Khoa học, công nghệ gì? Vai trò hoạt động
khoa học công nghệ
1. Khái niệm khoa học, công ngh
Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa khoa học là hệ thống tri thức về tự
nhiên, hội duy được tích luỹ trong quá trinh nhặn thức ttên sở
thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết.
Theo truyền thống, hệ khoa học thường được chia thành ba nhánh bản là
khoa học tự nhiên, khoa học hội khoa học thuật. Việt Nam, hệ
khoa học chia thành: khoa học tự nhiên công nghệ, khoa học hội
nhân văn (có tài liệu phân thành: khoa học t nhiên, khoa học thuật
công nghệ, khoa học hội nhân văn). Mỗi khoa học đều phần bản
ứng dụng. Khoa học bản hệ thống tri thức thuyết phản ánh các
thuộc tính, quan hệ, quy luật khách quan của lĩnh vực, hiện tượng được
nghiên cứu. Khoa học ứng dụng hệ thống tri thức đưa ra những con đường,
những biện pháp, hình thức ứng dụng tri thức khách quan (lí thuyết) o thực
tiễn phục vụ cho lợi trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất dịch vụ
cho hội. Công nghệ không chỉ tồn tại dứới dạng vật chất tổng thể
các yếu t con người thể biết được, đạt được, nắm bắt được dạng tri
thức.
Khoa học công nghệ vai trò to lớn với lịch sử phát triển của loài người,
thể hiện những mặt sau đây:
1.1 Khoa học công nghệ phương tiện để con người khám phá, chinh
phục cải tạo giới tự nhiên
Trong mối quan hệ với tự nhiên, con người biết vận dụng khoa học công
nghệ để khắc phục những hạn chế của mình nhằm khám phá, chinh phục
cải tạo tự nhiên. Khoa học giúp con người phát hiện ra bản chất, tính quy luật
của các hiện tượng, sự vật, quá trình từ đó dự báo về sự vận động, phát triển
của chúng đ định ớng cho hoạt động của mình. Các thành tựu khoa học
công nghệ được ứng dụng giúp con người khai thác các lợi thế sẵn
trong tự nhiên tạo ra các sản phẩm thoả mãn nhu cầu về vật chất tinh thần,
cũng như hạn chế các bất lợi giới tự nhiên thể gây ra cho cuộc sống
của con người.
1.2 Khoa học công nghệ biện pháp căn bản để nâng cao năng suất lao
động, phát triển sản xuất
Phát minh ra công cụ sản xuất từ thô đến máy móc cao n nữa các
dây chuyền sản xuất tự động đã tạo ra những bước nhảy vọt về ng suất
lao động. Các ứng dụng khoa học công nghệ ttong tổ chức lao động sản
xuất đã giải phóng sức lao động của con người, tạo ra sự đổi mới căn bản
của lực lượng sản xuất, đưa người lao động lên vị trí làm chủ quá trình sản
xuất hội. Ngày nay, trong nền kinh tế tri thức, khoa học công nghệ đã
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp với nghĩa quyết định năng suất lao
động, chất lượng của sản phẩm dịch vụ. Do vậy, suất lao động, làm
chuyển biến mạnh mẽ cấu kinh tế, đưa Việt Nam từ một nước thuần ng
tiếp cận với nhiều công nghệ hiện đại của thế giới như công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. Đó chính tiền đề động lực
để thực hiện thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Th ha,
khoa học công nghệ đã góp phần tạo ra c thành tựu về y tế, giáo dục
đào tạo, văn hoá nghệ thuật. Chính các thành tựu trên cả lĩnh vực kinh tế
các lĩnh vực văn hoá hội đã góp phần ch cực trong việc giải quyết các
vấn đ hội như đối nghèo, thất học, dịch bệnh... đưa Việt Nam đạt tới mục
tiêụ phát triển toàn diện bền vững.
2. Hoạt động khoa học công nghệ
2.1 Khái niệm hoạt động khoa học công nghệ
Hoạt động khoa học công nghệ hoạt động chuyên biệt nhằm tìm kiếm,
phát hiện, giải về các hiện tượng tự nhiên, hội duy ng như các
hoạt động ứng dụng các tri thức vào phục vụ sản xuất đời sống của con
người.
Hoạt động khoa học công nghệ hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên
cứu triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ,
dịch vụ khoa học công nghệ, phát huy sáng kiến hoạt động sáng tạo
khác nhằm phát triển khoa học công nghệ.
Nghiên cứu khoa học hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật,
quy luật của tự nhiên, hội duy; ng tạo các giải pháp nhằm ng
dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học thường được tiến hành dưới hình
thức là đề tài nghiên cứu khoa học với yêu cầu nghiên cứu ràng mục
tiêu xác định, kết quả của hoạt động này các tri thức khoa học mới được
tìm ra, được khẳng định, được chứng minh, tri thức mới thể được tìm ra,
được ứng dụng kết quả hoặc không.
- Hoạt động khoa học ng nghệ hoạt động tính kế thừa tích luỹ.
Trong hoạt động khoa học công nghệ, tri thức con người đi t ch chưa
biết đến biết, các tri thức trước sở, nền tảng để tìm hiểu các tri thức sau,
các tri thức sau sự kế thừa, phát triển các tri thức trước. Đó sự kế thừa
của người đi sau với người đi trước, của hoạt động này với hoạt động khác
sự tự kế thừa, tích luỹ của từng chủ thể tiến hành hoạt động khoa học
công nghệ.
2.2 Chủ thể của hoạt động khoa học công nghệ
Với nguyên tắc "phát huy khả năng lao động sáng tạo của mọi tổ chức,
nhân", bất một tổ chức, nhân nào cũng thể trở thành chủ thể của
hoạt động khoa học công nghệ tuỳ theo khả năng tuân theõ các quy
định của pháp luật.
Tổ chức khoa học công nghệ các tổ chức được thành lập để chuyên
thực hiện hoạt động khoa học công nghệ. Theo quy định của Luật khoa
học công nghệ, hình thức tổ chức khoa học ng nghệ gồm: Tổ chức
nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học phát triển công nghệ
(dưới hình thức viện hàn lâm, viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên
cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm hình thức khác); sở giáo dục đại
học được tổ chức theo quy định của Luật giáo dục đại học; tổ chức dịch vụ
khoa học công nghệ được tổ chức (dưới hình thức trung tâm, văn phòng,
phòng thử nghiệm hình thức khác).
Theo chức năng, tổ chức khoa học công nghệ được chia thành: Tổ chức
nghiên cứu bản, tổ chức nghiên cứu ứng dụng, tổ chức dịch vụ khoa học
công nghệ. Theo hình thức sở hữu, tổ chức khoa học ng nghệ gồm
tổ chức khoa học công
nhân thể tự mình hoặc thành lập các tổ chức khoa học ng nghệ
để tiến hành hoạt động khoa học công nghệ. nhân cũng thể nhận tài
ttợ của tổ chức, nhân ttong nước, nước ngoài, tổ chức quốc tế để tiên
hành hoạt động khoa học công nghệ.
Những người thực hiện hoạt động chuyên môn nghiên cứu khoa học,
nghiên cứu triển khai công nghệ được ng nhận c chức danh nghiên
cứu khoa học chức danh công nghệ. Chức danh nghiên cửu khoa học
tên gọi thể hiện trình độ năng lực nghiên cứu khoa học của nhân hoạt
động ttong lĩnh vực khoa học, gồm trợ ư nghiên cứu, nghiên cứu viên, nghiên
cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp. Chức danh công nghệ tên gọi thể
hiện trình độ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của nhân hoạt động công
nghệ. Mỗi lĩnh vực công nghệ chức danh riêng.
2.3 Thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ
Nhiệm vụ khoa học cộng nghệ những vân đê khoa học công nghệ
cần được giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội,
bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển khoa học công nghệ. Nhiệm vụ
khoa học công nghệ được tổ chức dưới hình thức chương trình, đề tài, dự
án, nhiệm vụ nghiên cứu theo chức năng của tổ chức khoa học công nghệ.
Nhiệm vụ khoa học công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước bao gồm
nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh cấp sở
do quan nhà nước thẩm quyền xác định. Nhiệm vụ khoa học công
nghệ cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh phải thực hiện theo hình thức đặt hàng.
Nhiệm vụ khoa học công nghệ cùa tổ chức khoa học công nghệ ngoài
công lập, tổ chức khoa học công nghệ vốn
Mọi tổ chức, nhân hoạt động khoa học công nghệ quyền đề xuất
nhiệm vụ khoa học công nghệ với quỹ phát triển khoa học công nghệ
của Nhà nước để nhận tài trợ hoặc để được vay theo quy định của pháp luật.
Các nhiệm vụ khoa học công nghệ không sử dụng ngân sách n nước
khác được khuyến khích thực hiện dưới mọi hình thức hợp pháp.

Preview text:

Khoa học, công nghệ là gì? Vai trò hoạt động khoa học công nghệ
1. Khái niệm khoa học, công nghệ
Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa khoa học là hệ thống tri thức về tự
nhiên, xã hội và tư duy được tích luỹ trong quá trinh nhặn thức ttên cơ sở
thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết.
Theo truyền thống, hệ khoa học thường được chia thành ba nhánh cơ bản là
khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học kĩ thuật. Ở Việt Nam, hệ
khoa học chia thành: khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và
nhân văn (có tài liệu phân thành: khoa học tự nhiên, khoa học lã thuật và
công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn). Mỗi khoa học đều có phần cơ bản
và ứng dụng. Khoa học cơ bản là hệ thống tri thức lí thuyết phản ánh các
thuộc tính, quan hệ, quy luật khách quan của lĩnh vực, hiện tượng được
nghiên cứu. Khoa học ứng dụng là hệ thống tri thức đưa ra những con đường,
những biện pháp, hình thức ứng dụng tri thức khách quan (lí thuyết) vào thực
tiễn phục vụ cho lợi trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ
cho xã hội. Công nghệ không chỉ tồn tại dứới dạng vật chất mà là tổng thể
các yếu tố con người có thể biết được, đạt được, nắm bắt được ở dạng tri thức.
Khoa học và công nghệ có vai trò to lớn với lịch sử phát triển của loài người,
thể hiện ở những mặt sau đây:
1.1 Khoa học và công nghệ là phương tiện để con người khám phá, chinh
phục và cải tạo giới tự nhiên
Trong mối quan hệ với tự nhiên, con người biết vận dụng khoa học và công
nghệ để khắc phục những hạn chế của mình nhằm khám phá, chinh phục và
cải tạo tự nhiên. Khoa học giúp con người phát hiện ra bản chất, tính quy luật
của các hiện tượng, sự vật, quá trình từ đó dự báo về sự vận động, phát triển
của chúng để định hướng cho hoạt động của mình. Các thành tựu khoa học
và công nghệ được ứng dụng giúp con người khai thác các lợi thế sẵn có
trong tự nhiên tạo ra các sản phẩm thoả mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần,
cũng như hạn chế các bất lợi mà giới tự nhiên có thể gây ra cho cuộc sống của con người.
1.2 Khoa học và công nghệ là biện pháp căn bản để nâng cao năng suất lao
động, phát triển sản xuất
Phát minh ra công cụ sản xuất từ thô sơ đến máy móc và cao hơn nữa là các
dây chuyền sản xuất tự động đã tạo ra những bước nhảy vọt về năng suất
lao động. Các ứng dụng khoa học và công nghệ ttong tổ chức lao động sản
xuất đã giải phóng sức lao động của con người, tạo ra sự đổi mới căn bản
của lực lượng sản xuất, đưa người lao động lên vị trí làm chủ quá trình sản
xuất xã hội. Ngày nay, trong nền kinh tế tri thức, khoa học và công nghệ đã
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp với nghĩa nó quyết định năng suất lao
động, chất lượng của sản phẩm và dịch vụ. Do vậy, suất lao động, làm
chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, đưa Việt Nam từ một nước thuần nông
tiếp cận với nhiều công nghệ hiện đại của thế giới như công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. Đó chính là tiền đề và động lực
để thực hiện và thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thứ ha,
khoa học và công nghệ đã góp phần tạo ra các thành tựu về y tế, giáo dục
đào tạo, văn hoá nghệ thuật. Chính các thành tựu trên cả lĩnh vực kinh tế và
các lĩnh vực văn hoá xã hội đã góp phần tích cực trong việc giải quyết các
vấn đề xã hội như đối nghèo, thất học, dịch bệnh.. đưa Việt Nam đạt tới mục
tiêụ phát triển toàn diện và bền vững.
2. Hoạt động khoa học và công nghệ
2.1 Khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ
Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động chuyên biệt nhằm tìm kiếm,
phát hiện, lí giải về các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy cũng như các
hoạt động ứng dụng các tri thức vào phục vụ sản xuất và đời sống của con người.
Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên
cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ,
dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo
khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ.
Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật,
quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng
dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học thường được tiến hành dưới hình
thức là đề tài nghiên cứu khoa học với yêu cầu nghiên cứu rõ ràng và mục
tiêu xác định, kết quả của hoạt động này là các tri thức khoa học mới được
tìm ra, được khẳng định, được chứng minh, là tri thức mới có thể được tìm ra,
được ứng dụng có kết quả hoặc không.
- Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động có tính kế thừa và tích luỹ.
Trong hoạt động khoa học và công nghệ, tri thức con người đi từ chỗ chưa
biết đến biết, các tri thức trước là cơ sở, nền tảng để tìm hiểu các tri thức sau,
các tri thức sau là sự kế thừa, phát triển các tri thức trước. Đó là sự kế thừa
của người đi sau với người đi trước, của hoạt động này với hoạt động khác
và sự tự kế thừa, tích luỹ của từng chủ thể tiến hành hoạt động khoa học và công nghệ.
2.2 Chủ thể của hoạt động khoa học và công nghệ
Với nguyên tắc "phát huy khả năng lao động sáng tạo của mọi tổ chức, cá
nhân", bất kì một tổ chức, cá nhân nào cũng có thể trở thành chủ thể của
hoạt động khoa học và công nghệ tuỳ theo khả năng và tuân theõ các quy định của pháp luật.
Tổ chức khoa học và công nghệ là các tổ chức được thành lập để chuyên
thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ. Theo quy định của Luật khoa
học và công nghệ, hình thức tổ chức khoa học và công nghệ gồm: Tổ chức
nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
(dưới hình thức viện hàn lâm, viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên
cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và hình thức khác); cơ sở giáo dục đại
học được tổ chức theo quy định của Luật giáo dục đại học; tổ chức dịch vụ
khoa học và công nghệ được tổ chức (dưới hình thức trung tâm, văn phòng,
phòng thử nghiệm và hình thức khác).
Theo chức năng, tổ chức khoa học và công nghệ được chia thành: Tổ chức
nghiên cứu cơ bản, tổ chức nghiên cứu ứng dụng, tổ chức dịch vụ khoa học
và công nghệ. Theo hình thức sở hữu, tổ chức khoa học và công nghệ gồm
tổ chức khoa học và công
Cá nhân có thể tự mình hoặc thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ
để tiến hành hoạt động khoa học và công nghệ. Cá nhân cũng có thể nhận tài
ttợ của tổ chức, cá nhân ttong nước, nước ngoài, tổ chức quốc tế để tiên
hành hoạt động khoa học và công nghệ.
Những người thực hiện hoạt động chuyên môn là nghiên cứu khoa học,
nghiên cứu và triển khai công nghệ được công nhận các chức danh nghiên
cứu khoa học và chức danh công nghệ. Chức danh nghiên cửu khoa học là
tên gọi thể hiện trình độ và năng lực nghiên cứu khoa học của cá nhân hoạt
động ttong lĩnh vực khoa học, gồm trợ ư nghiên cứu, nghiên cứu viên, nghiên
cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp. Chức danh công nghệ là tên gọi thể
hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của cá nhân hoạt động công
nghệ. Mỗi lĩnh vực công nghệ có chức danh riêng.
2.3 Thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ
Nhiệm vụ khoa học và cộng nghệ là những vân đê khoa học và công nghệ
cần được giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội,
bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển khoa học và công nghệ. Nhiệm vụ
khoa học và công nghệ được tổ chức dưới hình thức chương trình, đề tài, dự
án, nhiệm vụ nghiên cứu theo chức năng của tổ chức khoa học và công nghệ.
Nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước bao gồm
nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh và cấp cơ sở
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định. Nhiệm vụ khoa học và công
nghệ cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh phải thực hiện theo hình thức đặt hàng.
Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cùa tổ chức khoa học và công nghệ ngoài
công lập, tổ chức khoa học và công nghệ có vốn
Mọi tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ có quyền đề xuất
nhiệm vụ khoa học và công nghệ với quỹ phát triển khoa học và công nghệ
của Nhà nước để nhận tài trợ hoặc để được vay theo quy định của pháp luật.
Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước
khác được khuyến khích thực hiện dưới mọi hình thức hợp pháp.
Document Outline

  • Khoa học, công nghệ là gì? Vai trò hoạt động khoa
    • 1. Khái niệm khoa học, công nghệ
      • 1.1 Khoa học và công nghệ là phương tiện để con ng
      • 1.2 Khoa học và công nghệ là biện pháp căn bản để
    • 2. Hoạt động khoa học và công nghệ
      • 2.1 Khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ
      • 2.2 Chủ thể của hoạt động khoa học và công nghệ
      • 2.3 Thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ