của Hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí
Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet Tạm ước Việt – Pháp 14/9 (Modus vivendi)
vào 0 giờ 30 ngày 15/9/1946. Trên cơ sở tôn trọng tinh thần và một số điều khoản của Hiệp định Sơ bộ 6/3, Tạm ước là “nhịp nghỉ” cần thiết, có lợi
cho cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. ➔ Kết quả đấu tranh bước đầu của tư tưởng độc lập thực sự Hồ Chí Minh vì Pháp công nhân Việt Nam là một
quốc gia tự do có chính phủ, có quân đội, nghị viện riêng…
Văn kiện Đại hội XIII: Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030:
(1) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường...,
tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc; khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước.
4. Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ:
Câu 24: Vì sao chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là điều kiện để đảm bảo nền độc lập dân tộc của nước nhà?
Tư tưởng lớn này đã được thể hiện rõ trong Tuyên ngôn Độc lập mà cách đây 73 năm, ngày 2/9/1945, Người đã thông báo trước thế giới: “Toàn thể
dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
- Thứ nhất, xuất phát từ bối cảnh nước nhà trong lịch sử:
+ Thực dân Pháp khi xâm lược đã chia đất nước ta ra ba kỳ, mỗi kỳ có chế độ cai trị riêng.
+ Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, miền Bắc bị quân Tưởng Giới Thạch chiếm đóng, miền Nam bị thực dân Pháp xâm lược và sau khi độc chiếm
thì bày ra cái gọi là “Nam kỳ tự trị” ➔ chia cắt lâu dài nước ta.
- Thứ hai, đó là từ quyết tâm giữ vững nền độc lập dân tộc mà Hồ Chí Minh thể hiện trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ:
+ Trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ (1946), Bác khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân
lý đó không bao giờ thay đổi”
+ Sau khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền nhưng Bác vẫn kiên trì, tiếp tục đấu tranh với ý chí sắt đá, không gì
lay chuyển: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt được”. Để động viên nhân dân miền Nam và tỏ rõ quan điểm
của Chính phủ cách mạng, Người tuyên bố với toàn thể dân tộc: “Miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”.
Tính thống nhất lâu đời và bền vững của dân tộc Việt Nam đã ăn sâu trong máu thịt của Hồ Chí Minh, được thể hiện rõ ràng, nhất quán trong các
tuyên bố của Người trước thế giới. Người đã từng nói rõ: “Trung, Nam, Bắc đều là đất nước Việt Nam. Chúng ta đều chung một tổ tiên, dòng họ, đều
là ruột thịt, anh em… Cũng như nước Pháp có Noóc-măng-đi, Prô-văng-xơ, Bô-xơ. Không ai có thể chia rẽ con một nhà, không ai có thể chia rẽ nước
Pháp thì không ai có thể chia rẽ nước Việt Nam”.
+ Trong Di chúc (1969), Người cũng thể hiện niềm tin tuyệt đối vào sự thắng lợi của cách mạng, sự thống nhất nước nhà: “Dù khó khăn gian khổ đến
mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”
➔ Đây là tư tưởng xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh…(trang 80). lOMoAR cPSD| 61591627
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng (2021): Định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030: Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
II – VẬN DỤNG:
Câu 25: Từ việc phân tích những luận điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, anh/chị hãy liên hệ đến sự vận dụng của Đảng trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nước ta hiện nay?
1. SV phân tích 4 đặc điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc: trang 73
2. SV tiến hành liên hệ:
(anh làm) Kế thừa truyền thống giữ nước quý báu của dân tộc, trên cơ sở quán triệt, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm Chủ nghĩa MácLênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; đồng thời, từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua, trong dự thảo Báo
cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đã khẳng định: “Có kế sách ngăn
ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”.
➔ Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về phương thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng khẳng định “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa” là sự kế thừa truyền thống
của dân tộc ta, là bài học xương máu “giữ nước từ khi nước chưa nguy”.
Tư tưởng “giữ nước từ khi nước chưa nguy” trong lịch sử dân tộc, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là từ khi đổi mới đất nước.
Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX và Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là những vấn đề lý luận cơ
bản về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Từ thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta nhận thức rõ hơn về vai trò quan trọng của an ninh, đối
ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng; về nội hàm xây dựng nền quốc phòng toàn dân; nhấn mạnh việc kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân,
chiến tranh nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” trong thời kỳ phát triển và hội nhập. Đến Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Có kế sách
phòng ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân
tố bên trong có thể gây ra đột biến”.
➔ Tư duy về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng đã có sự phát triển mới. Đây vừa là quan điểm, vừa là phương châm chỉ đạo của Đảng, thể hiện
tầm nhìn chiến lược của Đảng về quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Nội hàm của bảo vệ Tổ quốc không chỉ hiểu theo nghĩa hẹp và
bảo vệ bên ngoài biên giới, lãnh thổ, mà cần hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả bên trong; không chỉ chiến đấu bảo vệ khi có kẻ thù xâm lược, mà
phải tổ chức phòng thủ, phòng ngừa từ trước, chủ động chuẩn bị về mọi mặt, bao gồm cả chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại..., ngay từ thời bình.6
Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Trải qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, tư duy lý luận, nhận thức và chỉ đạo thực tiễn của Đảng về mối quan hệ giữa xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN đã phát triển toàn diện, sâu sắc hơn, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn tiếp tục đổi mới cả về chiều rộng và chiều sâu mạnh mẽ hơn, toàn diện, triệt để hơn và hội nhập sâu rộng hơn, ở
một tầm cao có tính bước ngoặt nhằm thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, đã và đang đặt ra những yêu cầu mới và đứng trước không ít
khó khăn, thách thức cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh, đối ngoại.
Để tiếp tục nhận thức và xử lý tốt mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, cần phải
nắm vững và thực hiện tốt những vấn đề chủ yếu sau đây:
Một là, tiếp tục nhận thức và xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa đối tác và đối tượng, giữa hợp tác và đấu tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Khi đất
nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng thì mối quan hệ giữa đối tác-đối tượng càng trở nên đa dạng, phức tạp và có những hình thức thể hiện mới trong
mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Hai là, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh (QPAN)…. Thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng gắn
với cơ cấu lại nền kinh tế, coi đây vừa là tiền đề, vừa là hệ quả của hội nhập kinh tế quốc tế, là giải pháp có tính quyết định để nâng cao nội lực nhằm
tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức của giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới.
Ba là, kết hợp chặt chẽ QPAN và đối ngoại. Tiếp tục hiện thực hóa tư duy mới của Đảng về mối quan hệ giữa QPAN và đối ngoại trong bối cảnh toàn
cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Bốn là, kịp thời thể chế hóa quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho phù hợp với bối cảnh mới của hội nhập quốc
tế. Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện tốt chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quân sự, chiến lược quốc phòng, chiến lược an ninh và các chiến
lược chuyên ngành khác nhằm bảo vệ đất nước;
Giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại.
Xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược với các nước, nhất là các nước láng giềng, các nước lớn, bạn bè truyền thống, tạo thế và lực mới cho sự nghiệp
bảo vệ Tổ quốc. lOMoAR cPSD| 61591627
(HM mò) Hiên nay, nự
ớc ta đang sống trong thời kỳ hòa bình nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh về đôc lậ p dân tộ c ṿ
ẫn giữ nguyên giá
trị to lớn. Trong thời kỳ công nghiêp ḥ óa, hiên đ̣ ại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hôi cḥ
ủ nghĩa thì nôi dung c ̣
ủa đôc lậ p dân tộ c đự
ợc thể hiên ̣ là xây dựng được nền kinh tế đôc lậ p, ṭ
ự chủ, không phụ thuôc ṿ
ào quốc gia khác; đảm bảo được cuôc ṣ
ống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân; giữ vững được lãnh thổ và chủ quyền biển đảo của quốc gia; chống lại các thế lực thù địch,
phá tan các âm mưu chia rẽ của chúng… Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhân dân Việt Nam thu được nhiều thành tựu vĩ đại trong cách mạng
dân tộc dân chủ Nhân dân, trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và trong sự nghiệp đổi mới.
Về xây dựng nền kt độc lập tự chủ: Quá trình
Đại hội XI (năm 2011) khẳng định quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNQT là một trong các mối quan hệ lớn, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự
chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”(2). Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, nêu rõ: “Phát huy nội
lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững
và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”(3). Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập nhằm
tạo dựng sức mạnh dân tộc; trong đó, nội lực là quyết định; tranh thủ yếu tố ngoại lực và thời đại có vai trò quan trọng. Nghị quyết số 22NQ/TW, ngày
1-4-2013, của Bộ Chính trị (khóa XI), “Về hội nhập quốc tế”, chủ trương: hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác
phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế.
Đại hội XII (năm 2016) xác định: “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế,... kết hợp hiệu
quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”(4). Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 5-11-2016, của
Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII), “Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối
cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”, chủ trương: tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, thu
hút vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.
Đại hội XIII (năm 2021) nêu: “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”, “Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc
vào một thị trường, một đối tác. Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động bên ngoài; chủ động hoàn
thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế”(5). Đồng thời, Đại hội XIII cũng
chỉ rõ: “Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước. Phát triển doanh nghiệp Việt Nam
lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; không ngừng tăng cường tiềm lực
kinh tế quốc gia”(6).
Như vậy, Đại hội XIII của Đảng xác định, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là một nội dung cốt lõi bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước
trong bối cảnh thế giới có những bước phát triển đột phá, biến động và thay đổi khó lường của quan hệ quốc tế, của quá trình toàn cầu hóa, tác động
của quá trình biến đổi khí hậu. Thành tựu
(1) Kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân được cải thiện và ngày càng được nâng cao.
“Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình
quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu
lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông
sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85%
GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỷ USD. Dự trữ ngoại
hối tăng mạnh, đạt 100 tỷ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỷ USD vào cuối năm 2020”[2].
Việc phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển đã
giúp cho văn hóa, xã hội phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, mức sống và chất lượng sống ngày càng được
nâng cao. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ
và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước). Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông
thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại.
Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại
học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối
tượng có hoàn cảnh khó khăn. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Đời sống văn hóa cũng được cải
thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc
hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao
của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển[3].
(2) Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.
(1) Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy. (2) Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống
chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt. (3) Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, hoạt
động hiệu lực, hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. (4) Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát huy ngày càng tốt
hơn vai trò đại diện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm
tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân[4]. lOMoAR cPSD| 61591627
(3) Quốc phòng, an ninh được giữ vững, tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam
ngày càng được nâng cao.
Đất nước ta tiến hành đổi mới trong bối cảnh thế giới có những biến động to lớn, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; các thế lực thù địch
tăng cường chống phá cách mạng, nhưng nền quốc phòng, an ninh nước ta luôn vững vàng, không ngừng được củng cố và phát triển. “Tiếp tục giữ
vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh
và lực lượng vũ trang. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng,
binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã
hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước… Tiềm lực quốc phòng và an
ninh được tăng cường; thế trận lòng dân được chú trọng; thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, nhất là trên các địa bàn chiến
lược, trọng điểm, được củng cố vững chắc”[5].
Với đường lối đối ngoại đúng đắn, Việt Nam đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn, là đối
tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở tôn trọng các
nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi… Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao
với 187/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước, quan hệ đối tác toàn diện với 10 nước. Đảng Cộng sản
Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại Đảng với 254 chính đảng ở 114 quốc gia[6]. Nước ta tham gia có hiệu quả vào các định chế khu vực và toàn
cầu, nhất là các hiệp định thương mại (FTA) thế hệ mới và đóng góp tích cực ở hầu hết các tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, đảm nhiệm thành
công nhiều trọng trách, ghi đậm dấu ấn về sự chủ động, tích cực trong vai trò Chủ tịch luân phiên lần thứ hai của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á (ASEAN) năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021. Việt Nam đã trở thành tâm điểm chú ý của
toàn cầu với vị trí, uy tín cao trong năm 2020. Việt Nam được thế giới đánh giá là “ngôi sao sáng của châu Á”, được xếp vào tốp 16 nền kinh tế mới
nổi thành công nhất thế giới[7]. Hạn chế
Chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn nhiều hạn chế, yếu kém. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao nhưng chủ
yếu dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển chiều sâu, năng suất lao động thấp, tụt hậu so với các nước
trong khu vực. Kinh tế nước ta có độ mở lớn, sản xuất và xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào nguyên vật liệu nhập khẩu từ bên ngoài, chi phí nguyên vật
liệu nhập khẩu chiếm tới 40,11% trong tổng chi phí nguyên vật liệu dùng trong sản xuất của nền kinh tế.
Thị trường lao động nước ta hiện nay có một số hạn chế đáng lo ngại: cả bên cung và bên cầu chưa đáp ứng được một thị trường lao động hiện đại,
linh hoạt, bền vững và hội nhập. Cơ cấu lao động theo 3 khu vực kinh tế chưa hợp lý, lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
chiếm tới 27,5% tổng số.
Số lượng lao động tăng nhanh ở khu vực phi chính thức. Chất lượng lao động không đáp ứng nhu cầu. Tính bấp bênh và dễ bị tổn thương đến việc làm
và thu nhập của người lao động khá cao. Lao động thời vụ phát triển, hạn chế về đào tạo kỹ năng.
Theo số liệu thống kê năm 2021, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ rất thấp. Lao động không có trình độ chiếm 72,5% trong tổng số
lực lượng lao động; trình độ sơ cấp 6,8%; trình độ trung cấp 4,3%; Cao đẳng 3,7%; Đại học trở lên 12,5%.
Chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ còn hạn chế, thiếu các nhà khoa học và chuyên gia giỏi, đầu ngành trong các lĩnh vực công nghệ trình
độ cao.Tinh thần hợp tác nghiên cứu và kỹ năng làm việc nhóm còn yếu, khó hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và các nhóm nghiên cứu liên
ngành hoạt động lâu dài, bền vững. Điều này dẫn đến nội dung các nhiệm vụ khoa học và công nghệ bị phân tán, hạn chế trong phối hợp thực hiện
các nhiệm vụ khoa học công nghệ quan trọng, quy mô lớn.
Năng lực và trình độ đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính chưa đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
nhập quốc tế; trách nhiệm công vụ còn kém, lề lối làm việc trì trệ, chậm đổi mới, đùn đẩy, né tránh. Biện pháp
Phát huy nội lực, tận dụng ngoại lực, nâng cao năng lực kiến tạo, quản trị quốc gia. Để phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, Chính phủ cần sửa đổi
bổ sung và hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để khơi thông, giải phóng tối đa và nâng cao hiệu quả sử dụng các nội lực và ngoại lực của đất nước.
Nâng cao năng lực kiến tạo, quản trị quốc gia, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trên
cơ sở tăng cường năng lực, chất lượng phân tích, đánh giá, dự báo các lĩnh vực.
Chính phủ cần khẩn trương cải cách thể chế, sửa đổi, bổ sung và xóa bỏ những quy định cản trở, không còn phù hợp với quá trình phát triển.
Đặc biệt, Chính phủ cần khẩn trương cải cách nền quản trị quốc gia theo quan điểm chuyên nghiệp hóa phải là linh hồn của những cải cách, các
nguyên tắc, chuẩn mực và quy trình mang tính kỹ trị nghiêm ngặt trong việc ban hành chính sách và pháp luật. Các ưu tiên chính sách phải được xác
lập trên cơ sở lợi ích quốc gia.
Xây dựng và thực thi chính sách thị trường lao động tích cực, chủ động thực hiện phương châm đào tạo, đào tạo lại, đào tạo thích ứng cho lực lượng
lao động đang làm việc. Đồng thời thực hiện phương châm học suốt đời, học linh hoạt nhằm nâng cao trình độ và kỹ năng của người lao động đáp
ứng đòi hỏi về nâng cao và bồi đắp kỹ năng lao động.
Đổi mới công tác quản lý, sử dụng đánh giá và đào tạo lại đội ngũ nhân lực. Đặc biệt đổi mới căn bản và toàn diện chính sách tuyển dụng, đánh giá,
sử dụng và đề bạt đội ngũ nhân lực trong bộ máy nhà nước lOMoAR cPSD| 61591627
Chống lại các thế lực thù địch, phá tan các âm mưu chia rẽ của chúng: Tình hình
Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang diễn ra nhanh chóng, sự phát triển siêu tốc của in-tơnét,
mạng xã hội (MXH)... tạo nên “thể giới phẳng”, những thông tin không được kiểm soát, gây nhiều khó khăn cho việc tiếp nhận, phân tích, luận giải
để hiểu thấu đáo nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thêm vào đó là sự tồn tại, phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản và những khó
khăn, thách thức cùng sự kéo dài của thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta; sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường trên nhiều phương diện. Tình
trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; nạn tham nhũng, "lợi ích nhóm"... diễn ra còn
nhiều, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm tư, tình cảm, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Lợi dụng bối cảnh đó, những năm qua, nhất là trong thời gian đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV
và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử đối lập, bất mãn chính trị... ở trong và ngoài nước
ra sức đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc Đổi mới của nhân dân ta. Chúng lợi dụng
in-tơ-nét, MXH đăng những tin, bài xấu, độc, xuyên tạc, phản bác, phủ nhận nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; công kích, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH của nước ta. Quá trình
Trong Báo cáo Chính trị Đại hội XII của Đảng ta, lần đầu tiên trong văn kiện chính thức của một Đại hội, kế sách chủ động bảo vệ Tổ quốc trong thời
bình, từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy được xác lập: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Chủ động
phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Đến Đại hội XIII, kế sách này được
bổ sung phát triển: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật
pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển. Giữ vững môi
trường hòa bình ổn định để phát triển”. Trước đó, kế sách này được xác lập trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ
Tổ quốc trong tình hình mới”. Đây cũng là kết quả của bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về quốc phòng an ninh, đối tác đối tượng,
về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Biện pháp -
Chăm lo xây dựng đất nước vững mạnh toàn diện, nhất là kinh tế phát triển nhanh và bền vững, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an
ninh được tăng cường, quan hệ đối ngoại được củng cố, phát triển; chủ động phát hiện và giải quyết tốt các “điểm nóng”; giữ cho “trong ấm”, “ngoài êm”. -
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh cả tiềm lực, lực lượng và thế trận quốc phòng, an ninh, nhất là xây
dựng và phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng”. -
Quan tâm xây dựng CAND, QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nhất là nâng cao khả năng tham mưu, dự báo chiến
lược của các cơ quan chiến lược, các viện nghiên cứu chiến lược của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. -
Dự báo các tình huống, các kịch bản về an ninh, quốc phòng, quân sự sát đúng, kịp thời tham mưu, đề xuất với Đảng và Nhà nước về các
phương án để chủ động phòng ngừa và xử lý kịp thời, phù hợp, hiệu quả. -
Thực hiện chiến lược đối ngoại linh hoạt, mềm dẻo, có nguyên tắc, tăng đối tác, giảm đối tượng. Thông qua hoạt động đối ngoại chủ động
nắm bắt tình hình, các động thái liên quan đến an ninh, quốc phòng để tham mưu, đề xuất với Đảng và Nhà nước về đối sách và biện pháp xử lý, nhất
là các vấn đề nhạy cảm, phức tạp một cách phù hợp, hiệu quả. -
Luôn luôn đề cao cảnh giác, thường xuyên nắm chắc và hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động chống phá của các thế lực thù
địch cả bên trong và bên ngoài. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, hạn chế và đập tan các chiêu bài mà các thế lực thù địch dựng lên để lấy cớ tiến hành
các hoạt động vũ trang và phi vũ trang chống phá cách mạng. Thành tựu
Tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm
trước đổi mới. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao
giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đặc biệt, sau khi có Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị
về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, công tác này được
triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu.
Đặc biệt, nhờ có sự lãnh đạo nhạy bén, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực
của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt
qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán liên tiếp xảy ra. Đó là minh chứng hết sức sinh
động, khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta; càng trong khó khăn,
thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản nổi, để xây
dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, đất nước ta tiếp tục đi lên, dân tộc ta phát triển cường thịnh, trường tồn. Hạn chế