Lỗi cố ý gì? Đặc điểm của lỗi cách phân
loại lỗi cố ý
1. Khái niệm lỗi
Lỗi điều sai sót, không nên, không phải trong cách xử, hành động trong
đời số hàng ngày, theo đó, lỗi được đồng nhất với hành vi, tuy nhiên trong
quan hệ pháp lý lỗi được nhìn nhân dưới góc độ trạng thái tâm lý.
Theo các sách báo pháp lý, Lỗi được định nghĩa thái độ tâm của con
người đối với hành vi tính gây thiệt hại cho hội của mình đối với hậu
quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức ý cố ý.
mặt hình thức của lỗi, quan hệ tâm đây bao gồm yếu tố trí ý chí.
Hai yếu tố y thể hiện năng lực nhận thức năng lực điều khiển hành vi
của con người yếu tố tâm cần thiết của mọi hành vi của con người.
Nhìn chung định nghĩa này đã phản ánh chung nhất đặc điểm của yếu tố lỗi
trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
2. Các hình thức lỗi
- Lỗi cố ý trực tiếp trường hợp người phạm tội nhận thức hành vi của
mình nguy hiểm cho hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó mong
muốn hậu quả xảy ra.
- Lỗi cố ý gián tiếp trường hợp người phạm tội nhận thức hành vi của
mình nguy hiểm cho hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó thể xảy
ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn ý thức dể mặc cho hậu quả xảy ra
- Lỗi ý quả tự tin trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi
của mình thể gây ra hậu quả nguy hại cho hội nhưng cho rằng hậu quả
đó sẽ không xảy ra hoặc thể ngăn ngừa được.
- Lỗi ý cẩu thả trường hợp người phạm tội không thấy trước hành vi
của mình thể gây ra hậu quả nguy hại cho hội mặc dù phải thấy trước
thể thấy trước hậu quả đó.
3. Đặc điểm của lỗi
Một hành vi được coi lỗi khi đủ hai điều kiện sau:
(i) Hành vi trái pháp luật hình sự: những hành vi thực hiện không đúng quy
định của pháp luật, phạm tới khách thể luật hình sự bảo vệ.
(ii) nh vi đó kết qu của sự tự lựa chọn quyết định của người thực
hiện hành vi khi khả năng điều kiện để lựa chọn quyết định xử sự
khác không trái pháp luật hình sự.
Để xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại cho hội
lỗi trong việc thực hiện hành vi đó hay không, ta cần xác định tính lỗi
của tội phạm. Lỗi một yếu tố quan trọng để nhận biết tội phạm, yếu tố
bên trong nguyên nhân chủ quan của tội phạm.Ví dụ: Xuất phát từ mâu
thuẫn nhà đất, A ra tay đánh B gây thương tích với t lệ thương tật trên
20%. Trong trường hợp này, hành vi ra tay đánh B của A hành vi lỗi,
xuất phát từ yếu tố tâm bên trong của A làm A mất kiểm soát đã dẫn tới
việc A thực hiện hành vi mang tính nguy hiểm cho hội đối tượng trực
tiếp đây quyền con người được Nhà ớc thông qua pháp luật Hình sự
bảo vệ. Đây kết quả của sự tự lựa chọn đưa ra quyết định của A trong khi
A thể đưa ra sự lựa chọn khác không trái với quy định của pháp luật.
Chủ thể của một hành vi được coi lỗi khi thỏa mãn 2 điều kiện: đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự không b mất năng lực hành vi theo quy định của
pháp luật.
4. Khái niệm lỗi cố ý
Lỗi cố ý lỗi trong trường hợp chủ th ý thức lựa chọn hành vi phạm tội
mặc đ điều kiện lựa chọn xử sự khác không nguy hiểm cho hội.
Lỗi cố ý một trong hai loại lỗi theo Luật hình sự Việt Nam. Trong đó, lỗi cố ý
tính nguy hiểm cao hơn. Loại lỗi này đòi hỏi các dấu hiệu:
1) Hành vi khách quan chủ thể thực hiện hành vị tính chất phạm tội
(hành vi các dấu hiệu khách quan cấu thành tội phạm đòi hỏi);
2) Ch thể ý thức được tính chất phạm tội của hành vi được thực hiện;
3) Chủ thể đã lựa chọn hành vi tính chất phạm tội đó khi điều kiện lựa
chọn hành vị khác.
Lỗi cố ý trường hợp một người nhận thức hành vi của mình sẽ gây thiệt
hại cho người khác mà vẫn thực hiện mong muốn hoặc tuy không mong
muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra theo Điều 364 B Luật tố tụng dân
sự.
Theo quy định tại điều 10, Bộ Luật hình sự 2015, quy định về Cố ý phạm tội
như sau:
Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1. Người phạm tội nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho hội,
thấy trước hậu quả của hành vi đó mong muốn hậu quả xảy ra;
2. Người phạm tội nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho hội,
thấy trước hậu quả của hành vi đó thể xảy ra, tuy không mong muốn
nhưng vẫn ý thức đ mặc cho hậu quả xảy ra.
5. Phân loại lỗi cố ý
Tại Điều 9 của BLHS, cố ý phạm tội bao gồm hai trường hợp:
5.1 Lỗi cố ý trực tiếp
Người phạm tội nhận thức hành vi của mình nguy hiểm cho hội. Thấy
trước hậu qu của hành vi đó mong muốn hậu quả xẩy ra. Để bị coi
lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội phải đầy đủ ba điều kiện:
(1) Nhận thức hành vi của mình nguy hiểm cho hội (ví dụ: biết cầm
giao đâm vào người khác sẽ gây nguy hiểm cho người bị đâm, phóng nhanh
vượt ẩu sẽ gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông…).
(2) Thấy trước hậu quả của hành vi đó (ví dụ: biết cầm giao đâm người
khác)
(3) Mong muốn hậu quả xẩy ra (ví dụ: mong muốn người bị đâm chết hoặc
thương tích…).
5.2 Lỗi cố ý gián tiếp
Người phạm tội nhận thức hành vi của mình nguy hiểm cho hội; thấy
trước hậu quả của hành vi đó thể xẩy ra; tuy không mong muốn nhưng
vẫn ý thức để mặc hậu quả xẩy ra. Yếu tố lỗi cố ý gián tiếp khác với yếu t
lỗi cố ý trực tiếp điều kiện thứ ba. Tuy không mong muốn nhưng vẫn ý
thức để mặc hậu quả xẩy ra. dụ: anh A thấy B bị tai nạn sắp chết, tuy
không mong muốn B chết nhưng A vẫn làm ngơ bỏ đi đang bận hẹn
với bạn bè.
Ngoài cách chia chính thức lỗi cố ý n trên, loại lỗi y còn thể được chia
thành cố ý xác định cố ý không c định cũng như được chia thành cố ý
dự mưu cố ý đột xuất. Trong đó, cố ý xác định được hiểu trường hợp,
trong đó, hậu quả của tội phạm được xác định cụ thể trong ý thức người
phạm tội. dụ: Lỗi trong trường hợp lấy trộm một chiếc xe đạp cụ thể lỗi
cố ý xác định. Còn cố ý không xác định trường hợp, trong đó, mức đ hậu
quả không được xác định cụ thể trong ý thức người phạm tội. dụ: Lỗi trong
trường hợp lấy trộm một túi xách nhưng chưa biết cụ thể trong túi lỗi
cố ý không xác định. Cố ý dự mưu trường hợp trong đó chủ thể đã có.
sự suy nghĩ, cân nhắc càng trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Còn cố ý
không dự mưu trường hợp trong đó chủ thể vừa ý định phạm tội đã
thực hiện ngay ý định đó, chưa kịp sự n nhắc kĩ.
6. Phân biệt lỗi cố ý gián tiếp và lỗi ý quá tự tin trong hình
sự
6.1 Li c ý gián tiếp
Theo quy định của Bộ luật Hình sự, lỗi cố ý gián tiếp lỗi của người khi thực
hiện hành vi nguy hiểm cho hội nhận thức hành vi của mình nguy
hiểm cho hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó thể xảy ra, tuy không
mong muốn nhưng vẫn ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Lỗi cố ý gián tiếp đặc điểm sau:
- V trí: Người phạm tội nhận thức tính chất nguy hiểm cho hội của
hành vi mình thực hiện, thấy trước hành vi đó thể gây hậu quả nghiêm
trọng cho hội.
- Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra. Nghĩa hậu
quả xảy ra không phù hợp với mục đích phạm tội. Tuy nhiên để thực hiện
mục đích này, người phạm tội chấp nhận hậu quả nguy hiểm cho hội
hành vi của mình thể gây ra.
dụ: Hai hôm trước gia đình ông Nguyễn Văn A trong lúc thi công đổ mái
nhà đã m rơi một ván gỗ xuống dưới đường dẫn tới anh Hoàng Văn B bị tử
vong do tình đi ngang qua đó bị ván gỗ rơi trúng người. biết nhà gần
đường nhiều người qua lại nhưng ông A không làm biện pháp phòng
tránh nào dẫn tới hậu quả anh B tử vong. Hành vi của ông A hành vi cố ý
gián tiếp để mặc hậu quả xảy ra đã biết trước.
6.2 L
i ý quá t
tin
Lỗi ý quá tự tin lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
hội tuy thấy trước hành vi của mình thể gây ra hậu quả nguy hại cho hội,
nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc thể ngăn ngừa được.
Lỗi ý quá tự tin đặc điểm sau:
- Về trí: Người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho hội
của hành vi của mình, thể hiện việc họ thấy trước hậu quả nguy hại cho
hội hành vi của mình thể gây ra.
- Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hành vi của mình sẽ gây ra hậu
quả nguy hại cho hội. Sự không mong muốn này thể hiện việc người
thực hiện hành vi phạm tội cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc ngăn ngừa
được dựa trên sự cân nhắc, phán đoán trước khi thực hiện hành vi. Tuy
nhiên hậu quả nguy hại cho hội đã xảy ra nằm ngoài dự tính của họ.
dụ: Khi phẫu thuật cho bệnh nhân, bác Nguyễn Văn X quá tự tin vào
khả năng của mình nên cho rằng đây một ca dễ, ông đã tự làm không
mời thêm chuyên gia nào để hội chuẩn trước khi phẫu thuật dẫn tới hậu quả
bệnh nhân đã tử vong do mất máu quá nhiều. Hành vi của bác X đã ý
gây ra cái chết cho bệnh nhân do sự tự tin của mình, tuy không mong muốn
hậu quả xảy ra nhưng cho rằng mình thể ngăn được nên chủ quan.
Như vậy: Lỗi cố ý gián tiếp lỗi ý quá tự tin giống nhau chỗ người
thực hiện hành vi nguy hại cho hội đều nhận thức được hậu quả nguy hại
cho hộii hành vi của mình thể gây ra đều không mong muốn hậu
quả đó xảy ra.
Lỗi cố ý gián tiếp lỗi ý quá tự tin một điểm khác nhau bản, đó là:
lỗi cố ý gián tiếp, người thực hiện hành vi chấp nhận khả năng hậu quả xảy
ra khi lựa chọn thực hiện hành vi. Còn lỗi ý quá tự tin, người thực
hiện hành vi loại trừ khả năng hậu quả xảy ra tin rằng hậu quả không xảy
ra.

Preview text:

Lỗi cố ý là gì? Đặc điểm của lỗi và cách phân loại lỗi cố ý 1. Khái niệm lỗi
Lỗi là điều sai sót, không nên, không phải trong cách cư xử, hành động trong
đời số hàng ngày, theo đó, lỗi được đồng nhất với hành vi, tuy nhiên trong
quan hệ pháp lý lỗi được nhìn nhân dưới góc độ trạng thái tâm lý.
Theo các sách báo pháp lý, Lỗi được định nghĩa là thái độ tâm lý của con
người đối với hành vi có tính gây thiệt hại cho xã hội của mình và đối với hậu
quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức vô ý và cố ý.
Là mặt hình thức của lỗi, quan hệ tâm lý ở đây bao gồm yếu tố lý trí và ý chí.
Hai yếu tố này thể hiện năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi
của con người là yếu tố tâm lý cần thiết của mọi hành vi của con người.
Nhìn chung định nghĩa này đã phản ánh chung nhất đặc điểm của yếu tố lỗi
trong hệ thống pháp luật Việt Nam. 2. Các hình thức lỗi
- Lỗi cố ý trực tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.
- Lỗi cố ý gián tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy
ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức dể mặc cho hậu quả xảy ra
- Lỗi vô ý vì quả tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi
của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả
đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
- Lỗi vô ý vì cẩu thả là trường hợp người phạm tội không thấy trước hành vi
của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù phải thấy trước
và có thể thấy trước hậu quả đó.
3. Đặc điểm của lỗi
Một hành vi được coi là có lỗi khi có đủ hai điều kiện sau:
(i) Hành vi trái pháp luật hình sự: là những hành vi thực hiện không đúng quy
định của pháp luật, xâ phạm tới khách thể mà luật hình sự bảo vệ.
(i ) Hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực
hiện hành vi khi có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự
khác không trái pháp luật hình sự.
Để xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại cho xã hội
có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó hay không, ta cần xác định tính có lỗi
của tội phạm. Lỗi là một yếu tố quan trọng để nhận biết tội phạm, nó là yếu tố
bên trong và là nguyên nhân chủ quan của tội phạm.Ví dụ: Xuất phát từ mâu
thuẫn nhà đất, A ra tay đánh B gây thương tích với tỷ lệ thương tật là trên
20%. Trong trường hợp này, hành vi ra tay đánh B của A là hành vi có lỗi, nó
xuất phát từ yếu tố tâm lý bên trong của A làm A mất kiểm soát và đã dẫn tới
việc A thực hiện hành vi mang tính nguy hiểm cho xã hội mà đối tượng trực
tiếp ở đây là quyền con người được Nhà nước thông qua pháp luật Hình sự
bảo vệ. Đây là kết quả của sự tự lựa chọn đưa ra quyết định của A trong khi
A có thể đưa ra sự lựa chọn khác không trái với quy định của pháp luật.
Chủ thể của một hành vi được coi là có lỗi khi thỏa mãn 2 điều kiện: đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự và không bị mất năng lực hành vi theo quy định của pháp luật.
4. Khái niệm lỗi cố ý
Lỗi cố ý là lỗi trong trường hợp chủ thể có ý thức lựa chọn hành vi phạm tội
mặc dù có đủ điều kiện lựa chọn xử sự khác không nguy hiểm cho xã hội.
Lỗi cố ý là một trong hai loại lỗi theo Luật hình sự Việt Nam. Trong đó, lỗi cố ý
có tính nguy hiểm cao hơn. Loại lỗi này đòi hỏi các dấu hiệu:
1) Hành vi khách quan mà chủ thể thực hiện là hành vị có tính chất phạm tội
(hành vi có các dấu hiệu khách quan mà cấu thành tội phạm đòi hỏi);
2) Chủ thể ý thức được tính chất phạm tội của hành vi được thực hiện;
3) Chủ thể đã lựa chọn hành vi có tính chất phạm tội đó khi có điều kiện lựa chọn hành vị khác.
Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt
hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong
muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra theo Điều 364 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Theo quy định tại điều 10, Bộ Luật hình sự 2015, quy định về Cố ý phạm tội như sau:
“ Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội,
thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội,
thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn
nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.”
5. Phân loại lỗi cố ý
Tại Điều 9 của BLHS, cố ý phạm tội bao gồm hai trường hợp:
5.1 Lỗi cố ý trực tiếp
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội. Thấy
trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra. Để bị coi là có
lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội phải có đầy đủ ba điều kiện:
(1) Nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội (ví dụ: biết là cầm
giao đâm vào người khác sẽ gây nguy hiểm cho người bị đâm, phóng nhanh
vượt ẩu sẽ gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông…).
(2) Thấy trước hậu quả của hành vi đó (ví dụ: biết là cầm giao đâm người khác)
(3) Mong muốn hậu quả xẩy ra (ví dụ: mong muốn người bị đâm chết hoặc thương tích…).
5.2 Lỗi cố ý gián tiếp
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; thấy
trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra; tuy không mong muốn nhưng
vẫn có ý thức để mặc hậu quả xẩy ra. Yếu tố lỗi cố ý gián tiếp khác với yếu tố
lỗi cố ý trực tiếp ở điều kiện thứ ba. Tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý
thức để mặc hậu quả xẩy ra. Ví dụ: anh A thấy B bị tai nạn sắp chết, tuy
không mong muốn B chết nhưng A vẫn làm ngơ và bỏ đi vì đang bận có hẹn với bạn bè.
Ngoài cách chia chính thức lỗi cố ý như trên, loại lỗi này còn có thể được chia
thành cố ý xác định và cố ý không xác định cũng như được chia thành cố ý có
dự mưu và cố ý đột xuất. Trong đó, cố ý xác định được hiểu là trường hợp,
trong đó, hậu quả của tội phạm được xác định cụ thể trong ý thức người
phạm tội. Ví dụ: Lỗi trong trường hợp lấy trộm một chiếc xe đạp cụ thể là lỗi
cố ý xác định. Còn cố ý không xác định là trường hợp, trong đó, mức độ hậu
quả không được xác định cụ thể trong ý thức người phạm tội. Ví dụ: Lỗi trong
trường hợp lấy trộm một túi xách nhưng chưa biết cụ thể trong túi có gì là lỗi
cố ý không xác định. Cố ý có dự mưu là trường hợp trong đó chủ thể đã có.
sự suy nghĩ, cân nhắc kĩ càng trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Còn cố ý
không có dự mưu là trường hợp trong đó chủ thể vừa có ý định phạm tội đã
thực hiện ngay ý định đó, chưa kịp có sự cân nhắc kĩ.
6. Phân biệt lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin trong hình sự
6.1 Li cý gián tiếp
Theo quy định của Bộ luật Hình sự, lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người khi thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy
hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không
mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Lỗi cố ý gián tiếp có đặc điểm sau:
- Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của
hành vi mà mình thực hiện, thấy trước hành vi đó có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội.
- Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra. Nghĩa là hậu
quả xảy ra không phù hợp với mục đích phạm tội. Tuy nhiên để thực hiện
mục đích này, người phạm tội chấp nhận hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà
hành vi của mình có thể gây ra.
Ví dụ: Hai hôm trước gia đình ông Nguyễn Văn A trong lúc thi công đổ mái
nhà đã làm rơi một ván gỗ xuống dưới đường dẫn tới anh Hoàng Văn B bị tử
vong do vô tình đi ngang qua đó và bị ván gỗ rơi trúng người. Dù biết nhà gần
đường và có nhiều người qua lại nhưng ông A không làm biện pháp phòng
tránh nào dẫn tới hậu quả anh B tử vong. Hành vi của ông A là hành vi cố ý
gián tiếp để mặc hậu quả xảy ra dù đã biết trước.
6.2 Li vô ý vì quá ttin
Lỗi vô ý vì quá tự tin là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội,
nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
Lỗi vô ý vì quá tự tin có đặc điểm sau:
- Về lý trí: Người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội
của hành vi của mình, thể hiện ở việc họ thấy trước hậu quả nguy hại cho xã
hội mà hành vi của mình có thể gây ra.
- Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hành vi của mình sẽ gây ra hậu
quả nguy hại cho xã hội. Sự không mong muốn này thể hiện ở việc người
thực hiện hành vi phạm tội cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc ngăn ngừa
được dựa trên sự cân nhắc, phán đoán trước khi thực hiện hành vi. Tuy
nhiên hậu quả nguy hại cho xã hội đã xảy ra và nằm ngoài dự tính của họ.
Ví dụ: Khi phẫu thuật cho bệnh nhân, bác sĩ Nguyễn Văn X vì quá tự tin vào
khả năng của mình nên cho rằng đây là một ca dễ, ông đã tự làm mà không
mời thêm chuyên gia nào để hội chuẩn trước khi phẫu thuật dẫn tới hậu quả
bệnh nhân đã tử vong do mất máu quá nhiều. Hành vi của bác sĩ X đã vô ý
gây ra cái chết cho bệnh nhân do sự tự tin của mình, tuy không mong muốn
hậu quả xảy ra nhưng cho rằng mình có thể ngăn được nên chủ quan.
Như vậy: Lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin giống nhau ở chỗ người
thực hiện hành vi nguy hại cho xã hội đều nhận thức được hậu quả nguy hại
cho xã hội mà hành vi của mình có thể gây ra và đều không mong muốn hậu quả đó xảy ra.
Lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin có một điểm khác nhau cơ bản, đó là:
ở lỗi cố ý gián tiếp, người thực hiện hành vi chấp nhận khả năng hậu quả xảy
ra khi lựa chọn và thực hiện hành vi. Còn ở lỗi vô ý vì quá tự tin, người thực
hiện hành vi loại trừ khả năng hậu quả xảy ra và tin rằng hậu quả không xảy ra.
Document Outline

  • Lỗi cố ý là gì? Đặc điểm của lỗi và cách phân loại
    • 1. Khái niệm lỗi
    • 2. Các hình thức lỗi
    • 3. Đặc điểm của lỗi
    • 4. Khái niệm lỗi cố ý
    • 5. Phân loại lỗi cố ý
      • 5.1 Lỗi cố ý trực tiếp
      • 5.2 Lỗi cố ý gián tiếp
    • 6. Phân biệt lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá
      • 6.1 Lỗi cố ý gián tiếp
      • 6.2 Lỗi vô ý vì quá tự tin