
CHUYÊN ĐỀ:
QUAN HỆ QUỐC TẾ GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI
(1919 - 1939)
I. Giải thích một số thuật ngữ, khái niệm lịch sử cho học sinh
Căn cứ vào cuốn “Sổ tay kiến thức lịch sử (phần Lịch sử thế giới)” và “Từ điển tri
thức lịch sử phổ thông thế kỉ XX”, giải thích một số thuật ngữ sau:
- Quan hệ quốc tế: là tổng thể những mối quan hệ về kinh tế, chính trị, tư tưởng,
luật pháp, ngoại giao, quân sự…giữa những quốc gia và hệ thống quốc gia với nhau,
giữa các giai cấp chính, các lực lượng tổ chức xã hội, kinh tế và chính trị chủ yếu
hoạt động trên trường quốc tế.
-Trật tự thế giới: là một thiết chế chính trị - xã hội đặc biệt được thiết lập nhằm
phân chia phạm vi thế lực, khu vực ảnh hưởng cho phù hợp với thực trạng so sánh lực
lượng giữa các cường quốc trên thế giới. Nó thường được xuất hiện sau các cuộc chiến
tranh có quy mô và tầm cỡ quốc tế.
-Trật tự Vecxai – Oasinhtơn: Trật tự thế giới được thiết lập sau chiến tranh thế giới
thứ nhất khi các nước tư bản thắng trận (Anh,Pháp, Mĩ) tổ chức hội nghị Véc xai (1919-
1920) và Oa-sinh-tơn (1921-1922) để phân chia quyền lợi và buộc các nước đế quốc thua
trận phải chấp nhận không điều kiện và chịu nhiều thiệt thòi.
- Chủ nghĩa phát xít: Là nền chuyên chính khủng bố công khai của những phần tử
phản động nhất, sô vanh nhất, đế quốc chủ nghĩa nhất của tư bản tài chính; tiêu biểu
là chủ nghĩa phát xít Đức, Italia, Nhật.
II.
Hoàn cảnh lịch sử, nội dung Hội nghị Vec xai và nhận xét hệ thống hòa
ước Véc xai (1919)
1.
Hội nghị Vec xai (1919)
*
Hoàn cảnh triệu tập Hội nghị
-
Cuộc CTTG thứ nhất giữa hai phe Hiệp ước (Anh, Pháp, Nga) và phe Liên
minh (Đức, Áo – Hung và Italia) đã kết thúc ngày 11.11.1918. Cuộc chiến tranh này đã
đưa tới sự thay đổi sâu sắc trong tương quan lực lượng giữa các nước đế quốc, đồng
thời cũng thay đổi căn bản nội dung, tính chất của quan hệ quốc tế.
-
Hệ thống ĐQCN không còn nguyên vẹn nữa. Nước Nga XHCN ra đời.
-
Phong trào cách mạng thế giới có bước phát triển mới.
Trong hoàn cảnh đó, các nước đế quốc thắng trận đã tổ chức Hội nghị Vec xai.
Đây là cuộc đấu tra nh phân chia quyền lợi giữa các nước đế quốc; do đó, Hội nghị đã
diễn ra trong không khí đấu tranh căng thẳng, gay gắt giữa các nước tư bản thắng trận.
*
Diễn biến Hội nghị
-
Hội nghị Vec xai họp từ ngày 18.1.1919 ở Pari với sự tham gia của 27 nước
nhưng quyền quyết định do 3 vị đứng đầu của các nước Mỹ, Anh và Pháp. Sự thực đây
là một cuộc họp của bọn đế quốc mang tính “ăn cướp” như Lê nin nhận định. Hội nghị
này còn có một mục đích khác, đó là tập hợp lực lượng để chống lại cách mạng Nga,
Hung gari và nhiều nước khác.
-
Trong thời gian Hội nghị đã diễn ra sự bất đồng sâu sắc giữa các đồng minh trước
đây:
+ Mỹ tìm cách giành bá chủ thế giới. Tổng thống Mỹ Uynxon trong “Chương trình
14 điểm” đã nêu nên quyền “lãnh tụ tinh thần” của Mỹ đối với thế giới, đòi áp dụng
1

nguyên tắc “mở cửa”. Để ngăn chặn sự bá quyền của Anh và Pháp ở châu Âu, phái
đoàn Mỹ chủ trương duy trì một nước Đức quân phiệt mạnh. Như vậy, Mỹ sẽ củng cố
được vị trí của mình ở châu Âu và điều chủ yếu là phải duy trì được nước Đức phản
động để chống Liên Xô.
+ Ngược lại, Pháp lại muốn làm suy yếu nước Đức đến tối đa nhằm thiết lập
quyền bá chủ ở châu Âu. Pháp đòi sáp nhập vùng than Xa rơ và các miền đất khác của
Đức ở bờ tây sông Ranh, giúp đỡ các nước Đông Nam Âu (Ba Lan, Tiệp Khắc,
Rumani...) nhằm xây dựng khối liên minh chống Đức và nước Nga Xô viết.
+ Anh tìm cách làm suy yếu sức mạnh kinh tế và hải quân Đức bằng cách giành
được các thuộc địa của Đức vào đế quốc Anh. Anh cũng tìm cách ngăn chặn Pháp
mạnh lên và muốn sử dụng Đức làm đối thủ, cản trở sự bá quyền của Pháp ở châu Âu.
-
Nội dung của Hội nghị Vec xai bao gồm hàng loạt hòa ước kí với Đức và đồng
minh của Đức, Nghị quyết thành lập Hội Quốc Liên.
+ Hòa ước với Đức là quan trọng nhất, ký ngày 28.6.1919 tại phòng Gương trong
cung điện Véc xai. Pháp nhận lại An dát, Loren và vùng than Xa rơ. Đức thừa nhận Ba
Lan độc lập, trả lại Ba Lan vùng đất bị Phổ chiếm đóng trước đây. Ba Lan có đường ra
biển Ban tích.
+ Đức bị tước bỏ các thuộc địa và bồi thường 132 tỉ Mác vàng tiền chiến phí, luật
nghĩa vụ quân sự bị loại bỏ, cấm Đức phát triển tàu ngầm, tàu chiến, xe tăng và không
quân. Vùng sông Ranh được tuyên bố là vùng phi quân sự.
Với hòa ước Vec – xai, Đức mất 1/8 đất đai, gần ½ dân số, 1/3 mỏ sắt, gần 1/3
mỏ than, gần 1/3 sản lượng thép, 2/5 sản lượng gang, và gần 1/7 diện tích trồng trọt.
Toàn bộ gánh nặng của Hòa ước Vec xai đè nặng lên vai nhân dân Đức.
+ Hòa ước với các nước bại trận trong hai năm 1919 – 1920. Trong đó, ĐQ Áo –
Hung bị tách thành hai nước nhỏ là Áo và Hunggari,trên đất đai của Áo – Hung cũ,
thành lập hai nước mới Tiệp Khắc và Nam Tư.
c. Nhận xét:
-
Những Hòa ước được ký giữa các nước tư bản thắng trận với Đức và đồng minh
của Đức như Áo, Hung, Bungari, Thổ Nhĩ Kỳ, tạo thành “hệ thống Véc xai”, xác lập
trật tự thế giới tư bản sau chiến tranh.
-
Hệ thống Hòa ước Vec xai không có khả năng giải quyết mâu thuẫn giữa các
nước đế quốc. Sự phân chia thế giới mới do các cường quốc thắng trận thực hiện chỉ
có tính chất tạm thời. Hòa ước Véc xai đẻ ra mâu thuẫn giữa các nước thắng trận và
bại trận. Mâu thuẫn cũng nảy sinh ngay chính trong các nước thắng trận. Hòa ước Véc
xai không thỏa mãn ý đồ bành trướng của Mỹ.
-
Hòa ước Véc xai không đụng chạm đến các cơ sở trọng yếu của CNĐQ Đức. Cơ
sở công nghiệp quân sự Đức không bị tiêu diệt mà chỉ bị hạn chế. Trong khi thảo luận
các điều khoản quân sự của Hòa ước, Tổng thống Mỹ Uyn xơn đã tuyên bố rằng Đức
cần phải có lực lượng quân sự cần thiết để “duy trì trật tự trong nước và đàn áp chủ
nghĩa Bôn sê vích”. Số quân 100 nghìn người được tuyển lựa trên cơ sở tự nguyện.
Như vậy, các nhà hoạch định Hòa ước Véc xai tạo ra những cơ sở thuận lợi để
phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Đức nhằm chống lại Liên Xô và phong trào cách mạng
ở chính nước Đức.
2

-
Sự phân chia thế giới đã làm sâu sắc thêm quy luật phát triển không đồng đều
của CNTB trong việc phân chia thuộc địa và phạm vi ảnh hưởng giữa các đế quốc
thắng trận. Những trung tâm mâu thuẫn mới giữa các đế quốc nảy sinh.
-
Các nhà sáng lập hệ thống Vec xai đã làm nảy sinh những mâu thuẫn dân tộc ở
châu Âu khi một loạt các quốc gia ra đời mà không tính tới những nguyện vọng của
các dân tộc này.
-
Vì thế Hòa ước Véc xai không thể vững chắc. Lê nin đã đánh giá tính chất của
nó như sau: “Đó là hòa ước ăn cướp chưa từng thấy...7/10 dân cư thế giới nằm trong
tình trạng nô lệ... Hòa ước Véc xai đang nằm trên ngọn núi lửa”. Đó rõ ràng là “Hòa
ước ĐQCN”.
-
Sự ra đời của Hội Quốc Liên là công cụ bảo vệ quyền lợi các cường quốc thắng
trận.
2.
Hội nghị Oasinh tơn và các Hiệp ước Oasinh tơn (1921 - 1922). Hãy nêu
nhận xét Hiệp ước Oasinh tơn.
a.
Hội nghị Oasinh tơn
-
Hội nghị Véc xai không thỏa mãn yêu cầu của Mỹ, mong muốn đứng đầu thế
giới. Vì vậy, Mỹ ký Hiệp ước riêng với Đức (8/1921). Đồng thời, Mỹ tổ chức một hội
nghị quốc tế ở Oasinh tơn (11.1921 – 2.1922) và các nước tham dự (Mỹ, Anh, Pháp,
Bỉ, Hà Lan, Nhật, Trung Quốc) đã ký các hiệp ước cam kết tôn trọng quyền của nước
Mỹ, Anh, Pháp, Nhật về thuộc địa của nhau, hạn chế lực lượng hải quân, Mỹ có quyền
phát triển hải quân ngang với Anh, cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền của Trung
Quốc và Trung Quốc “mở cửa” cho các nước. Cụ thể ba Hiệp ước:
+ Hiệp ước bốn nước về các thuộc địa ở Thái Bình Dương (Anh, Pháp, Mĩ,
Nhật): cam kết tôn trọng chủ quyền của nhau trên các quần đảo thuộc địa.
+ Hiệp ước năm nước về hạn chế lực lượng hải quân (Mĩ, Anh, Pháp, Italia,
Nhật Bản) : Mỹ giành được quyến phát triển hải quân ngang với Anh.
+ Hiệp ước chín nước về Trung Quốc: Trung Quốc thực hiện chính sách “ mở
cửa”
với tất cả các nước.
b. Nhận xét
- Hội nghị Oasinh tơn hoàn toàn có lợi cho Mỹ, từ đây hải quân Mỹ ngang hàng với
Anh và vượt qua Nhật. Mỹ còn thực hiện được việc xâm nhập vào thị trường viễn Đông và
Trung Quốc thông qua chính sách “mở cửa”. Với hệ thống Hiệp ước Oaasinh tơn, Mỹ đã
giải quyết quyền lợi của mình bằng cách thiết lập một khuôn khổ trật tự mới của châu Á –
Thái Bình Dương do Mý chi phối.
- Hiệp ước Oasinh tơn cùng với hệ thống Hòa ước Véc xai hình thành “Hệ thống
Véc xai – Oasinh tơn”, hoàn thành việc phân chia thế giới, thiết lập một trật tự thế giới sau
chiến tranh.
- Trật tự Véc xai – Oasinh tơn hoàn toàn phục vụ quyền lợi của giai cấp thống
trị các nước đế quốc và cũng gây mâu thuẫn giữa các nước thắng trận với các nước bại
trận; Qua đó, nhawdm tập hợp lực lượng chống CNXH. Đó là trật tự thế giới mới mà
CNĐQ xác lập, trong đó ba cường quốc Anh, Pháp, Mỹ giành được nhiều ưu thế.
- Nội bộ phe đế quốc cũng bị phân chia thành những nước thỏa mãn và những nước
bất mãn với hệ thống này, tạo nên mầm mống của những cuộc xung đột quốc tế trong
tương lai. Như thế, sau cuộc chiến tranh thế giới kéo dài 4 năm (1914 - 1918) với những
tổn thất nặng nề cho nhân loại, hòa bình đã được lập trong một thế giới chứa đựng nhiều
mâu thuẫn và bất ổn.
3

3. Những vấn đề cơ bản về Hội Quốc liên .
* Sự thành lập:
Một trong những vấn đề cơ bản đầu trên được các nước tham dự Hội nghị Véc-xai
nhất trí là việc thành lập Hội Quốc liên, được thành lập theo tinh thần và nội dung
của Điểm 14 trong "Chương trình 14 điểm" của Wilson.
Tháng 3/1919, các văn kiện của Hội nghị đã lần lượt được ký kết với 15 phần gồm
432 điều. Phần I gồm 26 điều nói về Hội Quốc liên, các phần còn lại gồm 406 điều nói về
các hòa ước kí với Đức và các nước bại trận khác.
Công ước thành lập Hội quốc liên là văn kiện đầu tiên được kí kết cùng với Hiến
chương của Hội. Theo đó,mục đích của Hội Quốc liên là “khuyến khích sự hợp tác quốc
tế, thực hiện nền hoàbình và an ninh thế giới”, và để thực hiện mục đích đó người ta đề ra
một số nguyêntắc như: không dùng chiến tranh trong quan hệ giữa các nước, quan hệ quốc
tế phảirành mạch và dựan trên đạo lí, phải thi hành những cam kết quốc tế...Ngày 10 -
1 - 1920, Hội Quốc liên chính thức thành lập với 44 nước kí vàocông ước sáng lập.
* Về cơ cấu tổ chức:
Hội Quốc liên có 3 tổ chức chính:
+ Đại hội đồng (gồm tất cả các nước thành viên, họp mỗi năm một lần
vào tháng 9)
+ Hội đồng thường trực (gồm 5 uỷ viên các cường quốc Anh, Pháp, Mĩ,
Nhật, Italia - sau đó còn lại 4 vì Mĩ không tham gia, và một số uỷ viên có kì
hạn, họp mỗi năm ba lần)
+ Ban thư ký thường trực (do Tổng thư ký đứng đầu) thường trực như một
nội các làm việc hành chính thường xuyên, đóng trụ sở ở Geneve.
+ Ngoài ra các cơ quan chuyên môn của Hội Quốc liên gồm có Toà án quốc
tế (có trụ sở thường trực ở La Hay) và các tổ chức khác như: Tổ chức
lao động quốc tế (ILO), Tổ chức sức khoẻ (HO), uỷ ban người tị nạn (HCR)
* Về mục đích hoạt động:
Nội dung hoạt động do Hội Quốc liên đề ra là giám sát việc giải trừ
quân bị, tôn trọng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị, giải quyết
các tranh chấp quốc tế, thực hiện “chế độ uỷ trị” đối với một số lãnh thổ “chưa
đủ điều kiện tự quản”... Nước nào vi phạm công ước, gây chiến tranh sẽ bị xem
là gây chiến với toàn thể hội viên và sẽ bị trừng phạt dưới hai hình thức: bằng
biện pháp kinh tế và tài chính (do tất cả các nước hội viên bắt buộc phải thi
hành) và bằng những biện pháp quân sự.
* Nhận xét, đánh giá:
- Sự ra đời của Hội Quốc Liên, một tổ chức chính trị mang tính quốc tế đầu
tiên, đã đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ quốc tế thế kỷ XX. Về danh
nghĩa, Hội Quốc Liên trở thành một tổ chức giám sát trật tự quốc tế mới, nhằm
ngăn ngừa chiến tranh, bảo vệ hoà bình thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế, những hoạt
động của Hội quốc Liên là nhằm duy trì trật tự thế giới mới do các cường quốc chiến
thắng áp đặt tại Hội nghị Véc-xai.
+
Đây
là
tổ
chức
của
các
nước
đế
quốc
chứ
không
phải
của
tất
cả
các
dân tộc trên thế giới. Nó là công cụ của CNĐQ trong việc phân chia lại thế giới.
+
Nó
không
ngăn
ngừa
được
chiến
tranh
và
không
bảo
vệ
được
nền hoà bình thế giới.
+ Không giải phóng được các dân tộc mà chỉ duy trì ách thực dân
cũ bằng những hình thức mới như: "uỷ nhiệm quyền" hay "uỷ
trị". Với
4

"chế độ uỷ trị", Anh, Pháp đã chia nhau hầu hết các thuộc địa của Đức và lãnh
thổ của đế quốc Thổ Nhĩ Kì. Các biện pháp về giải trừ quân bị và sự trừng phạt
chỉ mang ý nghĩa hình thức vì Hội Quốc liên không có sức mạnh thực tế để thực
thi các quyết định của mình.
+
Những
biện
pháp
trừng
phạt
chỉ
có
tính
chất
hình
thức,
không
thực tế (vì quyền lợi của đế quốc xung đột, chồng chéo nhau)
- Để Hội Quốc Liên có thể trở thành một công cụ có hiệu quả, tổ
chức này phải có ý chí chính trị thống nhất và có khả năng quân sự cần thiết.
Những sự kiện diễn ra sau này sẽ cho thấy sự bất lực của Hội Quốc Liên trong
việc giải quyết các vấn đề quốc tế.
- Hội Quốc Liên được thành lập theo sáng kiến của Tổng thống Mĩ
Wilson nhưng Mĩ từ chối không tham gia do những tham vọng của Mĩ đã
không được thực hiện trong Hội nghị Véc - xai. Điều đó cũng là một nhân tố ảnh
hưởng đến uy tín và sức mạnh của tổ chức này.
III. Quan hệ quốc tế trong thập niên 20 của thế kỉ XX
a. Các hội nghị quốc tế về hoà bình, an ninh tập thể và giải trừ quân bị
Bước vào thập niên 20, nhìn chung các nước tư bản đều bước vào thời kì
ổn định và đạt được sự phát triển nhanh chóng về kinh tế (1924 - 1929). Sự ổn
định về kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản đã tác động không nhỏ đến
chiều hướng phát triển của quan hệ quốc tế.
Sau Hội nghị Véc xai - Oasinhton, hàng loạt các hội nghị quốc tế về các vấn đề hoà
bình,
an ninh tập thể, giải trừ quân bị... đã diễn ra trong khuôn khổ hệ thống Véc xai Oasinhton.
* Hội nghị Giênova: Một trong những hội nghị quốc tế lớn nhất kể từ
sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918) đến lúc bấy giờ, diễn ra từ 4 -10 đến
19 5 - 1922 với sự tham gia của đại biểu 29 nước trên
thế giới (Mĩ không
chính thức tham gia mà chỉ cử quan sát viên tham dự). Nước Nga Xô viết lần
đầu tiên chính thức được mời tham dự. Hội nghị bàn về những vấn đề kinh tế -
tài chính của tất cả các nước Châu Âu sau chiến tranh, trong đó “vấn đề Nga” là
vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất. Do những bất đồng về việc giải quyết những
khoản nợ của Nga hoàng và chính phủ lâm thời tư sản Nga (các nước đế quốc
đòi Nga bồi thường đến 18 tỉ rúp vàng là khoảng nợ của Sa hoàng và chính phủ
lâm thời Nga đã nợ mình), cùng với vấn đề bồi thường chiến tranh cho nước Nga
xô viết (Nga Xô viết tính toán, đưa ra con số mà đế quốc phải bồi thường là
39.450.000 rúp vàng, nhưng bị Anh bác bỏ), Hội nghị Gienova hầu như không
đạt được kết quả đáng kể nào. Trong khi đó, bên lề hội nghị Gienova, hai nước
Đức và Nga đã kí kết Hiệp ước Rapallo (16 - 4 - 1922) nhằm khôi phục lại các
quan hệ ngoại giao, cam kết từ bỏ các khoản nợ và bồi thường chiến tranh
(điều 116 của hòa ước Vecxai), quốc hữu hóa các tài sản sở hữu nhà nước, đồng
thời áp dụng chính sách tối huệ quốc cho các quan hệ kinh tế - thương mại giữa
hai nước. Mặc dù bị đồng minh phản đối kịch liệt, nhưng Đức vẫn quyết tâm thực
hiện vì chỉ có nó mới giúp Đức tồn tại, đứng vững và tạo đà phát triển mạnh về sau này.
* Hội nghị Lô –dan: cuối năm 1922, trước những chuyển biến quan trọng
của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở Thổ Nhĩ Kì, các nước tư bản phương
Tây triệu tập một Hội nghị quốc tế ở Lô-dan (Thuỵ Sĩ) để bàn về việc kí kết một
hiệp ước hoà bình mới với Thổ Nhĩ Kì và những vấn đề khác liên quan đến các
eo biển ở vùng biển Hắc Hải. Hội nghị khai mạc ngày 20 - 11 - 1922 với sự
tham gia của các quốc gia có liên quan đến những vấn đề khác nhau của hội
nghị. Liên quan đến vấn đề kí
5

hoà ước mới với Thổ Nhĩ Kì có sự tham gia của các nước Anh, Pháp, ý, Nhật,
Rumani, Hi Lạp, Nam Tư và Thổ Nhĩ Kì. Là một cường quốc ở vùng biển Hắc
Hải, nước Nga xô viết đã chủ trương phải đảm bảo an ninh chung, cấm tất cả các
tàu thuyền các nước không được qua lại thường xuyên ở 2 eo biển Đác đa nen và
Bôxpho trong thời chiến lẫn thời bình, nhưng tự do hóa cho các tàu buôn. Dưới
sự chi phối của các nước Anh, Pháp, Ý, Hiệp ước về eo biển Đác đa nen và
Bôxpho ở vùng biển Hắc Hải đã được ký kết, theo đó vùng eo biển sẽ được phi
quân sự hoá và các loại tàu thuyền được tự do qua lại. Hiệp ước này trên thực tế
đã ảnh hưởng đến an ninh của các nước vùng biển Hắc Hải nói chung và nước
Nga xô viết nói riêng chính vì vậy chính quyền Xô viết đã phủ quyết hòa ước này.
Hòa ước hoàn toàn mất hiệu lực.
Hội nghị Lôcacnô : được tổ chức từ ngày 5 đến 16 - 10 – 1925 với mục
đích xây dựng một nền an ninh tập thể ở châu Âu trong khuôn khổ hệ thống Véc xai
Oasinhton, một hội
nghị
quốc
tế
giữa
các
nước
tư
bản
châu
Âu
đã
được
triệu
tập.
Hội nghị đã kí kết hệ thống hiệp ước Locarno (143 điều), bao gồm:
+ Hiệp ước đảm bảo chung (còn gọi là hiệp ước đảm bảo Rhenanie) giữa
Anh, Pháp, Đức, Italia và Bỉ
+ Các hiệp ước Pháp - Đức, Đức - Bỉ, Đức - Tiệp, Đức - Ba Lan về trọng
tài và các
hiệp
ước
đảm
bảo
Pháp
-
Ba
Lan
và
Pháp
-
Tiệp. Các hiệp ước nói trên là sự cam kết đảm bảo đường biên giới
giữa các nước có liên quan; phi quân sự hóa vùng Rhenanie theo những điều
khoản của Hệ thống Vecxai. Trong trường hợp Đức xâm chiếm vùng phi quân
sự này, các nước ký hiệp ước có toàn quyền, kể cả dùng vũ lực
để chống lại (điều 2). Đồng thời, cũng tại hội nghị này các nước đã đi
đến thoả thuận đồng ý để nước Đức tham gia Hội Quốc Liên (tuy nhiên phải
đến tháng 9 - 1926 Đức mới trở thành viên chính thức của Hội Quốc Liên). Tất
cả các hiệp ước trên đây hợp thành Hệ thống Hiệp ước Lôcarno được tổ chức
ký chính thức ở London vào ngày 1 - 12 – 1925 Với việc kí kết hệ thống
hiệp ước Lôcacno và việc nước Đức tham gia Hội Quốc Liên, mâu thuẫn giữa
các cường quốc phương Tây dường như dịu đi và các chính khách tư sản, các nhà
báo đã tán tụng nó và người ta đã nói tới việc mở đầu “một kỉ nguyên xích lại
gần nhau trên thế giới”. Hiệp ước trên đã giáng cho các liên minh của Pháp
những thất bại nặng nề và Pháp cũng từ đó mất hết hy vọng làm suy yếu Đức
sau hiệp ước Vecxai. Với việc ký hiệp ước trên, Đức đã thoát dần ra khỏi vị trí
là nước bại trận, vươn lên bình đẳng về chính trị - kinh tế với các nước và "hợp
pháp hóa" địa vị trên trường quốc tế. Còn Anh và Mỹ thì tỏ ra hài lòng về Hệ
thống hiệp ước này, bởi một mặt, hệ thống này khống chế được Pháp, buộc Đức
ràng buộc vào các cam kết nhất định đối với các cường quốc phương Tây,
mặc khác nó tạo điều kiện để sử dụng Đức trong các ý đồ chống Liên Xô.
Như vậy, sự kiện các hiệp ước Xô - Đức, Lôcacno, Thổ Nhĩ Kì và Đức gia
nhập Hội Quốc Liên...đã làm sáng lên những tia hy vọng về một nền hòa bình có
cơ may được xác lập ở châu Âu và trên toàn thế giới. Trong bối cảnh lòng tin
vào an ninh tập thể lên đến đỉnh cao mà tháng 4 - 1927, Ngoại trưởng Pháp
Aristide Briand đề nghị với Ngoại trưởng Mĩ Frank B. Kellogg về việc Pháp và
Mỹ ký một hiệp ước "hữu nghị vĩnh viễn, theo đó hai nước cam kết từ bỏ việc
chiến tranh như là một phương tiện chính trị quốc gia". Ngày 27 - 8 - 1928 tại
Pari đã diễn ra lễ ký kết Hiệp ước từ bỏ chiến tranh nói chung. Hiệp ước này đã
được nhiều nước trên thế giới hưởng ứng và có tới 57 quốc gia kí
kết tham gia, trong đó có Liên Xô.
6

Mặc dù được đánh giá là “đánh dấu đỉnh cao của làn sóng hoà bình trong
thập niên 20,” nhưng thực tế cho thấy việc đặt niềm tin vào hiệp ước này là “một
ảo tưởng nguy hiểm” bởi lẽ chỉ vài ngày sau khi kí kết hiệp ước Briăng – Ken
lốt giơ, Anh và Pháp đã tiến hành kí kết ngay một thoả hiệp riêng rẽ vấn đề vũ
khí Hòa bình và an ninh tập thể trong khuôn khổ trật tự Vecxai – Oa sinh tơn,
Hội Quốc Liên là rất mong manh, xa vời. Những diễn biến tiếp theo trong quan
hệ quốc tế thập niên 30 sẽ tiếp tục chứng minh điều đó.
b. Vấn đề thực hiện Hoà ước Vecxai kí với Đức.
Việc thực hiện các điều khoản của Hoà ước Versailles kí với Đức chiếm một vị
trí đặc biệt quan trọng trong quan hệ quốc tế những năm 20 của thế
kỉ XX. Về vấn đề bồi thường chiến tranh, Hội nghị Luân Đôn ngày 30 - 4 -
1921 đã qui định số tiền bồi thường của Đức là 132 tỉ mác vàng và Đức bắt đầu
phải trả từ mùa hè năm 1921. Tuy nhiên, tình trạng khủng hoảng kinh tế - tài
chính trầm trọng diễn ra ở Đức đã khiến cho nước này không có khả năng thực
tế để trả món nợ đó. Sau việc liên quân Pháp - Bỉ chiếm đóng vùng Rua (11 - 1
- 1923), nơi sản xuất 90% sản lượng than và 70% sản lượng gang của nước Đức,
không mang lại hiệu quả trong vấn đề bồi thường của Đức, một Hội nghị quốc tế
đã được triệu tập ở Luân Đôn để xem xét lại vấn đề này.
Hội nghị Luân Đôn khai mạc ngày 16 - 7 - 1924 với sự tham gia của các đại
diện Anh, Pháp, Italia, Nhật, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Rumani, và Mĩ (về danh
nghĩa Mĩ chỉ tham gia với một số quyền hạn chế nhưng trên thực tế Mĩ có ảnh
hưởng lớn trong Hội nghị). Hội nghị Luân Đôn đã thông qua kế hoạch Đao-oét có
giá trị trong vòng 5 năm với nội dung chủ yếu là Mĩ và Anh sẽ giúp đỡ Đức
trong việc phục hồi và phát triển kinh tế - tài chính để nước này có khả năng trả
được các khoản bồi thường chiến tranh theo lịch trình được Uỷ ban 5 nước Anh, Pháp
Mĩ, Italia qui định như sau:
• Năm thứ nhất trả 1 tỉ mác vàng
• Năm thứ hai: 1,22 tỉ mác vàng
• Năm thứ 3: 1,2 tỉ mác vàng
• Năm thứ tư: 1,75 tỉ mác vàng
•Từ năm thứ năm: mỗi năm 2,5 tỉ mác vàng.
Với kế hoạch Đao-oét, Pháp đã phải có những nhượng bộ quan trọng:
+ Pháp phải rút khỏi vùng Rua (năm 1925) việc giải quyết vấn đề bồi thường chiến
tranh đã tuột khỏi tay Pháp chuyển sang tay người Mĩ.
Mĩ và Anh có điều kiện mở rộng ảnh hưởng về kinh tế - tài chính vào
nước Đức. Kế hoạch Đao-oét đã góp phần quan trọng vào việc phục hồi và phát
triển kinh tế Đức. Những trận “mưa đô la” từ Mĩ và Anh qua kế hoạch này đã
tạo điều kiện trang bị những kĩ thuật hiện đại và nâng cao năng lực sản xuất của
nền kinh tế Đức. Từ khi bắt đầu thực hiện kế hoạch đến năm 1929, Đức
đã nhận viện trợ của Mĩ, Anh để vay, tín dụng và đầu tư vào công nghiệp
khoảng 20 - 25 tỉ mac vàng. Số tiền viện trợ đó không những đủ để trả nợ cho
các đế quốc thắng trận (Đức trả lại cho họ tới 11 tỉ mac) mà còn đủ để phát triển
kinh tế của mình. Năm 1929, tổng sản lượng công nghiệp
Đức đạt 113% mức
trước
chiến tranh, vượt
qua
Anh, Pháp. Cũng trong năm 1929, kế hoạch
Đao-oét lại được điều chỉnh theo hướng giảm bớt gánh nặng bồi thường
chiến tranh cho Đức. Sau một thời gian dài thảo luận, tháng 8 - 1929, Hội nghị
quốc tế của 12 nước tư bản họp ở La Hay đã chính thức thông qua kế hoạch Young.
Theo đó số tiền bồi thường của Đức giảm xuống còn
7

113,9 tỉ mác vàng và được trả trong thời hạn kéo dài tới 60 năm, đồng thời quân
đội chiếm đóng của Pháp, Bỉ sẽ phải rút khỏi vùng Rênani trước ngày 30 - 6 -
1930. Đến đây, uỷ ban bồi thường đã chấm dứt hoạt động, thay vào đó Ngân
hàng thanh toán quốc tế sẽ chịu trách nhiệm theo dõi việc trả tiền bồi thường
chiến tranh của Đức. Như vậy, nhờ sự hà hơi tiếp sức của Anh và Mĩ với ý
đồ sử dụng Đức như một con đập ngăn làn sóng cách mạng có khả năng tràn
sang phía Tây từ Liên Xô, chỉ trong một thời gian ngắn nước Đức chẳng những
đã phục hồi nhanh chóng mà còn tăng cường tiềm lực kinh tế - quân sự của mình.
c. Quan hệ quốc tế của nước Nga Xô viết sau Cách mạng tháng Mười
Ngay từ khi mới ra đời, Nhà nước Xô viết non trẻ đã chủ trương thực hiện
một chính sách đối ngoại hoà bình trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ giữa các quốc gia. Vấn đề nóng bỏng trước mắt
là phải nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến tranh thế giới mà trước đây Nga
hoàng tham gia. Trong đêm 26 - 10 - 1917, vào lúc 23 giờ, tại phiên họp
thứ hai Đại hội II các Xô viết toàn Nga, Sắc lệnh hoà bình đã được thông qua.
Với Sắc lệnh này, Nhà nước Xô viết tuyên bố “Chiến tranh đế quốc là tội ác lớn
nhất chống lại loài người” và “đề nghị nhân dân tất cả các nước tham chiến và
các chính phủ của họ tiến hành ngay những cuộc đàm phán về một hoà ước dân
chủ và công bằng ”. Đồng thời, trong công hàm gửi tới Đại sứ của các nước
Đồng minh ở Nga ngày 8 - 11 - 1917, Chính phủ Xô viết “một lần nữa khẳng
định về đề nghị ngừng bắn và ký kết một hoà ước dân chủ, không có thôn tính
và bồi thường trên cơ sở quyền tự quyết của các dân tộc”. Tuy nhiên, các
Chính phủ Anh, Pháp, Mĩ đã bác bỏ đề nghị hoà bình và quyết định không
quan hệ với chính quyền Xô viết, thậm chí còn đe dọa có hành động quân sự nếu
nước Nga kí hòa ước riêng với Đức.
Về phía mình, nước Nga xô viết chủ trương nhanh chóng rút ra khỏi chiến
tranh đế quốc vì đất nước đã bị tàn phá nặng nề, nhân dân quá mệt mỏi và điều
có ý nghĩa quyết định là phải có hòa bình để củng cố chính quyền non trẻ. Chính
quyền Xô viết không thể chờ đợi sự đồng tình của các nước Anh, Pháp, Mĩ và
quyết định đàm phán riêng với Đức.
Về phía Đức: cũng như các nước đế quốc, nước Đức không chấp nhận sự tồn
tại của nhà nước Xã hội chủ nghĩa nhưng vào lúc này, nước Đức đang gặp
nhiều khó khăn trên cả hai mặt trận phía Đông và phía Tây; ở trong nước phong
trào phản đối cách mạng dâng cao mạnh mẽ... Đức nhận lời đàm phán với
nước Nga xô viết. Sau những diễn biến căng thẳng và phức tạp của tình hình chiến sự,
ngày 3 - 3 1918 Hoà ước Bret – Litốp đã được kí kết
với những điều
kiện hết sức nặng nề đối với nước Nga. Theo đó, nước Nga phải cắt đi
một bộ phận lãnh thổ rộng lớn (diện tích 750.000 km2 với hơn 50 triệu dân, bao
gồm Ba Lan, Latvia, Litva, Estonia, Belarus, Ucraina, Phần Lan) và phải trả
khoản tiền bồi thường 6 tỉ mác cho Đức. Lênin gọi đây là “một hoà ước bất
hạnh”, nhưng nhờ đó mà nước Nga đã rút ra khỏi cuộc chiến tranh đế quốc để
đương đầu với những thử thách ác liệt nhằm bảo vệ chính quyền Xô viết non trẻ.
Cũng trong thời gian này, các nước đế quốc đã tập hợp lực lượng, phối hợp
hành động với mưu đồ bóp chết nước Nga Xô viết. Cuối tháng 11 - 1917 đại
diện của các nước đế quốc, trong đó bốn nước Mĩ, Anh, Pháp, Nhật giữ vai trò
chủ yếu, đã họp tại Pari để bàn bạc về biện pháp thực hiện mưu đồ đó. Đại diện
các nước tư bản đã thông qua nghị quyết không công nhận nước Nga Xô viết,
thoả thuận về việc ủng hộ
8

cho các lực lượng phản cách mạng ở Nga và phân chia nước Nga thành các khu
vực ảnh hưởng của mình. Theo đó, Anh sẽ nắm quyền kiểm soát vùng Kavkaz,
Armenia, Gruzia và vùng sông Đông; Pháp chiếm Bessarabia, Crưm và
Ucraina; Mĩ và Nhật nắm khu vực Xibia và Viễn Đông...
Trải qua ba năm chiến đấu cực kì gian khổ và khốc liệt, quân đội và nhân
dân Xô viết đã lần lượt đánh bại các lực lượng thù trong, giặc ngoài, giữ vững
nền độc lập, tự chủ của đất nước. Cũng trong thời gian này, nhà nước Xô viết đã
công nhận quyền tách ra của Ucraina, công nhận độc lập của Phần Lan, Ba Lan ;
xoá bỏ mọi hiệp ước bất bình đẳng của Chính phủ Nga hoàng trước đây đối với
Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kì, Ba Tư (Iran) và nhiều nước khác.
Trong quan hệ quốc tế, Chính phủ Xô viết đã phản đối gay gắt tính chất nô
dịch của các hoà ước, nhất là Hoà ước Véc-xai. Lênin cho rằng: “Đấy không phải
là hoà ước, đấy là những điều kiện mà bọn ăn cướp tay cầm dao, buộc nạn
nhân không có gì tự vệ phải chấp nhận”.
Bị thất bại trong việc dùng lực lượng quân sự, các nước phương Tây quay sang thực
hiện chính sách cô lập về chính trị và bao vây về kinh tế
với Nga. Theo sáng kiến của Anh, năm 1922 một hội nghị kinh tế thế giới
được triệu tập với sự tham gia của 29 nước tư bản. Mục đích của hội nghị là
bàn việc phục hồi nền thương mại quốc tế, nhất là đối với kinh tế các nước
Trung và Đông Âu, nhưng cuối cùng vấn đề Nga và việc bồi thường lại trở
thành nội dung chủ yếu của hội nghị. Lần đầu tiên được mời chính thức
tham dự Hội nghị quốc tế Gienova, đoàn đại biểu Xô viết đã đưa ra đề nghị
về việc thiết lập các quan hệ ngoại giao và kinh tế, thực hiện chung sống hoà
bình và tiến hành giải trừ quân bị. Nước Nga Xô viết sẵn sàng bình thường hoá
quan hệ với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ của nhau, hợp tác cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình.
Các nước phương Tây đòi nước Nga xô viết phải thanh toán các khoản nợ
trước đây của chính phủ Nga hoàng và cả chính phủ tư sản lâm thời Kê ren xki,
trả lại các tài sản đã bị quốc hữu hóa cho các nhà đầu tư nước ngoài...tổng số
khoản nợ là 18,4 tỉ Rúp vàng.
Phía nước Nga xô viết tuyên bố sẵn sàng thanh toán các khoản nợ đó, nhưng
các nước phương Tây phải bồi thường những khoản thiệt hại do cuộc vũ trang can
thiệp của
họ
gây
ra
trong
những
năm
1918
–
1920,
ước
tính
39
tỉ
Rúp
vàng. Hội nghị Gienova bế tắc và thất bại. Tuy vậy, việc Nga và Đức ký
kết Hiệp ước Rapallo đã giáng một đòn chí mạng vào âm mưu bao vây, cô lập
nước Nga của các cường quốc phương Tây, đồng thời đánh dấu một thắng lợi
ngoại giao cực kỳ quan trọng của Nhà nước Xô viết. Đức trở thành nước phương
Tây đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Nga.
Những năm tiếp theo, nước Nga Xô viết (từ tháng 12 - 1922 là Liên Xô) đã
từng bước phá vỡ chính sách cô lập của các nước phương Tây và khẳng định vị
trí quốc tế của mình. Đến năm 1925, trải qua hơn 7 năm tồn tại và khẳng định vị
thế của mình, Liên Xô đã được hơn 20 quốc gia trên thế giới, trong đó có các
cường quốc Anh, Pháp, Italia, Nhật chính thức công nhận và thiết lập quan hệ
ngoại giao. Mặc dù mối quan hệ này còn phải trải qua nhiều bước thăng trầm đầy
khó khăn, căng thẳng nhưng thực tế đã khẳng định vai trò, uy tín ngày càng cao
của Liên Xô và những thắng lợi to lớn của nền ngoại giao Xô viết non trẻ.
IV. Sự sụp đổ của trật tự Vécxai – Oasinhtơn
9

Hệ thống Vecxai - Oasinhtơn là một trật tự thế giới mới mà các nước thắng trận áp đặt
đối với các nước bại trận. Các nước chiến bại (nước Đức) bị thiệt thòi nhất nên muốn
thanh toán nó bằng vũ lực, chuẩn bị chiến tranh chia lại thế giới. Bản thân các nước thắng
trận cũng mâu thuẫn với nhau. Trong những năm 1924 1929 xét về góc độ quan hệ quốc tế
là tạm thời ổn định vì các nước thắng trận chưa đi đến chia rẽ triệt để, các nước bại trận
chưa kịp khôi phục lực lượng quân sự. Nhưng khi Đức mạnh lên, mâu thuẫn giữa các
nước đế quốc phát triển tới mức không điều hoà được (vấn đề khả năng sản xuất và thị
trường tiêu thụ). Các nước Nhật – Đức
-Ý từng bước thanh toán hệ thống Vécxai - Oasinhtơn.
+ ĐQ Nhật: kẻ đầu tiên dùng vũ lực phá tan nguyên trạng ở Đông Á bằng cách xâm
lược Đông Bắc Trung Quốc.
+ ĐQ Ý: Xâm lược Êtiôpia, nhòm ngó Địa Trung Hải.
+ ĐQ Đức: huỷ bỏ quy chế Vécxai về bồi thường, hạn chế vũ trang, rút ra khỏi Hội
Quốc liên…mưu toan thôn tính các nước láng giềng.
Sự tan vỡ của hệ thống Vécxai - Oasinhtơn được đánh dấu bằng sự hình thành 3 lò
lửa chiến tranh trên thế giới.
1. Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông:
Nhật xâm lược Trung Quốc.
- Lò lửa chiến tranh bùng nổ sớm nhất ở châu Á bằng việc Nhật phát xít hoá bộ
máy chính quyền, chuẩn bị xâm lược Trung Quốc.
- 1927, Tanaca đưa lên Nhật hoàng bản ''tấu thỉnh" dự kiến quá trình
bành trướng của ĐQ Nhật
=> Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn có dấu hiệu bị phá vỡ.
- 1931 Nhật xâm chiếm được Đông Bắc Trung Quốc, lập nên nhà nước Mãn
Châu =>Mắt xích đầu tiên của của hệ thông Vécxai - Oasinhtơn bị phá vỡ.
- 1931 Nhật xâm chiếm được Đông Bắc TQ lập nên nhà nước Mãn
Châu, mắt xích đầu tiên của Hệ thống Véc xai - Oasinhtơn bị phá vỡ.
- Nhật xâm lược Trung Quốc động chạm tới quyền lợi của các nước tư bản Âu -
Mỹ. Song các nước này không phản ứng vì cònbận giải quyết khủng hoảng kinh tế đồng
thời muốn mượn tay Nhật tiêu diệt cách mạng Trung Quốc và Liên Xô (Nhật tung ra màn
khói báo chí là chống cộng sản quốc tế và chống Liên Xô).
- Trung Quốc gửi đơn khiếu nại tới Hội Quốc Liên song phản ứng của
Hội rất yếu ớt và bất lực: chỉ lên án Nhật "kẻ xâm lược" khuyến cáo Nhật phải rút
quân khỏi khu vực dọc theo đường xe lửa.
- Nhật tuyên bố chính thức rút ra khỏi Hội Quốc Liên để tự do hành động và mở
rộng việc xâm lược ra toàn lãnh thổ Trung Quốc.
=>Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn ở Viễn Đông tan vỡ.
2. Hai lò lửa chiến tranh ở châu Âu
a. Lò lửa chiến tranh thứ hai: Phát xít Đức
- Hành động đầu tiên phá vỡ Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn của Đức là nước này tự
xoá bỏ việc bồi thường chiến tranh.
- Đức tiến hành quân sự hoá bộ máy nhà nước, đòi tái thiết lập lực lượng vũ trang
bằng
lực lượng vũ trang của nước Pháp. Hítle cũng vạch ra một kế hoạch xâm lược: đầu tiên của
là chiếm châu Âu rồi đề ra kế hoạch Âu - Phi, Âu - Á để xâm chiếm các nước châu Phi và
châu Á và các nước Mĩ la tinh.
- 1933 Đức rút ra khỏi Hội Quốc Liên để tự do hành động.
10

- Hitle từng bước tiến hành kế hoạch bành trướng của Đức, đòi sát
nhập những vùng đất ở châu Âu mà thiểu số người Đức sinh sống : Áo, Xarơ, một
phần Ba Lan, Tiệp Khắc…
=> Các nước phương Tây không có phản ứng kiên quyết và thống nhất: Anh
- Pháp - Ý kí hiệp ước phản đối Đức nhưng chỉ trên giấy tờ.Anh thừa
nhận Hải quân Đức = 35% của Anh
=> Giáng đòn mạnh vào hệ thống Vécxai - Oasinhtơn đồng thời nâng cao vị thế
quốc tế cuả Đức - 3.1936 Đức công khai chiếm đóng khu phi quân sự ở sông Ranh.
- Đức kí hiệp ước không xâm lược nhaugiữa Pháp - Bỉ - Đức (trừ
Liên Xô).Như vậy với sự khôn khéo của Đức đã khiến nhiều nước châu Âu đi tìm chỗ dựa
vào Đức quốc xã.
=>Như vậy Hoà ước Vécxai đã bị Đức xoá bỏ.
b. Lò lửa chiến tranh thứ ba: Phát xít Ý
- Italia là nước thắng trận nhưng không được mấy quyền lợi trong Hội nghị Vécxai
nên thuộc loại nước bất mãn. Italia có tham vọng: Khôi phục lại nước La Mã xưa, chiếm
Anbani, Nam Tư, Hi Lạp…; muốn thu một số thuộc địa ở châu Phi và biến Địa Trung
Hảo thành ao nhà. =>Hướng tấn công của Italia chủ yếu là vùng Bắc Phi, Nam Âu, Địa
Trung Hải.
- 1934 phát xít ITALIA xâm lược Êtiôpia. Nước này khiếu nại lên Hội Quốc Liên
nhưng do Anh, Pháp khống chế nên khiếu nại này không có kết quả. Êtiôpia cầu cứu Mỹ
nhưng Mỹ từ chối với lý do "không can thiệp"
- 5.1936, Êtiôpi trở thành thuộc địa của ITALIA. Hội Quốc Liên quyết định trừng
phạt
Italia bằng biện pháp cấm vận kinh tế. Nhưng Mỹ, Đức không tham gia cấm vận nên biện
pháp này kém hiệu quả.
- 12.1937, Italia rút ra khỏi HQL để tự do hành động.
=> Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn lại một lần nữa bị phá vỡ.
=>Như vậy: Trong những năm 1932 - 1935 nguyên trạng của hệ thống Vécxai
Oasinhtơn bị phá vỡ ở nhiều khu vực trên thế giới; đẩy các thế lực phát xít đến gần nhau
và liên minh đến với nhau: hình thành trục phát xít Béclin - Rôma – Tôkyô (11.1937)
V.Con đường dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai
1. Chính sách đối ngoại của ba lực lượng quốc tế: Anh –Pháp -Mĩ; Đức –
Italia Nhật; Liên Xô. Đây chính là nội dung của quan hệ quốc tế giai đoạn 1929 -
1939.
a. Anh,Pháp,Mĩ:
- Anh, Pháp: Thực hiện chính sách hai mặt
+ Một mặt hợp tách với Liên Xô để tăng sức mạnh cho mình.
+
Mặt
khác
thoả
hiệp
và
nhượng
bộ
phát
xít
để
tránh
chiến
tranh
về phía mình, đẩy chiến tranh về phía Liên Xô.
- Riêng Mỹ: đưa ra "Đạo luật trung lập" (1935) cấm bán vũ khí cho các bên tham
chiến.
b. Đức, Ý, Nhật:
- Gây ra ba lò lửa chiến tranh
- Phá vỡ hệ thống Vécxai – Oasinhtơn
- Hình thành phe Trục Béclin – Tôkiô – Rôma
c. Liên Xô:
- Liên Xô là nước duy nhất đứng ra đấu tranh để bảo vệ nền hoà bình thế giới có lợi
cho các dân tộc và thuộc địa, cho các lực lượng yêu chuộng hoà bình và tiến bộ của thế
giới.
- Coi CNPX là kẻ thù nghuy hiểm nhất, chủ trương liên kết các nước tư bản dân
chủ để chống phát xít và nghuy cơ chiến tranh.
11

- Liên Xô gia nhập tổ chức Hội Quốc Liên (9.1934) với tư cách là hội viên
thường trực, tích cực đề ra các các hành động chống CNPX nhưng đều bị các nước tư bản
từ chối hành động.
2. Đức, Nhật Bản bành trướng từ Hội nghị Muyních đến Chiến tranh thế giới
(1937
- 1939)
a. Đức:
- 1938 Đức trở thành nước mạnh nhất châu Âu về kinh tế, quân sự. Đức có trên 3 vạn
xe tăng, 300 phi đội và 3700 máy bay chiến đấu. Công nghiệp Hàng nkhông Đức mỗi năm
có thể đảm bảo sản xuất 6000 máy bay.
=>Hítle quyết định đẩy mạnh bành trướng để xác lập quyền thống trị của "Đại Đức"
- 3.1938 Đức sát nhập Áo vào Đức.
- Đức gây vụ Xuyđét để thôn tính Tiệp Khắc (3.1938 – 3.1939).Ý,
Nhật tuyên bố ủng hộ Đức.Liên Xô tuyên bố sẵn sàng giúp đỡ Tiệp Khắc.Pháp yêu cầu
Tiệp Khắc nhượng bộ để tránh 1 cuộc thập tự chinh mà Anh, Pháp không thể tham gia).
=>Như vậy Pháp đã nhượng bộ, trở ngại cho Đức đã bị dỡ bỏ.
- Chính phủ Tiệp buộc phải chấp nhận cho Xuyđét quyền tự trị. Nhưng Đức đòi đóng
chiếm Xuyđét trước 1.10.1938, quá thời hạn là chiến tranh.
=> Tình hình trở nên căng thẳng. Hội nghị Muyních được triệu tập
đểgiải quyết vấn đề vào 30.9.1938: Trao toàn bộ vùng Xuyđét của Tiệp cho Đức. Đổi
lại: Hítle cam kết chấm dứt mọi cuộc thôn tính và kí với Sămbéclanh một bản tuyên
bố Anh– Đức không xâm lược lẫn nhau, với Pháp cũng vậy. Đại biểu Tiệp Khắc được
mời đến chỉ để tiếp nhận và thi hành hiệp định. Liên xô bị gạt ra ngoài. Mĩ là quan sát
viên. =>Hội nghị Muyních thể hiện đỉnh cao của sự phản bội của Anh, Pháp, Mĩ đối với
vận mệnh của châu Âu và thế giới.
-Tháng 3.1939 Đức thôn tính toàn bộ Tiệp Khắc.
- Cuối tháng 3.1939 Đ bắt đầu gây hấn với Ba Lan và kế hoạch đánh chiếm Ba Lan
đã được soạn thảo kỹ lưỡng.
- Liên minh Liên Xô - Anh - Pháp thất bại trong việc giúp Ba Lan =>
Phát xít Đức có điều kiện phát triển.
b. Nhật Bản:
- Sau cuộc đảo chính của phái sỹ quan trẻ (1936) thì đến tháng 7.1937 Nhật bắt đầu
chiến tranh đại quy mô ở Trung Quốc. Chính phủ Tưởng Giới Thạch buộc phải đình
chỉ nội chiến hợp tác với ĐCS để chống Nhật.
=> Như vậy Nhật đã làm một việc xưa nay chưa từng có nước đế
quốc phương Tây nào dám làm là độc chiếm Trung Quốc,làm tổn hại đến quyền lợi
các nước đế quốc nhưng các nước này không giúp gì cho Trung Quốc vì thực hiện chính
sách 2 mặt, chỉ có Liên Xô giúp Trung Quốc.
- Cuộc xâm lược Trung Quốc của Nhật Bản vấp phải sức kháng cự mãnh liệt của
nhân dân Trung Quốc nên chiến tranh tiếp tục kéo dài.
- 1938 -1939 Nhật 2 lần tấn công vào lãnh thổ Liên Xô và Mông Cổ
(Khankhingôn và Khaxan) nhưng tất bại trước quân đội Liên xô.
=>Mặc dù bị thất bại trong cuộc đọ sức với Liên Xô nhưng phương Tây vẫn hy vọng
vào
Nhật là tên lính xung kích chống Liên Xô ở phía đông.Mĩ đề nghị các nước phương
Tây và Nhật triệu tập hội nghị Thái Bình Dương để chuẩn bị cho Trung Quốc có số phận
giống Tiệp khắc. Nhưng vì mâu thuẫn Mĩ - Nhật nên hội nghị không thành. Anh ký "hiệp
định Arita - Cơrâygi".Đây gọi là vụ Muyních phương Đông: vì nó đã giao Trung Quốc cho
Nhật để đổi lấy cuộc chiến tranh của Nhật chống Liên Xô.
12

c. Hành động của Liên Xô:
- Thất bại trong việc liên minh với Anh, Pháp làm cho Liên Xô bị cô lập và bị chiến
tranh đe doạ từ hai phía:
+ Phía Viễn Đông: tuy quân Nhật bị thất bại trong những lần thử sức
1938 - 1939 nhưng nguy cơ xâm lược vẫn còn.
+ Phía Tây: quân Đức có khả năng tràn qua Ba Lan để tiến đánh
Liên Xô. Liên Xô buộc phải kí Hiệp ước không xâm phạm Xô - Đức (8/1939) có hiệu
lực trong 10 năm Lý do:
+
Đức
e ngại
khả
năng thắng
Liên
Xô và
cho rằng Anh,
Pháp
chưa chuẩn
bị
kỹ
cho
chiến
tranh.
Hítle
quyết
định
đánh Tây
Âu
trước,
chủ
động ký với Liên Xô hiệp định không xâm phạm để rảnh tay mặt
trận phía Đông. Đức sẽ tạm thời loại một đối thủ hùng mạnh và một đòn
bất ngờ làm phá sản chính sách 2 mặt của Anh, Pháp.
+
Liên
Xô:
Đây
là giải
pháp
tốt nhất
để
bảo
vệ
quyền
lợi
quốc
gia trong tình thế bị cô lập đồng thời việc kí hiệp ước này còn nhằm
mục đích phân hoá kẻ thù và có thời gian để chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến sắp tới.
- Cuối 1938 quan hệ quốc tế hoàn toàn căng thẳng: Đức tích cực chuẩn bị kế hoạch
xâm lược Ba Lan: Yêu cầu Ba Lan phải trao trả vùng Đăngzích của mình, đưa lực
lượng quân đội áp sát biên giới Ba Lan, chuẩn bị thực hiện "Kế hoạch trắng"
- 1.9.1939:
Đức
tấn
công
Ba
Lan,
chiến
tranh
thế
giới
thứ
hai
bùng
nổ.
VI.
MỘT SỐ CÂU HỎI LUYỆN ĐỀ
Câu hỏi 1: Bối cảnh ra đời và tác động của trật tự Vécxai -Oaisinhton đến
quan hệ quốc tế, nguyên nhân sụp đổ.
a.
Bối cảnh :
Sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) kết thúc, quan hệ quốc tế bước
sang một thời kì mới và chịu ảnh hưởng hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp của cuộc chiến
tranh.
-
Chiến tranh thế giới thứ nhất làm thay đổi tương quan lực lượng giữa các nước
đế quốc một cách rõ rệt. Các nước trong phe Liên minh bị thất bại nặng nề. Các cường
quốc châu Âu trong phe Hiệp ước tuy là những nước thắng trận, nhưng do chiến
trường chính diễn ra ở châu Âu nên cũng bị suy yếu, kiệt quệ và trở thành con nợ của
Mỹ. Ba đế quốc rộng lớn ở châu Âu là Nga, Đức, Áo-Hung bị sụp đổ.
Trong khi đó, các cường quốc ngoài châu Âu (Mỹ, Nhật), nhờ ở xa chiến trường
chính, được bao bọc bởi đại dương, không bị chiến tranh tàn phá nên đã vươn lên
nhanh chóng vượt qua các nước tư bản ở châu Âu. Chỉ riêng việc lợi dụng chiến tranh
buôn bán vũ khí đã đem lại cho tư bản Mỹ món lợi nhuận khổng lồ.
-
Chiến tranh đế quốc đã đẩy mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản lên cao,làm
xuất hiện thời cơ cách mạng ở một số nước, tiêu biểu là ở nước Nga. Thắng lợi của
cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thiết lập nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên
trên thế giới đã tác động lớn đến quan hệ quốc tế giữa các nước. Tạo ra một bước
chuyển căn bản của tình hình thế giới. Chủ nghĩa tư bản không còn tồn tại như một hệ
thống duy nhất thống trị thế giới nữa. Sự tồn tại của nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu
tiên trên thế giới đã trở thành thách thức to lớn đối với các nước tư bản chủ nghĩa
bởi cách mạng
13

Nga đã chặt đứt khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền đế quốc chủ nghĩa và cách mạng
tháng Mười Nga cũng đã chứng minh cho các dân tộc bị áp bức, yêu chuộng hòa bình
trên thế giới thấy rằng chủ nghĩa Mác-Lê nin là một học thuyết khoa học có thể thành
công trên thực tế. Từ đây trong quan hệ quốc tế của các nước lớn còn bị chi phối bởi
một yêu cầu khác là làm sao chống phá, tiêu diệt được nước Nga Xô viết.
-
Để có đủ nhân lực, vật lực ném vào cuộc chiến tranh thế giới, các nước tham
chiến tiến hành vơ vét, bóc lột nặng nề nhân dân các nước thuộc địa làm cho mâu
thuẫn vốn có giữa các nước thuộc địa với chính quốc ngày càng lên cao, mặt khác
chiến tranh làm cho các nước đế quốc-kẻ thù của phong trào cách mạng thế giới suy
yếu; hơn nữa thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga không chỉ cổ vũ mà còn chỉ
đường cho các dân tộc khác trên thế giới đấu tranh nên sau chiến tranh thế giới thứ
nhất, cao trào cách mạng đã bùng nổ và dân cao mạnh mẽ . Ở châu Âu ,cao trào cách
mạng kéo dài suốt năm 1918-1923, chính quyền Xô viết đã được thiết lập tại Hungari
và một số nơi của Đức. Ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, phong trào đấu tranh giành
độc lập dân tộc bùng nổ và giành nhiều kết quả to lớn.
b.
Tác động của trật tự Vécxai -Oasinhton đến quan hệ quốc tế.
Thứ nhất, Trât tự Vécxai -Oasinhton là kết quả của hệ thống hòa ước Vécxai và
hệ thống hòa ước Oasinhton, trật tự thế giới này hoàn toàn phục vụ cho các nước thắng
trận, chà đạp lên quyền lợi của các dân tộc. Các nước bại trận không những phải chịu
bồi thường những khoản chiến phí nặng nề mà lãnh thổ còn bị cắt bớt hoặc “xé nhỏ”
làm tổn thương tinh thần dân tộc và gây ra những mâu thuẫn sâu sắc giữa các nước đế
quốc thắng trận với các nước đế quốc bại trận. Đây là một trong những lí do làm xuất
hiện chủ nghĩa phục thù ở Đức-gốc rễ của việc hình thành chủ nghĩa phát xít Đức.
Thứ hai, hệ thống hòa ước Vécxai -Oasinhton tạo nên mâu thuẫn giữa các cường
quốc do sự phân chia quyền lợi không đồng đều. Anh không những mở rộng hệ thống
thuộc địa mà còn giành quyền bá chủ trên mặt biển về hải quân. Pháp được mở rộng
lãnh thổ, đồng thời với sự suy sụp của Đức, đã tạo điều kiện có lợi cho Pháp trong việc
thay đổi so sánh lực lượng ở châu Âu. Pháp muốn “bóp cho Đức lè lưỡi ra” nhưng vì
muốn khống chế Pháp, Anh đã giúp đỡ để Mỹ “với tay” sang châu Âu,đẩy mạnh hỗ trợ
giúp đỡ Đức về mặt kinh tế. Tuy nhiên, Sau khi phục hồi kinh tế, Đức không có được
thị trường tương xứng và sự phục hồi của quốc gia này trở thành mối đe dọa cho nước
Pháp. Ở châu Á-Thái Bình Dương, Italia đồ bá chủ của Nhật bị thất bại bởi thông qua
hệ thống hòa ước Oasinhton, Mỹ đã can thiệp sâu vào khu vực này. Nội bộ phe đế
quốc bị phân chia thành các nước thỏa mãn và những nước không thỏa mãn với hệ
thống. Do vậy, quan hệ giữa các nước lớn ngày càng chồng chéo và mâu thuẫn ngày
càng sâu sắc. Như vậy, với sự phân chia quyền lợi không đồng đều, trật tự Vécxai -
Oasinhton đã làm sâu sắc thêm quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc,
làm cho hòa bình được thiết lập sau thế chiến chứa đựng nhiều mâu thuẫn và bất
ổn, mầm móng của một cuộc chiến tranh thế giới mới đã hình thành.
c.
Nguyên nhân sụp đổ của trật tự Vécxai -Oasinhton
Trật tự Vécxai -Oasinhton không làm thỏa mãn tham vọng của nhiều nước, không
giải quyết thỏa đáng việc trừng phạt các nước bại trận nên vấn đề hòa bình, ổn định,
tồn tại lâu dài trong trật tự Vécxai -Oasinhton là không thể. Đến tháng 9/1939, khi
chiến
14

tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thì trật tự này sụp đổ hoàn toàn. Trật tự Vécxai
-Oasinhton sụp đổ là do những nguyên nhân sau:
-Thứ nhất, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) bùng nổ đã chấm dứt
thời kì ổn định của chủ nghĩa tư bản cùng với ảo tưởng về một kỷ nguyên hoàng kim.
Cuộc khủng hoảng bùng nổ tháng 10-1929 đã nhanh chóng tràn sang châu Âu, bao
trùm toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa để lại những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế,
chính trị, xã hội…làm suy yếu các nước đế quốc.
-Thứ hai, do việc phát triển không đồng đều giữa các nước tư bản cùng với hậu
quả cuả cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) đã hình thành những xu hướng
khác biệt trong việc tìm kiếm con đường phát triển giữa các nước tư bản chủ nghĩa.
Các nước không có hoặc có ít thuộc địa chủ trương đi theo con đường phát xít hóa, chủ
trương phá vỡ trật tự Vécxai -Oasinhton, chuẩn bị gây chiến tranh chia lại thế giới.
Trong khi đó, các nước Anh, Pháp, Mỹ là những nước có nhiều quyền lợi sau chiến
tranh (có vốn, thị trường, thuộc địa) nên chủ trương tiếp tục duy trì nền dân chủ tư sản
đại nghị, duy trì nguyên trạng trật tự do hòa ước Vécxai -Oasinhton tạo ra. Hai xu
hướng nhằm thoát khỏi cuộc đại khủng hoảng đã tạo ra hai khối đế quốc đối lập, đặt
thế giới trước nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới mới. Điều này cũng chứng
tỏ, trật tự Vécxai
-Oasinhton không đủ khả năng duy trì trật tự thế giới mà các cường quốc đã sắp đặt
trước đó.
-Thứ ba, quan hệ giữa các cường quốc tư bản trong thập niên 30 chuyển biến
ngày càng phức tạp.
Sự hình thành hai khối đế quốc đối lập và việc chạy đua vũ trang giữa hai khối đã
phá vỡ hệ thống thỏa hiệp tạm thời Vécxai -Oasinhton. Quan hệ quốc tế giữa các nước
đế quốc từ 1929-1939 với việc hình thành ba lò lửa chiến tranh (lò lủa chiến tranh ở
Viễn Đông của phát xít Nhật, 2 lò lửa chiến tranh của phát xít Đức và Italia ở châu Âu)
và các hoạt động quân sự của phe phát xít đã báo hiệu sự sụp đổ của trật tự thế giới
Vécxai -Oasinhton.
-Thứ tư, Hệ thống hòa ước Vécxai -oasinhton không thể điều hòa được quyền lợi
giữa các nước đế quốc, mà sau khi kí các hòa ước thì mâu thuẫn giữa các nước đế quốc
đã xuất hiện và ngày càng tăng. Vì trật tự thế giới hoàn toàn phục vụ quyền lợi của các
nước đế quốc thắng trận, chà đạp lên quyền lợi của các dân tộc, gây mâu thuẫn giữa
các nước đế quốc. Tính chất bất bình đẳng của trật tự này thể hiện rõ nét trong việc các
nước chậm phát triển trên thực tế không có quyền tham gia các công việc của thế giới.
Trật tự này ngày càng làm sâu sắc quy luật phát triển không đồng đều của các nước đế
quốc.
Như vậy, ngay từ đầu trật tự Vécxai-Oasinhton đã mang trong mình những mâu
thuẫn không thể điều hòa được. Nguyên nhân sâu xa làm sụp đổ trật tự Vécxai-
Oasinhton cũng đồng thời là nguyên nhân dẫn đến việc bùng nổ chiến tranh thế giới
thứ hai (1939-1945), bởi chiến tranh thế giới thứ hai là sự kiện “khai tử” trật tự này.
→Như vậy, một trật tự thế giới được hình thành là kết quả của nhiều yếu tố
nhưng trong đó quyền sắp đặt và chi phối trật tự thường phụ thuộc vào quan hệ giữa
các cường quốc lớn. Vì vậy, có thể nói một trật tự thế giới luôn luôn biến động không
ngừng bởi nó phụ thuộc vào sự thay đổi vị thế của các quốc gia trên thế giới. Lực
lượng nào nắm
15

quyền chi phối trật tự thế giới sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ quốc tế trong giai
đoạn nó tồn tại.
Câu hỏi 2: Lập bảng so sánh những điểm giống nhau (về đặc điểm kinh tế,
bản chất, mưu đồ và thái độ trong quan hệ quốc tế) và những điểm khác nhau (về
quá trình xác lập chủ nghĩa phát xít, tiềm lực giữa ba nước phát xít Đức, Italia,
Nhật Bản. Qua đó, nêu bản chất của chủ nghĩa phát xít.
• Sự giống nhau:
Đặc điểm kinh tế (1 điểm) Bản chất (1 điểm) Mưu
đồ, thái
độ
trong
quan hệ quốc tế (1 điểm)
Nghèo tài nguyên, ít
thuộc địa (hoặc không có),
thị trường tiêu thụ hẹp…
Thực hiện nền chuyên
chính khủng bố công khai
của những phần tử phản
động nhất, sô vanh nhất,
đế quốc chủ nghĩa nhất
của tư bản tài chính…
Đều bất mãn với hệ
thống Véc-xai Oa-sinh-tơn.
Đều có âm mưu dùng
vũ lực và chiến tranh để
chia lại thế giới…
• Sự khác nhau:
Nội dung
so sánh
Italia Đức Nhật Bản
Quá
trình
xác
lập (1.5
điểm)
Tiềm
lực (1.5
điểm)
- Thay thế nền
dân chủ đại nghị
bằng chế độ phát
xít…
- Quá trình
phát xít hóa diễn ra
nhanh và sớm…
- Hạn chế (Lê-
nin gọi là CNĐQ
của những kẻ
nghèo khổ)
- Thay thế nền
dân chủ đại nghị,
chuyển sang chế độ
chuyên chế phát
xít.
- Quá trình
phát xít hóa diễn ra
nhanh chóng.
- Mạnh (nước
lớn, có tiềm lực
mạnh về kinh tế,
quân sự, có trình độ
cao về khoa học –
kĩ
16
- Chế độ chuyên chế
Thiên Hoàng dựa trên nền
tảng chủ nghĩa quân phiệt, do
đó quá trình phát xít hóa diễn
ra chủ yếu trong chính sách
của nhà nước.
- Quá trình phát xít hóa
kéo dài về thời gian và gắn
với quá trình chiến tranh
xâm
lược.
- Tương đối mạnh.

c. Bản chất của chủ nghĩa phát xít:
Mặc dù các nước phát xít cũng là các nước đế quốc nhưng thực chất chủ nghĩa
phát xít là nền chuyên chính khủng bố công khai của những phần tử phản động nhất,
sô vanh nhất, đế quốc chủ nghĩa nhất của tư bản tài chính.
Nó thay thế chế độ dân chủ tư sản đại nghị bằng nền thống trị độc tài tàn bạo nhất
của các tập đoàn đại tư sản. Nó hoàn toàn không phải là sự vùng dậy của giai cấp tiểu
tư sản như các đảng này tuyên truyền hòng lôi kéo đông đảo thanh niên, học sinh, sinh
viên tham gia bị biến thành lực lượng xung kích của chúng.
Do vậy chủ nghĩa phát xít không chỉ mâu thuẫn với chủ nghĩa xã hội mà đối
lập với tất cả các lực lượng đấu tranh cho hoà bình và dân chủ, chống chiến tranh đế
quốc.
Câu hỏi 3: Nêu đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 –
1933). Giải thích vì sao trong bối cảnh khủng hoảng đó, các nước Anh – Pháp –Mĩ
vẫn giữ nguyên nền dân chủ tư sản, còn Đức – Italia – Nhật Bản lại thiết lập chế
độ độc tài phát xít ? Điều đó đã tác động như thế nào đến quan hệ quốc tế?
1.
Đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) :
-
Kéo dài nhất (từ 1929 – 1933).
-
Tàn phá nặng nề nhất (có thể nêu một vài dẫn chứng cho thấy sự thiệt hại
ở Mĩ, ở Bra-xin).
-
Toàn diện nhất (diễn ra ở tất cả ngành kinh tế).
-
Phạm vi rộng lớn : ở hầu hết các nước tư bản.
-
Gây nên những hậu quả chính trị - xã hội tai hại nhất.
2.
Vì sao trong bối cảnh khủng hoảng đó, các nước Anh – Pháp – Mĩ vẫn giữ
nguyên nền dân chủ tư sản, còn Đức – Italia – Nhật Bản lại thiết lập chế độ độc
tài phát xít ?
* Để đối phó lại cuộc khủng hoảng kinh tế và đàn áp phong trào cách
mạng, ngoài những chính sách và biện pháp về kinh tế thông thường ra, giai
cấp tư sản cầm quyền ở các nước tư bản đã lựa chọn 2 lối thoát :
Đức – Italia – Nhật Bản:
-
Ít thuộc địa, nghèo tài nguyên, thị trường tiêu thụ hẹp Khả năng chống đỡ khủng
hoảng kém.
-
Không thoả mãn với hệ thống VécxaiOasinhtơn.
-
Truyền thống quân phiệt nặng nề. Do vậy, Đức – Italia – Nhật Bản chọn
con đường phá vỡ nền dân chủ tư sản, thiết lập nền độc tài phát xít.
Anh – Pháp – Mĩ:
-
Nhiều thuộc địa, giàu tài nguyên, thị trường tiêu thụ lớn. Khả năng chống đỡ
khủng hoảng cao.
-
Thoả mãn với hệ thống VécxaiOasinhtơn.
-
Truyền thống dân chủ tư sản sâu sắc.
17

Do vậy, Anh – Pháp – Mĩ chọn con đường giữ nguyên nền dân chủ tư sản, tiến
hành cải cách kinh tế - xã hội, ôn hoà để thoát khỏi khủng hoảng.
Câu hỏi 4: Nhận xét và lý giải những đặc điểm của 2 trật tự thế giới được
hình thành trong thế kỷ XX
-
Lịch sử phát triển của xã hội loài người trong TK XX đã chứng kiến sự tồn tại
và tan rã của 2 trật tự thế giới theo hệ thống Vecxai- Oasinhtơn (1919- 1939) và trật tự
2 cực Ianta (1945- 1991). Làm rõ những đặc điểm của các trật tự thế giới trong thế kỷ
XX sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn đúng đắn hơn, khách quan hơn về sự ra đời của
trật tự thế giới mới hiện nay. Trật tự theo hệ thống Vecxai- Oasinhtơn và trật tự 2 cực
Ianta có những đặc điểm cần lưu ý như sau:
1-
Cả hệ thống Véc xai- Oasinhtơn và trật tự 2 cực Ianta đều là kết quả của
những cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu trong lịch sử nhân loại
2-
Đều do các cường quốc thắng trận thiết lập để phục vụ những lợi ích cao nhất
của họ
3-
Đều có các tổ chức quốc tế được thành lập để giám sát và duy trì trật tự thế
giới (Hội Quốc Liên và Liên Hợp Quốc)
4-
Đều chỉ tồn tại có ý nghĩa tương đối, trong một khoảng thời gian nhất định.
5-
Đều không giải quyết được những mâu thuẫn, những bất hòa trong quan hệ
quốc tế.
-
Cả 2 trật tự thế giới trong thế kỷ XX đều được sinh ra từ 2 cuộc chiến tranh tàn
khốc nhất trong lịch sử loài người và đều do các cường quốc thắng trận thiết lập để
phục vụ những lợi ích cao nhất của họ.. Chiến tranh thế giới I vừa kết thúc, các nước
thắng trận hay chính xác hơn là những nước có vai trò quyết định đến kết cục của
chiến tranh đã lập ra trật tự theo hệ thống Vecxai- Oasinhtơn. Ở trật tự 2 cực Ianta, tình
hình cũng như vậy. Chiến tranh thế giới II gần đến hồi kết, tháng 2/1945, các nước có
vai trò quyết định trong chiến tranh như Mỹ, Liên Xô, Anh đã tổ chức Hội nghị Ianta,
tạo cơ sở cho ra đời của Trật tự 2 cực Ianta. Như vậy, chiến tranh là yếu tố đầu tiên
quyết định sự xuất hiện trật tự thế giới trong thế kỉ XX.
18

-
Ở cả 2 trật tự thế giới trong TK XX đều lập ra một tổ chức quốc tế nhằm duy trì
những nghị quyết mà các nước thắng trận đã đề ra và giám sát, duy trì trật tự thế giới:
đó là Hội Quốc Liên (trong trật tự Véc-Oa) và Liên Hợp Quốc (trong trật tự Ianta). Các
tổ chức quốc tế lớn này đã có những vai trò nhất định trong các mối quan hệ quốc tế
sau chiến tranh.
-
Cả 2 trật tự thế giới trong thế kỷ XX chỉ tồn tại có ý nghĩa tương đối. Nó dễ bị
rạn nứt, luôn luôn bị đe dọa phá vỡ, bị xói mòn ngay từ khi nó mới ra đời. Trật tự theo
hệ thống Vecxai- Oasinhtơn ra đời 1919 thì chỉ 10 năm sau, thế giới lâm vào cuộc
khủng hoảng kinh tế 1929- 1933 rồi sau đó là sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít, trật
tự theo hệ thống Vecxai- Oasinhtơn đã bị rạn nứt. Các nước Đức, Nhật, Italia không
chấp nhận sự sắp đặt của Anh- Pháp- Mỹ trong quan hệ quốc tế, đã gây ra cuộc Chiến
tranh thế giới thứ hai đưa đến sự sụp đổ của trật tự này. Ở trật tự 2 cực Ianta, tình hình
cũng tương tự. Nó ra đời trong những năm 1945 - 1947 thì đến những năm 50, đầu 60
với sự thắng lợi của cách mạng Trung Quốc, sự phát triển kinh tế của Nhật Bản, Tây
Âu cũng khiến trật tự này bị xói mòn nghiêm trọng. Trung Quốc đầu những năm 60
không chấp nhận Liên Xô đứng đầu hệ thống XHCN nữa, thậm chí coi Liên Xô là đế
quốc xã hội. Ở phía bên kia, Nhật Bản, Tây Âu cũng không còn chấp nhận sự chi phối
tuyệt đối của Mỹ.
-
Cả 2 trật tự thế giới trong thế kỷ XX đều không giải quyết được những mâu
thuẫn, những bất hòa trong quan hệ quốc tế. Mâu thuẫn giữa các nước diễn ra gay gắt.
Ở trật tự theo hệ thống Vecxai- Oasinhtơn, các nước bại trận trong Chiến tranh thế giới
I (đặc biệt là Đức) bị thua thiệt sau chiến tranh, bị mất hết thuộc địa nên những nước
này luôn tìm cách phá bỏ trật tự đã được xác lập để phân chia lại thế giới bằng vũ lực.
Ở trật tự 2 cực Ianta, tình hình cũng như vậy. Quan hệ giữa hai cực, hai hệ thống luôn
trong tình trạng đối đầu, căng thẳng, khiến nguy cơ chiến tranh thế giới có thể xảy ra
bất cứ lúc nào.

TRẬT TỰ VECXAI
Thiết lập trật tự thế giới mới theo hệ thống Vécxai-Oasinhtơ
Sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước tư bản đã tổ chức Hội nghị hòa bình ở
Vec-xai và Oa-sinh-tơn để kí kết hòa ước và phân chia quyền lợi. Hội nghị hòa bình ở Véc-xai
(1919 – 1920) đã tiến hành thiết lập một trật tự thế giới mới mang tên hệ thống hòa ước Vecxai
- Oasinhtơn, nhằm đảm bảo sự hòa bình và ổn định trên toàn thế giới.
Trật tự thế giới mới.
2. Thiết lập trật tự thế giới mới theo hệ thống Vécxai-Oasinhtơn:
2.1. Sự hình thành/bối cảnh
Sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước tư bản đã tổ chức Hội nghị hòa bình ở
Vec-xai và Oa-sinh-tơn để kí kết hòa ước và phân chia quyền lợi. Hội nghị hòa bình ở Véc-xai
(1919 – 1920) đã tiến hành thiết lập một trật tự thế giới mới mang tên hệ thống hòa ước Vecxai
– Oasinhtơn, nhằm đảm bảo sự hòa bình và ổn định trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, điều này phải đối mặt với nhiều thử thách. Các nước tư bản đã tham gia vào Hội
nghị hòa bình với mong muốn đạt được một hòa ước công bằng và bền vững, nhưng sự mâu
thuẫn giữa các nước về việc phân chia quyền lợi khiến cho quá trình đàm phán trở nên phức
tạp và khó khăn hơn. Nhiều quốc gia đã phải chấp nhận những thỏa thuận không hài lòng hoặc
thậm chí là không công bằng, dẫn đến việc tạo ra các mối đe dọa cho mối quan hệ hòa bình và
ổn định trên toàn cầu.
Tuy nhiên, Hội nghị hòa bình ở Véc-xai đã cung cấp cho thế giới một bản đồ mới về quan hệ
quốc tế. Nó đã cho thấy rõ ràng rằng, để đảm bảo sự hòa bình và ổn định, các quốc gia cần phải
hợp tác với nhau và giải quyết các bất đồng thông qua đàm phán và thỏa thuận.
2.2. Hệ quả:
Tuy nhiên, việc phân chia quyền lợi chưa thỏa đáng giữa các nước tư bản đã dẫn đến sự mâu
thuẫn giữa chính họ. Hơn nữa, sự thắng trận của các nước tư bản đã gây ra mâu thuẫn giữa các
nước thắng trận và các nước bại trận. Do đó, quan hệ hòa bình giữa các nước tư bản trong thời
kì này chỉ mang tính tạm thời và mỏng manh.
Ngoài ra, sự mâu thuẫn giữa các nước tư bản đã khiến cho các quốc gia phải cố gắng nối kết
với nhau để đối phó với các thách thức toàn cầu. Để đảm bảo sự hòa bình và ổn định trên toàn
thế giới, Hội Quốc Liên đã được thành lập vào năm 1920 với sự tham gia của 44 nước. Mục
tiêu chính của Hội Quốc Liên là tạo ra một sân chơi công bằng cho các quốc gia, giải quyết các
mâu thuẫn và nổi lên như một tổ chức quốc tế quan trọng.
Tuy nhiên, việc thành lập Hội Quốc Liên chỉ là một bước đầu tiên để đảm bảo sự ổn định và
hòa bình trên toàn thế giới. Các mâu thuẫn và xung đột vẫn tiếp tục tồn tại, đặc biệt là trong
thời kì sau đó, khi thế giới đang phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng và xung đột lớn hơn
như Chiến tranh thế giới thứ hai và Chiến tranh Lạnh.
Tuy nhiên, sự thành lập của Hội Quốc Liên đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch
sử thế giới và đã đóng góp rất lớn vào sự hòa bình và ổn định trên toàn thế giới. Nó đã mở ra
một thời kì mới trong sự phát triển của các quốc gia và tạo ra cơ hội để các quốc gia có thể hợp
tác với nhau và giải quyết các vấn đề toàn cầu. Thế giới đã bước vào một thời kì mới, với sự
chú trọng hơn nữa đến việc xây dựng và duy trì một môi trường hòa bình và ổn định trên toàn
cầu.
3. Tác động/ ảnh hưởng
Các văn kiện ký ở hội nghị Véc - xai và Oa - sin - tơn sau chiến tranh thế giới thứ nhất đã ảnh
hưởng lớn đến tình hình thế giới, các nước thắng trận trước hết là Anh, Pháp, Mĩ, Nhật giành
được nhiều quyền lợi về kinh tế và áp đặt sự nô dịch, thống trị đối với các nước bại trận, đồng
thời làm nảy sinh những bất đồng mới gay gắt hơn do mâu thuẫn về quyền lợi giữa các nước
Tư bản.
Câu 3: ĐÁNH GIÁ VÀ NHẬN XÉT VỀ HỆ THỐNG VECXAI – WASHINGTON
1. Đánh giá về tính bền vững:
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.