Kinh doanh gì? Quy định pháp luật về hoạt
động kinh doanh
1. Khái niệm hoạt động kinh doanh
nghĩa phổ thông kinh doanh không chỉ buôn bán bao gồm cả sản
xuất. Hơn nữa, không phải tất cả các hoạt động sản xuất, buôn bán đều
kinh doanh chỉ những hoạt động sản xuất, buôn bán nào sinh lợi
mới được coi kinh doanh.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế những sự thay
đổi về chất, do đó, tính chất của các hoạt động kinh doanh cũng thay đổi theo.
Điều đó đòi hỏi phải xác định lại khái niệm kinh doanh cho phù hợp với các
thuộc nh vốn của nó. Trong những năm 90 của thế kỉ trước, một số văn
bản luật như Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp nhân năm 1990, Luật
Doanh nghiệp năm 1999 mới nhất Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã
những quy định ghi nhận khái niệm kinh doanh.
Theo quy định của các văn bản pháp luật đó thì “kinh doanh” việc thực hiện
liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, t sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lợi (Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014).
Như vậy, khác với các hành vi dân sự thuần tuý khác (cũng trao đổi, ng
cung ứng dịch vụ), mục tiêu chính của kinh doanh tạo ra lợi nhuận. Đối với
các doanh nghiệp, lợi nhuận được tạo ra khi số tiền thu được trong kinh
doanh (doanh thu) lớn hơn số tiền phải chi phí (chi phí kinh doanh), tiền bán
ra trừ tiền chi phí bằng lợi nhuận. Bất cứ hoạt động nào, cho về mặt hình
thức giống kinh doanh nhưng mục tiêu của hoạt động đó không phải tạo ra
lợi nhuận đều không phải kinh doanh.
Pháp luật quy định, hành vi kinh doanh mục đích sinh lợi (kiếm lời) nhưng
lời hay lỗ lại không thành vấn đề cho việc xác định hành vi kinh doanh. Nhiều
trường hợp sản xuất, buôn bán bị lỗ nhưng vẫn kinh doanh. Dưới giác đ
pháp lý, khi xác định hành vi kinh doanh, chúng ta quan tâm đến việc hay
không mục tiêu tạo ra lợi nhuận, chứ không quan m đến việc thực hiện
mục tiêu đó như thế nào. thể kết luận khái quát rằng lợi nhuận đích cuối
cùng của các nhà kinh doanh; bất cứ hoạt động nào nhằm mục đích kiếm lời
trên thị trường cũng hoạt động kinh doanh.
2. Quy định chung về kinh doanh
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới sử dụng thuật ngữ "commerce" (kinh
doanh/thương mại) theo nghĩa rộng đ chỉ một cách tổng hợp các hoạt động
sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ sự phân biệt với thuật ngữ "trade"
để chỉ riêng hoạt động mua bán hàng hoá thuần tuý.
Việt Nam, thuật ngữ kinh doanh được sử dụng trong Luật công ty Luật
doanh nghiệp nhân năm 1990. Hoạt động kinh doanh được nhận biết
thông qua các dấu hiệu:
1) Hoạt động phải mang tính nghề nghiệp, nghĩa chúng được tiến hành một
cách chuyên nghiệp, thường xuyên, liên tục hoạt động này mang lại nguồn
thu nhập chính cho người thực hiện chúng;
2) Hoạt động phải được thực hiện một cách độc lập. Các ch thể nhân danh
mình đ tiến hành hoạt động kinh doanh. Họ tự quyết định mọi vấn đề liên
quan tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình;
3) Hoạt động được các chủ thể tiến hành với mục đích kiếm lời thường xuyên.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì để thực hiện hoạt động kinh doanh,
các chủ th phải tiến hành đăng kinh doanh tại quan nhà nước thẩm
quyền quan đăng kinh doanh.
Hiện nay, đang áp dụng luật doanh nghiệp năm 2020 (thay thế luật doanh
nghiệp năm 2014 trước kia) luật thương mại năm 2005 để điều chỉnh các
nội dung liên quan đến hoạt động kinh doanh.
Lưu ý câu hỏi: Với mọi doanh nghiệp khi được cấp giấy chứng nhận đăng
kinh doanh, doanh nhiệp được quyền hoạt động kinh doanh ngay không?
Đáp án: Không. Bởi vì, Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng kinh
doanh, doanh nghiệp phải thực hiện các công việc như: Tiến hành đăng
khai thuế ban đầu với quan thuế tại nơi đăng kinh doanh trong thời hạn
quy định; Tiến hành đăng khai thuế qua mạng điện tử thông qua dịch vụ
chữ số; Làm thủ tục mua, đặt in, tự in hóa đơn; Chuẩn bị đầy đủ các điều
kiện kinh doanh đối với những ngành nghề kinh doanh điều kiện,...

Preview text:

Kinh doanh là gì? Quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh
1. Khái niệm hoạt động kinh doanh
Ở nghĩa phổ thông kinh doanh không chỉ là buôn bán mà bao gồm cả sản
xuất. Hơn nữa, không phải tất cả các hoạt động sản xuất, buôn bán đều là
kinh doanh mà chỉ có những hoạt động sản xuất, buôn bán nào có sinh lợi
mới được coi là kinh doanh.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế có những sự thay
đổi về chất, do đó, tính chất của các hoạt động kinh doanh cũng thay đổi theo.
Điều đó đòi hỏi phải xác định lại khái niệm kinh doanh cho phù hợp với các
thuộc tính vốn có của nó. Trong những năm 90 của thế kỉ trước, một số văn
bản luật như Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật
Doanh nghiệp năm 1999 và mới nhất là Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có
những quy định ghi nhận khái niệm kinh doanh.
Theo quy định của các văn bản pháp luật đó thì “kinh doanh” là việc thực hiện
liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lợi (Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014).
Như vậy, khác với các hành vi dân sự thuần tuý khác (cũng trao đổi, cũng
cung ứng dịch vụ), mục tiêu chính của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận. Đối với
các doanh nghiệp, lợi nhuận được tạo ra khi số tiền thu được trong kinh
doanh (doanh thu) lớn hơn số tiền phải chi phí (chi phí kinh doanh), tiền bán
ra trừ tiền chi phí bằng lợi nhuận. Bất cứ hoạt động nào, cho dù về mặt hình
thức giống kinh doanh nhưng mục tiêu của hoạt động đó không phải là tạo ra
lợi nhuận đều không phải là kinh doanh.
Pháp luật quy định, hành vi kinh doanh có mục đích sinh lợi (kiếm lời) nhưng
lời hay lỗ lại không thành vấn đề cho việc xác định hành vi kinh doanh. Nhiều
trường hợp sản xuất, buôn bán bị lỗ nhưng vẫn là kinh doanh. Dưới giác độ
pháp lý, khi xác định hành vi kinh doanh, chúng ta quan tâm đến việc có hay
không có mục tiêu tạo ra lợi nhuận, chứ không quan tâm đến việc thực hiện
mục tiêu đó như thế nào. Có thể kết luận khái quát rằng lợi nhuận là đích cuối
cùng của các nhà kinh doanh; bất cứ hoạt động nào nhằm mục đích kiếm lời
trên thị trường cũng là hoạt động kinh doanh.
2. Quy định chung về kinh doanh
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới sử dụng thuật ngữ "commerce" (kinh
doanh/thương mại) theo nghĩa rộng để chỉ một cách tổng hợp các hoạt động
sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ và có sự phân biệt với thuật ngữ "trade"
để chỉ riêng hoạt động mua bán hàng hoá thuần tuý.
Ở Việt Nam, thuật ngữ kinh doanh được sử dụng trong Luật công ty và Luật
doanh nghiệp tư nhân năm 1990. Hoạt động kinh doanh được nhận biết thông qua các dấu hiệu:
1) Hoạt động phải mang tính nghề nghiệp, nghĩa là chúng được tiến hành một
cách chuyên nghiệp, thường xuyên, liên tục và hoạt động này mang lại nguồn
thu nhập chính cho người thực hiện chúng;
2) Hoạt động phải được thực hiện một cách độc lập. Các chủ thể nhân danh
mình để tiến hành hoạt động kinh doanh. Họ tự quyết định mọi vấn đề có liên
quan và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình;
3) Hoạt động được các chủ thể tiến hành với mục đích kiếm lời thường xuyên.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì để thực hiện hoạt động kinh doanh,
các chủ thể phải tiến hành đăng kí kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền là cơ quan đăng kí kinh doanh.
Hiện nay, đang áp dụng luật doanh nghiệp năm 2020 (thay thế luật doanh
nghiệp năm 2014 trước kia) và luật thương mại năm 2005 để điều chỉnh các
nội dung liên quan đến hoạt động kinh doanh.
Lưu ý câu hỏi: Với mọi doanh nghiệp khi được cấp giấy chứng nhận đăng kí
kinh doanh, doanh nhiệp được quyền hoạt động kinh doanh ngay không?
Đáp án: Không. Bởi vì, Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, doanh nghiệp phải thực hiện các công việc như: Tiến hành đăng ký
khai thuế ban đầu với cơ quan thuế tại nơi đăng ký kinh doanh trong thời hạn
quy định; Tiến hành đăng ký kê khai thuế qua mạng điện tử thông qua dịch vụ
chữ ký số; Làm thủ tục mua, đặt in, tự in hóa đơn; Chuẩn bị đầy đủ các điều
kiện kinh doanh đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện,..
Document Outline

  • Kinh doanh là gì? Quy định pháp luật về hoạt động
    • 1. Khái niệm hoạt động kinh doanh
    • 2. Quy định chung về kinh doanh